Người t́m
leo núi chỉ có bản đồ, không người hướng dẫn
HT. Thích Thanh Từ

Đề tài tôi nói hôm nay có tên hơi dài một
chút Người t́m leo núi chỉ có bản đồ, không
người hướng dẫn. Trong đây tôi chia làm sáu mục:
1. Học bản đồ:
Ở đây nói người t́m leo
núi v́ chưa bao giờ họ thấy núi, nên khao khát muốn thấy ngọn núi, leo
tận tới đỉnh để thỏa măn sự mong muốn của ḿnh.
Nhưng v́ ở đồng bằng không có núi, cũng không có người hướng dẫn, chỉ có
tấm bản đồ. Nương theo bản đồ và được
một người giảng cho họ biết vị trí của ngọn núi cách thành phố bao xa, ở
tỉnh nào v.v…
Tuy nhiên, người giảng ấy cũng chưa chắc đă
leo tận đỉnh núi, nhiều khi họ học trong sách
vở, bản đồ rồi giảng cho người chưa học nghe. Sự thật bản thân họ cũng
chưa từng leo núi lần nào.
Tôi tạm thí dụ cụ thể như một người ở miền
Tây, nghe nói ở Vũng Tàu có hai ngọn núi, một là núi lớn, hai là núi nhỏ.
Nghe vậy, họ ước mơ làm sao ra Vũng Tàu leo
lên tận ngọn núi lớn, tận ngọn núi nhỏ để nh́n ra biển cho thỏa ḷng
khao khát. Khi đó gặp người có sẵn bản đồ, họ giảng cho biết nếu ở miền
Tây muốn đi ra Vũng Tàu leo núi, th́ phải đi từ miền Tây lên thành phố,
rồi từ thành phố đi ra Vũng Tàu… Giảng rơ như vậy, người
kia chịu khó học, nhưng khi đi nếu không có
người hướng dẫn th́ phải đem theo tấm bản đồ. Vừa đi vừa dọ dẫm, đó là
chặng thứ nhất của người leo núi.
2. Nhắm đúng hướng:
Người leo núi
tuy có sẵn bản đồ trong tay, nhưng không có người hướng dẫn, nếu biết
nhắm đúng hướng th́ không sợ lạc đường. Ví dụ từ miền Tây lên thành phố,
tới cầu B́nh Điền lên dốc cao nh́n về hướng Đông Nam, thấy có những ngọn
núi xanh xanh xa tí mù, họ bảo đó là núi Vũng Tàu. Khi
xe xuống dốc hết thấy núi, lại phải chạy vô
thành phố, qua bao nhiêu ngă ba ngă tư, nếu không khéo họ sẽ bị lạc.
Cho nên tuy có một lần thấy núi nhưng chưa chắc đi
được tới núi.
3. Kiên nhẫn:
Khi ra khỏi thành phố
đi thẳng về Vũng Tàu mà không lạc, đó là có duyên phúc lắm.
Tới khoảng gần Bà Rịa th́ thấy rơ núi Vũng Tàu,
không c̣n nghi ngờ ǵ nữa. Tuy thấy rơ núi
nhưng với vị trí của họ c̣n cách mấy chục cây số nữa mới tới, chớ không
phải thấy là tới liền. Thấy rơ mà c̣n phải
qua mấy chục cây số nữa mới tới núi, đó là chặng thứ ba.
4. Tới chân núi:
Xe chạy tới chân núi rồi, khi đó họ phải
xuống xe, đi bộ thẳng tới chân núi. Lúc này
tuy đă đứng dưới chân núi, nhưng vẫn chưa leo
lên núi. Cho nên chuyện tới đỉnh c̣n phải qua nhiều giai đoạn, đ̣i hỏi
sự cố gắng của người leo núi.
5. Nỗ lực leo
núi:
Bây giờ bước sang giai đoạn nỗ lực
leo núi. Từ dưới chân leo
lên tới đỉnh núi, phải đổ mồ hôi ướt áo mới tới được. Trên đường càng
phải theo dơi sát với bản đồ để không lạc
đường. Bởi trên núi cây rừng um tùm chắn lối rất khó đi, lại thêm nhiều
đường ṃn quanh co, không khéo người leo núi
sẽ loanh quanh lẩn quẩn măi không tiến lên được. Vượt qua hết những
chướng ngại ấy là leo lên tới đỉnh núi, thấy
trời biển bao la, cảnh trí tươi mát, thỏa măn được nguyện vọng bấy lâu
nay. Đây là giai đoạn hoàn tất quá tŕnh leo
núi.
6. Tới đỉnh núi:
Tới được chót đỉnh rồi, tận hưởng gió mát
trong lành, mây nước thênh thang, cảnh vắng ḷng yên, không ồn ào náo
nhiệt bụi bặm như dưới thành thị, mới thích thú làm sao! Khi hưởng được
sự an lạc như thế, chợt nghĩ đến nhiều bạn bè người thân muốn được
leo núi như ḿnh. V́ vậy người này trở xuống
núi, trở về hướng dẫn bạn hữu cùng ra Vũng Tàu, leo
núi với họ.
Đó là sáu chặng đường tôi nói về “Người t́m
leo núi chỉ có bản đồ, không người hướng dẫn”.
Bây giờ hợp pháp, học bản đồ dụ cho người tu Phật
chúng ta. Ai tu Phật cũng đều nghĩ tới mục
đích cuối cùng là giải thoát sanh tử. Muốn
giải thoát sanh tử th́ phải nhận ra nơi ḿnh có pháp thân bất sanh bất
diệt. Kinh Hoa Nghiêm gọi là ngọn núi Diệu
Phong. Như vậy đầu tiên chúng ta phải học bản
đồ, học về vị trí ngọn núi đó ở đâu. Đó là lúc chúng ta bắt đầu
học kinh, để biết người tu muốn tiến
tới giải thoát phải thế nào? Hiểu cho rơ biết cho
rành đó là chặng thứ nhất.
Đến chặng thứ hai học
kinh rồi, đă nắm vững bản đồ, ḿnh c̣n biết hướng tu, tức hướng đi đúng.
Bởi đúng nên bỗng dưng có một phút giây nào đó ḿnh lóe sáng lên. Khi
lóe sáng dụ như người lên dốc cầu B́nh Điền nh́n xa xa thấy núi Vũng Tàu.
Thấy th́ thấy nhưng trên đường đi c̣n rất xa, có thể
ḿnh sẽ bị lạc lối nếu không cẩn thận. Chỗ này chúng ta cần lưu
ư. Nhiều người tự sáng, rồi tưởng sáng đó là xong, nhưng không ngờ c̣n
xa vời lắm. Bởi trên đường có nhiều khúc quanh nhiều
lối tẽ, cần phải dè dặt chớ không thể thấy như vậy là xong việc.
Thấy núi mà chưa chắc là đến núi được.
Tới chặng thứ ba là
đứng nơi chỗ trống, như ở Bà Rịa nh́n qua núi Vũng Tàu thấy núi rất rơ.
Tuy thấy rơ nhưng vẫn c̣n cách núi một khoảng.
Cũng vậy, khi tu công phu khá ta nhận ra nơi ḿnh có
cái chân thật không c̣n nghi ngờ, như người đă thấy núi trước mắt.
Trong nhà thiền gọi đây là kiến tánh, tức thấy rơ
mồn một cái ḿnh cần thấy. Ở đây nói “thấy”
là tôi tạm dùng chữ, chớ đúng ra là nhận được không nghi ngờ ǵ nữa.
Như người đứng xa vài chục cây số thấy rơ chót núi,
đường lên núi có những tảng đá hay cây xanh.
Thấy rơ nhưng chưa phải đến núi. Người tu
kiến tánh chỉ được không c̣n nghi thôi, chưa phải rồi việc.
Tới chặng thứ tư, đến chân núi mà chưa
leo lên núi. Chúng ta tu
nhận ra được bản tánh chân thật của ḿnh không c̣n ngờ vực ǵ nữa, nhưng
công phu chưa xong. Bây giờ phải cố gắng tiến
tu, hôm nào công phu tạm được, giống như người đă đến dưới núi.
Chân đạp trên những ḥn đá dưới chân núi, chớ chưa
phải đến chót núi. Như vậy cũng chưa xong, c̣n phải
leo lên tận chót núi.
Cũng thế, chúng ta tu khi thấy được nơi ḿnh có cái chân thật không ngờ
vực và sống được với nó phần nào, gọi là người đă đạp trên đất thật,
nhưng chưa phải rồi việc, c̣n công phu thêm một giai đoạn khá mệt nữa
mới được.
Tới chặng thứ năm là
leo đến đỉnh núi. Từ khi đạp được đất thật
rồi, ḿnh biết rơ công phu đă tiến không lầm, nhưng không dừng ngang đó
mà phải cố gắng nỗ lực hơn. Mọi thứ phiền năo
vi tế đều gột sạch, tâm hoàn toàn thanh tịnh sáng suốt, giống như
người leo đến đỉnh núi. Bấy giờ sở nguyện đă măn,
trong nhà thiền gọi là nhập Phật quốc, tức mục thứ chín trong mười mục
chăn trâu. Song nếu ta hài ḷng ở đó, mặc t́nh ngắm mây ngắm biển,
như vậy chỉ lợi cho ḿnh, c̣n bao nhiêu bạn bè thân thuộc ao ước được
như ḿnh, mà chưa có cơ hội. V́ vậy tới đây phải
tiến thêm một chặng nữa.
Chặng thứ sáu, từ trên chót núi ta trở
xuống, dẫn bạn bè cùng leo núi với ḿnh.
Giai đoạn này chỉ cho người khi đạt đạo rồi, phiền
năo hết sạch th́ trở lại trong bụi trần d́u dắt hóa độ chúng sanh.
Đó là mục thứ mười của mười mục chăn trâu.
Công phu tu tập cho đến
chỗ cứu kính viên măn phải trải qua nhiều giai đoạn như thế. Bởi
vậy chúng ta mới hiểu chư Tổ khi ngộ đạo rồi,
các ngài cũng phải mấy mươi năm ở yên một chỗ để thực hành công phu cho
xong. Trên đường tu chúng ta chớm thấy một hai cái sáng, tưởng đó là đủ
th́ lầm. Phải tới chặng thứ sáu mới vuông tṛn, mới
xong bổn phận.
Tôi mượn h́nh ảnh “người t́m
leo núi, chỉ có bản đồ không người hướng dẫn”
để dụ cho sự tu hành của chúng ta. Hiểu rơ như thế
ḿnh mới không lầm lẫn, chớ nhiều khi người có bệnh tự măn, tu chưa đến
nơi mà đă cho là xong việc. Đó là tai
hại khiến công phu ḿnh lui sụt, do đó trên đường tu tất cả phải cẩn
thận.
Nhân tiện đây, tôi nhắc
nhở cho Tăng Ni nắm rơ tinh thần tu tập của Thiền viện. Bởi v́ có
hai trường hợp thường xảy ra: Thứ nhất, những vị ở Thiền viện lâu quá
th́ sanh lờn, quên mục tiêu ban đầu của ḿnh nên tu hành giải đăi.
Thứ hai, một số vị mới tới, ít có cơ hội nghe chúng
tôi giải thích kỹ, nên không nắm vững tinh thần tu học của Thiền viện.
Do đó hôm nay tôi nhắc lại cho người cũ nhớ thêm, người mới hiểu rơ tinh
thần tu học ở Thiền viện.
Trước kia bản
thân tôi đă từng học qua trường lớp của Phật giáo, cũng đă từng dạy từ
tiểu học, trung học cho tới cao học Phật giáo. Nhưng
tại sao tôi lại không chủ trương mở lớp dạy giáo lư cho Tăng Ni Phật tử
hiểu đạo, mà lại chủ trương lập Thiền viện để tu?
Đó là chỗ tôi muốn nói cho tất cả Tăng Ni hiểu rơ.
Bởi v́ sau khi qua
những trường lớp, tự bản thân ḿnh học rồi dạy người khác học, tôi thấy
rất rơ những ưu khuyết điểm của việc này. Trong nhà Phật có tam
tuệ học là Văn, Tư, Tu. Văn tuệ và Tư tuệ là hai yếu tố đầu, nếu người
nào muốn hiểu đạo Phật phải bắt đầu từ đó. Văn tức
là nghe, nghe có nghĩa là học. Cho nên ở thế gian người ta dùng
từ đa văn tức là học rộng. Chữ văn có nghĩa là học,
nhưng không phải học để trả bài mà c̣n phải suy gẫm nữa. Bởi lời
Phật dạy không đơn giản như những môn học thế gian, chỉ cần học thuộc
ḷng công thức đó ḿnh có thể làm được những bài toán.
Ở đây, học rồi phải suy
gẫm mới hiểu. Ví dụ Phật dạy chúng ta phải
quán các pháp vô thường. Nói các pháp vô
thường ai cũng hiểu, nhưng muốn thâm nhập nó, ta phải quán như thế nào?
Đầu tiên là quán thời gian. Một ngày vừa thức
giấc chúng ta thấy sáng rồi tới trưa, chiều, tối.
Ngày nay chuyển biến như vậy, ngày mai cũng chuyển biến như vậy, thời
gian không dừng ở một điểm nào hết, nên nó vô thường. Chỉ biết
thời gian vô thường thôi chưa đủ, phải xét tiếp thời gian vô thường đó
có ảnh hưởng đến con người chúng ta không?
Con người sanh ra, lớn lên, từ thiếu niên
thành thanh niên rồi tới trung niên, lăo niên, cứ nối tiếp thay đổi chớ
không ai ở mức thiếu niên hay trung niên hoài. Như
vậy, con người cũng bị thời gian chi phối.
Thời gian là một ḍng chuyển biến vô thường, bản thân chúng ta cũng là
một ḍng chuyển biến vô thường. Đến sự vật
cũng thế, như ta trồng cây, lúc mới trồng là cây con, lần lần cây lớn
lên rồi tới già, tới rụi và cuối cùng cây chết.
Chúng ta nh́n tất cả sự vật đều như thế.
Quán cho thật thấu đáo
rồi, mới thấy con người đang sống trong sự xê dịch vô thường. Từ
ngoại cảnh cho tới bản thân, luôn luôn chuyển biến không dừng.
Xét kỹ như thế, ḿnh mới thấy Phật nói lư vô thường
thật hay, thật chí lư. Chớ chỉ nói suông vô
thường là thay đổi, không có sự suy tư của ḿnh, th́ chưa thể thấu đáo
được lư vô thường.
Khi đă biết thân vô
thường, cảnh vô thường, th́ có ǵ để tham? Con người tham v́ nghĩ
cái ḿnh thích c̣n măi, nay đă biết nó là vô thường, th́ tham chi nữa.
Do thấy được lẽ thật ấy nên ḷng tham tự nhiên giảm, đó là tu rồi.
Hoặc khi nghe ai vừa chửi ḿnh một câu, ta nổi giận
liền nhớ thân này mai mốt cũng chết, giận mà chi?
Nhớ thế th́ bớt giận. C̣n
ḿnh nói tôi đường đường như vầy mà dám chửi hả, đó là ngă mạn, tức
nhiên ḷng sân tăng trưởng. Cho nên Tư tuệ là
thấy được chân lư từ chính sự suy gẫm của ḿnh tức là thấy được lẽ thật,
tu mới dễ.
Người tu do tưởng tượng sẽ không tu được
lâu dài, v́ tưởng tượng đâu có đúng sự thật. Ví dụ người thế gian thấy
quí thầy có vẻ thong thả, tới lui tự tại không có ràng buộc ǵ hết, nên
nghĩ ở trong chùa chắc sướng? Tưởng tượng như thế
liền xin vô chùa. Khi đă vô chùa, thấy sao cũng có nhiều điều
phiền toái, mất tự do, không được như ư, lại nghĩ không chừng ra ngoài
sướng hơn. Đó, cứ như vậy mà đổi chỗ hoài, nhảy vô nhảy ra
lăng xăng lộn xộn cả đời không đi tới đâu hết.
Cho nên khi tu là phải suy gẫm cho thật đúng lư Phật
dạy. Hiểu tột lư rồi việc tu mới dễ tiến.
Lư vô thường đơn giản nhất, cụ thể nhất,
hiểu được cho đến nơi là chúng ta tu cũng đă khá rồi, huống nữa là thấu
triệt lư nhân duyên, lư vô ngă v.v… hay biết chừng nào.
Thế nên bước đầu của người tu, Phật dạy phải văn.
Văn tức là nghe, học, kế đó phải tư.
Học không chưa đủ mà phải suy gẫm.
Nên học là để tu chớ không phải học suông. V́
vậy trong nhà Phật có vô lượng pháp môn là tùy theo
căn cơ tu tập của chúng sanh khác nhau mà có. Mỗi một pháp môn tức là
một lư thật Phật dạy cho ḿnh thấy, thấy được lư thật đó là có được một
pháp môn tu. Quán vô thường là một pháp môn,
quán nhân duyên là một pháp môn v.v… Cho nên học để
tu, đó chính là tinh thần của Thiền viện.
Tăng Ni ở các Thiền viện học mấy năm cũng
không có lên lớp. Học mười năm, hai mươi năm cũng cứ
học để hiểu, hiểu để tu, chớ không có phát bằng cấp nào cả.
Chúng ta nhớ hồi thời đức Phật, có tiểu học, trung
học, đại học ǵ đâu? Khác chăng là người tu
chưa chứng và người đă chứng thôi. Chưa chứng
gọi là hàng hữu học, đă chứng gọi là hàng vô học.
Thành ra học đạo mà c̣n kẹt cấp bằng là một chuyện
hết sức đáng buồn.
Chính những năm tôi
từng chấm thi, tôi rất buồn, v́ thấy dường như người lớn gạt kẻ nhỏ.
Bởi học rồi tới thi, cả năm bài vở nhiều quá làm sao
nhớ hết. Mà thi th́ tâm trạng Tăng Ni sinh
luôn luôn sợ rớt. Rớt th́ không được lên lớp
nữa, thành ra họ phải cố gắng làm sao cho đậu.
Nếu không thuộc bài phải t́m cách làm bài được, cách
đó là cách ǵ? Là nhét tài liệu vô túi, vô
cặp, chép lên bàn để quay. Như vậy người học đạo để tu, mà bây
giờ lại thành mưu đồ gian lận, c̣n ǵ ư nghĩa của sự tu hành nữa!
Chính điều này làm tôi hết sức đau ḷng.
Ḿnh dạy là để người ta tu, bây giờ vô t́nh ḿnh tạo
điều kiện cho người ta gian lận, tức là hết tu rồi.
V́ thế thời gian dạy học các trường, các lớp, tôi
cảm thấy rất buồn. Tôi không thích điều đó.
Tôi muốn làm sao người học đạo, thật sự thuần túy là
học đạo, chớ không kẹt danh, kẹt lợi như thế.
Do đó tôi thành lập Thiền viện, bắt Tăng Ni
học th́ cứ lên lớp học. Hiểu thế nào tŕnh bày lại
cho đại chúng nghe thế ấy, trao đổi kinh nghiệm tu tập thêm. Mấy
năm cũng như mấy năm, cứ học tới hoài, không nói năm nay vị đó đă măn
cấp trung học, sẽ thi tuyển cấp đại học v.v… Học Phật để hiểu giáo lư
cho thâm sâu rồi tu. Mà
muốn hiểu giáo lư thâm sâu th́ phải Tư, không Tư th́ không hiểu sâu được.
Chúng ta nhớ trong kinh Phật thường hay dạy các thầy Tỳ-kheo thường phải
t́m nơi vắng vẻ, ngồi dưới cội cây để suy tư, hay là chánh tư duy những
pháp Phật dạy. Nhờ tư duy đó mà các thầy hiểu sâu.
Tôi thấy một số thầy
ngày nay rất đáng buồn. Học xong rồi nhóm lại nói chuyện bên Đông
bên Tây, không tư duy ǵ hết, do đó không thấm, không thưởng thức được
pháp vị chân thật của Phật dạy. Học lối trả nợ, rảnh
ngồi nói dóc với nhau, rồi cười giỡn, không để phút giây nào yên tĩnh
ngồi suy tư, bao giờ mới thấu hiểu lời Phật dạy.
Không hiểu Phật dạy thế nào nên cũng không biết ứng
dụng tu ra sao. Thử hỏi như vậy có đáng buồn
không? Bây giờ ngoài thời gian lao
động ra, khi nào rảnh, thiếu ǵ những gốc cây, cây đào, cây tùng, cây vú
sữa… Có rất nhiều chỗ ngồi, mấy huynh đệ ngồi một
ḿnh gẫm lại những lời Phật dạy. Gẫm như vậy
gọi là suy tư, thấu hiểu thật chí lư lời Phật dạy, mới thấy hay.
Tôi ngày xưa lúc ở chùa
Phật Quang được học kinh Lăng Nghiêm. Học rồi
tôi suy gẫm thấy quá hay. Những buổi khuya
tôi thường dậy trước giờ thức chúng, ngồi học một ḿnh.
Đọc xong đoạn kinh nào rồi, tôi xếp sách lại suy gẫm
lời Phật dạy, thấy hay quá. Mấy chục năm ở
ngoài thế gian chưa từng nghe được những lời như vậy, bây giờ mới được
nghe, tự nhiên tôi xúc động rơi nước mắt. Tôi
nghĩ nếu ḿnh không gặp Phật pháp th́ chẳng biết thành cái ǵ, suốt một
đời sống vô nghĩa. Như chúng ta thấy con người sanh ra rồi lớn
lên, lo ăn học, kế có gia đ́nh, có con, nuôi
con. Khi con lớn khôn là ḿnh sửa soạn già chết. Mà
chết đă yên đâu, c̣n sự quyến luyến vợ con, tiền bạc nên trở lại nữa.
Cứ như vậy đáo đi lộn lại trầm luân muôn kiếp.
Bây giờ chúng ta được học giáo lư chân thật,
nhận biết ngoài cuộc sống b́nh thường, con người c̣n có một lư tưởng cao
siêu vượt hơn tất cả, tự nhiên ḿnh thấy tâm hồn siêu thoát.
Từ đó mới ư thức giá trị của sự tu là quí, nếu không
hiểu như vậy, tu một lúc sao thấy thường quá.
Rồi cũng ăn, cũng mặc, cũng cười, cũng giỡn, cũng đi chơi như ai, cuối
cùng không ư thức được giá trị của sự tu hành chút nào hết.
V́ vậy quí vị nên có
những phút giây yên tĩnh để suy gẫm về pháp. Suy gẫm thấy hay mới
ứng dụng tu. Như chúng ta
ai cũng có ba độc chứa sẵn trong người. Ba
độc là tham, sân, si. Có người nghe ba độc,
học hiểu ba độc và giảng được ba độc nữa.
Nhưng thiếu tu nên ai vừa chọc tới liền nổi sân đùng đùng. Như
vậy Văn, Tư chỉ là phương tiện bước một bước hai, mà kết quả thành tựu
tốt hay không là yếu tố thứ ba Tu.
Hồi xưa thời của chúng tôi, do nhu cầu
truyền bá Phật pháp đ̣i hỏi nhiều, nên chư tăng học rồi phải đi giảng
dạy ngay, không có th́ giờ tu. Bấy giờ tôi tự an
ủi ḿnh rằng, ráng dạy một thời gian để đền ơn Thầy Tổ. Thật t́nh tôi
không bằng ḷng làm một cái máy phát thanh, cứ thâu vô bao nhiêu phát ra
bấy nhiêu, không đi tới đâu hết.
Trong kinh Hoa Nghiêm
có một đoạn rất hay. Khi Thiện Tài đồng tử
hỏi vị thiện tri thức nếu chỉ nghe, hiểu đạo thôi có đủ chưa?
Thiện tri thức giải thích ví như có người đi trên băi
sa mạc vào lúc trưa hè, lại không đem theo
nước. Bấy giờ khát nước cháy cổ, người kia
muốn t́m chút nước uống cho đỡ khát, nhưng không biết t́m ở đâu? Bỗng
đằng xa có một người đi lại, anh này liền hỏi: “Thưa anh, chỗ nào có
giếng, có bóng mát xin chỉ dùm, tôi khát quá”. Người
kia bảo: “Anh tới ngă ba, rẽ bên phải, đi một đỗi nữa sẽ có bóng
mát, bên cạnh gốc cây ấy có một giếng nước”. Anh
chàng khát nước cháy cổ nghe nói thế mừng quá, nhưng chưa đi tới đó th́
hết khát nước không? Như vậy nghe nói, hiểu
rơ c̣n phải đi tới nơi, vốc nước lên uống, chừng đó mới hết khát.
Cũng thế, nếu chúng ta
chỉ học là Văn, rồi hiểu là Tư mà thiếu Tu th́ không đi tới đâu, v́ khổ
của phiền năo vẫn chưa hết. Cho nên có nhiều
vị Giảng sư giảng thao thao bất tuyệt, mà lâu lâu đùng một cái ra đời.
Hỏi tại sao thầy giảng hay quá mà ra đời? Là v́
thiếu tu, cũng như khát nước nhưng chưa uống được th́ vẫn cháy cổ như
thường.
Tu giống như nghe chỗ
bóng mát, có giếng nước, ḿnh đang đi tới đó.
Trong lúc đang đi cũng vẫn khô cổ như thường?
Chừng nào đi tới đích, thưởng thức được vị mát của nước rồi mới hết cháy
cổ. Hiểu như vậy mới biết đạo lư chân thật không cho phép chúng
ta nói suông mà phải thực hành, có hành mới thấy giá trị của sự
tu.
Hồi xưa Phật c̣n tại
thế, nhiều thầy Tỳ-kheo khi đắc đạo rồi rất vui mừng, v́ thấy cuộc sống
hết sức cao cả. Người tu đáng để cho thiên
nhân cúng dường mới gọi là Ứng cúng. Bởi có
tu mới thấy đạo pháp quá cao siêu, không phải tầm thường lẩn quẩn trong
ṿng sanh tử luân hồi. C̣n chúng ta bây giờ
tu hơi yếu. Hồi mới phát tâm th́ mạnh, ở chùa
lâu sanh lờn, kế đó yếu dần rồi thối tâm luôn.
Cho nên học là phương
tiện đầu. Thầy giúp cho chúng ta hiểu, nhưng
hiểu sâu là phải do công phu suy tư của ḿnh.
Kế đến tu được cũng là công phu của ḿnh, chớ thầy không làm hai việc
sau được. Đạt chân lư là ḿnh, rồi thực hành đến nơi đến chốn
cũng do ḿnh. Hai việc sau đ̣i hỏi mỗi người phải cố
gắng, chớ thầy không làm thế được.
Như vậy tinh thần tu
học của Thiền viện là tạo điều kiện cho Tăng Ni nghe, suy gẫm, c̣n tu là
phần của quí vị. Ở đây tôi thường hay nhắc chúng ta không chỉ tu
trong giờ tọa thiền, tụng kinh mà giờ nào cũng phải tu hết.
Hoặc ta ngồi chỗ riêng vắng, suy gẫm lại lời Phật
dạy, đó gọi là chánh tư duy. Hoặc khi ngồi chơi chỗ thanh vắng,
nh́n thấy những luồng vọng tưởng dấy khởi, ḿnh biết rơ không thèm chạy
theo nó, đó là tu. Hoặc do suy gẫm, thấy được
lẽ thật nơi ḿnh, nh́n tất cả tṛ ảo hóa ḿnh cười thôi, không có ǵ
quan trọng hết, đó là tu.
Quí vị nhớ nhiều người
ngồi tán dóc th́ khó tu lắm. Ban đầu cũng nói chuyện tu hành hoặc
chuyện học kinh. Nhưng nói một hồi lảng qua chuyện
khác lúc nào không hay. Thế là chuyện bên Tây
bên Tàu, chuyện tiếu lâm, chuyện vui cười rùm lên.
Hết nhóm này vui cười, tới nhóm khác vui cười, rồi
cả liêu ồn náo, không có chút yên tĩnh. Phật
tử tới chùa nghe trong liêu quí thầy ồn náo, họ vui không?
Họ đánh giá ra sao? Quí
thầy đang tu hay quí thầy đang giỡn?
Phật tử tới chùa thấy quí thầy rảnh rang,
mỗi vị ra ngồi dưới cội cây, gương mặt thanh thản cười mỉm.
Thấy quí thầy sống hết sức thanh tịnh, tự tại, người
ta mới quí kính. Chớ c̣n ngồi dụm ba dụm bảy căi nhau hoặc nói
chuyện tàu lau rồi cười, th́ ai mà quí kính được!
Không phải ḿnh tu làm tướng cho Phật tử thương cúng dường, nhưng ḿnh
phải thật sự sống trong chánh tư duy, suy gẫm về chân lư.
Như vậy mới đúng ư nghĩa người tu, vừa có lợi cho
ḿnh vừa có lợi cho tất cả mọi người. Đó là
điều tôi muốn nhắc tất cả Tăng Ni nhớ, ứng dụng tu có kết quả tốt đẹp
cho bản thân và tập thể.
Những năm ở Chân Không, tôi rất bằng ḷng
về việc tu học của chư tăng. Trước tiên tôi
tạo điều kiện cho chư Tăng tu học thuận lợi
về mọi mặt. Sau ba năm học, quí thầy có khả năng
được nhập thất đôi ba năm rất yên tĩnh. Mọi sự lo lắng bên ngoài
đều được chu toàn. Người
tu mà đa đoan bận bịu nhiều việc quá tu khó tiến. Những lúc ta
rảnh rang chỉ chuyên làm một việc th́ mức tiến thấy vượt bực rơ ràng.
Như vậy Tăng Ni mới có đủ ḷng tin rằng không tu th́
thôi, chớ có tu là có tiến.
Tôi tự thấy ḿnh có trách nhiệm là kẻ đi
trước, phải làm sao hướng dẫn người đi sau đừng ḷng ṿng uổng đi một
đời tu. Nếu căn cứ trên lịch sử Phật giáo th́
thời nào có những vị Tăng Ni tu hành ngộ đạo, thời đó là thời thịnh hành
của Phật giáo, chớ không phải đông người tu là thịnh. Ví dụ gần nhất là
cuối thế kỷ mười tám, ở Huế chỉ có Thiền sư Liễu Quán là một vị tăng
Việt Nam tu ngộ đạo, mà đến bây giờ ở Huế cũng như trong Nam vẫn c̣n hệ
phái Liễu Quán. Một người ngộ đạo thôi mà đă kéo dài
cả hai thế kỷ như vậy.
Do đó muốn duy tŕ Phật pháp dài lâu phải
có người tu thấy đạo, ngộ đạo. Chớ c̣n Tăng Ni chỉ chú trọng trên lư
thuyết hay cấp bằng th́ đạo pháp khó giữ được bền lâu. Do đó tôi nghĩ
mỗi vị cố gắng tu, để mai kia sáng được lư
đạo th́ bản thân ḿnh xứng đáng một đời tu, mà đối với Phật pháp ḿnh
c̣n duy tŕ được lâu dài nữa. Đó mới thật là người
tu sĩ đủ tư cách đền đáp bốn ơn.
V́ vậy cái học ở Thiền viện là học để
tu. Sau thời gian học,
chư tăng được nhập thất, cố gắng tu để thấy rằng những ǵ Phật
dạy chúng ta là sự thật. Kết quả tu học có được
chính là niềm tin vững chắc nơi quí vị. Tăng Ni tin chắc chắn
rằng nếu nỗ lực tu tập, nhất định có ngày ḿnh sẽ thấy đạo, sống đạo và
hành đạo được như các bậc đă giác ngộ giải thoát. Đó
chính là mục đích cứu kính của người xuất gia chân chánh.
*Dưới đây là Phật tử
thưa hỏi thêm:
- Kính bạch Thầy, mục thứ tư Thầy nói ở
đây có phải là mục thứ chín của mười mục chăn trâu?
- Không phải.
- Như vậy là mục thứ tám?
- Cũng không hẳn. V́
mục thứ tám là không c̣n trâu, không c̣n chăn, đó là đứng về mặt Tiểu
thừa mà nói, người tu đến đây đạt quả A-la-hán, hết sạch phiền năo.
Nhưng đứng về Thiền tông mà nói, tuy không c̣n trâu
không c̣n chăn tức không c̣n kẹt trong đối đăi, nhưng chưa phải rồi.
C̣n công phu nhiều nữa mới nhảy khỏi đầu sào trăm trượng. Tới đầu sào
trăm trượng th́ trâu và chăn c̣n ở trên đầu sào, khi nào nhảy khỏi đầu
sào mới vào được Phật quốc. Nhảy phóc một cái qua
khỏi chỗ đó là chết sống chớ không phải chuyện thường.
Cho nên nhiều khi chúng ta tu dễ lầm lắm, tới chỗ
nào đó ḿnh tưởng đủ rồi, ngồi thảnh thơi ca hát vui chơi, đó là không
đúng.
- Kính bạch Thầy, từ lâu con có thắc mắc
về trường hợp các vị tu theo Tiểu thừa, nói
rằng chứng A-la-hán th́ không c̣n ưu buồn. Nhưng
trong sử nói ngài Mục Kiền Liên đă là A-la-hán rồi, sau khi gặp mẹ bị
thọ khổ h́nh trong kiếp ngạ quỉ, Ngài vẫn khóc.
Như vậy Ngài vẫn c̣n buồn?
- Có hai trường hợp: Thứ nhất, đứng về mặt
Tiểu thừa th́ như thế là không đúng, v́ c̣n xúc động là c̣n hữu lậu. Thứ
hai, đứng về mặt Đại thừa th́ không có lỗi, v́ Bồ-tát c̣n khóc
kia mà. Bồ-tát khi thấy
chúng sanh khổ, ḿnh không giúp được các Ngài xót xa có khi khóc.
Đó, huống nữa ngài Mục-kiền-liên thấy mẹ khổ mà giúp
không được, Ngài khóc là lẽ đương nhiên. Thành ra chúng ta hiểu
theo cái nh́n Nguyên thủy th́ như vậy Ngài có lỗi, nên các sư Nguyên
thủy nghi bản dịch Hán tạng không đúng, không biết nguyên bản chữ Phạn
thế nào? Nhưng với tinh thần Đại thừa th́ nói ngài
Mục-kiền-liên, ngài Xá-lợi-phất chẳng qua chỉ mượn h́nh thức Thanh-văn,
để thực hành hạnh Bồ-tát. Cho nên gọi ngoại
hiện Thanh-văn nội biến Bồ-tát. Hiểu thế th́
nói đúng cũng được, nói không trúng cũng được.
- Thưa Thầy chỗ lậu
tận của A-la-hán với chỗ vô tâm trong nhà thiền có giống nhau không?
- Cũng chưa giống nhau.
V́ lậu tận của A-la-hán là các Ngài dứt sạch hết nghiệp, không c̣n sanh
trong tam giới nữa. C̣n vô tâm của nhà thiền
là không có tâm phân biệt sanh tử, nhưng c̣n cái thể chân thật bất sanh
bất diệt. Nên tuy không có tâm sanh tử nhưng
các Ngài vẫn lưu nguyện để đi trong sanh tử, thực hành tự lợi lợi tha
cho được viên măn.
Hai bên khác nhau.
Một bên th́ tới chỗ bặt hết mọi nghiệp chướng rồi an
trú vô sanh. C̣n một bên tuy không có tâm sanh diệt
nhưng c̣n thể chân thật. Tâm không dấy động
nữa mà vẫn khởi đại bi tâm phát nguyện đi trong sanh tử.
Khởi đại bi tâm phát nguyện tức là c̣n tâm, do c̣n
tâm mới có thể đi trong sanh tử, nếu không như thế làm sao độ chúng sanh?
Cho nên chúng ta thường nghe nói chư Bồ-tát
hay lưu vi tế hoặc, trần sa hoặc để đi trong sanh tử, độ tận chúng sanh.
(Thiền Viện Thường Chiếu)