Chùa Hải-Đức in Jacksonville

[Home] [Up] [Điểm Sách] [Sutras] [Dharma Talks] [GĐPT] [Sinh Hoạt] [Our Activities] [Kinh] [Pháp Thoại audio mp3] [Tin Tức Phật Giáo] [Thuyết Pháp] [Thơ Văn] [Ngoại Điển] [Phật Học] [Tụng Kinh] [Nghi Lễ - Rituals]

 

AN TIÊM

 

KIM CÁC TỰ

 

YUKIO MISHIMA 

Đỗ Khánh Hoan và Nguyễn Tường Minh dịch

 

 

Chương 7

 

 

Kinh nghiệm tổng quát của tôi về cuộc đời dường như chỉ là một thứ số không. Giống y như trong một dẫy dài những tấm gương soi dưới hàng hiên một h́nh ảnh cứ phản chiếu măi măi cho đến vô hạn. Những sự vật mà tôi mới nh́n thấy đă phản chiếu rơ rệt trên h́nh ảnh những sự vật mà tôi đă nh́n thấy trong quá khứ và tôi cảm thấy ḿnh đang bị những sự vật trương tự dẫn dắt đi sâu tới tận cùng hành lang, vào một căn pḥng mênh mang tối tăm nào đó. Chúng ta không bao giờ đụng đầu với vận mệnh của ḿnh một cách bất ngờ. Một người sau này bị hành án tử h́nh - cứ mỗi khi nh́n thấy một cột điện trên đường đi làm, cứ mỗi khi băng qua một khúc đường xe lửa - là anh ta lại luôn luôn mường tượng trong óc ḿnh h́nh ảnh nơi hành án và rồi dần dần trở nên quen thuộc với h́nh ảnh đó. 

Do đó, trong kinh nghiệm của tôi không hề có cái ǵ chồng chất tích lũy. Không một lớp đất nào đủ dầy để có thể làm nên một ngọn núi bằng cách chồng hết lớp đất này đến lớp đất kia. Ngoài Kim Các Tự ra, tôi không hề cảm thấy thân thiết với bất kỳ một sự vật nào trên đời, thực vậy, tôi cũng thấy ḿnh cách biệt chẳng hề thắm thiết với những kinh nghiệm đă qua của chính ḿnh nữa. Tuy nhiên, có một điều tôi biết chắc là trong mớ kinh nghiệm này có những tiểu bộ phận chưa bị cái biển thời gian tối om nuốt chửng, chẳng hề tan biến trong sự lặp lại vô nghĩa và bất tận - đă móc nối với nhau và sẽ làm thành một bức họa xấu xí, gớm ghiếc nào đó. 

Vậy th́ những tiểu bộ phận đặc biệt ấy là những cái ǵ vậy? Tôi đă nghĩ đi nghĩ lại tới chúng. Tuy nhiên, những mảnh kinh nghiệm văi vung, chói sáng này lại cũng c̣n thiếu cả phép tắc lẫn ư vị hơn cả những mảnh vỏ chai mà ḿnh thấy bên vệ đường nữa. Tôi không thể làm sao tin được rằng những mảnh vụn này là những miếng vỡ nát của cái mà trong quá khứ đă được tạo h́nh cho thành một sự vật có dáng vẻ đẹp đẽ tuyệt vời. Bởi v́ trong sự khiếm khuyết hoàn toàn về ư vị và phép tắc hết sức khó coi của chúng mỗi mảnh vụn đă bị vứt bỏ ră rời này đường như vẫn c̣n mơ đến tương lai. Phải, tuy chúng chỉ là những mảnh vụn mà thôi, song mỗi một mảnh vụn vẫn nằm ở đó trơ trơ lặng lẽ để mơ đến tương lai! Đến một tương lai! Đến một tương lai chẳng bao giờ có thể b́nh phục hay là khôi phục, một tương lai chẳng bao giờ đưa tay với tới được, một tương lai từ trước đến giờ chưa có ai nghe thấy, nh́n thấy. 

Những hoài niệm mơ hồ như thế đôi khi cũng đem lại cho tôi một miềm hưng phấn trữ t́nh mà chính tôi cũng phải thấy là không thích hợp với ḿnh. vào những dịp như thế nếu may mắn vào đêm có trăng tôi sẽ mang sáo ra thổi ngay bên Kim Các Tự. Bây giờ tôi đă đạt đến mức độ có thể chơi bài “Ngự Sở Xa” của Kashiwagi mà không cần nh́n vào bản âm nhạc. Âm nhạc thật giống như là mộng mơ. Ngược lại, đồng thời nó cũng giống như một trạng thái thức tỉnh c̣n rơ rệt hơn cả h́nh thức của những giờ tỉnh táo thông thường của chúng ta nữa. Tôi vẫn thường tự hỏi trong hai cái này cái nào thực sự là âm nhạc? Nhiều khi âm nhạc có khả năng làm đảo lộn hai cái trái ngược nhau này. Và có những lúc dường như tôi đă có thể hóa thân thành điệu nhạc “Ngự Sở Xa” mà tôi đang chơi. Tinh thần tôi hằng quen với niềm vui khi hóa thân thành âm nhạc. Bởi v́ đối với tôi, khác hẳn trường hợp Kashiwagi, âm nhạc quả thực là một nguồn an ủi. 

Lần nào thổi sáo xong, tôi cũng thường tự hỏi: “Tại sao Kim Các Tự lại làm ngơ trước sự hóa thân này của tôi? Tại sao nó chẳng chê trách hoặc can thiệp khi tôi hóa thân thành âm nhạc như thế này? Chưa có một lần nào ngôi chùa lại làm ngơ đối với tôi khi tôi cố gắng hóa thân vào hạnh phúc và khoái lạc của cuộc đời. Trong tất cả mọi trường hợp như thế, ngôi chùa vẫn có thói quen ngăn cản tức khắc cố gắng của tôi và ép buộc tôi quay về với chính ḿnh. Tại sao Kim Các Tự lại chỉ cho phép tôi được ngây ngất hoạc t́m lăng quên trong âm nhạc mà thôi?” 

Mỗi khi nghĩ ngợi như thế, tôi lại thường thấy sức lôi cuốn của âm nhạc phai tàn chỉ v́ Kim Các Tự đă cho phép tôi được hưởng nguồn vui đặc biệt này. Nhân v́ ngôi chùa đă mặc nhiên chấp nhận việc làm của tôi cho nên âm nhạc, mặc dù có giống cuộc đời đến thế nào đi nữa, cũng đă trở thành một h́nh thức đó th́ sự hóa thân ấy tự nó lại càng chỉ có thể là một cái ǵ tạm bợ. 

Tôi không muốn để thiên hạ nghĩ là ḿnh đă cúi đầu cam chịu và co đầu rút cổ lại chỉ v́ đă hai lần điêu đứng với đàn bà cuộc sống. Cho đến cuối năm Chiêu Ḥa thứ hai mươi ba (1948) tôi vẫn c̣n bao nhiêu là cơ hội nữa, kể cả sự dẫn dắt của Kashiwagi; rồi chẳng hề sờn ḷng nhụt chí, tôi bắt tay vào việc. Tuy nhiên, kết quả luôn luôn vẫn như thế. 

Giữa con gái và chính tôi, giữa cuộc đời và chính tôi, lúc nào cũng có Kim Các Tự đứng sừng sững. Do đó, khi tôi cố nắm lấy vật ǵ th́ vừa chạm vào tay tôi vật đó tức thời biến thành tro bụi và cái triển vọng trước mắt tôi biến ngay thành băi sa mạc. 

Có một lần khi dừng tay làm việc ngồi nghỉ trong thửa ruộng sau nhà bếp t́nh cờ tôi có dịp quan sát một con ong sà xuống một bông hoa cúc mùa hè nho nhỏ màu vàng. Nó bay tới giang rộng đôi cánh màu vàng óng ánh. Chọn một bông giữa biết bao hoa cúc rồi cứ vo vo bay lượn xung quanh. Tôi cố gắng nh́n bông hoa qua con mắt của con ong. Bông hoa cúc đứng im x̣e rộng cánh vàng vàng và mượt mịn. Trông nó thật xinh đẹp y như một Kim Các Tự nhỏ bé và thật hoàn toàn y như Kim Các Tự vậy; tuy nhiên nó không biến dạng trở thành ngôi chùa và vẫn giữ nguyên h́nh dạng chỉ là một bông hoa cúc mùa hè. Đúng thế, nó vẫn cứ là một bông cúc chẳng hề đổi thay, một bông hoa, một h́nh thái không hề bao hàm một ám thị siêu h́nh nào hết. Nhờ biết giữ những tiết độ trong cuộc sống, nó đă tỏa ra một mỹ cảm tràn tề và trở thành một đối tượng thích hợp cho dục vọng của con ong mật. Ẩn ḿnh và thở hút nơi đó làm một đối tượng cho cái dục vọng vù vù, bay lượn, quấn quít không có dạng h́nh ấy mới thật là điều thần bí biết bao. Dần dà h́nh thái ấy mỗi lúc một mong manh hơn trông như thể sắp sửa tan vỡ, nó rung rinh và run rẫy. Điều này thật hoàn toàn tự nhiên, bởi v́ chính h́nh thái đoan chính của bông cúc đă được đúc khuôn theo dục vọng của con ong và chính vẻ đẹp của nó đă bừng nở trong dự cảm về dục vọng ấy. Bấy giờ là lúc ư vị của h́nh thái bông hoa sắp sửa chói rạng trong cuộc đời. Chính h́nh thái ấy là sự đúc khuôn của cuộc đời. Luôn luôn trôi chẩy không có khuôn đúc; đồng thời sư ïbay lượn của cuộc đời không h́nh dáng lại là sự đúc khuôn cho tất cả mọi h́nh thái ở trần gian này… Cứ như thế con ong mật nhào đầu châm sâu vào bông hoa và khi phấn hoa đă bám đầy ḿnh, nó say sưa ngất lịm. Khi đă đón tiếp con ong mật vào trân thân thể ḿnh, bông cúc mùa hè đă tự trở thành như một con ong vàng óng, rực rỡ, có mặc áo giáp và tôi ngắm bông hoa cúc lắc ḿnh dữ dội như thể sắp ĺa cuống hoa mà bay đi bất kỳ lúc nào. 

Ánh sáng và cái việc làm dưới ánh sáng hầu như đă làm tôi choáng váng. Rồi đúng vào lúc rời bỏ cái nh́n của con ong để trở về với cái nh́n của chính ḿnh, tôi chợt nhận thấy rằng con mắt tôi từ nẫy đến giờ vẫn ngắm cảnh này ở đúng vị trí con mắt của Kim Các Tự. Quả thực là như thế. Cũng như tôi đă rời bỏ cái nh́n của con ong trở về cái nh́n của chính ḿnh vào những giờ phút ấy cuộc đời nhích lại gần tôi, tôi lại từ bỏ con mắt của chính ḿnh và đem con mắt Kim Các Tự làm mắt ḿnh vậy. Và chính vào những giây phút như thế ngôi chùa thường chen vào giữa để ngăn cách thân tôi với cuộc đời. 

Tôi trở về với con mắt của chính ḿnh. Trong thế giới sự vật bao la, mông lung này, con ong mật và bông cúc mùa hè chỉ c̣n đó để được “phối liệt”. Con ong mật bay lượn và bông hoa cúc rung rinh chẳng khác nào ngọn gió ŕ rào lấy mảy may. Trong cái thế giới băng gái im ĺm này mọi vật đều đồng cách với nhau, và cái h́nh thái đă tỏa ra một sức lôi cuốn mănh liệt như thế đă chết rồi, tuyệt rồi. bông hoa cúc chẳng c̣n đẹp v́ h́nh thái của nó nữa, nhưng v́ cái tên gọi mơ hồ là “hoa cúc” mà chúng ta gán cho nó và v́ sự hứa hẹn chứa đựng trong cái tên gọi ấy. V́ không phải là con ong nên tôi không bị bông hoa cúc quyến rũ và v́ tôi không phải là bông cúc nên chẳng con ong nào thèm muốn tôi hết. Mối ràng buộc thân thiết của tôi trước đây đối với các h́nh thái và với ḍng đời đến nay đă tan biến mất rồi, thế giới đă bị vứt bỏ vào trong tính cách tương đối và chỉ c̣n có thời gian là chuyển động mà thôi. Tôi không muốn nhiều lời kể lể dài ḍng, tôi chỉ muốn nói là khi cái Kim Các Tự vĩnh viễn, tuyệt đối xuất hiện và khi con mắt tôi biến thành con mắt Kim Các Tự th́ thế giới quanh tôi đă biến thành dạng theo chiều hướng tôi đă mô tả, và theo chiều hướng là trong cái thế giới biến đổi này chỉ có Kim Các Tự là giữ nguyên được h́nh thái cùng vẻ đẹp riêng biệt của nó, đồng thời biến tất cả những cái khác thành cát bụi. Kể từ khi giẫm chân lên bụng cô gái điếm ấy ở trông sân chùa và đặc biệt từ sau cái chết đột ngột của Tsurukawa, tôi vẫn hằng tự ḿnh nhắc đi nhắc lại câu hỏi này: “Thế nhưng có thể nào vẫn có tội ác hay không?” 

Một ngày thứ bảy tháng giêng năm Chiêu Ḥa, thứ 24 (1948), lợi dụng một buổi chiều nhàn rỗi, tôi đến một rạp chiếu bóng hạng ba. Sau khi xem phim xong, đây là lần đầu tiên sau bao nhiêu lần tôi mới lại đi bộ một ḿnh qua khu phố Shinkyogoku. Giữa đám người đông đúc, bất chợt tôi thấy ḿnh đang đi cạnh một khuôn mặt rất quen thuộc, nhưng trước khi tôi có thể nghĩ ra người đó là ai, khuôn mặt ấy đă ch́m vào trong làn sóng người đang cuồn cuộn trên hè phố rồi biến mất đằng sau lưng tôi. 

Đàu đội mũ dạ mềm, ḿnh khoác áo choàng hạng sang, cổ quấn khăn quàng, người ấy đang đi với một người con gái mặc chiếc áo nogài đỏ ửng, rơ ràng là một cô gái geisha. Khuôn mặt hồng hào mụ mẫm, dáng vẻ sạch sẽ như trẻ con của người đàn ông thật khác hẳn khuôn mặt, dáng vẻ của đa số các thân sĩ, trung niên thông thường, cái mũi dài - đúng rồi, tất cả là những nét đặc biệt của Lăo sư phụ và chỉ có cái mũ dạ mềm là che giấu được những nét đặc biệt ấy đi trong chốc lát mà thôi. Tuy chẳng có ǵ phải xấu hổ v́ chính ḿnh, song tôi sợ rằng tôi đă bị thượng tọa nh́n thấy. V́ lẽ ngay sau đó tôi cảm thấy phải tránh sao cho khỏi trở thành nhân chứng cho cuộc chơi hoang của Lăo sư phụ rồi âm thầm dây dưa tới truyện tin cậy hoặc không tin cậy đối với ông. 

Rồi rôi thấy một con chó đi qua đám đông dưới trời đêm trong sáng. Con chó này to lớn, lông sù ś và hiển nhiên đă quen đi lại ở những chỗ đông người, v́ nó len lách rất khéo qua chân những người đàn bà ăn vận hoa mỹ và những người đàn ông trong những bộ động phục quân đội chiếm đóng, rồi thỉnh thoảng dừng lại đánh hơi bên ngoài một cửa hiệu bán đồ cổ, chẳng hề thay đổi kể từ thời Shogoin Yatsunashi. Lúc đó là lần đầu tiên tôi có thể nh́n rơ khuôn mặt con chó dưới ánh đèn của hiệu ấy. Một mắt nó bị bẹp dí, máu và mủ động lại ở nơi đuôi mắt trông giống như một viên mă năo. Con mắt lành lặn th́ đang nh́n thẳng xuống mặt đất. Phần lông sù ś trên lưng kết chặt lại với nhau thành cụm lớn dắn chắc. 

Tôi không hiểu tại sao con chó này lại làm tôi chú ư. Có lẽ bởi v́ khi lang thang ngoài phố nó đă bướng bỉnh mang theo trong ḿnh một thế giới hoàn toàn khác hẳn đường phố phồn hoa, sáng rực này. Nó đi qua một thế giới tối đen tràn ngập khứu giác. Thế giới này chồng chất lên thế giới phố xá của nhân gian và quả thực ánh đèn của đô thị, lời ca phát ra từ những đĩa hát, tiếng cười vang vang của con người đang bị những mùi tối tăm dai dẳng đe dọa. V́ lẽ trật tự của mùi ấy xác thật hơn, và mùi nước đái bám ở những cái chân ướt át của con chó quả thực có dây dưa với cái mùi khó ngửi thoang thoảng do nội tạng con người tiết ra. 

Trời rét như cắt. Mấy người thanh niên trông giống những tay chạy hàng chợ đen trong khi đi xuống phố đă bẻ những cây thông tang hoàn trong dịp đầu năm hăy c̣n bầy ở ngoài một vài cửa hiệu mặc dù những ngày nghỉ lễ đă chấm dứt. Họ x̣e ḷng bàn tay đeo găng da để xem ai đă bứt được nhiều nhất. Một người trong bọn chỉ nắm được vài chiếc lá thông trong tay; một người khác có cả một cành thông nho nhỏ. Họ phá ra cười rồi đi mất hút. 

Tôi thấy ḿnh đang đi theo con chó. Có lúc đă nghĩ là mất hút nó rồi, nhưng lại thấy nó hiện ra ngay tức khắc. Nó rẽ vào con đường dẫn tới Kawaramachi. Tôi cứ bước theo sau nó và đi tới chỗ đường xe điện chạy. Khu này tối hơn là khu Shikyogoku. Con chó biến đâu mất. Tôi dừng lại và đưa mắt nh́n quanh khắp bốn phía.Tôi đi dến góc phố và cứ tiếp tục kiếm t́m nó. Vừa lúc đó một chiếc xe hơi có tài xế lái thuê, khung xe bóng lộn dừng lại trước mặt tôi. Người tài xế mở cửa và liền đó một thiếu nữ bước lên xe, tôi nh́n nàng chằm chằm. Người đàn ông sắp sửa bước theo cô gái lên xe, nhưng khi nhận ra tôi, người ấy chôn chân tại chỗ. 

Đó là Lăo sư phụ. Tôi chẳng hiểu trời đất run rủi làm sao mà Lăo sư phụ lúc nẫy đă vượt qua tôi đến bây giờ lại đụng đầu tôi đánh đốp như thế này. Dù sao đúng là Lăo sư phụ rồi, tôi c̣n nhớ rơ tấm áo người con gái mặc bước vào trong xe màu đỏ thẫm. 

Lúc này th́ không c̣n cách nào tránh né nữa. Những cuộc chạm trán đă làm tôi bàng hoàng chấn động cả người mà chẳng nói được câu nào. Trước khi tôi lắp bắp thốt ra được một lời th́ những âm thanh ngọng nghịu cứ sôi lên ở trong miệng tôi. Cuối cùng khuôn mặt tôi phơi bầy một t́nh cảm hoàn toàn ngoài ư muốn của ḿnh. Thực ra, tôi đă làm một điều hoàn toàn không đúng chỗ: tôi đă nh́n về phía Lăo sư phụ và bật ra một tiếng cười. 

Tôi không thể giải thích tiếng cười này. H́nh như nó đă từ bên ngoài đi tới rồi đột nhiên chui vào miệng tôi. Tuy nhiên, khi Lăo sư phụ nh́n thấy tôi cười, nét mặt ông thay đổi hẳn. 

“Thằng nhăi con điên khùng này!” ông nói “Có phải mày định theo dơi tao hay không th́ bảo?” 

Nói rồi ông bước vào xe, đóng cửa đánh sầm như đập vào mặt tôi. Khi chiếc xe đă đi rồi tôi mới biết ra Lăo sư phụ quả thực đă nh́n thấy tôi lúc ông và tôi chạm trán nhau ở Shinkyogoku. 

 

Ngày hôm sau tôi cứ chờ đợi măi Lăo sư phụ gọi ḿnh lên mắng mỏ. Nếu vậy tôi sẽ có cơ hội để tỏ bầy tự sự. Nhưng, cũng như lần trước, sau hôm tôi giẫm chân lên bụng con điếm, lần này Lăo sư phụ cũng vẫn hành hạ tôi bằng cách bắt tôi chịu một cuộc khảo vấn không lời. 

Vào đúng lúc đó tôi nhận được một lá thứ nữa của Má. Bà cũng vẫn chấm dứt lá thư bằng những lời dặn ḍ thường lệ là chỉ sống trong hy vọng được nh́n thấy tôi trở thành sư trưởng trụ tŕ Kim Các Tự. 

“Thằng nhăi con điên khùng kia có phải mày định theo dơi tao hay không th́ bảo?” khi tôi nhớ lại những lời Lăo sư phụ đă gầm lên với tôi th́ mỗi lúc tôi lại càng thấy những lời đó không xứng hợp chút nào. Nếu làmột tu sĩ Thiền tông thuần thành hơn, có đầu óc rộng răi và hài hước hơn th́ có lẽ Lăo sư đă chẳng bao giờ dùng những lời mắng nhiếc tầm thường như thế đối với môn đệ của ḿnh. Đáng lẽ ông phải ban ra một lời răn dậy đanh thép, hữu hiệu hơn. Dĩ nhiên, bây giờ Lăo sư phụ chẳng làm sao rút lại lời nói của ḿnh, nhưng tôi biết chắc thật ra ông đă hiểu lầm khi cho rằng tôi có dụng tâm theo dơi ông và đă tỏ ư cười nhạo ông như thể tôi đă gặp ông phạm vào một điều phi pháp nào đó; do vậy ông phát cáu và tự nhiên tỏ ra giận dữ một cách tầm thường. 

Dù sự thực có thế nào đi nữa việc Lăo sư phụ không nói một lời lại trở nên mầm mống khó chịu cứ càng ngày càng đè nặng lên tôi. Sự tồn tại của Lăo sư phụ đă trở thành một sức mạnh vĩ đại, nó đă trở thành y như h́nh bóng của con bướm đêm bay lượn chập chờn trước mắt như trêu tức người ta. 

Khi có người mời đi làm lễ ở bên ngoài, Lăo sư phụ có thói quen mang theo một hoặc hai thị tăng. Ngày trước vào những dịp này lúc nào cũng có mặt ông Phó ti, nhưng mới đây, do đường lối gọi là dân chủ hóa nên thường thường năm người chúng tôi - ông Phó ti, ông Điện ti, tôi và hai đồ đệ nữa - thay phiên nhau tháp tùng Lăo sư phụ. Ông quản liêu, vốn nổi tiếng nghiêm khắc trong bọn chúng tôi, đă bị gọi nhập ngũ và đă bị chết trận rồi. Công việc của ông ta nay đă có ông Phó ti bốn mươi lăm tuổi kiêm nhiệm. Sau khi Tsurukawa qua đời, có một đồ đệ mới xuất gia đến bổ sung trong chùa. 

Đúng lúc ấy có một thượng tọa trụ tŕ một ngôi chùa (chùa thuộc cùng một phái với Tướng quốc tự) mới qua đời và Lăo sư phụ của chúng tôi được mời đến dự những nghi thức nhập viện của vị trụ tŕ tân mệnh. Th́ ra đă đến phiên tôi theo hầu Lăo sư. V́ Lăo sư phụ không tỏ ư ǵ tránh né việc tôi theo hầu nên tôi hy vọng là có dịp may để giăi bầy cho ông nghe trên đường đi hoặc lúc trở về. Thế nhưng vào đêm trước buổi lễ lại có sự sắp đặt cho người đồ đệ mới cùng đi. Thế là mọi hy vọng của tôi bị đe dọa nặng nề. 

Những ai đă từng quen đọc văn học Ngũ sơn hẳn c̣n nhớ bài thuyết pháp nhân dịp Ishimuro Zenkyu nhập viện ở Vạn Thọ tự tại Kyoto vào Khang An nguyên niên (1361). Những lời thuyết pháp hoa mỹ và vị tân mệnh trụ tŕ nói ra khi nhập viện và khi đi từ sơn môn tới Phật điện qua Thổ Địa đường, Tổ Sư đường và sau cùng đến biệt pḥng Phương trượng đă được truyền lại cho chúng tôi. Chỉ tay về hướng sơn môn ông đă dơng dạc nói những lời giọng đầy vui thích khi gánh vác trách nhiệm của vị tân mệnh trụ tŕ: “Đứng trong Thiên vực cửu trùng, đứng trước cổng Đế thành Vạn thọ, hai tay không ta mở khóa cổng, hai chân không ta trèo lên đỉnh Côn Lôn linh thiêng.” 

Lễ dâng hương bắt đầu. Thoạt tiên vị tu sĩ làm lễ Tự pháp hương để tỏ ḷng báo ân vị Tự pháp sư. Thời xưa, khi Thiền tông chưa bị giam hăm trong quán lệ và khi người ta coi trọng hơn hết sự tỉnh ngộ của mỗi cá nhân th́ người đệ tử thường lựa chọn sư phụ của ḿnh hơn là sư phụ chọn lựa đệ tử. Vào thời đó, không những người đệ tử thụ nghiệp nơi vị sư phụ đầu tiên đă dẫn dắt cho ḿnh mà c̣n ở nhiều vị sư phụ khác nữa; và trong buổi lễ Tự pháp hương này, thường nêu tên vị sư phụ ḿnh nguyện sẽ tiếp nối nghiệp cho ai nấy cùng biết. 

Trong khi đứng xem nghi thức dâng hương trang trọng này, tôi tự hỏi khi đến lượt ḿnh hành lễ tự pháp hương ở Lộc Uyển tự liệu tôi có theo tục lệ mà nêu tên Lăo sư phụ hay không. Có lẽ tôi sẽ phá vỡ cái tục lệ đă kéo dài trong bảy trăm năm và nêu tên một vị nào khác. Sự giá lạnh trong Phương trượng vào buổi chiều đầu xuân này, mùi thơm ngào ngạt của năm loại hương, ṿng anh lục lấp lánh đằng sau bộ Tam cụ túc (b́nh hoa, đài nến và ḷ hương) và ṿng hào quang rực rỡ bao quanh pho tượng Phật, vẻ tươi sáng và những tấm cà sa trên ḿnh các tu sĩ được mời đến dự lễ… và nếu một ngày kia tôi thấy chính ḿnh phải làm lễ dâng hương theo nghi lễ Tự Pháp? Tôi tưởng tượng ra dáng vẻ của ḿnh trong buổi lễ tân mệnh trụ tŕ. Làn không khí giá lạnh buổi đầu xuân sẽ cổ vũ cho tôi vui vẻ làm nghịch lại tập quán cổ truyền. Lăo sư phụ sẽ đến dự lễ; và ông sẽ ngỡ ngàng không nói nên lời và sẽ giận dữ đến xám xanh mày mặt. V́ lẽ tôi sẽ đọc một tên không phải tên ông. Một tên khác? Nhưng vị sư phụ khác đă dậy đỗ tôi bước vào con đường tỉnh ngộ chân thực là ai? Tôi đang tắc tị. Tật nói lắp của tôi đă bít lối không cho cái tên vị sư phụ đó thoát ra khỏi miệng tôi. Tôi lắp bắp; và trong lúc lắp ba lắp bắp th́ một cái tên khác bắt đầu buột ra - tôi bắt đầu nói “Cái Đẹp” và “Hư Vô”. Thế là tất cả mọi người hiện diện trong buổi lễ đều phá ra cười, và tôi đứng như trời trồng, vụng về, cứng ngắc giữa tiếng cười của mọi người. 

Tôi bất chợt tỉnh mộng. Lăo sư phụ có vài việc phải làm; và với tư cách một thị tăng, tôi có bổn phận tiếp tay cho ông. Đối với một thị tăng được hiện diện trong một dịp lễ như thế này thật là một điều rất đáng tự hào; đặc biệt là trong trường hợp tôi, v́ lẽ Thượng tọa trụ tŕ Lộc Uyển tự là bậc thượng thủ trong hàng tân khách. Khi Lăo sư phụ của tôi đă niêm hương xong, ông lấy cái chùy gọi là “bạch chùy” gơ một tiếng để chứng minh rằng vị tân mệnh trù tŕ hôm nay không phải là một Nhạn phù đồ, nghĩa là, một nhạn phường chủ hay một anh tăng sĩ tiếm vị. Ông ê a tụng “Pháp duyên long tượng chúng Đương quan đệ nhất nghi” rồi cầm bạch chùy gơ khẽ một tiếng nữa. Lúc đó tôi mới thấy được quyền lực huyền diệu của Lăo sư phụ.

 

* * *

 

Tôi không thể làm sao chịu được cảnh Lăo sư phụ cứ lặng lẽ buông trôi câu truyện vừa qua mà không nói một lời, nhất là tôi không biết rồi ra sự im lặng này sẽ kéo dài bao lâu. Nếu tôi được trời phú cho t́nh cảm nào đó của con người th́ tại sao tôi lại không hy vọng t́m thấy ở người đời như ở Lăo sư phụ mà tôi thường tiếp xúc, những t́nh cảm tương ứng. Dù là yêu hay ghét cũng được. Gần đây tôi có cái thói quen đốn mạt là mỗi khi có dịp cứ quan sát vể mặt Lăo sư phụ, nhưng chẳng một lần nào có thể phát hiện những t́nh cảm đặc biệt trên khuôn mặt ấy. Nét mặt thản nhiên của ông chẳng phải là lạnh lùng. Có thể là khinh miệt, nhưng nếu quả như vậy, th́ đó không phải là sự khinh miệt đối với tôi như một cá nhân mà với một cái ǵ tổng quát, một cái ǵ chẳng hạn ông đă hướng về nhân gian nói chung hoặc về những khái niệm trừu tượng khác nhau. 

Vào khoảng thời gian này tôi cố ép ḿnh gọi ra h́nh ảnh cái đầu tựa đầu loài thú của Lăo sư và những hành vi nhục thể khó coi của ông. Tôi tưởng tượng ra ông đang làm việc bài tiết và tôi cũng mường tượng ra ông khi ông nằm ngủ với người con gái mặc tấm áo choàng đỏ rực ấy! Tôi nh́n thấy những nét thản nhiên, không chút t́nh cảm trên khuôn mặt ông và một dáng vẻ có thể là tươi cười, có thể là đau đớn chợt lộ trên khuôn mặt ông khi khuôn mặt ấy đờ đẫn v́ khoái cảm. 

Da thịt ông mềm mại, mịn mát khi tan biến vào da thịt cũng mịn mát, mềm mại của người con gái và khi hai thân h́nh ấy quyện chặt vào nhau không làm sao phân biệt được. Cái bụng phưỡn của ông áp chặt vào cái bụng ph́nh của cô gái. Tuy nhiên, kể cũng kỳ lạ, dù có tưởng tượng đến đâu đi nữa lúc nào tôi cũng chỉ thấy nét mặt lạnh lùng thản nhiên không lộ chút t́nh cảm nào của Lăo sư phụ với dáng vẻ như loài thú trong khi bài tiết hoặc lúc tính giao và chẳng bao giờ có một cái ǵ lấp kín khoảng trống giữa hai cái này cả. Cực đoan này được trực tiếp biến sang cực đoan kia, ở giữa chẳng hề có một sắc hợp t́nh cảm nào trong cuộc sống thường nhật móc nối. Chỉ có một điều duy nhất có chút xíu liên hệ đó là lời mắng mỏ có vẻ thô lỗ của Lăo sư phụ vào chiều hôm ấy: “Thằng nhăi con điên khùng kia, có phải mày định theo dơi tao hay không th́ bảo?” 

Sau khi suy nghĩ và chờ đợi đến mệt đừ cả người, cuối cùng tôi thấy ḿnh có một thèm muốn hết sức mạnh mẽ, dai dẳng: chỉ cần làm sao bắt gặp được một cái nh́n ghét bỏ rơ rệt trên mặt Lăo sư phụ. Kết quả của tất cả những ư nghĩ đó là một sự sắp đặt hết sức điên rồ, trẻ con và bất lợi rơ rệt cho tôi; nhưng tôi không làm sao c̣n có thể tự kiềm chế nữa. Tôi cũng chẳng thèm để ư là cái tṛ chơi ác này sẽ chỉ làm cho Lăo sư phụ hiểu lầm tôi thêm khi trước kia ông đă nghĩ rằng tôi đă dụng tâm theo dơi ông. 

Tôi gặp Kashiwagi ở đại học và hỏi nó tên cùng địa chỉ cửa hiệu ấy. Kashiwagi cho tôi biết liền mà chẳng hề hỏi đến lư do. Tôi đi ngay đến cửa hiệu ấy xem xét tỉ mĩ một lô ảnh khổ bưu thiếp chụp các cô danh kỹ trong khu Kỳ viên. Mới đầu tôi thấy những bộ mặt trát phấn dầy cộm của các cô gái ấy trông đều giống hệt như nhau, nhưng nh́n kỹ một lúc tôi thấy nhiều nét khác biệt nhỏ nhặt bắt đầu hiện rơ. Qua lớp son phấn lồ lộ bây giờ tôi có thể phân biệt rơ những sắc điệu biểu hiện bản chất từng khuôn mặt ấy - tối tăm hoặc sáng sủa, lanh lợi thông minh hoặc đẹp đẽ đần độn, ủ dột hoặc hớn hở, bất hạnh hoặc may mắn. Cuối cùng tôi giở tới tấm h́nh ḿnh đang muốn t́m. Dưới ánh đèn điện sáng trưng của cửa hiệu, h́nh ảnh phản chiếu lấp lánh trên mặt giấy bóng lộn thật khó mà nh́n rơ tấm ảnh, nhưng khi đă soi theo đúng chiều ánh sáng tôi có thể nhận ra đích thực đấy là khuôn mặt cô gái mặc áo choàng đỏ chót. 

“Xin cho tôi tấm ảnh này,” tôi nói với người bán hàng. 

Sự táo bạo đặc biệt của tôi vào lúc này tương ứng hoàn toàn với việc tôi đă hoàn toàn thay đổi và thấy trong ḷng nhẹ nhơm, ngập tràn một niềm vui sướng không thể giải thích được kể từ lúc quyết tâm thực hiện sách lược của ḿnh. Mới đầu tôi có ư định chọn lúc nào Lăo sư phụ đi vắng để cho ông không biết được là ai đă làm việc đó, nhưng bây giờ nỗi hăm hở mới có của tôi đă dẫn dắt tôi đến chỗ lựa chọn cái phương pháp nguy hiểm là làm thế nào để không ai có thể lầm lẫn về trách nhiệm của tôi cả. 

Tôi vẫn có bổn phận đem báo buổi sáng tới pḥng Lăo sư phụ. Một buổi sớm tháng ba, khi trời hăy c̣n gái lạnh, như thường lệ tôi đi ra cổng ngoài lấy báo đem vào. Tim tôi đập th́nh thịch lúc tôi rút trong túi ra tấm ảnh cô gái ở khu Kỳ viên để đem nhét vào trong tờ báo. 

Mặt trời buổi sáng chiếu vào cây tô thiết mộc ngay giữa tiền đ́nh có hàng rậu vây quanh. Vỏ cây tô thiết cứng dắn sù ś biến màu rơ rệt dưới ánh sáng mặt trời. Bên trái là cây bồ đề nhỏ. Một vài con chim nhược cuối màu đậu trên cành cất mấy tiếng hót êm nhẹ nghe như tiếng tràng hạt cọ vào nhau. Vào lúc này trong năm vẫn c̣n chim nhược th́ kể cũng lạ, nhưng cái mớ lông tơ vàng vàng, li ti ấy mà tôi nh́n thấy trước ánh mặt trời xuyên qua cành cây, thực chẳng thể thuộc về loài chim nào khác. Những ḥn sỏi trắng óng nằm lặng lẽ trong tiền đ́nh. 

Tôi cẩn thận đi men theo hành lang, cho chân khỏi bước vào những vũng nước c̣n sót lại đó đay khi vừa lau nhà xong. Cửa pḥng Lăo sư phụ trong Đại Thư Viện đóng kín mít. Hăy c̣n sớm quá nên tấm liếp kéo bằng giây trắng c̣n chiếu sáng chói lọi. 

Tôi qú ở ngoài hành lang và nói như thường lệ: “Thưa, con có thể vào được không?” Nghe tiếng Lăo sư phụ cho phép tôi ẩn tấm cửa kéo bước vào pḥng rồi đặt tờ báo gấp nhẹ vào một góc bàn giấy. Lăo sư phụ đang bận đọc một cuốn sách nên không nh́n thẳng vào mắt tôi. Tôi lui bước, khép cửa lại và vừa từ từ đi theo hành lang trở lại pḥng ḿnh vừa cố gắng hết sức để giữ b́nh tĩnh. 

Khi tới pḥng riêng, tôi ngồi xuống hoàn toàn buông ḿnh theo khích động rộn ră cho tới lúc rời chùa đi học. Chưa bao giờ trong đời ḿnh tôi lại trong chờ một cái ǵ với hy vọng như thế. Mặc dù đă dụng ư làm cho Lăo sư phụ tức giận, song cái khung cảnh lúc này đây tôi đang đợi chờ lại chỉ chứa đầy nguồn nhiệt t́nh của giây phút mà hai con người đi đến chỗ hiểu biết lẫn nhau. 

Có lẽ Lăo sư phụ sẽ bất th́nh ĺnh nhẩy bổ vào pḥng tôi và tha thứ cho tôi. Và nếu ông tha thứ cho tôi, có lẽ lần đầu tiên trong đời ḿnh tôi sẽ đạt tới cái t́nh cảm trong sáng, thuần khiết trong đó Tsurukawa đă luôn luôn sống. Lăo sư phụ và tôi sẽ ôm lấy nhau, và tất cả những ǵ c̣n lại sau đó chỉ là sự tiếc rằng sao chúng tôi đă hiểu nhau quá chậm. 

Giấc mơ này không kéo dài lâu, nhưng thực khó mà giải thích rằng tại sao tôi lại có thể buông ḿnh theo những không tưởng dớ dẩn như thế dù chỉ trong một thời gian ngắn ngủi. Khi lạnh lùng bằng cái hành vi ngu dại này tức là tôi đă tự gạt bỏ tên ḿnh khỏi danh sách những người có thể kế nghiệp ông và như thế, tự ḿnh tôi đă dọn đường cho việc vĩnh viễn không bao giờ có hy vọng trở thành chủ nhân Kim Các Tự nữa - trong suốt thời gian này tôi bị cái mục tiêu tức thời lôi cuốn, chấp trước đến nỗi quên hết sự tha thiết trọn đời của ḿnh đối với Kim Các Tự. 

Tôi vểnh tai nghe ngóng phía pḥng Lăo sư phụ trong Đại Thư Viện. Tôi chẳng nghe thấy một tiếng động nào hết. 

Bây giờ tôi bắt đầu chờ đợi con thịnh nộ của Lăo sư phụ, chờ đợi tiếng la hét như sấm rền của ông. Về phần ḿnh, tôi cảm thấy nếu có bị đánh đập, đá cho ngă lăn xuống sàn nhà và nện cho chảy máu lênh láng th́ chẳng có ǵ đáng hối tiếc nữa. Nhưng về phía Đại Thư Viện vẫn hoàn toàn im lặng; trong lúc tôi ngồi trong pḥng chờ đợi không một tiếng động nào tới gần. 

Rồi lúc rời Lộc Uyển tự để đi đến trường, tôi thấy ḷng ḿnh hoàn toàn trống rỗng, ră rời và hoang lạnh. Tôi không thể tập trung tư tưởng vào bài giảng và khi vị giáo sư hỏi tôi một câu th́ tôi đă trả lời sai bét chẳng ăn thua ǵ đến câu hỏi khiến cho ai nấy đều bật cười. Tôi liếc mắt nh́n Kashiwagi và thấy rằng có ḿnh nó là thờ ơ với việc này và đang nh́n ra cửa sổ. Hẳn là nó cũng biết cái bi kịch đang diễn ra trong ḷng tôi. 

Khi tôi trở về chùa vẫn chẳng có ǵ thay đổi hết cả. Nếp sinh hoạt vĩnh viễn, ngột ngạt, đen tối trong chùa đă trở thành khuôn phép chắc chắn đến nỗi giữa ngày này với ngày khác chẳng làm sao có được sự khác biệt nào cả. 

Mỗi tháng có hai buổi giảng nghĩa giáo điển; hôm nay chính là ngày có buổi giảng bài như thế. Mọi người trong chùa đều tụ tập ở pḥng Lăo sư phụ để nghe ông thuyết giảng. Tôi trộm nghĩ là ông sẽ khéo léo lấy cớ giảng kinh Vô Môn Quan để trách mắng tôi trước mặt tất cả mọi người. Tôi có lư do đặc biệt để tin tưởng điều này. Tôi cảm thấy có một thứ can đảm đầy nam tính đă thúc đẩy tôi tôi ngồi ngay trước mặt Lăo sư phụ trong buổi thuyết giảng tối nay. Tôi thấy Lăo sư phụ sẽ đáp lại bằng cách chính ông bày tỏ một đức tính tốt đẹp của bậc nam nhi: ông sẽ giẫm chân lên sự đạo đức giả và cáo bạch cho mọi người trong chùa biết rơ hành trạng của ḿnh rồi sau đó sẽ chỉnh tôi một trận v́ cái hành vi tồi tệ của tôi. 

Tất cả mọi người ở trong chùa đă tụ tập xong đâu vào đấy dưới ngọn đèn lờ mờ, ai nấy đều cầm trong tay một bản kinh Vô Môn Quan. Đêm tối lạnh lẽo, song chỉ có một cái bếp ḷ nhỏ đặt ngay cạnh Lăo sư phụ để sưởi ấm. Tôi nghe thấy tiếng người hắt hơi. Họ ngồi đó, cả già lẫn trẻ, bóng h́nh lúc đậm lúc nhạt in trên các khuôn mặt cúi khom, và trên nét mặt họ có cái ǵ hết sức đờ đẫn. Người đồ đệ mới, ban ngày đi dậy ở một trường tiểu học, là một anh chàng cận thị và cái kính trắng cứ tuột măi xuống sống mũi xương xương của anh ta. 

Chỉ riêng tôi cảm thấy được sức mạnh trong cơ thể ḿnh. Ít nhất đó là điều tôi đă tưởng tượng. Lăo sư phụ mở cuốn kinh của ông, rồi đưa mắt nh́n quanh khắp một ṿng hết chúng tôi. Tôi đưa mắt nh́n theo cái nh́n của ông. Tôi muốn ông thấy rơ là tôi hoàn toàn không hề cúi mặt nh́n xuống. Nhưng khi cặp mắt có những múi thịt múp míp bao quanh đưa đến chỗ tôi, chúng lại chẳng tỏ ra có mảy may cảm hứng nào và rồi lướt nh́n qua các bộ mặt khác. 

Bài thuyết giảng bắt đầu. Tôi chỉ những chờ đợi cái giây phút khi bất chợt bài giảng chuyển vào vấn đề của ḿnh. Tôi chăm chú lắng nghe. Giọng lăo sư phụ cao vút kéo dài. Không có một tiếng nói nào phát ra từ nội tâm ông hết. 

 

 

Đêm hôm đó tôi không sao ngủ được. Trong lúc trằn trọc, tôi thấy ḷng ḿnh tràn ngập một sự khinh miệt đối với Lăo sư phụ và một niềm ước muốn chế diễu cái thói đạo đức giả của ông. Thế nhưng, sau đó dần dần một cảm giác hối hận chỗi dậy trong ḷng tôi và bắt đầu xoa dịu những ư nghĩ ngạo mạn của tôi. Sự khinh miệt của tôi đối với thói đạo đức giả của Lăo sư phụ, kỳ diệu thay lại liên hệ với sự suy nhược dần dần của tâm hồn tôi, và kết cục tôi đâm ra có ư nghĩ là riêng đối với tôi thực ra Lăo sư phụ chẳng là cái quái ǵ hết, v́ vậy dù cho tôi có năn nỉ xin ông tha thứ th́ cũng chẳng phải là một sự thất bại. Tâm hồn tôi sau khi đă trèo lên tận đỉnh một con dốc thật cao bây giờ đang lao xuống chân dốc thật nhanh. 

Tôi định tâm vào sáng hôm sau sẽ tới xin lỗi Lăo sư phụ. Sáng hôm sau, tôi lại quyết định sẽ tới xin lỗi vào một lúc nào đó trong ngày. Tôi nhận thấy nét mặt Lăo sư phụ chẳng mảy may thay đổi. 

Đó là một ngày lộng gió. Sau khi ở đại học về, bất đồ tôi mở ngăn kéo ra. Tôi nh́n thấy một cái ǵ gói kín trong bao giấy trắng. Đó là tấm ảnh. Trên tờ giấy không có một chữ nào. Hiển nhiên, Lăo sư phụ đă chủ tâm dùng phương pháp này để kết thúc vấn đề. Ông không có ư hoàn toàn bỏ qua hành vi tôi, nhưng muốn tôi thấy rơ là hành vi đó chẳng có hiệu lực ǵ hết. Tuy nhiên cung cách đem trả lại tấm ảnh lạ kỳ của ông đă khiến cho trí óc tôi tưởng tượng đến hàng chuỗi h́nh ảnh. 

“Như vậy Lăo sư cũng đă đau khổ rồi!” tôi nghĩ vậy. Trước khi xử sự như thế này hẳn ông đă phải trải qua bao nỗi ưu phiền ghê gớm. Hẳn là bây giờ ông phải ghét tôi kinh khủng. Chắc không phải ông đâm ra ghét tôi v́ tôi đă làm cho ông bó buộc phải cư xử một cách khó coi như vậy. Chỉ v́ một tấm ảnh này mà Lăo sư phụ bó buộc phải hành động lén lút ngay trong ngôi thiền tự của riêng ông. Ông đă phải lén lút men theo hành lang vào lúc không có một ai ở đó. Rồi lẻn vào pḥng một tên đồ đệ, nơi từ trước đến nay ông chưa bao giờ đặt chân tới và mở ngăn kéo của tôi ra y như một kẻ phạm tội. Đúng thế, bây giờ ông đă có đủ thập phần lư do để mà ghét tôi.” 

Nghĩ vậy tôi chợt thấy ḷng ḿnh tràn ngập một niềm vui khó tả. Rồi tôi bắt tay vào một công việc thích thú. Tôi lấy kéo cắt tấm ảnh cô gái ra thành nhiều mảnh nhỏ. Xong đâu đấy tôi lấy một tờ giấy cứng ở cuốn vở của tôi gói ghém cẩn thận những mảnh vụn ấy trong hai lớp giấy rồi nắm chặt gói giấy trong tay đi ra tới chỗ gần Kim Các Tự. Sự quân xứng u uất thường lệ vẫn tràn ngập ngôi chùa nhô cao dưới bầu trời đêm sáng trăng lộng gió. Hàng cột mảnh mai đứng xích lại gần nhau; dưới ánh trăng rọi thẳng xuống những hàng cột trông tựa các sợi dây đàn c̣n chính ngôi chùa lại giống như một nhạc khí khổng lồ dị dạng. Mặt trăng lúc thấp lúc cao đă gây nên ấn tượng khác thường này. Đêm nay thấy thực là rơ. Tuy vậy, gió lùa qua khoảng trống giữa các sợi dây đàn câm nín ấy lại chẳng tạo nên một tiếng đàn nào cả. 

Tôi cúi xuống nhặt một ḥn đá, gói vào trong tờ giấy rồi buộc thật chặt vào gói giấy. Thế rồi những mảnh vụn của tấm h́nh khuôn mặt cô gái, do sức nặng của ḥn đá, ch́m xuống đáy Kính Triều tŕ. Sóng nước lăn tăn trải dài khắp bốn phía chẳng mấy lúc đă lan tới bờ nước ngay dưới chân tôi. 

 

 

Việc tôi đột nhiên chạy trốn khỏi chùa vào tháng mười một năm ấy là kết quả của sự tích lũy những sự việc này. Về sau nghĩ lại tôi nhận ra rằng sự trốn chạy có vẻ đột ngột thực ra đă được tiến hành từ lâu qua biết bao thời kỳ phân vân và ưu lự. Tuy nhiên, tôi lại thích nghĩ rằng đó là v́ một vài rung động đột ngột thôi thúc. V́ tự căn bản, trong con người tôi thực hoàn toàn thiếu sót những xung động mô phỏng. Chẳng hạn trong trường hợp một người tối hôm trước đă dự định đi thăm một thân phụ vào ngày hôm sau, nhưng tới lúc ra khỏi nhà đứng trước nhà ga, người đó lại đột nhiên đổi ư và quyết định tới thăm một người bạn chè chén của ḿnh, như vậy trong trường hợp này người đời có thể nào nói là có một xung động thuần túy hay không? Phải chăng sự đổi ư đột nhiên của người đó là thứ hành vi phục thù đối với ư chí của ḿnh? Thực ra, có phải đó là cái ǵ có ư thức hơn sự chuẩn bịtừ lâu để đi thăm mộ hay không? 

Cái động cơ trực tiếp đă khiến tôi phải bỏ chùa chạy trốn là việc hôm trước Lăo sư phụ đă nói rơ cho tôi hay: “Trước đây đă có lúc ta định bụng cho con kế vị ta sau này, nhưng bây giờ ta có thể nói thẳng cho con hay là ta không c̣n giữ ư định đó nữa.” 

Đó là lần đầu tiên tôi nghe thấy một lời tuyên cáo như thế, song lẽ ra tôi nên đoán trước và đợi chờ một lời tuyên cáo như vậy mới phải. Tôi không thể làm rabộ là lời nói của Lăo sư phụ như một tiếng sét đánh ngang tai hoặc đă làm cho tôi sững sờ hoảng hốt. Tuy vậy, tôi vẫn thích nghĩ là những lời nói của Lăo sư phụ đă va chạm làm nổ bùng và một xung động đột nhiên đă gây ra việc tôi bỏ chùa trốn chạy. 

Sau khi đă chắc chắn là làm cho Lăo sư phụ ghét bỏ ḿnh v́ cái tṛ chơi ác về tấm h́nh, tôi bắt đầu xao lăng việc học hành tại trường; điều đó thực rành rành ai cũng thấy rơ. Thành tích của tôi trong năm dự bị là 84 điểm trong khi hai môn khá nhất: Hoa ngữ và Lịch sử và 748 điểm tổng cộng tất cả các môn; như vậy được xếp hạng 24 trong lớp học 84 người cả thảy. Tôi chỉ vắng mặt tất cả có 4 giờ trong số 464 giờ học. Sang năm thứ nh́, tổng cộng tôi chỉ được có 693 điểm và tụt xuống thứ 35 trong 77 sinh viên. Nhưng sang đến năm thứ ba tôi mới thực sự xao lăng việc học hành - chẳng phải v́ có tiền để rong chơi mà chi v́ thích biếng lười không chịu học. Và t́nh cờ học kỳ mới trong năm thứ ba lại bắt đầu ngay sau câu truyện về tấm ảnh. 

Khi học kỳ thứ nhất chấm dứt, nhà trường gửi giấy về chùa yêu cầu chú ư đến sự thụt lùi của tôi và tôi bị Lăo sư phụ gọi lên trách mắng và thành tích quá tệ, số giờ vắng mặt quá nhiều, nhưng điều làm Lăo sư phụ giận dữ nhất là trong một học kỳ chỉ có ba ngày giảng dậy về “Tiếp tâm” (môn học đặc biệt cho tăng sĩ Thiền tông) th́ tôi đều trốn học cả ba. Cả một năm chỉ có chín ngày giảng dậy về “Tiếp tâm” chia làm ba lần, mỗi lần ba ngày trước những dịp nghỉ dầu mùa hạ, mùa đông và mùa xuân, và mọi việc đều theo đúng các h́nh thức trong những đạo trường chuyên môn. 

Lăo sư phụ đặc biệt cho gọi tôi lên tận pḥng riêng của ông để nghe ông trách mắng, việc này tự nó là một điều hiếm thấy. Tôi cúi đầu đứng yên. Trong thâm tâm tôi đang chờ đợi Lăo sư sẽ xoay sang một câu truyện nào đó; nhưng không, ông đă chẳng hề đả động tí ǵ đến câu truyện tấm ảnh cả, mà ông cũng chẳng nhắc nhở ǵ tới câu truyện cô gái điếm cùng việc cô này đến làm tiền ông. 

Chính từ dạo này trở đi Lăo sư phụ có thái độ lănh đạm rơ rệt đối với tôi. Nói cho đúng ra đó thực là điều tôi hằng mong đợi, là chứng tích tôi thêm được thấy và tôi coi điều này như là một thứ thắng lợi. Tuy nhiên, muốn đạt được sự thắng lợi ấy th́ tôi chỉ cần cứ việc lười biếng. Trong học kỳ đầu tiên của năm thứ ba tôi vắng mặt 60 giờ - gấp năm lần tổng số giờ vắng mặt trong cả năm thứ nhất. Trong suốt những giờ vắng mặt ấy tôi không hề đọc một quyển sách nào, mà tôi cũng chẳng có tiền để đi t́m thú vui. Đôi khi tôi cũng có nói chuyện với Kashiwagi, song thường thường tôi chỉ ngồi một ḿnh không làm ǵ hết; và như vậy những kư ức của tôi về đại học Otani thường pha trộn một cách thân mật với những kư ức về sự vô vi lười biếng. Sư vô vi lười biếng này có lẽ là một lối thực tập “Tiếp tâm” đặc biệt của tôi về Thiền học, và khi đă đắm ḿnh vào sự thực tập ấy, chẳng có một lúc nào tôi cảm thấy chán năn hết. 

Có một lần tôi ngồi hàng giờ trên băi cỏ ngắm một đàn kiến thi nhau khênh những mẫu đất nhỏ xíu. Thực không phải đàn kiến đă làm cho tôi thích thú. Một bận khác tôi đang ngớ ngẫn không biết trong bao lâu bên ngoài đại học ngắm đợt khói mong manh bốc lên từ ống khói xưởng máy ở đằng sau nhà trường. Thực không phải làn khói đó đă lôi cuốn cảm hứng của tôi. Vào những giờ phút như thế, tôi cảm thấy dường như đă đắm ḿnh trọn vẹn vào cuộc sống của chính cái tôi. Thế gian bên ngoài nhiều phần đă nguội đi và từ lúc ấy lại được hâm nóng lại. Tôi biết nói ra sao nhỉ? Tôi cảm thấy thế giới bên ngoài đă lốm đốm loang lở và lại có dọc vằn ngang nữa. Bản thân bên trong của tôi và thế giới bên ngoài đă thay đổi vị trí một cách từ từ không theo một quy tắc nào cả. Cái phong cảnh vô ư vị vẫn hằng bao quanh tôi chợt sáng rực lên trước mắt tôi; trong lúc sáng rực, phong cảnh ấy xông xáo, len lách t́m đường chui vào trong tôi và chỉ những phần c̣n lại không chui vào được là tiếp tục óng ánh ngoài xa một cách sinh động. Những phần chói sáng ấy có thể là lá cờ trên nóc một xưởng máy hoặc một vết dơ trên tường hay chiếc guốc cũ kỹ nát mục vứt bỏ trên băi cỏ. Dần dần tất cả sống dậy trong tôi - và rồi chúng lại chết đi. Hoặc giả liệu tôi có nên nói, tất cả mọi h́nh thức tư tưởng không thành h́nh? Những sự việc trọng yếu dắt tay đi đôi với những việc tầm thường nhất, và những sự kiện chính trị ở châu âu mà tôi đọc thấy trong báo sáng nay trở nên có liên hệ khắng khít với chiếc guốc gỗ cũ kỹ đang nằm ở dưới chân tôi đây. 

Tôi suy nghĩ hàng giờ về cái góc nhọn do đầu một ngọn cỏ tạo thành. Có lẽ từ ngữ “suy nghĩ” không được thích đáng cho lắm. Cái quan niệm lạ lùng, vớ vẫn này của tôi không có quá tŕnh sinh hoạt liên tục, nhưng cứ xuất hiện rồi lại biến đi như một điệp khúc trong bản nhạc nào đó. Tại sao cái góc nhọn ấy lại phải nhọn hoắt đến thế? Giả như nếu nó là một góc bẹt th́ liệu sự xếp loại của “cỏ” có bị mất đi không và liệu thiên nhiên có tránh khỏi bị băng hoại từ một góc bẹt trong toàn thể hay không? Khi một cái cực tiểu lấy ra khỏi thiên nhiên th́ liệu toàn thể thiên nhiên có biến dạng hay không? Cứ theo phương pháp này tâm trí tôi vẩn vơ suy nghĩ hết từ quan điểm này đến quan điểm khác. 

 

 

Việc Lăo sư phụ trách mắng tôi chẳng mấy chốc trong chùa ai ai cũng biết, do đó đối với tôi họ có thái độ thù nghịch rơ rệt hơn. Người đồ đệ đă từng ghen ghét tôi về việc tôi được gửi lên đại học bây giờ bất kỳ lúc nào nom thấy tôi hắn cũng hinh hích cười một cách đắc ư. 

Tôi tiếp tục sống ở trong chùa trong suốt mùa hè và mùa thu, và ít khi hé miệng chuyện tṛ với ai. Vào buổi sáng trước ngày tôi bỏ chùa trốn đi Lăo sư phụ bảo ông Phó ti gọi tôi vào pḥng Lăo sư phụ. Hôm đó là ngày mồng chín tháng mười một. V́ sắp sửa rời chùa lên trường nên tôi mặc bộ đồ đồng phục. 

Khuôn mặt phúng phính của Lăo sư phụ vẫn tươi tắn như thường lệ, nhưng để sửa soạn nói cho tôi hay điều ǵ không vui, khuôn mặt ấy chợt đanh lại một cách lạ kỳ. Tuy nhiên, với riêng tôi th́ tôi lại lấy làm thích thú là được thấy Lăo sư phụ nh́n tôi như thể đang nh́n một tên hủi. Đó chính là nét mặt tôi thật t́nh mong được nh́n thấy nơi ông một ánh mắt có mang t́nh cảm của con người. 

Lăo sư phụ quay mặt nơi khác không nh́n tôi. Trong lúc nói, ông xoa hai bàn tay vào nhau hơ trên ḷ sưởi. Hai bàn tay ông thịt da mềm mại chỉ tạo nên một âm thanh khe khẻ, thế nhưng tôi lại nghe thấy như vang vang và h́nh như phá tan vẻ trong sáng của làn không khí buổi sáng sớm đầu mùa đông. Sự cọ sát giữa da thịt một ông ḥa thượng với chính da thịt ông ta tạo nên một cảm giác thân mật không cần thiết. 

“Ba con ở dưới suối vàng sẽ buồn rầu xiết bao khi biết sự thể đă đến như thế này!” Ông nói. “Hăy xem lá thư này! Một lần nữa nhà trường lại gửi một lá thư lời lẽ rất gay gắt. Con nên suy ngẫm xem nếu cứ tiếp tục như thế này th́ sự thể sẽ ra sao.” Và rồi ông bắt thẳng sang những điều ông muốn nói. “Trước đây đă có lúc ta định bụng cho con kế vị ta sau này, nhưng bây giờ ta có thể nói thẳng cho con hay là ta không c̣n giữ ư định đó nữa.” 

Tôi ngồi im lặng một lúc lâu. Rồi tôi nói: “Như vậy tức là thầy bỏ rơi con phải không?” 

“Có thực là con nghĩ rằng ta sẽ không bỏ rơi con sau vụ này không?” Lăo sư phụ nói sau một lúc im lặng. 

Tôi không trả lời, nhưng ngay sau đó tôi nghe thấy chính ḿnh lắp bắp thốt ra một điều ǵ về một việc hoàn toàn khác biệt. “Bạch thầy, thầy biết rơ con từng chân tơ kẽ tóc. Con nghĩ con không biết rơ về thầy từ kẽ tóc chân tơ.” 

“Và giả như thực sự con biết hết th́ đă sao đâu.” Ḥa thượng nói, trong mắt ông hiện ra một ánh u-ám. “Con có biết hết th́ cũng chẳng đi đến đâu. Thật hoàn toàn vô ích mà.” 

Từ trước đến giờ chưa lần nào tôi nh́n thấy một khuôn mặt nào lại hoàn toàn xa rời cuộc đời này đến như vậy. Từ trước đến giờ chưa làn nào tôi nh́n thấy khuôn mặt một con người mặc dù đă nhúng tay vào mọi thú vị của cuộc sống, nào bạc tiền, nào đàn bà con gái, lại hoàn toàn khinh miệt cuộc đời này cho đến thế? Ḷng tôi tràn ngập những hiềm ố như thể tôi đang đứng trước một cái xác chết nhưng hăy c̣n âm ấm, da dẽ hăy c̣n hồng hào. 

Vào lúc ấy tôi thấy ḷng ḿnh tràn ngập ước muốn mănh liệt, thống thiết xa lánh tất cả mọi khung cảnh bao quanh ḿnh, dù chỉ trong một chốc lát. Sau khi lui gót khỏi pḥng Lăo sư phụ, tôi thấy cái ước muốn đó lại càng dữ dội hơn nhiều khiến tôi chẳng thể nghĩ đến điều ǵ khác nữa. 

Tôi lấy cái khăn gói cuộn quyển từ điển Phật giáo và chiếc sáo Kashiwagi đă cho tôi lại. Khi tới trường mang theo cặp sách và khăn gói này tôi thấy ư định ra đi cứ ám ảnh măi đầu óc. 

Bước vào cổng trường, tôi vui ḷng hết sức khi thấy Kashiwagi đang đi đằng trước, tôi kéo tay nó lại và dẫn ra vệ đường. Tôi bảo nó cho tôi vay ba ngh́n yen và giữ lấy cuốn tự điển và chiếc sáo muốn làm ǵ th́ làm. Lúc này, trên khuôn mặt nó không hề có một dấu vết nào của cái dáng vẻ sáng khoái triết học quen thuộc nó hằng có mỗi khi đưa ra một nghịch thuyết. Nó nheo mắt lại nh́n tôi, ánh mắt như có lờ mờ sương khói. 

“Mày có nhớ lời khuyên con trai của ông bố anh chàng Laerter trong bi kịch Hamlet hay không? ‘Đừng bao giờ cho ai vay tiền mà cũng đừng bao giờ đi vay tiền ai, v́ cho vay tiền th́ thường mất cả tiền lẫn bạn.’ 

“Tớ đâu c̣n bố nữa mà nói,” tôi đáp. “Nhưng hăy cùng nhau bàn tính lại xem nào. Tớ không biết liệu có thể cào cấu đâu được đủ ba ngàn yen hay không? 

Tôi đă định bụng nói phăng cho Kashiwagi nghe những lời thiếu phụ dậy cắm hoa kể lại về cái mánh khóe móc tiền đàn bà con gái của nó nhưng rồi đột nhiên tôi cố tự kiềm chế lại. 

“Trước hết ḿnh nên thu xếp cho xong cuốn từ điển và chiếc sáo này đi đă.” 

Nói rồi Kashiwagi quay ngoát lại đi ra phía cổng trường. Tôi cũng quay lại và bước theo, cất bước thật chậm để khỏi vượt qua nó. Nó bắt đầu kể cho tôi nghe truyện thằng bạn sinh viên làm chủ tịch câu lạc bộ Quang Minh đă bị bắt v́ bị t́nh nghi buôn tiền chợ đen. Thằng này đă được phóng thích vào tháng chín và sau đó gặp nhiều khó khăn ghê gớm, v́ không được thiên hạ tin dùng như trước nữa. Ngay từ mùa xuân, Kashiwagi đă đặc biệt chú ư đến thằng chủ tịch hội Quang Minh và hai đứa chúng tôi vẫn thường hay nói chuyện về thằng ấy! Cả hai chúng tôi đều tin chắc rằng thằng ấy đối với xă hội hăy c̣n mạnh thế lắm; và hiển nhiên là chúng tôi không thể ngờ rằng chỉ hai tuần lễ sau thằng ấy đă tự tử. 

“Cậu cần món tiền ấy để làm ǵ vậy?” Kashiwagi đột nhiên hỏi. Dường như nó đặt một câu hỏi thực là kỳ cục. 

“Tớ muốn đi lang thang đến một nơi nào đó.” 

“Thế rồi cậu có trở lại không?” 

“Có lẽ.” 

“Tại sao cậu lại chuồn vậy?” 

“Tớ muốn chạy trốn tất cả những ǵ vây bọc thân tớ, chạy trốn cái mùi vô lực mà mọi người quanh tớ tiết ra nồng nặc. Lăo sư phụ cũng vô lực. Vô lực một cách khủng khiếp. Tớ cũng biết rơ điều ấy nữa.” 

“Thế cậu cũng muốn xa lánh cả Kim Các Tự nữa ư?” 

“Đúng thế! Xa lánh cả Kim Các Tự nữa.” 

“Thế Kim Các Tự cũng vô lực à?” 

“Không, tất nhiên là Kim Các Tự không vô lực! Nó là căn nguyên tạo ra sự vô lực của mọi người.” 

“Phải rồi, cậu nghĩ đến điều đó là phải,” Kashiwagi nói; và nó vừa nhún nhẩy bước ra vừa chặc lưỡi một cách vui vẻ. Tôi theo nó bước vào một cửa hiệu bán đồ cổ nho nhỏ, giá lạnh, nơi nó bán chiếc sáo. Người ta chỉ trả nó bốn trăm yen thôi. Sau đó, chúng tôi dừng lại ở một cửa hiệu bán sách cũ và xoay xỏa bán cuốn từ điển được có một trăm yen. Hăy c̣n thiếu hai ngh́n năm trăm yen nữa. Kashiwagi dẫn tôi về nhà trọ để lấy. Sau khi đă đưa cho tôi mượn tiền nó mới đưa ra một đề nghị thực là kỳ lạ. Nó giải thích, cái sáo là vật nó cho tôi mượn nên tôi phải hoàn lại c̣n cuốn từ điển th́ có thể coi như món quà tặng. Vậy là tôi mới chỉ trả lại nó những ǵ vốn là của nó, và số tiền bán đồ được năm trăm yen cũng thuộc về nó nốt. Khi thêm vào hai ngàn năm trăm yen th́ số tiền cho vay đương nhiên là ba ngh́n yen. Về số tiền ba ngh́n yen này, mỗi tháng Kashiwagi muốn nhận được mười phân lăi đến khi nào tôi trả hết nợ. Theo lời Kashiwagi, so với số tiền lời thực là cao ba mươi tư phần trăm của câu lạc bộ Quang Minh th́ vay lăi như thế này c̣n nhẹ hơn nhiều. Và tính tiền lăi thấp như thế này ấy là nó đă ban cho tôi một ân huệ. Nó rút ra một tờ giấy dầy, một nghiên mực rồi thịnh trọng ghi lại các điều kiện cho vay. Đoạn nó bảo tôi điểm chỉ vào từ giấy chứng vay tiền đó. V́ chán chẳng buồn nghĩ đến tương lai, tôi liền nhúng tay cái vào nghiên mực rồi ấn mạnh lên tờ biên nhận vay nợ. 

Tim tôi đập th́nh thịch v́ sốt ruột. Rời nhà trọ Kashiwagi với ba ngh́n yen trong túi tôi lên xe điện đến tận trước công viên Thuyền Cương mới xuống xe. Tôi lao đầu chạy lên các bậc thềm đá ṿng vèo dẫn đến thần xă Kiến Huân. Tôi định xin một quẻ thẻ để xem thánh dậy ra sao về cuộc hành tŕnh của ḿnh. Ngay từ dưới chân các bậc thềm đá người ta đă có thể nh́n thấy chính điện của thần xă Nghĩa Chiếu Đạo Hà, màu đỏ sặc sỡ và cả hai con cáo có lưới sắt vây quanh. Mỗi con cáo ngoạm một cuốn giấy và bên trong những vành tai vểnh lên nhọn hoắt của chúng cũng sơn màu đỏ choét. 

Hôm ấy trời giá lạnh. Thỉnh thoảng gió lại rập rờn len lách qua những làn ánh sáng mặt trời mỏng manh. Ánh nắng yếu ớt xuyên qua các hàng cây làm cho những bậc thềm đá trông như có rải một lớp tro mịn. Trông như là tro bẩn v́ ánh sáng mờ nhạt quá. 

Tôi chạy thẳng một hơi ngược lên các bậc thềm đá, và khi tới cái tiền đ́nh rộng răi trước Kiến Huân thần xă th́ người tôi ướt đẫm mồ hôi. Ngay trước mắt tôi là một hàng thềm đá nữa dẫn thẳng tới Bái điện. Mái ngói bằng phẳng chạy dài xuống phía các bậc thềm. Hai bên lối đi dẫn tới ngôi đền có những cây thông nho nhỏ uốn éo vươn ḿnh dưới bầu trời mùa đông. Xă vụ sở với vách gỗ mầu đă cũ th́ ở bên phải và trên cửa có treo một tấm biển ghi những chữ: “Sở Nghiên Cứu Vận Mệnh”. Giữa Xă vụ sở và Bái điện là căn Thổ tàng màu trắng. Phía ngoài có mấy cây sam cành lá lưa thưa, nhô lên dưới những đám mây trắng đục, giá lạnh đang lửng lơ, rải rác trên đầu tôi chứa đầy một thứ ánh sáng tang tóc. Từ đấy người ta có thể nh́n thấy những ngọn núi phía tây thành phố Kyoto. 

Vị thần chủ tể ở Kiến Huân thần xă là Nobunaga (Tín Trường). Ngay con cả của vị thần này là Nobutada (Tín Trung) cũng được thờ ở bên cạnh. Đây là một miếu thờ đơn giản chỉ có hàng lan can màu đỏ chót vây quanh bái điện là làm tăng thêm màu sắc. 

Tôi trèo lên các bậc thềm và cúi đầu vái lậy. Sau đó tôi nhắc cái ống h́nh lục giác cũ kỹ đặt trên một cái giá gần ngay hộp đựng tiền cúng tạ. Tôi lắc mạnh cái ống gỗ, một thanh tre vót nhẵn có khắc chữ nhô ra khỏi miệng ống. Trên đó có viết con số “14” bằng mực Tàu. Tôi lui gót quay lại. 

“Một bốn, một bốn,” tôi lẩm bẩm một ḿnh trong lúc đi xuống các bậc thềm. Âm thanh của các con số dường như đông đặc lại trên lưỡi tôi và dần dần có một vài ư vị. 

Tôi đi đến cổng ngoài của xă vụ sở và đánh tiếng. Một người đàn bà dứng tuổi hiện ra. Hiển nhiên, mụ đang giặt giũ ǵ đó và đang vội vă chùi tay vào cái khăn quấn trước người. Mặt lạnh lùng như tiền, mụ nhận ở tay tôi số tiền mười yen đă quy định trước. 

“Số bao nhiêu?” mụ hỏi. 

“Mười bốn.” 

“Xin đứng đợi đàng kia.” 

Tôi ngồi xuống đầu hè và đợi. Tôi chợt nghĩ nếu mà vận mệnh tôi lại được quyết định bởi những bàn tay sần sùi, ướt át của mụ đàn bà này th́ thực là vô nghĩa quá chừng. Tuy vậy cũng chẳng sao v́ tôi tới thần xă này đúng là để đánh bạc mà t́m kiếm một sự vô nghĩa như thế. Phía bên trên kia cánh cửa kéo bằng giấy, tôi nghe tiếng chuông ở ngăn kéo cổ lỗ kêu leng keng trong lúc rơ ràng là mụ đàn bà đang gắng sức lôi ngăn kéo ra một cách khó khăn. Rồi tôi lại nghe thấy tiếng xé giấy và một lúc sau cánh cửa kéo hé mở. 

“Đây cậu ơi.” Người đàn bà vừa nói vừa đưa ra một tờ giấy mỏng dính rồi sau đó đóng cửa lại. Ngón tay trỏ ướt át của mụ ta đă để lại một vệt ướt trên một góc tờ giấy. 

Tôi đọc quẻ thẻ “Số mười bốn - Hung,” quẻ thẻ ghi vậy. “Nhữ hữu thử gian giả loại vi bát thập thần sở diệt. - Nếu c̣n lẩn quất nơi này, người sẽ bị tám mươi vị thần tiêu diệt. Sau khi đă bị đem dí những ḥn đá nung vào người, những mũi tên nhọn cấm sâu vào thịt và nhiều cực h́nh khác nữa, theo lời dạy của tổ thần, hoàng tử Okuri đă rời bỏ xứ này. Đây là điềm triệu người phải lén lút trốn đi.” 

Lời giải thích in dưới toàn nói đến những điều bất an và bất như ư trên con đường trước mặt tôi. Những lời giải thích ấy không làm tôi hoảng sợ. Tôi t́m những điều khá ghi ở phía dưới cùng tờ giấy và khoản mục nói về xuất hành. 

“Xuất hành - Hung. Hết sức tránh đi về hướng Tây Bắc.” 

Đọc thấy thế rồi, tôi bèn quyết định đi về hướng Tây Bắc. 

 

 

Xe lửa đi Tsuruga rời ga Kyoto lúc bảy giờ kém năm sáng. Ở chùa cứ năm giờ rưỡi sáng là lúc thức dậy ra khỏi giường. Vào sáng mồng mười khi tôi thức dậy và thay ngay quần áo, mặc bộ đồng phục sinh viên không một ai tỏ vẻ nghi ngờ ǵ hết. Mọi người trong chùa vẫn có thói quen làm ra vể không thèm nh́n đến tôi. 

Trong ánh sáng lờ mờ của buổi b́nh minh công việc trong chùa luôn luôn hỗn độn một chút. Người th́ bận quét dọn, người th́ lo lau chùi, công việc quét dọn lau chùi kéo dài cả tiếng đồng hồ cho tới sáu giờ rưỡi. Tôi ra ngoài và bắt đầu quét tiền đ́nh. Tôi dự định ra đi ngay khỏi chùa không mang theo vật ǵ hết, như thể tôi đă đột nhiên biến mất một cách thần kỳ. Cái chổi và tôi lướt nhẹ trên lối đi trải đá sỏi tỏa màu trắng nhợt dưới ánh sáng buổi sớm tinh sương. Rồi bất chợt chiếc chổi sẽ rơi xuống, tôi sẽ biến đi và không c̣n ǵ sót lại trong ánh b́nh minh nhạt mờ ngoại trừ những viên sỏi trắng nằm im trên lối đi. Đó, tôi tưởng tượng sự ra đi của ḿnh phải như thế đó! Chính cái lư do này tôi đă không cáo biệt Kim Các Tự. Cần nhất là tôi phải bất chợt bứt ḿnh khỏi toàn cảnh đă vây hăm tôi và - cái toàn cảnh giam hăm này gồm có cả Kim Các Tự. Tôi hướng ngọn chổi dần dần về phía tổng môn. Qua các cành thông tôi c̣n nh́n thấy những ngôi sao lấp lánh. 

Tim tôi đập th́nh thịch trong lồng ngực. Bây giờ tôi phải ra đi. Từ ngữ này h́nh như đang rập rờn bay trong không khí. Dù cho nó có xẩy ra điều ǵ đi nữa tôi vẫn phải ra đi - ra đi khỏi cái hoàn cảnh, cái quan niệm của tôi về cái đẹp đă từng ḱm kẹp tôi bấy lâu, cái nỗi khảm kha bất ngộ, cái tật nói lắp và mọi điều kiện trong cuộc sống của tôi. 

Cái chổi buột khỏi tay tôi rơi vào bóng tối của làn cỏ giống như một quả chín rụng khỏi cành cây. Tôi len lét bước về phía tổng môn, núp ḿnh sau các thân cây. Khi đăqua khỏi tổng môn rồi, tôi bắt đầu co gị vắt chân lên vai mà chạy. Chuyến xe điện đầu tiên buổi sáng chạy tới gần. Tôi bước lên. Trên xe chỉ vẻn vẹn có mấy người; trong có vẻ là những người lao động. Tôi dầm ḿnh ngay dưới ánh ngọn đèn điện chói chang trong toa xe. Tôi cảm thấy đường như suốt cả đời chưa bao giờ ḿnh đă ngồi vào một chỗ sáng sủa như thế. 

Tôi ghi nhớ rơ mồn một từng chi tiết của cuộc hành tŕnh. Tôi đă trốn đi và biết rơ ḿnh sẽ tới nơi nào. Tôi quyết định đến một quận mà đă có lần tôi tới thăm trong một cuộc du ngoạn với cả trường khi tôi c̣n ở trung học. Thế nhưng trong lúc dần dần tiến tới nơi đó, những cảm xúc của tôi về ra đi và giải phóng lại mạnh mẽ đến nỗi tôi cảm thấy như thể đang tiến về một nơi chưa bao giờ biết tới. 

Tôi đang đi trên toa tầu chạy trên con đường quen thuộc từng dẫn tôi về cố quận của ḿnh; những dưới mắt tôi, con tầu cũ kỹ đen mầu bồ hóng này chưa bao giờ lại có vẻ xa lạ như lúc này và cũng chưa bao giờ có những màu tươi mát đến như thế. Nhà ga, tiếng loa phóng thanh rè rè vang âm trong không khí b́nh minh, tất cả lặp lại cùng một t́nh cảm duy nhất, gia tăng cường độ t́nh cảm ấy và phát tỏa ra trước mắt tôi một triển vọng hết sức trữ t́nh. Ánh sáng ban mai cắt sân ga rộng lớn thành nhiều khu. Tiếng giầy dép chạy lẹp kẹp trên sân ga, tiếng chuông nhà ga dai dẳng đều đều, tiếc guốc gỗ khua lép kép, màu sắc một quả cam mật mà một người bàn hàng ở sân ga nhặt trong thúng giơ lên - tất cả hiện ra đối với tôi như là một ám thị hoặc điềm báo của một sự vật to lớn mà từ đây tôi đă đem trao phó hết cả thân ḿnh. 

Từng mảnh nhà ga đơn độc, dù nhỏ bé đến thế nào, cũng đều tập trung vào cái t́nh cảm nổi bật của tôi về sự biệt ly và xuất phát. Sân ga bắt đầu lui lại phía sau tôi với một dáng vẻ rất chững chạc. Tôi cảm thấy rơ ràng như vậy. Đúng thế, tôi cảm thấy cái mặt phẳng xi măng cốt sắt không có chút t́nh cảm đă được rọi sáng ra sao bởi cái vật đang chuyển động, xa rời và ra đi. 

Tôi ngả lưng vào thành tầu. Đây thực là một lối nói buồn cười; tuy nhiên, không có một lối nói nào khác để bảo chứng cho cái ư nghĩ mơ hồ và vị trí của tôi đang dần dần xa cách và di chuyển khỏi nhà ga xe lửa Kyoto. Đă bao đêm rồi, trong khi nằm trong Lộc Uyển tự, tôi đă từng nghe thấy tiếng c̣i những chuyến tầu chở hàng hóa rúc lên khi chạy qua gần vườn hoa trong chùa và tôi không khỏi lấy làm lạ là chính ḿnh lúc này lại đang ngồi một trong những con tầu ấy ngày đêm cứ vun vút lao ḿnh về phía không biết mỏi mệt. 

Bây giờ chúng tôi đang đi mau men theo gần ḍng sông Hozu mà trước đây lâu lắm tôi đă nh́n thấy khi đi trên con tầu này cùng với ông bố bệnh tật ốm đau. Miền đất nằm giữa nơi này và Sonobe về phía tây dẫy núi Atago và dẫy núi Arashi có một khí hậu hoàn toàn khác hẳn thành phố Kyoto. Có thể đó là do ảnh hưởng của các luồng không khí. Trong ba tháng mười, mười một và chạp cứ vào khoảng mười một giờ đêm luôn luôn có một lớp sương mù từ mặt sông Hozu dâng lên bao phủ khắp địa phương cho đến khoảng mười giờ sáng hôm sau. Thật hiếm khi lại thấy một khoảng trống trong lớp sương mù ấy khi nó từ mặt đất dâng lên rồi bồng bềnh trôi về phía xa. 

Cái mảnh ruộng vườn trải rộng mờ mờ ở hai bên con tầu, và những thửa ruộng đă gặt hái rồi và bây giừ đang khoác một màu xanh thẫm. Một vài gốc cây rải rác, to nhỏ ngăn cách những thửa ruộng với nhau. Người ta chặt hết những cành lá sà thấp xuống và lấy những tấm chiếu rơm quấn quanh: các thân cây khẳng khiu (trong quận gọi là “chưng lung” hay nồi nấu hơi) để khi các thân cây lần lượt nhô ra khỏi sương mù chúng sẽ trông giống như hồn ma của những thân cây. Có lần một cây liễu to lớn hiện ra hết sức rơ rệt ngay sát cửa sổ con tầu. Ở dưới là cánh đồng lúa màu tro hầu như không nh́n thấy rơ; những cành liễu ướt át, buông nặng rủ xuống một cách buồn thảm và toàn thân cây liễu nhẹ nhàng đu đưa trong làn sương mù. 

Lúc mới ra khỏi Kyoto th́ ḷng tôi thật là vui thích, đến lúc này đang bị những truy ức về những người đă chết đè nặng. Khi tôi nhớ lại Uiko, ba tôi và Tsurukawa th́ một niềm thương yêu tŕu mến khó tàn hai dâng lên trong ḷng tôi và tôi tự hỏi phải chăng trên đời này tôi chỉ có thể thương yêu những người đă chết mà thôi. Dù sao đi nữa, đem so với những người c̣n sống, những con người đă chết mới thực dễ yêu làm sao. 

Toa xe lửa hạng ba không đông người lắm, người ta ngồi đó - những con người sống mà ḿnh thực khó ḷng thương yêu nổi - đang bận hút thuốc lá hoặc bóc vỏ cam mật mà ăn. Bên cạnh tôi là một người viên chức già chắc là làm việc ở một công đoàn nào đó. Ông ta đang nói tiếng oang oang với một người đàn ông khác. Cả hai đều mặc những bộ quần áo cũ kỹ, nhầu nát mà tôi nh́n thấy cả phần vải rách mướp, vằn sọc ḷi ra khỏi ống tay áo mỗi người. Một lần nữa tôi lại thấy rơ rệt là khi người ta trở nên già nua, vẻ tầm thường chẳng hề giảm bớt chút nào. Những bộ mặt xạm nắng, nhăn nheo con nhà bách tính ấy, những giọng nói khàn khàn v́ hơi rượu ấy có thể nói đă tiêu biểu cho tinh hoa của một loại tầm thường nào đó. 

Họ đang bàn bạc xem phải t́m đến những ai để xin gia công đóng góp cho công đoàn của họ. Một ông lăo hói đầu ngồi đó, nét mặt điềm nhiên. Ông lăo không góp lấy một lời nào vào một câu truyện mà chỉ lấy cái khăn mặt bông lau đi lau lại hai bàn tay khiến cho ban đầu chiếc khăn trắng toát song bây giờ v́ lau măi nên đă hóa ra thành màu vàng khè. 

“Nh́n hai bàn tay đen x́ của tôi này!” ông lăo khẽ nói. “Khói than làm bẩn hết cả rồi v́ tôi ngồi ở đây. Thật khó chịu quá chừng!” 

“Có lần cụ viết thơ cho báo phàn nàn về truyện khói tầu có phải không, thưa cụ?” Một người đàn ông khác, lúc này đă bắt đầu góp chuyện lên tiếng. 

“Dạ, thưa không,” ông lăo hói đầu nói, “Nhưng thật nó làm ḿnh khó chịu quá đi - cái khói tàu này này!” 

Tuy không lắng tai nghe, song tôi vẫn phải nghe những l&