4- Bây giờ qua cái Hành. Cái Hành này thường thường ḿnh gọi là đi,
nhưng mà ở đây là sự diễn-tiến liên-tục của tâm-thức, nó mau đến nỗi ḿnh
tưởng nó là liên-tục. Quư vị đốt một cây nhang, nó chỉ đốt một đầu cháy đỏ
chút xíu thôi; ḿnh quay một ṿng th́ thấy có một ṿng tṛn, ḿnh tưởng như có
một ṿng lửa. Nhưng t́nh thật qua những đốm lửa quay liên-tục, nó nối liền
nhau thành một cái ṿng. Hoặc thí dụ một thác nước đang chảy, hoặc ṿi nước
phông-tên, ḿnh thấy nó chảy một ḍng thế này, lúc nào cũng có một lằn thẳng.
Thực ra chỉ có những giọt nước nối với nhau, mau đến đổi ḿnh thấy có một
đường liên-tục. Ở đây cũng vậy, cái chúng ta gọi là cái tâm của ḿnh nó gồm có
một cái lằn như thế này, được nối bởi những tâm-niệm, mà bây giờ ḿnh nghĩ. Ví
dụ, quư vị nghe tôi nhắc đến vụ đỉa, th́ ngay khi nghe nhắc tới đỉa tức th́
quư vị bắt đầu nhớ "À, ḿnh làm ruộng ở B́nh-dương cũng có đỉa". Ngay lúc đó
th́ quư vị bắt đầu đi về ruộng "Không biết trời ở trên đó có mưa hay không,
ruộng có nước hay không, mưa hay là nắng; ḿnh về tát nước hay rải phân. À,
rồi tiếp theo ḿnh sẽ mua phân ở đâu nè? Người bán phân cho ḿnh họ bán phân
giả hay thiệt nè? Người này là đàn bàhay đàn ông, dễ thương hay dễ ghét nè?"
Như vậy quư vị thấy gồm toàn những cái niệm, là những đầu Ngô ḿnh Sở nối với
nhau liên-tục như thế đó, mà ḿnh tưởng là cái gịng suy-tư mạch lạc, nhưng
thực ra chặt nó ra từng khúc th́ thấy là đầu Ngô ḿnh Sở. Thành ra khi ḿnh
nằm ngủ, quư vị thấy, nằm mơ đang đứng ở đây, lát vọt ra chỗ kia, nó hoàn toàn
không mạch lạc ǵ hết v́ đó là biểu-hiện những diễn-biến của tâm-thức nó
biểu-hiện qua giấc mộng; như khi thấy thân heo mà đầu ngựa chẳng hạn, quư vị
chớ thắc mắc ǵ v́ ḿnh luôn luôn đem h́nh ảnh nầy nối qua h́nh ảnh kia, và
chính những cái này diễn-tiến mau quá cho đến đổi ḿnh thấy cái tâm ḿnh là
một cái ǵ đồng-nhất, bất-biến.
Khi nào quư
vị bỏ ra thời-gian chừng năm phút, nh́n trở lại thấy hoàn toàn nó không có ǵ
là mạch lạc hết. Nhưng mà cái không mạch lạc đó chúng ta lại tưởng là cái tâm
của ḿnh. Thật ra nó chỉ là sự diễn-biến tiếp nối từng h́nh ảnh với nhau thôi.
Như vậy cái Hành này chỉ là sự diễn-biến của tâm-thức, nó đi mau đến đổi chúng
ta tưởng là nó đồng-nhất, nó bất-biến, nhưng thật ra nó biến đổi trong từng
niệm. Niệm là khoảng tâm thức ngắn chừng một giây đồng hồ thôi.
Như vậy th́
thấy rơ như thế đó gọi là "chiếu kiến", là "chánh-kiến", là thấy đúng cái xác
thân này thay đổi, thấy cảm-thọ thay đổi, thấy tưởng-tượng thay đổi, thấy hành
thay đổi, tức là sự diễn-biến tâm-thức đổi quá mau.
5- Bây giờ là
yếu-tố thứ tư, là Thức đó.
Thức ở đây là
nhận biết các giác-quan đối với cảnh hiện-tại. Thí dụ tôi đứng đây, tôi nh́n
thấy, Thức ở đây là cái biết của con mắt, cái biết của tai, cái biết của mũi,
cái biết của lưỡi, cái biết của thân; tạm chia ra như vậy. Cũng như quư vị tạm
chia ra một tuần làm bảy ngày. Chúng ta đặt ra là thứ hai, thứ ba, thứ tư v.v...
nhưng thật ra các ngày đó đâu có gạch nối với nhau, đâu có cái dứt khoát giữa
ngày này qua ngày kia. Cũng như ḿnh chia ra một ngày mười hai giờ ǵ đó, th́
những giờ đó tạm chia ra nó là một gịng liên-tục.
Ở đây ḿnh
thấy người Ấn-độ chia ra thân này làm năm thành phần. Thành phần xác thân gọi
là sắc, phần tâm gọi là thọ, tưởng, hành, nhưng thật ra thọ, tưởng, hành, thức
này nó liên-kết với nhau chớ không bao giờ nó hiện-diện từng cái một.
Tưởng-tượng xong là thấy khổ. Thấy khổ xong tính một hơi th́ đó là hành. Do
tính một hơi mà ta nhận biết những sự kiện hiện-diện, nhận biết trước mắt ḿnh
thành sai lầm hết gọi là Thức.
Chỗ này, một
vị thiền-sư có người đến hỏi ông ta:
"Nghe nói
ngài đă ngộ rồi, xin ngài chỉ cho con là ngài ngộ kiểu nào?"
Ngài mới chỉ
một chấm trắng trong bức tường này và hỏi:
"Ông thấy
chấm này hay không?" Người đó nói:
"Thấy!" Ông
ta nói:
"Ông thấy!
Tôi thấy! Tại sao nói ông mê, tôi ngộ?"
Một vị khác
đến nhà, ông ta chỉ gơ vào bảng kêu cọc cọc thế này, hỏi:
"Nghe không?"
Được trả lời:
"Nghe!"
"Ông nghe,
tôi cũng nghe; nhưng sao ông ngộ tôi mê?"
Như vậy, thấy
nghe hiểu biết chúng ta đều giống hệt các người đă đại ngộ! Có điều là do sự
diễn-biến của thọ, tưởng, hành và cái sai lầm nào không biết chúng ta thành mê.
Ở đây khi mà
nhận rơ sắc là xác thân, thọ là cảm-giác, tưởng là tưởng-tượng quá-khứ hoặc là
tương-lai, hành là sự diễn-biến liên-tục của tâm-thức, thức là những sự nhận
biết trong hiện-tại, đều thấy rất là vô-thường, không có cái nào là bền, th́
cái đó được gọi là "chiếu-kiến ngũ uẩn giai không", thấy rơ năm uẩn là không.
Như vậy, bây
giờ ở đây ḿnh phải hiểu "Không" không có nghĩa là không có hoàn toàn, mà có
nghĩa là nó bất-định, tùy theo cái duyên bên ngoài mà thay đổi.
Chẳng hạn quư
vị thấy tôi ngồi ở đây mập, th́ cái mập này không cố-định. Lần sau quư vị
xuống, có thể là tôi trải qua một trận bệnh hoặc là tôi ăn không được th́ tôi
sẽ ốm, hoặc là tôi ăn nhiều tôi sẽ mập hơn. Như vậy cái mập của xác thân này
cũng không cố-định. Thí dụ kỳ này quư vị thấy tôi đen nhưng thời-gian sau quư
vị thấy tôi lăn bột trắng hơn chẳng hạn; th́ như vậy rơ ràng cái đen cái mập,
cái ốm, cái trắng v.v... tất cả cái ǵ thuộc về thân và tâm này cũng tùy duyên
chớ không có cái ǵ cố-định. Thấy rơ cái đó gọi là hiểu lư "Không". Như vậy
cái "Không" này dễ hiểu chớ? Điều này ḿnh có thể thấy rơ ràng chớ! Nhưng mà
chỉ kẹt một chút cho nên ḿnh đương ngộ trở thành mê đó.
Cái kẹt này là ở chỗ nào? Nói xác thân, Phật cũng có xác thân, thầy ḿnh có
xác thân, ḿnh cũng có xác thân. Thầy thấy nghe hiểu biết ra sao, ḿnh cũng
thấy nghe hiểu biết như vậy, mà ḿnh có thể c̣n giỏi hơn thầy nữa! Thầy đâu
biết tiếng Anh, tiếng Pháp. Ḿnh biết tiếng Anh, tiếng Pháp. Ông thầy đâu có
biết lái xe Honda. Ḿnh c̣n biết đi xe Honda nữa. Những thú vui như coi hát,
coi tivi, nghe cassette, thầy đâu có những thú vui đó; mà sao ḿnh phiền-năo,
ông thầy không có phiền-năo? Như vậy cái bí-quyết nó khác nhau ở chỗ nào? T́m
ra cái bí-quyết đó là giải-đáp được câu hỏi, tức là chuyển mê khai ngộ.
Chỗ này sự
tŕnh-bày cái "Không" ḿnh tưởng đâu là xa xôi, thực ra nh́n nó nó đúng như nó
hiện-diện. Xác thân và tâm chúng ta thay đổi vô thường tùy duyên. Cái đó được
gọi là hiểu được lư không. Thành ra người mê nhận biết cái thức này nó rất
quan trong. Người mê sẽ thấy cái ǵ?
Chẳng hạn, ví
dụ một người đang nằm mơ, ông ta nghe tiếng con ong bay vù vù. Con ong bay bên
ngoài nhưng ông ta thấy có chiếc máy bay bay qua. Lát sau, ông ta ngủ ông ta
làm sao cái ly ở bên cạnh bị bể. Ông ta nằm mơ thấy máy bay làm rớt xuống trái
bom nổ. Bây giờ, chân ông ta bị muỗi cắn, ông ta nằm mơ thấy liền bom nổ, mảnh
bom văng miểng làm ông ta găy chân. Quư vị thấy bên ngoài là ong bay, ly bể,
muỗi cắn. Mà bên trong máy bay, dội bom, mảnh bom trúng ông ta găy chây, ông
ta đi bệnh-viện, ông ta khổ vô cùng. Cảnh ở ngoài không ăn thua ǵ hết mà cảnh
bên trong rất khổ, khi ông ta thức dậy, máy bay biến thành con ong, trái bom
nổ biến thành cái ly bể, và chân găy chỉ là một vết muỗi cắn. Có phải ông ta
hết khổ là v́ ông ta thấy sự thật không?
Trở lại ḿnh,
quư vị có nghe nói "đa-nghi như Tào-tháo" không? Tại sao người ta nói câu đó?
Bởi v́ ông
Tào-tháo đi đánh trận thua; ông đi ngang qua một trang trại. Khi đi qua trang
trại đó, người chủ trại mới sai con đi mua rượu, ông chủ trại đích thân đi mài
dao làm heo đăi Tào-tháo. Ông Tào-tháo nghe tiếng nhạc ngựa đi mua rượu th́
ông ta suy nghĩ ra liền, rằng người này đi báo quan để bắt ḿnh. Ông ta nghe
tiếng mài dao, nghĩ rằng người ta mài dao để giết ḿnh. Nghe tiếng người ta
thức dậy nhôn nhao và nghe người đầy tớ hỏi "Giết một hay là giết hết?" ông
chủ nhà bảo "Giết hết mới đủ". Thế là Tào-tháo nghĩ "Rồi, họ sắp ra tay!"
thành ra Tào-tháo kêu quan quân thức dậy, giết hết cả nhà của người chủ trang
trại đó. Và rượt theo giết thằng con nữa. Lát sau mới khám phá ra người ta mua
rượu giết heo là để đăi Tào-tháo mà ông lại giết hết cả nhà người ta.
Thành ra giết
xong và biết được tự sự Tào-tháo mới than một câu thế này: "Chẳng thà ta phụ
các ông c̣n hơn để các ông phụ ta."
Như vậy giấc
mơ này ḿnh thấy rơ là nhắm mắt, và giấc mơ Tào-tháo là mở mắt. Nghĩa là ông
ta ngồi rơ ràng nhưng mà cái tâm rất đa-nghi. Tào-tháo là gian-hùng hay hại
người khác lắm. Thành ra nghe và suy gẫm các hành-động chung quanh và ông ta
cho là hại ông ta, nên ông ta làm lầm như thế đó. Cũng như giấc mơ chớ ǵ? Và
do đó là do cái mê của Tào-tháo mà giết lầm những người nầy.
Mới đây tôi
nghe một cô Phật-tử đến lễ Phật và kể tôi nghe một câu chuyện.
Cô ta ở chung
với một người bạn, hai người cùng là Phật-tử và cả hai cùng tu. Cô ta thấy
ḿnh rảnh thời-gian, cô ta mới học nghi-thức. Học nghi-thức nhưng cô ta già
quá không nhớ, cho nên cô ta mới ghi lên tấm bảng ở đầu giường, ở chỗ cái tủ.
Cô ta ghi chữ cuống có nghĩa là dối gạt. "Cuống: dối gạt, đạo-đức giả. Sang:
bỏn xẻn v.v..." để cho cô ta nhớ danh-từ nghi-thức. Cô ta ghi để học vậy thôi.
Người bạn cô ta mới diễn dịch ra là cô ấy ghi để chửi xéo, thành ra chửi cô ta
quá chừng!
Như vậy quư
vị thấy, do cái suy gẫm của ḿnh mà ḿnh trúng pháp biến thành trật hết. Thành
ra t́nh bạn của hai người sứt mẻ là v́ người bạn cô ta quá đa-nghi! Người bạn
cô ấy nghĩ là cô ta muốn chửi xéo bằng cách ghi cái chữ đạo-đức giả là muốn
chửi người bạn ở chung. Mà thật ra là cô ta ghi để cô ta học cái danh-từ
nghi-thức mà thôi.
Như vậy, cái
Thức này là cái biết đó, ḿnh gọi là có chánh-kiến, là ḿnh nhận đúng; nhưng
thật ra luôn luôn nhận qua cái suy gẫm của ḿnh thôi.
Giả sử ḿnh
đi qua bụi măng-cầu nào đó, thấy hai người bạn đang nói chuyện với nhau; ḿnh
đi chờ tới, ḿnh thấy họ làm thinh; họ làm thinh nên ḿnh không biết họ làm
cái ǵ, và luôn luôn ḿnh suy gẫm thế này: "Chắc họ đang nói lén ḿnh thành ra
ḿnh đi qua họ làm thinh!" thành ra họ bị ghi một điểm. Hôm sau nữa, ḿnh qua
sàng nước rửa chén, họ đang nói xôn xao, họ thấy ḿnh tới cái là họ làm thinh;
thế là ḿnh nói: "Hai lần họ nói lén ḿnh!" và lần thứ ba, lần thứ tư, và rồi
ḿnh đến ḿnh gây lộn với người ta. Mà thật ra không có ǵ hết! Hai người đang
tính chuyện đi chơi, thấy ḿnh tới họ sợ ḿnh mét thành ra họ nín; và ḿnh suy
gẫm ra họ nói lén ḿnh. Như vậy, cái Thức này là cái nhận biết những cảnh sai
lầm là do sự tưởng-tượng của ḿnh.
Do đó chúng
ta cũng có cái thân và tâm ḿnh cũng như bao nhiêu người khác, nhưng mà những
cái thân và tâm đó ta sử dụng cái tâm của ta ra sao không biết mà chỉ làm khổ
ḿnh và khổ người. Mà riêng mấy bà là rất sở-trường về cái tưởng tượng này.
Tôi thấy một trăm gia-đ́nh sở dĩ tan vỡ, không hạnh-phúc, là tại v́ người vợ
hay người chồng tưởng-tượng nhiều quá thành ra phát ghen, mà chính cái ghen
này đó nó làm đổ vỡ chớ ǵ?
Thành ra quư
vị đến chùa quư vị thấy vui vẻ, và nói ở nhà ḿnh buồn, cái buồn đó là do ḿnh
đóng góp một phần. Mà người đóng góp đó họ không thấy rơ, chính họ phá vỡ
hạnh-phúc gia-đ́nh của chính họ.
Chẳng hạn có một chuyện giản-dị.
Người chồng
đến than với tôi như thế này. Ông ta đi ra đường thấy có người bằng tác của vợ
ḿnh, mặc bộ đồ đẹp, may kiểu đẹp. Về nhà, ông ấy mới nói với vợ:
"À, anh ra
đường thấy có người đó mặc bộ đồ màu đó, đẹp lắm. Thành ra anh thấy em nên may
kiểu đó!"
Bà vợ nghe
khoái lắm, đi chợ mua vải may liền. Bữa sau, bà ta mới suy diễn ra:
"Anh ra anh
thấy ai, thấy hồi nào? Nh́n ở đâu, ở đâu mà biết người ta đẹp, bận kiểu nầy?
Anh phải ngồi gần mới nh́n biết được. Con nhỏ đó ở đâu, anh nói cho tôi nghe!"
Ông chồng từ
đó về sau hết dám nói.
Ông ta chỉ
cần nói đi đến nhà ai, thấy pha cà-phê ngon về nhà bày cho vợ; hoặc là thấy ai
ăn ngon cái ǵ, về nhà bày cho bà vợ là bị vợ chụp hỏi "Rồi ăn sao? Vô nhà chỗ
nào uống cà phê? Tại sao hồi nào giờ không sanh tật chê khen, mà bây giờ khen
chê là có cái ǵ rồi!" và đay nghiến nhức nhối cả đêm dài.
Ông chồng đi
làm cực khổ, về nhà muốn nghỉ, mà về nhà là bị bà vợ cằn nhằn. Nói mà không
nghe th́ bị vợ bảo:
"Thôi thôi
tới rồi! Rơ ràng là có bằng chứng rồi!"
Và bà ta đi
ŕnh nữa! Ŕnh theo kiểu Tào-tháo th́ rơ ràng cách đi, cách đứng này có dự-tâm.
Gia-đ́nh bà ta bắt đầu xáo trộn là do bà vợ đóng góp. Ông chồng đi làm về cứ
đề-pḥng, muốn nói, muốn làm bất cứ cái ǵ cũng đều phải uốn lưỡi hai ba lần,
không biết nói ra có bị cái ǵ hay không. Một bên vô-t́nh, một bên hữu-ư. Lâu
dần ông ta mệt quá phải bỏ cuộc nửa chừng.
Những cái khổ
này, như vậy là do ḿnh tạo ra chớ đâu có phải là bên ngoài. Chỗ này tôi chỉ
giới-thiệu bài kinh đầu tiên thôi. Có một vị Bồ-tát, vị này không biết là nam
hay nữ, tăng hay tục, chỉ biết tên là Quán-tự-tại. Ngài dùng trí-tuệ soi thấy
năm uẩn là không th́ Ngài vượt qua tất cả khổ.
Bây giờ Đức Phật mới giới-thiệu dần, nói ḿnh cũng phải tu như Ngài th́ chúng
ta cũng sẽ vượt qua khổ.
Năy giờ tôi
giới-thiệu năm uẩn cho quư vị th́ thấy rằng ḿnh đă khổ nhiều rồi. Khổ thân
không ai thoát được. Hễ có thân là có bệnh có khổ. Nhưng mà cái khổ tâm th́
chúng ta có thể sửa được. Do đó, trong kinh-điển đại-thừa mới đề-nghị ḿnh
biến phiền-năo thành bồ-đề, biến ta-bà thành tịnh-độ. C̣n nếu mà không khéo
th́ cái cảnh ta-bà coi như tịnh-độ ḿnh sẽ biến thành ta-bà, cái cảnh
thanh-tịnh ḿnh sẽ biến thành phiền-năo. Như bà vợ mà tôi đă giới-thiệu, bà ấy
quậy riết hoài ông chồng mệt mỏi quá, ở sở làm đă mệt, về nhà c̣n bị đay
nghiến th́ tự-nhiên ông ta phải ghé chỗ nào đó êm ấm hơn chớ ǵ? Quư vị thấy
điều này? Hiểu rơ điều này, chúng ta áp-dụng làm sao ở trong cảnh khổ th́
chúng ta nên giúp cho nhau sống an-lạc một chút chớ đừng tưởng-tượng quá mà
làm khổ ḿnh và khổ người.
Quư vị thấy
năm uẩn là không đó, đâu phải ǵ là cao xa, ḿnh nh́n thấy nó rơ là nó thường
biến-đổi, không bao giờ có một giá-trị cố-định cứng chắc hết. Thân này thay
đổi và tâm thay đổi, cảm-giác thay đổi, nhận biết cũng thay đổi. Cùng là sự
kiện đó mà khi vui ḿnh thấy khác, khi buồn ḿnh thấy khác. Cũng như cái bông
này là đẹp khi quư vị vui, thấy nó đẹp, và khi nổi quạo th́ thấy nó xấu. Như
vậy th́ luôn luôn là tùy duyên thôi. Do đó mà hiểu rơ cái ư tùy duyên này, do
nhân-duyên mà nó tạo thành cảnh vui, cảnh buồn, cảnh thương, cảnh ghét, cảnh
giận, cảnh hờn, thế này thế khác v.v... Hiểu được cái đó gọi là hiểu lư không.
Như vậy lư
không là không khó phải không?
Và Phật dạy
tiếp:
Phật mới gọi
ngài Xá-lợi-tử, tức là ngài Xá-lợi-phất đó, Thị chư pháp không tướng. Kế đó,
"Xá-lợi-tử, sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức
thị sắc, thọ, tưởng, hành, thức, diệc phục như thị."
Tức là Ngài
nói như vậy th́ cái sắc này nó cũng biến đổi tùy duyên. Cái thọ, tưởng, hành,
thức nó cũng đều không hết, có nghĩa là nó không cố-định. Cái tưởng tượng, cái
cảm-giác của thân và tâm hoàn toàn nó không có cố định. Cái nhận biết cũng
không có giá-trị thật sự nữa. Hiểu được như thế đó tức là hiểu được cái lư
không, và bây giờ, Phật nói tiếp:
"Này
Xá-lợi-tử, cái không tướng không của các pháp đó nó không sanh, không diệt,
không dơ, không sạch, không tăng, không giảm."
Mà bây giờ
ḿnh mới thấy nè, những cái ḿnh luôn luôn nói là cái sinh, cái diệt, cái dơ,
cái sạch, cái tăng, cái giảm là khi chúng ta nói đến một cái giá-trị coi như
không biến đổi; nhưng mà ở đây đưa ra nếu mà người hiểu được cái lư không rồi
th́ thấy không có cái ǵ trên thế-gian này mà có cái giá-trị bất-định hết,
cố-định hết, mà nó luôn luôn thay đổi.
Chẳng hạn
ḿnh nói cái ngon nhứt trên thế-gian này là sầu riêng th́ - điều này xin lỗi -
có người họ chịu không nổi cái mùi của nó đâu! Có những cô trong chùa mà chúng
tôi đem trái sầu riêng vô cúng, cô ta bảo cô ta không có tụng kinh, v́ cô ta
nghe mùi cô ta nhức đầu, chịu không nổi. Chẳng hạn thứ ở ngoài thế-gian người
ta thích nhứt là cà phê, thuốc lá, rượu, th́ ba thứ này, tôi chịu không nổi
rồi! Như vậy th́ quư vị thấy những cái ḿnh cho nó có một cái giá-trị cố-định,
thực ra nó không cố-định mà nó tùy duyên, bởi v́ người này thích nên cho là
đúng, và người kia không thích cho nên họ thấy là sai. Thành ra ḿnh phải thấy
những sự thiện ác, phải quấy, tốt xấu ... Những cái đó nó không có cố-định.
Thấy để đừng có chấp.
Tôi nhớ lúc
mà tôi ở Linh-chiếu này lúc nào tôi cũng nh́n thấy tôi có một tiêu chuẩn
cố-định hết. Chẳng hạn như cái thùng xách nước mà xách xong theo ư tôi tốt
nhất là phải úp trở lại cho nó đỡ hư. Tại v́ để như vậy nó nong nước nó sẽ sét
và mau mục. Khi nào thấy mấy cô xách xong nước để ngửa ra th́ tôi bực dữ lắm,
tôi nói là phí phạm. Tôi đi ra ngoài tôi thấy dùng chén đá hay dao nĩa quăng
bừa băi không đem vô, tôi cũng bực trong bụng. Bởi v́ tiêu-chuẩn tôi nói là
phải gọn gàng, ngăn nắp, thế này thế khác chẳng hạn.
Nhưng mà khi
tôi đi đến nơi khác như về miền tây một tháng trời, tôi trở về, tôi thấy ở đâu
người ta cũng có thùng xài, người ta cũng có chén để dùng, dao để dùng ... chớ
người ta không có chết, mà ḿnh tưởng không có ḿnh coi, không có bực bội,
không có giận hờn th́ chắc người ta hết đồ xài, người ta chết hết trơn rồi! Té
ra người ta cũng vẫn sống! Tôi đi nhiều chỗ, đến chỗ nào tôi cũng đưa ra một
tiêu-chuẩn, ḿnh cứ trụ trên chỗ ḿnh lo, rồi ḿnh giận hờn thương ghét đủ thứ;
tại v́ ḿnh thấy ḿnh nghĩ đúng quá, tốt quá mà người khác làm sai đi.
Đến lúc đó tôi mới thấy rơ rằng:
"Có mợ th́ chợ
cũng đông
Không mợ th́
chợ cũng không vắng người!"
Tôi c̣n cái bịnh nữa là hồi đó tôi dạy về vệ-sinh, về vạn-vật học, dạy về
truyền-nhiễm của bệnh sán lăi đó, thành ra tôi quen, tôi bắt rửa rau phải rửa
ba lần và ngâm thuốc tím, nếu không th́ ngâm nước muối. Rồi nước uống th́ uống
nước thiệt chín, khi ăn cơm phải rửa tay. Tôi thấy ai sai những nguyên-tắc đó
là tôi bực dữ lắm. V́ tôi nghĩ rằng nếu không theo đúng nguyên-tắc vệ-sinh,
người đó sẽ bịnh chết hoặc bụng sẽ đầy nhóc lăi đi.
Nhưng mà sau
đó, đến năm 1983, khi mà tôi đi công-tác trên Trị-an, lên đó suốt một tuần,
tôi và cô Thanh-châu chẳng tắm, chẳng rửa ǵ hết trơn; đến hồi ăn cơm, xúc gạo
đổ nước vô, múc nước śnh lắng trong để đổ vô gạo, c̣n rau th́ chỉ luộc; c̣n
tay mặt, chưn cẳng th́ hoàn toàn khỏi rửa ǵ hết, mà tôi thấy trên đó người ta
vẫn sống, chẳng ai chết hết trơn! Vậy mà hồi trưa đến giờ ḿnh vẫn bực bội v́
những thứ đó.
Thành ra khi
hiểu chỗ này, Phật nói dường như chúng ta thấy như nói về cái ǵ đâu: "Cái
tướng không của các pháp nó không sanh, không diệt, không cấu, không tịnh,
không tăng, không giảm..." Ḿnh tưởng là cái tướng nó nằm ở đâu, nhưng thật ra
nói ở đây, chỉ đưa ra cho chúng ta thấy các pháp nó vốn sinh diệt và tùy duyên,
nó không có giá-trị nào tuyệt-đối hết.
Cái thời tôi
khoảng mười bốn, mười lăm tuổi, tôi nhớ cái làm đẹp lúc đó nhứt có lẽ là lần
gỡ cái đầu, rồi đánh rối xịt keo lên, và tôi cho đó là đẹp nhứt. Bây giờ đây
th́ khác, tôi nhớ có lần tôi uốn tóc, tôi uốn cái đầu mà kiểu tóc nó quăn nên
tôi phải đội khăn lông tôi ra đường, chớ tôi không dám bỏ khăn ra. Bây giờ tôi
nh́n kiểu tóc hồi xưa đó, bây giờ họ gọi là kiểu xù lông nhím. Như vậy cái xấu
hồi trước bây giờ thành cái đẹp, cái đẹp bây giờ coi chừng mai mốt thành cái
xấu. Như vậy th́ những giá-trị dơ sạch, phải quấy, tốt xấu, nó có là giá-trị
vĩnh-viễn không? Hoàn toàn đâu có giá-trị! Cho nên ḿnh nh́n biết nó là tùy
duyên, th́ tự nhiên ta không đưa ra một thước đo nào để biết cuộc đời này biến
đổi cho ḿnh hết.
Quư vị có nhớ
hôm trước tôi có kể câu chuyện tướng cướp Hy-lạp không?
Anh chàng đó
có cái giường nằm. Anh ta đặt ở giữa đường, dưới chân núi. Ai đi qua anh cũng
bắt leo lên cái giường này. Người nào dài hơn th́ anh ta chặt bớt một khúc đi,
mà ngắn hơn th́ anh ta kéo cho dài ra. Mà chặt hay là kéo kiểu đó th́ cũng
chết con người ta rồi. Người nào nằm vừa trong cái giường này th́ anh ta thả
cho về; bằng cách quảng-cáo th́ anh tướng cướp nổi danh ngang cái giường này,
và ai đi ngang qua đấy cũng run hết trơn. Quư vị mới thấy cái giường này đo
theo cái tầm của anh tướng cướp này, mà trên thế-gian này, người lùn người cao,
chớ ai đâu một kiểu như vậy? Mà hễ gặp một cái là anh bắt leo lên. Ḿnh có cái
giường như vậy không?
Có chớ sao
không! Để tôi chỉ cho quư vị thấy. Hôm trước có mấy cô ở đây cằn nhằn:
"Thưa thầy,
mấy Phật-tử B́nh-dương ở đây đi học có một nhóm không chịu đi học, ra vườn dừa
tâm t́nh ở ngoài ấy!"
Thầy mới nói:
"Người ta có
tu như con đâu mà bắt người ta không được tâm t́nh?"
Cô đó đă mời
quư vị leo lên cái giường rồi. Cái giường của cô ta là không được tâm-t́nh. Và
ḿnh thấy người ta tâm-t́nh rồi ḿnh bực chớ ǵ! "Hồi xưa ai cấm duyên bà, bây
giờ bà già bà cấm duyên tôi!"
Thành ra ḿnh
tưởng cái giường của tên cướp là chuyện thần-thoại Hy-lạp; chớ thiệt ra chuyện
này nói lên mỗi chúng ta có một khuôn khổ nào đó, gặp người nào là chúng ta
bắt leo lên. Vừa nh́n người này thấy hợp một hai điểm nào đó là rồi "A! Hèn
lâu mới gặp tri-âm!" Nhưng mà xích lại ở gần ḿnh thấy cái tật của họ, họ sẽ
tḥ tay chân ra khỏi cái giường của ḿnh; thế là ḿnh sùng, ḿnh hỏi "Tại sao
bà thay đổi? Hồi trước đây không có mà bây giờ sao tệ quá!"
Nhưng mà cái
giường của ông này c̣n có cái thước đo cố-định, v́ bằng gỗ nó không có nở. C̣n
ḿnh, hôm nay ḿnh vui vẻ ḿnh không có ưa những người có cái mặt một đống,
nh́n vô thấy như là ai ăn hết của; nhưng ngày mai ḿnh buồn, ḿnh không ưa
những người nói nhiều, cái miệng tía lia như vậy ai mà chịu nổi!
Như vậy,
người bạn ḿnh lúc ḿnh muốn họ cười nói như ḿnh, lúc th́ ḿnh muốn họ im ỉm,
mà khi đó họ cũng thay đổi như ḿnh. Họ cũng bắt ḿnh theo cái khuôn của họ.
Do đó mà chúng ta làm khổ lẫn nhau.
Thành ra ở
đây tôi đưa ra cái câu này, có nghĩa là phải nh́n các pháp nó biến chuyển, nó
tùy duyên chớ không thể lúc nào cũng vậy. Chẳng hạn như chúng ta, ở đây áp
dụng cái này ở trong tu viện. Có những người mới vô chùa th́ rất là siêng năng,
ḿnh sai cái ǵ cũng được hết, mà họ ở ba bốn năm ḿnh sai không được, tức th́
ḿnh nói sao thay đổi. "Nhứt niên Phật tại tiền, biết như vậy hồi đó ḿnh
không có nhận nó vô tu!" Mà nếu chỉ cần áp-dụng cái không này thôi th́ ḿnh sẽ
thông-cảm với người này. Hồi mới vô nó khác. Hồi vô lâu nó khác. Có thể ở lâu
ngày rồi mệt mỏi đi, hoặc là bệnh hoạn cho nên ḿnh sai nó, nó không nhậm lẹ.
Đó là điều thứ nhất. Điều thứ hai nữa, giả sử người mới vô một ḿnh ḿnh sai,
có thể ba chục, bốn chục người sai được; mà họ làm riết họ cũng đuối chớ ǵ?
Lâu lâu vô làm biểu-diễn th́ được, chớ biểu-diễn ba bốn năm trời có thánh hay
là người máy cũng phải ră.
Thành ra cái
kiểu tùy duyên này chúng ta thông-cảm vô cùng. Không có phải trái, tốt xấu nào
cố-định mà là do duyên thôị Hiểu rơ như vậy tức là hiểu được tướng Không của
các pháp.
Chẳng hạn như
bây giờ, một ông chồng mới cưới được một cô vợ thật đẹp. Thời-gian sau than: "Vợ
tôi bữa nay bà ấy thành khủng-long, bà chằng!" Nhưng mà phải hiểu tại sao một
cô thiếu-nữ đẹp cỡ đó mà về nhà ḿnh bây giờ biến thành bà chằng. Cô ấy hồi ở
nhà với ba má sáng ngủ tới chín giờ dậy rồi bận đồ đi chơi, trưa về có sẵn cơm
ăn, thành ra cô ta không đẹp như tiên sao được! Mà bây giờ mười một giờ khuya
cô ta c̣n xắt chuối cho heo ăn, ba giờ thức dậy thay tă cho con, năm giờ giặt
đồ, rồi làm việc, vừa lo cho chồng vừa lo nuôi con, vừa chăm sóc gia-đ́nh hai
mươi bốn trên hai mươi bốn, không có một giờ nghỉ ngơi, thành ra không biến
thành bà chằng sao được!
Rồi cô vợ
khoe: "Chồng em hồi xưa hào hoa phong-nhă, dễ thương hết sức, mà bây giờ nh́n
ông ta tôi phát chán, như ông nghiện vậy!" Không nghiện sao được! Hồi xưa, ăn
ở nhà với ba má bận đồ đẹp mới ra đường chơi, bây giờ vừa chạy gạo, vừa nuôi
con, vừa nuôi vợ, mà làm ăn hai mươi bốn trên hai mươi bốn, không th́ giờ nghỉ
ngơi, về nhà bị vợ sai tắm heo, tắm con nữa, đi mua gạo nữa, thành ra ṛm như
ông hút x́-ke là phải rồi!
Như vậy,
chúng ta thấy, các pháp không bao giờ cố-định ở một chỗ, không chỉ năm uẩn của
ḿnh thôi mà năm uẩn thân và tâm ḿnh cũng thay đổi. Hiểu rơ để thấy không bao
giờ có cái ǵ nhấtđdịnh trong đó, th́ hiểu như vậy là hiểu cái tướng không của
các pháp. Cái này là biểu ḿnh nh́n sự vật y như nó hiện-diện, không méo mó.
Như vậy th́
giả sử như ḿnh gặp người bạn ḿnh hôm qua đương gây lộn, cái mặt bà ta đương
nổi sân mà ngày nay ḿnh đến ḿnh gặp bà ta đang vui vẻ th́ đừng có bao giờ
đem cái h́nh ảnh của ngày hôm qua gán cho ngày hôm nay. Thường thường giả sử
ḿnh có người bạn nào đó, một ngày họ có biết bao nhiêu tâm-niệm, mà đă chỉ
chụp một cái tâm-niệm là sân thôi và ḿnh kết tội cho rằng người này là cái
người sân, và kết tội như vậy là người không hiểu lư không.
Chẳng hạn quư
vị vô đây, thường thường ở đây một tuần lễ, chủ nhật là tôi tiếp khách cư-sĩ,
c̣n sáu ngày kia tôi chỉ dạy các cô em tôi thôi. Quư vị đến đây, ngày chủ nhật
có thể tôi ráng tôi biểu-diễn, tôi vui vẻ hết ḿnh. Tại v́ tôi chỉ có
biểu-diễn mười hai tiếng đồng-hồ thôi. Nhưng mà sau đó, quư vị đến đây ở,
tưởng tôi lúc nào cũng vui th́ đó là lầm. Cái vui này cũng tùy duyên. Khi nào
biểu-diễn mới vui, chớ ngày thường cũng quạu dữ lắm!
Hiểu rơ cái
tùy duyên này để chúng ta không kết một pháp nào cố-định ở một vị-trí nào hết.
Cho nên ở đây mới nói là không phải hẳn là sinh diệt, là sạch, là dơ, là tăng,
là giảm mà những cái đối đăi hoàn toàn không cố-định. Hiểu như vậy là hiểu cái
tướng không.
"Cho nên
trong cái không đó không có sắc, thọ, tưởng, hành, thức; không có nhăn, nhĩ,
tỷ, thiệt, thân, ư không có sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, không có nhăn
giới, cho đến không có ư thức giới, không có vô-minh, cũng không có diệt
vô-minh, cho đến không có lăo-tử cũng không có hết lăo-tử; không có khổ tập
diệt đạo, cũng không có trí cũng không có đắc. V́ không có ǵ đắc hết."
Như vậy ở đây
mới chỉ rằng trong cái không đó hoàn toàn cũng không có những cái pháp như sau:
1-Pháp thế-gian:
a) Ngũ ấm:
sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Nhớ là không có, ở đây không có nghĩa hoàn toàn
không có mà chỉ tùy duyên thôi. Tùy duyên mà chúng ta có cái thân và tâm như
thế này. Mai một đổi cái duyên khác, ta có cái thân và tâm khác.
b) Lục căn:
Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ư.
c) Lục
trần: Là những đối tượng của sáu căn. Quư vị hiểu sáu căn. Ví dụ con mắt
nh́n thấy tấm bảng th́ đây gọi là mục-trần, nghe tiếng gơ th́ đây là
thinh-trần, hửi thấy mùi phấn th́ mùi phấn là hương-trần, rờ thấy nhám th́ đây
là xúc-trần, le lưỡi thấy mặn nhạt th́ đó là vị-trần, không nh́n thấy tấm bảng
mà mường tượng thấy tấm bảng th́ đó là pháp-trần. Thấy quư vị đang ngồi ở đây
gọi là sắc-trần. Nghe tiếng lao xao của quư vị là thinh-trần. Mùi mồ hôi của
quư vị gọi là hương-trần. Liếm mồ hôi mặn gọi là vị-trần. Rờ thấy quư vị là
xúc-trần. Quư vị ra về rồi mà c̣n nghe được mùi mồ hôi th́ đó là pháp-trần.
Tất cả những cái đó đều tùy duyên chớ không có ǵ cố-định hết.
d) Mười
tám giới: Sáu căn tiếp xúc với sáu trần sẽ sinh ra sáu cái nhận biết.
Những cái nhận biết nầy cũng vô-thường hết. Chẳng hạn con mắt nh́n về cái bông
này đẹp, ngày mai buồn tôi nói cái bông này thấy ghê. Những cái nhận biết đó
cũng sai lầm và không có giá-trị cố-định. Mười tám giới bao gồm sáu căn, sáu
trần, sáu thức. Cái này cũng thuộc về cái không, có nghĩa là không cố-định.
2- Pháp xuất thế:
a) Mười
hai nhân-duyên
b) Tứ đế
Đó là Phật tạm đặt ra thôi chớ thật ra đâu có ǵ cố-định.
Như vậy th́
pháp thế-gian và pháp xuất thế-gian và chính cái đắc này nó hoàn toàn không có
một giá-trị cố định mà chỉ tùy duyên thôi. Đó là lời mà Đức Phật giải thêm.
Và Đức Phật
kết luận bằng lời khuyến khích như thế nào?
Khuyến khích
như thế này là:
"Chư vị
Bồ-tát đều nương theo Bát-nhă Ba-la-mật đa này cho nên tâm các ngài không hề
quái ngai. Do không quái ngại cho nên không hề sợ hăi, xa ĺa hết điên đảo
mộng tưởng cứu cánh Niết-bàn."
Như vậy, bây
giờ Đức Phật mới xác định: Chư vị Bồ-tát do nương Bát-nhă nên có những
khả-năng như sau:
1- Các
ngài vô-ngại.
Ngại và vô
ngại khác nhau.
Giả sử tôi đi
đến đây gặp cái bảng tôi đi không được th́ gọi là cái bảng làm ngại tôi. Cái
ngại của thân không nói là vị Bồ-tát vô ngại, chỗ này cái ngại của tâm: Ví dụ
:
"Đi ra
Thiền-chiếu ghé mua dùm một hũ nước tương!" Quư vị nói:
"Không, tôi
không tới đó được!" Nói:
"Tại sao?"
Bảo:
"Tôi ngại lắm."
"Sao ngại?"
Trả lời:
"Tôi trước đây gây lộn với cô bán tương ở đó."
Như vậy cái
vô ngại ở đây được chỉ: Khi chúng ta c̣n mê lầm th́ chúng ta có nhiều trở ngại
lắm.
Có nhiều con
đường ḿnh đi qua không được, không phải v́ người ta rào kẽm gai, mà tại có
người ḿnh không ưa đứng đó. Cái đó là cái ngại chớ ǵ? Những cái ngăn ngại
này là những cái ngại của tâm-lư, khi mà chúng ta hiểu bằng trí-tuệ bát-nhă
rồi th́ không có ǵ ngại chúng ta trên thế-gian này hết. Như vậy th́ tất cả
trở ngại về thân th́ có mà trở ngại về tâm th́ không.
Cái ngại về
tâm thường thường làm ḿnh khổ. Luôn luôn có một cái ǵ đó ngăn ngại làm cho
chúng ta nh́n mọi người không có rơ ràng. Quư vị thấy, có những người ḿnh
ghét, ḿnh gặp mặt ḿnh ngó chỗ khác à, không biết ai cấm mà ḿnh nh́n không
được! Nói chuyện th́ nói trên trời dưới đất, nói trỏng trỏng, chớ không nói
với họ được. Cái đó gọi là "ngại". Mà nếu vướng vào trí-tuệ này th́ chúng ta
sẽ hết ngại. Bằng cách nào? Là v́ con người đó, thân cũng thay đổi, tâm cũng
thay đổi, ngày mà ḿnh gây lộn với họ là họ sân, mà bữa nay là họ hỷ, th́ ḿnh
cũng thay đổi. Và người khác cũng thay đổi. Th́ ḿnh chấp, mà sao chấp người
ta mà không chấp ḿnh? Hiểu như vậy cho nên chúng ta mới đạt đến cái vô-ngại.
Là phải quán mới hết được.
Chuyện một vị
thiền-sư là ngài Bạch-ẩn, khi ngài tu và được nổi danh là Phật sống, thiên-hạ
đến quy-y và cúng kiến ngài biết bao nhiêu mà kể; t́nh cờ trong làng có một cô
gái bị mang bầu, mà cô ta không khai tác-giả cái bào thai là ai. Cha mẹ tra
khảo riết rồi cô ta mới chỉ "ông Phật sống là tía đứa nhỏ trong bụng tôi đây!"
Khi đó người ta mới đồn rằng ngài Bạch-ẩn là "ông Phật chết", mà ngài cũng làm
thinh, ngài không nói năng ǵ hết.
Bữa đó, khi
cô sinh ra đứa con th́ bà ngoại thằng bé mới ẵm nó bỏ trước am ngài. Ngài đành
phải nuôi đứa con, mà không có sữa, hơn nữa ngài sống theo khất-thực; mỗi bữa
ôm b́nh-bát đi xin cơm th́ phải dắt đứa con nít đó đi vô xin bú thép.
Chuyện xảy ra
thật là trái tai gai mắt, nhưng mà biết bỏ nó cho ai. Ngài nuôi đứa bé như
Quan-âm Thị-kính nuôi vậy đó. Bà Quan-âm là đàn bà, nuôi không có ǵ
tội-nghiệp nhiều, mà ngài là đàn ông ngài nuôi rất là tội-nghiệp. Người ta kể
rằng khi ngài ngồi thiền, thằng bé nó ḅ lổm ngổm quanh ngài, tức là săn sóc
rất là cực cái thằng bé đó. Cho đến khi ba thiệt của nó trở về th́ có đám cưới
xảy ra, và người ta mới đến xin lỗi ngài, bế thằng bé đó đi. Khi đứa bé được
bồng đi rồi, người ta mới đồn ngài là "ông Phật sống" trở lại.
Như vậy, quư
vị thấy ngài là ông Phật sống hay Phật chết? Là do cái dư-luận bên ngoài đặt,
chứ thật ra đối với ngài, hiểu rơ xác thân này vô-thường, tâm của ḿnh cũng
sinh diệt vô-thường, cho nên ngài hoàn toàn không giận ǵ hết. Và ngài hoàn
toàn không nói, không giải-thích, không minh-oan ǵ hết. Nhưng ḿnh trong
trường-hợp đó chắc thắt cổ tự-vận quá! Oan muốn chết, phải không? Sở dĩ chúng
ta không hiểu được những cái đó c̣n ngại, không nhận được những cái đó là v́
chúng ta thấy năm uẩn ḿnh là cố-định.
Thành ra cái
danh nếu ḿnh không có, không biết làm thơ ǵ hết mà người ta gọi ḿnh là
thi-sĩ th́ ḿnh nhận được, nhưng mà ḿnh không ăn cắp người ta bảo ḿnh ăn cắp
th́ ḿnh không chịu. Là v́ cái danh thi-sĩ nó làm cho con người ḿnh hào hoa
phong-nhă ra, c̣n cái danh ăn cắp mà lỡ mang vào thân bị người ta chê; cho nên
chúng ta chỉ nhẫn được trong hoàn-cảnh chúng ta không có mà nó đem lợi lộc, là
danh hoặc là tài, c̣n nếu mà những cái ǵ nó làm hại ḿnh về thân về tâm th́
ḿnh thấy khó chịu.
Nhưng mà ở
đây, vị Bồ-tát này hiểu rơ ngũ-uẩn là tùy duyên nên thấy nó không có cái ǵ
cứng chắc cố-định trong đó; cho nên hiểu như vậy rồi, các Ngài vô-ngại. Cho
nên muốn lướt thắng hết trở ngại do cầu-bất-đắc, oán-tắng-hội đó th́ chúng ta
phải làm sao nương vào trí-tuệ này, thấy rơ năm uẩn của ḿnh là biến chuyển.
Người bạn ḿnh gặp ngày hôm qua họ sân, nhưng bữa nay họ hỷ, họ đang vui vẻ,
họ cười với ḿnh, th́ ḿnh cười với họ chớ có ǵ phải ngại, quay mặt đi chỗ
khác! Các vị Bồ-tát, do nương vào Bát-nhă, thấy năm uẩn là sinh diệt, là tùy
duyên, cho nên các ngài mới đạt đến cái vô-ngại.
2- Do
vô-ngại nên không sợ, không c̣n sợ một cái ǵ hết!
Thường thường
ḿnh sợ cái ǵ? Sợ già, sợ bệnh, sợ chết, sợ không thành thật chẳng hạn, tức
là hiểu rơ cái thân của ḿnh là nó già th́ dù có sợ nó cũng già, có sợ nó cũng
chết. Mà bây giờ tiếng khen, tiếng chê hoàn toàn không có mập béo ǵ thêm th́
bây giờ chúng ta hiểu rơ được cái đó rồi chúng ta không c̣n sợ cái ǵ trên
thế-gian này. Ḿnh sợ là sợ xảy ra cho ḿnh, chớ xảy ra cho người khác ḿnh
chịu nổi chớ! Thành ra hiểu rơ năm uẩn này là tùy duyên và không thiệt rồi th́
chúng ta đạt đến cái không sợ.
3- Cái
điều nữa là thấy đúng đắn cho nên không gọi là điên đảo.
Điên-đảo là
thấy sai lầm đi. Người ta biên chữ ra là do người ta học, mà ḿnh dịch ra là
người ta chửi ḿnh, rồi gây lộn với người ta. Cái đó tức là điên-đảo chứ ǵ?
Người ta giết lợn, mua rượu đăi ḿnh, mà diễn ra là người ta phản ḿnh rồi
giết người ta, th́ cái đó là điên-đảo. Ở đây, thấy đúng, sai thực ra sao, ḿnh
hiểu rơ như vậy th́ cái đó gọi là thấy đúng chánh-kiến cho nên không điên-đảo,
và do đó mà đạt được tịch-diệt Niết-bàn, có nghĩa là tâm vắng lặng không c̣n
phiền-năo; và đạt được v́ tâm không c̣n phiền-năo, do đó phát-huy khả-năng nhớ
quá-khứ, biết tương-lai, gọi là thiên-nhăn và túc-mệnh-thông.
Sau khi
tŕnh-bày như vậy rồi, Đức Phật giới-thiệu cho ḿnh: Thấy rơ tánh không của
các pháp có nghĩa là bất cứ sự việc ǵ, chúng ta cũng biết nó không có một
giá-trị cố-định, nó tùy duyên thay đổi. Hiểu được như vậy rồi, Đức Phật mới
nói: chư vị Bồ-tát đều do nơi đó mà các Ngài được vô-ngại, được không sợ hăi
và không điên-đảo, đạt đến cái tâm an-lạc. Ngài nói tiếp:
"Ba đời
chư Phật cũng nhờ vào đó mà được thành đạo."
Cuối cùng có
câu thần-chú; câu này nếu ta thảo theo văn-học th́ đến thời Bà-la-môn giáo
phục-hưng th́ họ xài thần-chú, th́ họ có những chú gọi là chú đại-thần, chú
đại-minh, và đọc lên nó linh vô cùng. Đức Phật mới nói:
"Cái trí
bát-nhă này là thần chú lớn, minh chú lớn, là chú vô thượng chú, ta chỉ nương
vào nó là vượt qua được tất cả khổ."
Thành ra
trí-tuệ Bát-nhă nó có công-năng c̣n hơn mấy thần-chú nữa. Đó là lời xác-định
để chúng ta vững niềm tin và để theo truyền-thống Phật-giáo th́ giữ nguyên câu
chữ Phạn không dịch lại là:
"Yết đế,
yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ-đề tát bà ha"
Nếu dịch ra
có nghĩa là "Cố gắng, cố gắng, cố gắng vượt qua bờ bên kia"
Trong khuôn
khổ thời-gian chỉ có một giờ ba mươi phút, tôi chỉ cố gắng tŕnh-bày cho quư
vị toa thuốc như thế này:
Có những
người trước như ḿnh đă khổ, các ngài áp dụng lời Phật dạy mà hết khổ. Áp dụng
bằng cách nào? Các khổ thân này không có cách nào chúng ta tránh được. Có bệnh
phải đi nhà thương uống thuốc, nhưng mà cái khổ chúng ta tránh được ở đây là
cái khổ tâm. Nhưng thường thường khổ thân không làm cho chúng ta khổ, mà cái
khổ tâm này nó làm cho ḿnh khổ lắm. Người ta đói, chưa chết, nhưng một cơn
buồn có thể làm cho ḿnh tự-vận chết liền.
Như vậy để giải-quyết cái khổ tâm này cần một điều là thấy cho rơ năm uẩn của
ḿnh là không, không có một cái ǵ cứng chắc mà luôn luôn thay đổi theo
thời-gian, theo không-gian. Nắm vững cái đó, chúng ta đủ để tu rồi. Đó được
gọi là quán-chiếu bát-nhă.
Bây giờ là
cách thực-hành. Cách thực-hành ở đây được chia ra làm ba loại, và quư vị thấy
cách nào hợp với ḿnh th́ thực-hành:
Cách thứ nhứt
gọi là thật-tướng bát-nhă.
Cách thứ nh́
gọi là quán-chiếu bát-nhă.
Cách thứ ba
gọi là văn-tự bát-nhă.
Trước khi hiểu ba cách về danh-từ: Thật-tướng, Quán-chiếu, Văn-tự, tôi xin
mượn ba thí dụ:
Có anh chàng
đó điên, do điên cho nên nói mẹ ḿnh là kẻ thù. Do thấy bà mẹ là kẻ thù cho
nên cứ muốn giết bà mẹ thôi. Muốn chữa bệnh anh chàng điên này, ḿnh mới nói
thế này: "Bà mà anh muốn giết đó là mẹ của anh!" Thiệt ra bà ấy sinh ra anh
thiệt, mà không biết khùng hay sao mà anh ta thấy bà ấy là kẻ thù ḿnh. Thành
ra bây giờ, làm sao giúp anh ta bỏ ư định giết, anh phải nói thế này: "Bà này
là mẹ tôi, bà này là mẹ tôi".
Cho nên anh
chàng điên về nhà cứ nói thế này "Bà này là mẹ tôi, bà này là mẹ tôi", mà tại
sao phải nói như vậy? Là tại v́ điên quá đi, hễ ngừng nói là anh ta giết mẹ.
Thành ra khi c̣n nói vậy là c̣n điên. Trong khi nói như vậy, anh ta quán chiếu
bà này như là mẹ ḿnh. Nhưng thực ra bà ta là mẹ thiệt. V́ thấy là kẻ thù cho
nên ráng quán là bà mẹ ḿnh.
Cho đến khi
anh ta hết điên rồi, th́ anh ta khỏi cần nói lảm nhảm "Bà này là mẹ ḿnh", mà
cũng không ráng coi là mẹ, v́ thiệt sự là mẹ rồi. Như vậy ḿnh thấy sự thật đó
lúc nào chúng ta cũng có trí-huệ bát-nhă hết, mà không biết sao chúng ta quá
méo mó cho nên bây giờ, thường thường ḿnh phải nói là "Năm uẩn là không".
Phải nói để trấn-an, nếu không nó thành ra có. Mà c̣n nói lảm nhảm như vậy là
c̣n thấy thiệt, c̣n khổ. Khi nào chúng ta hoàn toàn không c̣n khổ nữa th́ sống
với thật-tướng này, lúc đó không c̣n có sự dụng-công nữa.
Thành ra cái
pháp thứ nhất là cái pháp không có dụng công mà hằng sống với nó gọi là
vô-công dụng-hạnh. Là những người tỉnh, không cần quán mẹ ḿnh là mẹ ḿnh.
Cũng như bây giờ, tôi thấy ghét quư vị, tôi không cần nói lời phân bua ǵ hết.
Giả sử bữa nào tôi kêu bà Từ-hóa, tôi nói:
"Cô Từ-hóa
lại đây, tôi nói cho cô nghe, tôi không có chấp nhứt, tôi không có giận hờn,
tôi không có nói cái ǵ cô hết!"
Th́ cô Từ-hóa
sẽ hiểu khôn rằng là tôi có cái ǵ trong bụng, tôi mới nói kiểu đó. C̣n tôi
c̣n thiệt t́nh, tôi không cần kêu nói ǵ hết. Có ǵ làm tôi sùng trong bụng
tôi mới nói kiểu đó. C̣n tôi không sùng thiệt t́nh, tôi không cần kêu nói ǵ
hết.
Thành ra
không c̣n tu, không c̣n dụng công quán chiếu th́ người đó ở trạng-thái
Thật-tướng Bát-nhă. Hạng này quư vị nào vô được đây? Khỏi nói! Nhưng hai hạng
này là cách chúng ta đang làm đây.
THẬT-TƯỚNG
BÁT-NHĂ
Hôm trước,
nói thí dụ về bàn tay, kể rằng có anh chàng đó đi ra trận, bị người ta bắn găy
tay, trở về, nghĩa là bàn tay này không có, nghĩa là c̣n cánh tay thôi, nhưng
không biết có chứng bệnh ra sao, mà đêm nào ngủ, anh cũng nhức chỗ bàn tay cụt
này.
Bàn tay không
có mà thấy nhức nhối chỗ bàn tay. Bệnh đó là bệnh tưởng chớ ǵ? Anh ta mới đến
gặp ông bác-sĩ. Bác-sĩ hỏi anh đau làm sao? Anh ta mới rên, nói:
"Đau quá, ăn
không được ngủ không được, nhức nhối quá!"
Bác-sĩ bảo:
"Nhức chỗ nào,
đưa tôi coi?" th́ anh ta kiếm hoài, không biết sao để đưa chỗ nhức ra. Anh ta
mới nói:
"Tôi nhức ở
chỗ tôi đưa không được, tôi nhức ở chỗ mất tiêu rồi đó!"
Khi đó ông
bác sĩ mới bảo:
"Như vậy th́
tôi chữa bệnh cho anh rồi!"
Tại v́ bàn
tay không có th́ bệnh không có, bệnh không có th́ thuốc không có. Anh này sau
khi gặp bác-sĩ về hết bệnh luôn.
Trường hợp
này là trường hợp số một.
Trường-hợp
của tổ Bồ-đề-đạt-ma gặp tổ Huệ-khả, nói rên như ḿnh nè:
"Tâm con bất
an, xin ngài dạy con pháp an-tâm". Ngài Bồ-đề-đạt-ma nói:
"Đâu, đưa cái
tâm bất an cho ta coi?" Th́ ngài Huệ-khả nói:
"Dạ, con kiếm
không ra!"
Ngài
Bồ-đề-đạt-ma nói:
"Như vậy th́
ta đă v́ ông dạy cho pháp an-tâm rồi!"
Xong một lần
gặp gỡ th́ thành tổ liền. Giống như anh bệnh đó, đến kiếm không ra bàn tay để
đưa cho bác-sĩ khám là hết bệnh.
Trường-hợp
thứ hai, như ngài Tăng-xán đến với ngài Huệ-khả:
"Thưa thày,
con nghiệp-chướng nặng nề, xin thày dạy con pháp sám-hối!" Ngài bảo:
"Đưa cái
nghiệp ra cho ta coi", th́ Tăng-Xán bảo:
"Bẩm, con t́m
cái nghiệp không ra!"
"Như vậy ta
đă v́ ông dạy pháp sám-hối rồi".
Trường-hợp
thứ ba là ngài Đạo-tín. Đạo-tín đến hỏi ngài Tăng-xán:
"Xin ngài chỉ
con pháp giải-thoát." Ngài Tăng-xán hỏi lại:
"Ai trói ông?"
Khi đó ông ta xem lại, thật có ai trói ḿnh đâu!
"Dạ bẩm không
ai trói con hết!"
Ngài liền hết
bệnh.
Nếu chúng ta
được cái hạng này, chúng ta rên nào tâm ḿnh bất an, xao-xuyến, mệt-mỏi, người
này ăn hiếp ḿnh, người kia làm phiền ḿnh, nói xấu ḿnh; th́ ông thầy cao tay
ấn bảo: "Cái người đó đâu, chỉ cho tôi coi?" Th́ thấy ḿnh đi tới chỉ có một
ḿnh ḿnh thôi, nhưng ḿnh vu-oan giá họa cho không biết bao nhiêu người.
Thành ra ngay lúc thấy rơ là do ḿnh tự tạo ra, ḿnh tưởng-tượng, ḿnh cảm
tưởng ra là ḿnh phiền-năo, th́ ngay lúc ḿnh thấy rơ năm uẩn là không, thực
ra nó đâu có thiệt.
Những người
làm phiền ḿnh, những cảnh làm phiền ḿnh, hiện bây giờ không có, tự ḿnh
tưởng-tượng ra ḿnh khổ thôi. Ngay khi khám-phá rơ ra điều đó rồi, thấy rơ năm
uẩn là không rồi, người ấy hết bịnh. Một lần thôi là đủ rồi. Là hạng nhất, khi
hết rồi như vậy họ sẽ sống với cái thấy biết cũng như ngày xưa, nhưng có cái
khác là không phiền-năo. Gọi là Thật-tướng Bát-nhă.
QUÁN-CHIẾU
BÁT-NHĂ
Trường hợp
thứ hai. Cũng anh bệnh như vậy. Đến bác-sĩ cũng nói bắt mạch y vậy nhưng không
hết. Anh nói với bác-sĩ thế này: "Tôi bệnh, bác-sĩ cứ đưa thuốc cho tôi đi!"
Ông bác-sĩ mới đưa hai gói, một gói trong uống, một gói ngoài thoa. Nhưng mà
uống anh ta biết bỏ vô miệng chớ ǵ, nhưng mà thoa, thoa chỗ nào?
Thành ra đem
thuốc về uống, anh ta bỏ vô miệng. Nhưng khi thoa anh ta t́m không ra cái chỗ
thoa. Trong lúc kiếm hoài không ra chỗ thoa, anh mới khám phá ra cái đau này
là giả tưởng. V́ bàn tay không có th́ lấy ǵ đau? Cho nên anh ta trở lại mắc
đền ông bác-sĩ, bắt trả lại tiền thuốc. Tay tôi không có mà bán thuốc xức tay.
Bán thuốc như vậy là lỗi ở ông thầy và bắt trả lại tiền. Đây là trường hợp của
các ông Thiền-sư, sau thời-gian dụng công tu, đại ngộ rồi đi kiếm ông thầy mắc
đền. Thành ra có những vị Thiền-sư, khi đệ-tử hỏi thầy dạy con phép an-tâm hay
tu-hành. Ông bảo: "Tao không chỉ đâu, chỉ rồi, mai mốt ông ngộ, ông chửi tao
chết!"
Ở đây, quư vị
đ̣i tu, tôi nói như vầy: "May bồ-đoàn hai tấc, sắm một tấm tọa-cụ, ăn chay, lễ
bái ..." quư vị làm được. Khi xoay qua bắt chước sửa đổi thân ḿnh và sửa đổi
hoàn-cảnh bên ngoài, tức là trong uống th́ được, nhưng cái thoa này, cái khổ
này, bắt nguồn từ chỗ nào? Trong khi loay hoay t́m cái tâm để thấy cái khổ th́
không có. Đó là do cái tưởng-tượng, th́ ḿnh sẽ hết bịnh như cái hạng này. Gọi
là Quán-chiếu Bát-nhă.
Sau thời-gian
dụng công, chúng ta sẽ đạt đến trạng-thái quán-chiếu.
VĂN-TỰ
BÁT-NHĂ
Trường-hợp
thứ ba này là bệnh nặng, ông thầy đưa thuốc nào cũng không trị nổi. Bệnh cứ
bệnh liên-tu bất tận, đau bất kể ngày đêm, lúc nào cũng thấy phiền-năo hết
trơn. Ông thầy mới hỏi:
"Có lúc nào
ông bớt đau không?" Nói:
"Dạ, có!" Hỏi:
"Lúc nào?"
Nói:
"Lúc con coi
video cassette mà hay quá là con quên đau!"
Cũng như quư
vị coi quên ăn quên ngủ vậy đó; anh bệnh này cũng vậy. Thầy mới bảo:
"Bây giờ ta
bày cho ông, về nhà coi tuồng nào thiệt hay. Anh ưa tuồng nào?" Bảo:
"Con khoái
Vơ-tắc-thiên!"
"À, về mua bộ
phim đó, khi nào thấy đau quá giở ra coi."
Anh ta giở ra
coi; coi đến độ thuộc ḷng bộ Vơ-tắc-thiên này, anh ta vừa coi vừa ngủ gục, là
anh ta đau trở lại. Khi đó đến ông thầy, hỏi:
"Có phim nào
mới hay không?" Thầy bảo:
"Có phim mới!"
Anh ta hết đau. Mà phim thuộc ḷng cũ rồi th́ anh ta đau.
Đây là loại
này, đây là lối tu tôi đưa ra cho quư vị thấy. Bây giờ lúc nào ḿnh cũng rên,
ḿnh khổ, ḿnh buồn hết trơn; mà chúng-sinh thuộc loại này nó quậy dữ lắm, nó
đă làm khổ nó mà c̣n làm khổ chung-quanh nữa. Bây giờ ông thầy mới đưa vào:
"Con nè,
đây là cái phái quy-y; không c̣n tên là bà Bông nữa ngheo, mà con tên là
Diệu-hoa, nghe không? Khi người ta nhắc là bà Bông th́ có quyền chửi lộn,
nhưng khi nói là bà Diệu-hoa th́ nhớ là ḿnh tu rồi!"
Nghĩa là phải
có cái pháp-danh, quy-y cái đă; đem về máng cái phái quy-y để ḍm lên thấy mà
bớt chửi lộn với người ta đi.
Bây giờ khi
nào ḿnh bận đồ thường th́ ḿnh có thể gây lộn, chửi lộn, nhưng bận áo tràng
hay áo vạt khách mà ḿnh dữ quá người ta sẽ nói
"Tu ǵ? Tu hú!" Và như vậy bắt
buộc phải mặc đồ tu vô, đặng khi nào ḿnh dữ th́ người ta sẽ nói
"Tu mà bận áo
đó, mà dữ quá, không được!" Như vậy th́ hạn-chế bớt hạng chúng-sinh dữ này đi.
Bây giờ, sắm
một cái chuông, một cái mơ, khi nào giận ai quá th́ lấy mơ mà gơ, cho nó hả
hơi. Đặt ra những cuốn kinh để người ta vừa tụng vừa la cho nó hả hơi một lát.
Trong lúc tụng như thế đó, tâm ḿnh bớt tham, sân, si ...
Hết