Chùa Hải-Đức in Jacksonville

[Home] [Up] [Điểm Sách] [Sutras] [Dharma Talks] [GĐPT] [Sinh Hoạt] [Our Activities] [Kinh] [Pháp Thoại audio mp3] [Tin Tức Phật Giáo] [Thuyết Pháp] [Thơ Văn] [Ngoại Điển] [Phật Học] [Tụng Kinh] [Nghi Lễ - Rituals]

AN TIÊM

 

KIM CÁC TỰ

 

YUKIO MISHIMA 

Đỗ Khánh Hoan và Nguyễn Tường Minh dịch

 

 

Chương 6

 

 

Đến bây giờ tôi đă chịu tang Tsurukawa được gần một năm tṛn. Mỗi khi thấy ḿnh cô độc, tôi lại nhận thấy làm quen với những nếp sống này, đối với tôi, thật là dễ dàng; và rằng, cuộc sống ít phải cố gắng nhất đối với tôi chính là cuộc sống tôi không bị bó buộc phải nói năng ǵ với ai hết. Tôi đă bỏ được sự bực tức đối với cuộc đời. Mỗi một ngày chết đi đều có niềm vui riêng của nó. 

Thư viện đại học là nơi duy nhất tôi thích tới lui. Tôi không đọc sách nói về Thiền, nhưng ham những tiểu thuyết phiên dịch và tác phẩm triết học mà tôi t́nh cờ vớ được. Tôi ngại ngùng không muốn kể tên những văn gia và triết gia ấy. Tôi nhận rằng họ đă ảnh hưởng ít nhiều đến tôi và tôi cũng nhận rằng chính họ đă là nguyên nhân chính yếu của hành vi ấy; tuy thế tôi lại cho rằng hành vi ấy chính là sự độc sáng của tôi; đặc biệt, tôi không hề muốn bào chữa cho rằng đă có một triết học kư thành nào đó thúc đẩy hành vi này cả. 

Như tôi đă giải thích việc những người khác không hiểu tôi đă là nguồn kiêu hănh duy nhất đối với tôi ngay từ thời niên thiếu, và tôi chẳng hề cảm thấy có chút mảy may xung động nào cổ vũ tôi tỏ bầy sao cho người khác hiểu được ḿnh. Khi tự ḿnh cố gắng làm sáng tỏ tư tưởng và hành động của ḿnh, tôi không có chút đắn đo, châm chước nào hết. Tôi không rơ có phải đó là v́ tôi muốn tự hiểu chính ḿnh hay không. Một xung động như vậy thường theo bản tính chân thực của một người đến để tạo nên nhịp cầu nối liền người đó với những người khác. Vẻ đẹp của Kim Các Tự đă làm tôi say sưa và làm cho một bộ phận trong con người của tôi trở nên mịt mờ; và v́ sự say sưa này đă cướp mất của tôi những h́nh thức say sưa khác nên buộc ḷng tôi phải đối kháng bằng cách dùng ư chí mà giữ ǵn những bộ phận minh triết của riêng tôi. Tôi không biết ǵ về người khác, nhưng trong trường hợp của tôi, chính sự minh triết là tôi và ngược lại, tôi không phải là người chủ tŕ sự minh triết ấy. 

Bây giờ là thời gian nghỉ đầu Xuân niên khóa (1948) Chiêu Ḥa năm thứ hai mươi ba, năm thứ hai tôi lên đại học. Một tối Lăo sư phụ có việc bận nên đi vắng. V́ không có một người bạn nào nên phương cách duy nhất để tôi khai thác thời gian tự do may mắn này là đi tản bộ một ḿnh. Tôi rời chùa, đi bộ ra bên ngoài Tổng môn. Phía bên ngoài có một rănh nước chạy ven cổng chùa; bên cạnh rănh nước này có dựng một tấm bảng gỗ. Tôi đă nh́n quen tấm bảng cũ kỹ này từ lâu lắm rồi, nhưng bây giờ tôi đang dừng lại trước nso và vẩn vơ đọc những hàng chữ đắm ḿnh trong ánh trăng: 

CHÚ Ư 

1- Cấm tất cả mọi biến cải chạm tới hiện trạng bên ngoài của nơi này, trừ trường hợp có giấy phép đặc biệt. 

2- Cấm tất cả những hành vi có thể ảnh hưởng tới sự bảo tồn nơi này. 

Yêu cầu dân chúng chú ư đến những điều kể trên. Bất kỳ người nào vi phạm cũng sẽ bị xử phạt theo quốc pháp.

Bộ Trưởng Nội Vụ                             Ngày 31 tháng 3, (1928) 

Chiêu Ḥa năm thứ ba

  

Rơ ràng là tấm bảng này nhắm vào Kim Các Tự. Tuy nhiên, thực khó mà nắm vững được ám thị trong những ngữ cú trừu tượng ấy. Tôi không sao ngăn được ư nghĩ cho rằng một tấm bảng bố cáo như thế này thực ra chỉ tồn tại ở một thế giới nào hoàn toàn khác biệt với thế giới của ngôi chùa bất biến này. Chính lời bố cáo cũng dự liệu một hành vi khó hiểu hoặc khó thực hiện nào đó. Nhà lập pháp đă soạn ra những luật lệ này và đă mô tả hành vi này một cách khái quát như thế hẳn phải là một người đă hoàn toàn mù mịt, không biết đường nào mà ṃ. V́ lẽ chỉ có người điên mới có thể mưu đồ những hành vi này. Mà làm sao người ta có thể làm cho một thằng điên sợ trước bằng cách đe dọa trừng phạt hành vi của nó? Điều cần thiết có nhẽ là một thứ văn tự đặc biệt mà chỉ những thằng điên mới có thể đọc nổi. 

Đang bận bịu với những ư nghĩ vẫn vơ, trống rỗng này th́ tôi nh́n thấy một bóng người đang đi trên con đường lớn ở trước cổng chùa. Vào giờ này không có một dấu vết ǵ của những đám người đến văn cảnh vào ban ngày, chỉ có hàng thông tắm ánh trăng và đèn trước mũi xe hơi tràn ngập bóng đêm khi xe đang chạy ngược chạy xuôi trên xa lộ cách chỗ tôi đang đứng. 

Bất chợt tôi nhận ra h́nh dáng Kashiwagi. Nh́n cách bước đi, tôi có thể bảo đúng là nó. Lúc ấy và tại đó tôi quyết định chấm dứt sự xa cách giữa hai đứa mà tôi đă lựa chọn trong suốt năm học vừa qua để chỉ nghĩ tới sự cảm tạ của tôi đối với nó, v́ nó đă chữa cho tôi khỏi bệnh trong quá khứ. Bởi v́  quả chính là nó đă chữa cho tôi khỏi bệnh vào thời gian ấy. Từ cái ngày đầu tiên tôi gặp nó, nó đă chữa cho tôi khỏi những ư nghĩ què quặt bằng cặp chân què quặt xấu xí của nó, bằng sự phơi bầy triệt để tâm t́nh của nó. Đáng lẽ tôi phải nhận ra ngay niềm vui khi, lần đầu tiên, có thể tiếp truyện với một người trên căn bản b́nh đẳng với ḿnh mới phải. Hẳn tôi phải tận hưởng niềm vui gần như nguồn vui làm một việc ác đức tự đắm ḿnh xuống đáy của ư thức chính xác rằng ḿnh vừa là người đi tu vừa là đứa nói lắp. Tuy nhiên, v́ tôi chơi với Tsurukawa nên tất cả những cái này đă bị quét sạch. 

Tôi mỉm cười chào đón Kashiwagi. Nó mặc bộ đồng phục sinh viên và vác một bó nho nhỏ, dài dài. 

“Sắp sửa đi đâu đấy à?” nó hỏi. 

“Không.” 

“May quá gặp cậu,” nó nói. Nó ngồi xuống một bậc đá rồi mở tung cái bó ấy ra. 

“Cậu thấy đây này.” Nó vừa nói vừa đưa cho tôi xem hai ống dài bóng lộn, đen nhánh lắp lại thành cái sáo tre. “Ông bác ḿnh ở quê vừa mới qua đời có để lại cho ḿnh cây sáo này làm kỷ vật. Nhưng ḿnh c̣n có cái khác ông đă cho ḿnh từ lâu khi ông dạy ḿnh chơi sáo. Cái này xem ra lại c̣n đẹp hưon, nhưng ḿnh thích cái ḿnh đă quen rồi và chẳng có lư ǵ ḿnh lại dùng hai ống sáo một lúc. Bởi thế ḿnh mang cái này đến cho cậu.” 

Đối với một người như tôi chưa hề bao giờ được nhận quà tặng cả bất kỳ ai, đây thật là niềm vui to lớn khi được một tặng vật không cần biết cái đó là cái ǵ. Tôi cầm cây sáo lên và xem kỹ. Mặt trước có bốn lỗ và mặt sau có một lỗ. 

“Ḿnh đă học cách thổi sáo của ḍng Kinko,” Kashiwagi nói tiếp. “V́ đêm nay trăng đẹp, để thay đổi một chút, ḿnh nghĩ phải sang Kim Các Tự mà thổi sáo đấy. Đồng thời ḿnh lại nghĩ có thể dậy cho cậu thổi sáo nữa.” 

“Cậu chọn thật đúng lúc,” tôi nói. “Lăo sư phụ đi vắng không về chùa đêm nay, cậu ạ. Ngoài ra, lăo quản gia già nua lười biếng vẫn chưa quét tước xong. Chỉ khi nào quét tước đâu vào đấy người ta mới đóng các cổng chùa lại.” 

Nó đường đột hiện ra ở cổng chùa và cũng đường đột ngỏ ư muốn thổi sáo ở trong chùa v́ đêm trăng thật đẹp. Đúng là thằng Kashiwagi quen thuộc của tôi. Mặt khác, trong cuộc sống đơn điệu của tôi, nguyên sự ngạc nhiên cũng đă làm tôi vui thích rồi. Tay cầm cái sáo mới có, tôi dẫn Kashiwagi vào chùa. 

Tôi không rơ đêm ấy chúng tôi đă nói chuyện về những ǵ. Tôi không nghĩ chúng tôi đă nói đến cái ǵ đó thực rơ rệt. Kashiwagi không tỏ vẻ ǵ muốn đi sâu vào thứ triết học kiêu kỳ thường lệ và những nghịch thuyết gai góc của nó. Có lẽ nó đă dụng tâm t́m tới để cho tôi thấy một khía cạnh riêng biệt của nó mà từ trước đến giờ chưa bao giờ tưởng tượng đến. Và quả vậy, đêm ấy, người thanh niên này với miệng lưỡi báng bổ, độc địa dường như chỉ để ư đến cái đẹp khi nào có thể đem ra bôi lọ, đă để lộ cho tôi thấy một khía cạnh vô cùng tiêm tế riêng của con người nó. Nó có một lư luận tinh mật về cái đẹp hơn tôi rất nhiều. Nó không nói ra lời cho tôi hay, nhưng bằng dáng điệu và ánh mắt, bằng điệu nhạc nó thổi trên ống sáo và vầng trán nhô ra dưới ánh trăng. 

Chúng tôi dựa lưng vào hàng song sắt tầng hai của Kim Các Tự, nghĩa là Triều Âm động. Hàng hiên dưới mái chùa hơi cong cong lên có tám cây sà theo lối Thiên Trúc chống đỡ, h́nh như nhô lên từ mặt ao, nơi mặt trăng đang nằm ngủ. Thoạt tiên, Kashiwagi thổi một tiểu khúc tên là “Ngự Sở Xa”. Tài khéo của nó làm tôi kinh ngạc. Tôi cố gắng bắt chước nó, kề môi vào lỗ sáo nhưng tôi không làm sao thổi nên thành tiếng được. Sau đó, nó cẩn thận dạy tôi dùng tay trái giữ phần trên ống sáo ra làm sao và để ngón tay vào đúng lỗ sáo ra làm sao; nó lại c̣n chỉ tôi cách há mồm để ngậm miệng sáo và cách thổi hơi vào mảnh kim khí mỏng ở trong như thế nào. Tuy thế, mặc dù đă thử đi thử lại nhiều lần, tôi vẫn không sao tạo nên được âm thanh nào cả. Tôi hết sức phồng mang trợn mắt; và tuy không có gió, tôi vẫn có cảm giác mặt trăng đang nằm ngủ dưới ao đă vỡ tan ra thành hàng ngh́n mảnh vụn. 

Thổi được một lúc tôi mệt đừ cả người; bất giác tôi sinh nghi có thể Kashiwagi đă dụng tâm làm thế này chỉ cốt để trêu chọc tôi về tật nói lắp. Tuy nhiên, cái khổ công cố gắng tạo nên một âm thanh nhất định không bật ra dường như gạn lọc cái nổ lực tinh thần thông thường ấy của tôi, nhờ đó tôi đă cố gắng hết sức tránh lắp bắp bằng cách xô đây những lời nói đầu tiên ra khỏi miệng ḿnh. Tôi cảm thấy dường như những âm thanh ấm ức, tắt nghẹn chưa chịu thoát ra ấy tồn tại xác thực ở một nơi nào đó trong cái thế giới tĩnh mịch, chan ḥa ánh trăng này. Nếu như tôi đạt tới và đánh thức những âm thanh ấy sau nhiều phen cố gắng khác nhau th́ tôi cũng đă thỏa măn lắm rồi. 

Làm cách nào tôi có thể đạt tới âm thanh ấy - cái âm thanh huyền diệu giống như âm thanh Kashiwagi đang thổi ra từ ống sáo của ḿnh? Phải có huấn luyện tinh thục th́ mới làm được việc đó. Cái đẹp là sự huấn luyện tinh thục. Trong óc tôi nẩy ra một ư nghĩ khiến cho tôi phấn khởi; nếu như Kashiwagi mặc dù có đôi chân què quặt xấu xí có thể đạt tới những âm thanh trong vắt, tuyệt vời như thế th́ hẳn là tôi cũng có thể đạt tới cái đẹp nhờ sự rèn luyện tinh thục. Nhưng tôi c̣n nhận thức được một điều khác nữa: Kashiwagi chơi bài “Ngự Sở Xa” nghe thật hay, không phải chỉ v́ bối cảnh đêm trăng sáng nên thơ mà c̣n v́ cặp chân tật nguyền, xấu xí của nó nữa. 

Sau này khi hiểu rơ Kashiwagi hơn, tôi mới biết rằng nó ghét vẻ đẹp lâu bền. Sự ưa thích của nó giới hạn trong những thứ như là âm nhạc, v́ âm nhạc biến tan tức khắc; hoặc các lối cắm hoa v́ hoa tàn úa trong vài ngày; nó ghét kiến trúc và văn chương. Rơ ràng là nó chẳng bao giờ nghĩ đến việc tới thăm Kim Các Tự nếu như không có một đêm trăng như đêm nay. 

Tuy nhiên, cái đẹp của âm nhạc mới lạ lùng làm sao! Cái đẹp ngắn ngủi mà người tấu nhạc làm nên biến đổi một khoảng thời gian nhất định thành một giai đoạn liên tục thuần túy; chắc chắn chẳng bao giờ lặp lại; giống như cuộc đời của những con phù du hoặc những sinh vật đoản mệnh như thể đẹp là một cái ǵ hoàn toàn trừu tượng và là sự sáng tạo ra chính cuộc sống vậy. Không có ǵ giống cuộc đời cho bằng âm nhạc; tuy nhiên, mặc dù Kim Các Tự cũng có vẻ đẹp như thế, song không có cái ǵ lại có thể xa cách hơn và khinh miệt cuộc sống hơn là vẻ đẹp của ngôi chùa này. Kashiwagi vừa chấm dứt bài “Ngự Sở Xa” th́ âm nhạc - cái cuộc đời hư huyễn ấy - cũng chết theo, và không c̣n ǵ sót lại ở đấy ngoại trừ với những nhận thức đen tối, tất cả đều không suy suyển, không đổi thay. 

Hẳn rằng chẳng phải là Kashiwagi t́m kiếm niềm ai ủi ở trong cái đẹp. Chẳng cần bàn căi lôi thôi ǵ hết tôi cũng biết rơ điều ấy. Trong một khoảnh khắc sau khi làn hơi của nó đă tạo nên cái đẹp trong không khí, cặp chân què quặt, tật nguyền và cái nhận thức hắc ám của nó vẫn tồn tại ở đó, rơ rệt hơn và tươi mát hơn trước. Tính cách vô ích của cái đẹp, việc cái đẹp ấy đă đi qua thân xác nó mà chẳng để lại bất kỳ một dấu vết ǵ, tuyệt đối không thay đổi cái ǵ hết - đó là điều Kashiwagi yêu thích. Nếu đối với tôi nữa cái đẹp có thể là một cái ǵ giống như thế, th́ đời tôi sẽ trở nên nhẹ nhơm biết bao! 

Tôi cứ cố gắng làm theo lời Kashiwagi chỉ dẫn không biết đến bao nhiêu lần. Máu dồn lên làm cho mặt tôi đỏ bừng và hơi thở dồn dập, hổn hển. Rồi th́, y như là tôi bất chợt biến thành một con chim, y như là một tiếng chim chợt buột ra khỏi cổ họng tôi, ống sáo bỗng bật ra thành một âm thanh thực vang to, thực man rợ. 

“Đó, được rồi đó!” Kashiwagi vừa nói vừa kêu to. Hiển nhiên đó không phải là một tiếng nhạc êm tai nhưng vẫn cùng một âm ấy cứ lần lượt ra khỏi ống sáo. Rồi tôi mơ màng tưởng tượng rằng âm thanh thần bí này như không phải do tôi phát ra mà chính là tiếng hót của con phượng hoàng bằng đồng vàng óng ấy ở trên đầu chúng tôi vậy. 

Sau đấy tôi dùng cuốn sách tự luyện mà Kashiwagi cho tôi để mỗi đêm tập dượt thật kỹ cho mỗi ngày một khá hơn. Chẳng bao lâu tôi đă có thể thổi những bài như “Mặt Trời Đỏ Nhuộm Màu Trên Mặt Đất Trắng Xóa” và phục hồi mối thân t́nh trước kia của tôi đối với Kashiwagi. 

Vào tháng năm tôi nghĩ là phải cho Kashiwagi cái ǵ để chứng tỏ với nó là tôi thích ống sáo lắm lắm. Nhưng tôi lại không có tiền để mua quà tặng cho nó. Tôi thành thực nói cho Kashiwagi hay nỗi khó khăn của tôi. Nó bảo tôi rằng nó không muốn cái ǵ phải mua tốn tiền cả. Rồi th́ chẩu cái mỏ ra một cách kỳ diệu, nó nói: “Ừ, v́ cậu đă lỡ nói đến điều này, thực ra tớ có thích một cái. Đă mấy ngày nay tớ muốn cắm hoa một bận chơi, nhưng hoa lại đắt quá là đắt. Tớ nghĩ lúc này đang vào mùa hoa đỗ nhược và Bạc xương bồ trong Kim Các Tự. Cậu thử nghĩ xem cậu có thể mang cho tớ bốn năm bông hoa đỗ nhược - một loại bông hoa c̣n đang nụ, hai bông mới chớm nở và hai bông đă nở trọn rồi - hay không? Cậu cũng nên cho tớ sáu bảy bông mộc tặc nữa. Đêm nay chắc được lắm. Thế tối nay mang đến chỗ nhà trọ của tớ có được không?” 

Chỉ sau lúc đă nhẹ dạ nhận lời tôi mới ư thức được rằng thằng này đang thực sự xúi tôi bước vào ṿng trộm cắp. Muốn cho khỏi mất mặt tôi chỉ c̣n có cách đi ăn trộm hoa mà thôi. 

Tối đó trong bữa dược thạch chúng tôi không có gạo để nấu cháo, chỉ có rau luộc và bánh ḿ đen ném chó chó chết. May thay hôm đó là ngày thứ bảy và vào lúc chiều đă có mấy người đi vắng khỏi chùa. Đêm nay là đêm “Nội Khai Chẩm”: mọi người có thể rời chùa từ sáng sớm đến mười một giờ đêm mới trở về; ngoài ra, buổi sáng hôm sau, gọi là “Tẩm Vơng”, chúng tôi được phép dậy trưa. Lúc chúng tôi thức dậy, Lăo sư phụ dă đi ra khỏi chùa rồi. 

Mặt trời lặn hồi sáu rưỡi chiều. Trời bắt đầu nổi gió. Tôi ngóng chờ hồi chuông sơ dạ bắt đầu. Lúc tám giờ tối tiếng chuông lanh lảnh, cao vút từ Hoàng Chung điện bên trái cổng giữa báo hiệu phiên gác đầu tiên; cả thảy mười tám tiếng gióng lên ngân nga, lơ lửng vang dội măi trong không khí. 

Gần Thấu Thanh trong Kim Các Tự có một thác nước nhỏ có hàng rào bao quanh nửa ṿng; thác này dẫn nước từ ao sen vào Kính Triều tŕ rộng lớn. Chính ở chỗ này những cây đỗ nhược mọc lên rậm rạp, chi chít. Vào lúc ấy hoa đă nở được vài ngày trông cực kỳ đẹp đẽ. Khi tiến lại gần, tôi chợt nghe tiếng các bụi đỗ nhược sột soạt cọ vào nhau trong gió đêm. Những cánh hoa màu tím cao chót vót rung rinh trong tiếng nước chẩy th́ thầm. Khu vườn ở chỗ này tối như bưng; màu tím của hoa và màu lục nhợt của lá trông đều đen x́ như nhau. Tôi cố sức ngắt hai ba bông hoa đỗ nhược: nhưng v́ gió thổi hoa và lá cứ tuột khỏi tầm tay và một chiếc lá đă làm tay tôi chảy máu. 

Sau cùng, tôi tới pḥng trọ của Kashiwagi, hai tay ôm đầy những bó hoa đỗ nhược và xương bồ th́ Kashiwagi đang nằm đọc sách. Tôi lo sợ phải gặp cô gái trong nhà trọ trước đây dă đi chơi núi với bọn tôi, nhưng may thay h́nh như cô ả không có nhà. 

Một đồ ăn trộm nhỏ mọn đă khiến tôi cảm thấy vui thích. Lần nào móc nối với Kashiwagi là tôi cũng có trước tiên những việc làm bội đức, những báng bổ và những độc ác nho nhỏ. Những cái đó luôn luôn làm cho tôi vui thích; tuy nhiên, tôi không rơ sự tiếp tục gia tăng phân lượng điều ác liệu có lôi cuốn theo một sự gia tăng tương xứng về phân lượng vui thích hay không. 

Kashiwagi rất thích món quà tôi tặng. Nó đi vào pḥng bà chủ nhà mượn cái gàu nước và nhiều dụng cụ cần thiết khác nữa để cho nó cắm hoa. Nhà trọ chỉ có một tầng; Kashiwagi sống trong một pḥng nhỏ ở căn nhà xép. 

Tôi cầm chiếc sáo của nó đang dựng ở chỗ kệ giường ngủ, áp môi vào lỗ sáo rồi cố gắng thổi bài nhạc ngắn đă tập dược kỹ lưỡng. Tôi thổi thực hay khiến lúc trở về pḥng nó hết sức ngạc nhiên. Nhưng cái thằng Kashiwagi tôi đă gặp đêm nay thực không phải là cái thằng đă tới thăm Kim Các Tự . 

“Cậu không nói lắp tí nào khi thổi sáo có phải không? lúc dậy cậu thổi sáo tớ vẫn có ky vọng được nghe tiếng sáo lắp bắp ra làm sao kia đấy chứ!” 

Chỉ với một lời nói này nó đă kéo cả hai đứa tôi trở lại cái t́nh trạng lúc chúng tôi mới gặp nhau lần đầu. Nó trở lại vị trí riêng của nó. Nhờ thế tôi có thể b́nh thản hỏi xem người thiếu nữ trong căn nhà kiểu Tây Ban Nha này ra sao. 

“Ồ, con bé ấy hả?” nó chỉ đáp cộc lốc. “Nó lấy chồng từ đời nào rồi. Tớ đă chỉ cho nó đủ mọi phương pháp để che giấu việc nó không c̣n là trinh nữ nữa. Nhưng được cái thằng chồng nó thuộc loại ngây ngô, khỏe mạnh nên đường như mọi việc đều êm xuôi tất cả.” 

Trong khi nói, nó nhấc từng bông hoa đỗ nhược lên từ cái bát nước đă dùng để ngâm những bông hoa mà ngắm kỹ càng. Đoạn nó nhúng cái kéo vào bát nước rồi cắt những cọng hoa ngâm dưới nước đó. Mỗi lần nó cầm một bông hoa đỗ nhược trong tay, cái bông hoa to lớn lại di động trên nền nhà trải chiếu cói. Rồi nó đột nhiên nói: “Cậu có biết những câu văn nổi tiếng trong chương Thị Chúng của Lâm Tế Lục không? ‘Khi gặp đức Phật, người hăy giết phức Phật đi!’” Và tôi tiếp lời: ‘Khi gặp La Hán, người hăy giết phăng La Hán đi! Khi gặp cha mẹ ḿnh, người hăy giết ngay cha mẹ đi! Khi gặp người bà con thân thuộc, người hăy giết béng bà con thân thuộc đi! Chỉ làm như vậy th́ ngươi mới được giải thoát.’ 

“Đúng vậy đó. Chính thế đó. Con bé ấy là La Hán, cậu ạ”. 

“Và như thế là cậu đă tự giải thoát?” 

“Hừm,” Kashiwagi nói trong khi cắm lại mấy bông đỗ nhược nó đă cắt rồi và chăm chú ngắm nghía. “Hăy c̣n nhiều thứ để mà giết nữa cậu ạ.” 

Bát cắm hoa đầy nước trong vắt; bên trong óng ánh màu bạc. Kashiwagi ngắm nghĩa cái giàn sắt để cắm hoa cẩn thận xếp ngay lại cái mấu nào đă hơi nghiêng nghă. Tôi cảm thấy ngột ngạt, khó chịu nên nói vu vơ cố mong lấp đầy im lặng. 

“Có có biết cái công án ‘Nam Toàn Trảm Miêu’ không? Ngay sau khi chiến tranh chấm dứt, Lăo sư phụ tụ tập tất cả tụi tớ lại và thuyết giảng cho tụi tớ nghe câu truyện ấy.” 

“Ồ, ‘Nam Toàn Trảm Miêu’ ”? Kashiwagi nói trong khi ước lượng chiều dài một bông mộc tặc và câm bông hoa ấy đó theo b́nh nước. “Đó là cái công án mà mỗi một con người nhiều lần bất ngờ đă bắt gặp trong đời, tuy dáng vẻ có đổi thay đôi chút. Cậu ạ, công án ấy hơi bí hiểm. Mặc dù cũng vẫn cái công án ấy nhưng mỗi lần bắt gặp ở một khúc quanh trên đường đời ḿnh lại thấy nó thay đổi cả dáng vẻ lẫn ư vị. Trước hết, để tớ nói cho cậy hay con mèo mà Thượng tọa Nam Toàn đă chém đầu là một sinh vật ác ôn! Nó đẹp, đẹp vô cùng phải không nào. Mắt vàng óng, lông mượt mịn. Tất cả mọi niềm vui và vẻ đẹp trên trần gian này đều che giấu, lèn chặt như một cái ḷ so bên trong thân ḿnh mềm mại, nhỏ nhắn của nó. Nhiều người chú thích câu truyện đă quên bẳng mất rằng con mèo ấy là một khối thể đẹp đẽ. Ngoại trừ với tớ. Con mèo đă đột nhiên từ một bụi cỏ nhẩy vọt ra. Đôi mắt dịu dàng, láu lỉnh của nó sáng rực và một tu sĩ đă tóm được nó - y bệt là nó có dụng ư làm vậy. Kết cục lưỡng đường căi lộn nhau. Bỡi lẽ, tuy vẻ đẹp nó thể tự hiến ḿnh cho bất kỳ ai, song thực ra nó không hề thuộc riêng một ai hết. Xem nào. 

“Tớ sẽ nói thế nào bây giờ nhỉ. Vẻ đẹp - phải, vẻ đẹp giống như một cái răng sâu. Nó chạm vào lưỡi người ta, lủng lẳng trong miệng người ta, làm cho người ta đau nhức trong khi lại bắt người ta để ư sự tồn tại của chính ḿnh. Cuối cùng đến độ người ta không chịu nổi đau nhức, phải đi đến nha sĩ để nhổ quách nó đi. Rồi, khi nh́n thấy cái răng nho nhỏ, bẩn thỉu, vàng khè, đẩm máu nằm trong ḷng bàn tay ḿnh, người ta mới nghĩ như thế này: ‘Có phải nó không? Có phải trước kia nó chỉ có thế này thôi ư? Cái vật nó đă làm cho ḿnh đau đớn không biết chừng nào, đă khiến ḿnh luôn luôn bận tâm đến nó, đă ngoan cố cắm rễ trong con người ḿnh, bây giờ chỉ là một vật chất đă chết. Nhưng có phải vật này thực sự giống vật kia không? Nếu vật này tự căn nguyên đă thuộc về cuộc sống bên ngoài của ḿnh, th́ tại sao - do nhân duyên nào - nó lại gắn liền vào cuộc sống bên trong của ḿnh và trở thành căn nguyên biết bao đau đớn cho ḿnh như thế? Có phải căn cứ của nó là ở bên trong ḿnh hay không? Hoặc là ở bên trong chính nó? Thế nhưng cái vật đă bị nhổ ra khỏi miệng ḿnh và hiện đang nằm trong tay ḿnh lại là một vật riêng biệt tuyệt đối. Chắc chắn nó không thể là cái ấy. 

“Cậu thấy không,” Kashiwagi tiếp, “cái đẹp giống như vậy. Do thế, chém đầu mèo ấy thật giống như moi móc ra cái đẹp. Tuy nhiên, chẳng rơ liệu điều này có thực sự là cách giải thoát tối hậu hay không. Gốc rễ của cái đẹp chưa bị chặt đứt và, mặc dù con mèo đă chết, song vẻ đẹp của nó có thể hăy c̣n sống. Và như thế, cậu ạ, chính để chế giễu tính cách dễ dàng của giải pháp này mà Triệu Châu đă đội giầy lên đầu. Có thể nói rằng anh ta biết là không thể có giải pháp nào khác hơn là chịu đựng sự đau đớn của một cái răng sâu.” 

Cách giải thích của Kashiwagi hoàn toàn độc đáo; tuy nhiên, tôi không thể ngăn ḿnh tự hỏi liệu có phải chính nó, sau khi đă nh́n vào đáy ḷng tôi, đang định đem tôi ra mà chế giễu hay không? 

Lần đầu tiên tôi đâm ra sợ nó thực sự. Tôi sợ phải ngồi im lặng nên vội hỏi: “Như vậy trong hai người cậu là người nào? Thượng tọa Nam Toàn hay Triệu Châu?” 

“Ừ, để xem nào. Như hiện tại, tớ là Nam Toàn và cậu là Triệu Châu. Song một ngày nào đó cậu có thể trở thành Nam Toàn và tớ có thể trở thành Triệu Châu. Công án này có ṃi thay đổi - giống như mắt một con mèo.” 

Trong khi Kashiwagi nói chuỵên, tay nó từ nẫy đến giờ vẫn cử động thực là nhẹ nàng, mềm mại. Thoạt tiên, đặt lại cái đài cắm hoa bằng sắt hoen rỉ, nho nhỏ vào bát nước, rồi mới cắm hoa bằng mộc tặc - hoa này ở vào vị trí Thiên cung trong lối cắm hoa - tiếp theo cài thêm những bông hoa đỗ nhược mà nó đă xếp thành một khóm ba chiếc lá. Dần dần nó đă cắm xong theo lối Quán Thủy hoạt. Một đống sỏi nhỏ rữa sạch, ḥn trắng ḥn vàng, nằm chờ sẵn ngay cạnh bát nước để dùng vào việc điểm xuyết cuối cùng. 

Kashiwagi đưa tay thoan thoát nhịp nhàng. Hết quyết định nhỏ này lại đến quyết định nhỏ kia tạo nên một hiệu quả đối xứng và quân b́nh hết sức nghệ thuật. Thực vật trong thiên nhiên được được dời đổi đưa vào một trật tự của con người để ḥa hợp với một quy luật nhất định. Những bông hoa và những chiếc lá đă đổi thay từ khuôn mặt chúng có trước kia sang khuôn mặt chúng phải nên có. Những cây mộc tặc và đỗ nhược không c̣n là những thực vật đồng loạt vô danh nữa mà đă trở thành những biểu hiện sơ giản, thanh khiết và trực tiếp của cái có thể được gọi là bản chất của mộc tặc và bản chất của đỗ nhược. 

Tuy nhiên, trong cách nó cử động đôi tay vẫn có một cái ǵ tàn khốc. Những bàn tay ấy cư xử làm như thể chúng có một đặc quyền tối tăm nào đó đối với những thực vật ấy. Có lẽ v́ vậy mà mỗi lần nghe thấy tiếng kéo cắt một cuống hoa tôi có cảm tưởng như nh́n thấy cả máu chẩy. 

Hoa đă cắm xong theo lối Quán Thủy hoạt. Phía bên phải cái chậu, chỗ đường thẳng của mộc tặc pha trộn vào đường cong của đỗ nhược, có một bông hoa đang nở bung và hai bông mới hé nụ sắp nở. Kashiwagi đặt chậu hoa vào hốc tường; chậu hoa lấp gần kín khoảng trống. Chẳng mấy chốc mặt nước trong chậu hoa im ĺm, phẳng lặng. Những viên sỏi che khuất cái vĩ sắt để gài các cọng hoa, và đồng thời tạo nên đúng cái dáng vẻ trong sáng của một bờ nước. 

“Tuyệt diệu!” tôi nói. “Cậu học được ở đâu vậy?” 

“Gần đây có một cô dạy cắm hoa tươi. Tớ chắc là chốc nữa cô ta sẽ tới đây. Tớ đă kết thân với cô ả và đồng thời cô ả đă dậy tớ cách cắm hoa. Nhưng bây giờ th́ tớ đă có thể cắm hoa một ḿnh được rồi cho nên tớ cũng hơi chán cô ả. Cô giáo này hăy c̣n trẻ và đẹp lắm. Tớ được biết trong thời chiến tranh cô ta đă đem ḷng yêu một quân nhân và đă có mang với anh ta. Đứa hài nhi chết lúc lọt ḷng và chàng quân nhân chết ngoài chiến trận, từ đó đến nay cô ả luôn luôn chạy theo đàn ông. Cô ta có dư dả tiền tiêu và hiển nhiên chỉ dậy cắm hoa cho vui mà thôi. Tuy nhiên, nếu cậu mà thích đêm nay cậu có thể dẫn cô ả đi chơi chỗ nào đó cũng được. Cô ả sẵn ḷng đi bất kỳ nơi nào.” 

Khi nghe kể, tôi thấy ḷng ḿnh tràn ngập mối cảm động lung tung. Lúc đứng trên nóc sơn môn Nam Thiền và nh́n thấy cô ta th́ có Tsurukawa ở ngay cạnh tôi. Hôm nay, đúng ba năm sau, cô ta lại sắp sửa xuất hiện trước mặt tôi và tôi sắp sửa nh́n thấy cô ta có khác chăng là qua con mắt Kashiwagi. Cho đến bây giờ tôi đă nh́n cái bi kịch của người đàn bà này với cái nh́n rực sáng vẻ thần bí; nhưng từ đây trở đi tôi sẽ nh́n cái bi kịch ấy với cái nh́n đen tối của một người không tin tưởng điều ǵ hết. V́ lẽ rơ ràng là bầu vú cô ta mà tôi đă nh́n thấy từ xa trông giống như một mặt trăng trắng bạch hiện giữa ban ngày, từ đó đến nay đă bị tay Kashiwagi sờ mó, nắn bóp, và chân nàng, lúc đó cuộn tṛn trong bộ kimono óng mượt, hoa mỹ ấy, đă cọ sát cặp chân què của Kashiwagi. Rơ ràng là cô ta đă bị Kashiwagi làm ô uế, thế có nghĩa là, bị nhận thức làm cho ô uế. 

Ư nghĩ này dằn vặt đầu óc tôi ghê gớm khiến tôi cảm thấy không thể làm sao mà ngồi lại nơi này nữa. Nhưng v́ hiếu kỳ tôi không sao đi về được. Thực ra, tôi khó ḷng có thể ngồi chờ người đàn này này, chính người mà ban đầu tôi đă coi như Uiko tái sinh, nhưng bây giờ sắp sửa chỉ là con bồ bị bỏ rơi của một thằng sinh viên què quặt. Bởi v́ sau khi đă a ṭng với Kashiwagi tôi rắp tâm đắm ḿnh trong niềm vui hư huyễn là đă tự tay làm ô uế những hồi tưởng quí báu của ḿnh. 

Khi thiếu phụ tới, tôi chẳng thấy ḷng ḿnh rung động mảy may. Đến nay tôi vẫn c̣n nhớ rất rơ cái khoảnh khắc ấy. Giọng nói hơi khàn khàn, dáng điệu thịnh trọng và lối nói năng kiểu cách của cô ta thảy đều tương phản một cách rơ rệt với cái ánh mắt rực sáng hoang dại, với giọng buồn toát ra từ tiếng nói khi cô ta nói với Kashiwagi mặc dù cô ta có vẻ lúng túng rơ rệt về sự hiện diện của tôi - tôi đă nh́n thấy hết sự thể và rồi lần đầu tiên tôi mới hiểu rơ lư do khiến Kashiwagi gọi tôi đến pḥng nó tối hôm đó: nó định dùng tôi như một chướng ngại vật. 

Không có một liên hệ nào giữa thiếu phụ này với thiếu nữ nhân vật trong ảo tưởng của tôi hết. Tôi có cảm tưởng nàng là một cá thể hoàn toàn khác biệt mà tôi mới nh́n thấy lần đầu. Tuy cách nói năng bặt thiệp của nàng không hề thay đổi, song tôi có thể đoán nàng đang dần dần trở nên luống cuống, hoảng hốt. Nàng không hề để ư tôi một chút nào. 

Thế rồi dường như nàng không làm sao chịu đựng nổi nỗi khổ nữa và tôi có cảm tưởng trong khoảnh khắc nàng quyết định bỏ rơi hết mọi cố gắng để làm cho Kashiwagi thay đổi ḷng dạ. Nàng giả vờ như bất chợt b́nh tĩnh trở lại và đưa mắt nh́n quanh căn pḥng. Tuy đă ở trong pḥng đến nữa tiếng đồng hồ song hiển nhiên bây giờ nàng mới để ư tới chậu hoa đă được bầy rơ lồ lộ ở trên hốc tường. 

“Đó là một kết cấu tuyệt diệu theo phái Quán Thủy,” nàng nói. “Anh thật khéo tay quá chừng, anh ạ.” 

Từ năy đến giờ chờ măi cho nàng nói theo điều này, bây giờ Kashiwagi mới chấm dứt mọi truyện. 

“Chẳng đến nỗi tệ quá, có phải không?” nó nói. “Đến bây giờ tôi đă khéo léo tới mức độ này, thực cô chẳng c̣n có thể dậy tôi điều ǵ nữa. Tôi không cần cô nữa. Phải, tôi nghĩ đúng như vậy.” 

Kashiwagi nói nhấn mạnh từng tiếng. Tôi thấy sắc mặt thiếu phụ tái nhợt, tôi quay mặt đi. Nàng dường như đang mỉm cười, song vẫn chưa từ bỏ cái cung cách trang trọng khi qú gối lết về hốc tường. Thế rồi tôi nghe tiếng nàng nói: “Sao? Loại hoa nào thế? Ờ, những bông hoa ǵ vậy?” Bỗng chợt nước từ chậu hoa bắn tung tóe trên sàn nhà, những bông hoa mộc tặc bị hất tung, những bông hoa đỗ nhược đă bị ṿ nát; tất cả những bông hoa tôi hái trộm đem đến đang nằm ngổn ngang dưới đất. Tôi đă qú xuống sàn nhà, nhưng bây giờ lại tự động đứng dậy. Chẳng làm ǵ cả tôi ngă người dựa vào cửa sổ. Tôi thấy Kashiwagi nắm cổ tay mảnh mai của thiếu phụ, rồi nắm lấy mớ tóc và thẳng tay tất đôm đốp vào hai má nàng. Những động tác vũ phu liên tục của Kashiwagi đă phơi bày rơ rệt sự tàn nhẫn trầm lặng tương tự mà tôi đă thấy trước kia nó đang tỉa cắt những bông hoa; thực vậy, những hành động đó h́nh như là một sự héo dài tự nhiên những động tác trước kia của nó. 

Thiếu phụ lấy cả hai tay che mặt rồi chạy ra khỏi căn pḥng. C̣n Kashiwagi th́ ngẩng mặt nh́n tôi trong lúc tôi bàng hoàng đứng đó. Nó mỉm một nụ cười hết sức trẻ con và nói với tôi: “Bây giờ đến lượt cậu đó. Đuổi theo mà an ủi cô ả đi! Mau lên!” 

Tôi không rơ uy lực lời nói của Kashiwagi hay v́ bản tâm ḿnh cảm thấy ái ngại cho thiếu phụ mà tôi tức thời co gị đuổi theo nàng. C̣n cách nhà trọ hai ba căn th́ tôi đuổi kịp nàng. Đó là góc ngă tư Itakuramachi đằng sau bến xe điện Karasumaru. Dưới bầu trời đêm vần vũ tôi nghe thấy tiếng xe điện leng keng chạy vào nhà ga, và những tia lửa tím ḷe lên tan biến vào trong màn tối. Thiếu phụ rảo bước đi từ Itakuramachi về hướng đông và bước lên một đường hẻm. Tôi cứ lẳng lặng bước đi bên cạnh nàng. Nàng đang khóc. Chỉ trong chốc lát nàng nhận ra tôi và tiến lại gần tôi. Thế rồi, bằng một giọng khàn khàn như thường lệ v́ đang khóc, nàng bắt đầu than văn đủ điều với tôi về việc làm không nên không phải của Kashiwagi. 

Đêm ấy nàng và tôi đă cùng nhau đi qua cá phố xá không biết bao lâu! Trong lúc nàng rót vào tai tôi bao nhiêu lời kể lể về những việc làm không ra ǵ, về tính t́nh ác độc, hèn mọn của Kashiwagi th́ tôi chỉ nghe thấy có một tiếng “nhân sinh” vang dội trong không khí ban đêm. Tính t́nh tàn nhẫn, những mưu mẹo nhỏ nhen, những phản bội lừa dối, sự lạnh lùng ác độc, những mánh lới bịp bợm để ḅn tiền đàn bà con gái của nó - tất cả chỉ làm cho người ta hiểu rơ sức lôi cuốn ma quái của Kashiwagi mà thôi. Điều duy nhất riêng tôi cần tin tưởng ấy là sự thành thật của chính Kashiwagi đối với cặp chân què quặt của nó. 

Sau cái chết bất ngờ của Tsurukawa, tôi đă sống một thời gian dài khá lâu mà không động chạm ǵ đến cuộc đời. Rồi rút cuộc tôi đă bị thúc đẩy để va chạm với một nếp sống mới - một cuộc đời đen tối hơn, nhưng ít bạc mệnh hơn, một cuộc đời càng sống th́ càng thôi thúc, cổ vơ cho người ta gây đau thương cho kẻ khác. Những lời nói gọn gàng của Kashiwagi: “Không phải chỉ có giết có thế này mà thôi đâu!” một lần nữa lại vang dội bên tai và thu hút hồn tôi. Và vào giây phút ấy tôi cũng nhớ lại lời nguyện cầu của ḿnh lúc trèo lên đỉnh núi Bất Động sơn đằng sau ngôi chùa khi chiến tranh chấm dứt và nh́n hằng hà sa số những ngọn đèn rọi sáng Kyoto: “Xin cho bóng tối trong tim tôi cũng dầy đặc, mênh mông như bóng tối ban đêm đang bao trùm vô số những ngọn đèn kia!” 

Thiếu phụ không đi về phía nhà ḿnh, mà lại lang thang qua những ngơ ngách rất ít người qua lại; như vây nàng có thể nói chuyện tự do. Đến lúc chúng tôi tới trước cửa căn nhà của nàng sống một ḿnh th́ tôi không c̣n biết hiện chúng tôi đang ở khu nào trong thành phố nữa. 

Lúc ấy đă mười giờ rưỡi. Tôi muốn quay về chùa, nhưng thiếu phụ nài nỉ bảo tôi đừng bỏ nàng, v́ thế tôi đă đi vào nhà với nàng. Nàng cất bước dẫn đường rồi bật đèn lên. 

“Đă bao giờ anh nguyền rủa một người nào và mong cho người ấy chết chưa?” 

“Có,” tôi trả lời ngay tức khắc. Kể cũng lạ măi đến lúc ấy tôi chưa hề nghĩ tới truyện này, nhưng bây giờ th́ rơ ràng là tôi cầu mong sao cho cô gái trong căn nhà trọ chết đi, nàng đă chứng kiến sự hổ thẹn của tôi. 

“Thật là một điều khủng khiếp,” nàng vừa nói vừa gieo ḿnh xuống sàn nhà trải chiếu cói và nằm nghiêng về một phía. “Tôi cũng thế.” 

Đèn trong pḥng nàng kể ra thực sáng lạ lùng vào những ngày mà điện bị hạn chế này. Bóng đèn hẳn phải đến một trăm watts, sáng gấp ba lần ngọn đèn trong pḥng Kashiwagi. Lần đầu tiên nh́n rơ thân ḿnh nàng dưới ánh đèn sáng rực. Tấm thắt lưng Danh cổ ốc trắng muốt nổi bật trên tấm áo Hữu thiền bằng vải tím h́nh hoa đằng bằng hà. Giữa sơn môn chùa Nam Thiền với pḥng khách Thiên Thụ am có một khoảng cách mà chỉ có chim chóc mới bay qua được, nhưng lúc này tôi cảm thấy trong mấy năm vừa rồi tôi đă dần dần vượt qua khoảng cách đó và bây giờ đă đến gần tới nơi. Kể từ buổi chiều ấy ở trên nóc cổng tôi đă băm vằm thời gian ra từng khoảnh khắc vụn nhỏ và lúc này tôi đă thực sự tới gần cái ư vị của t́nh cảm thần bí ấy ở pḥng khách Thiên Thụ am. Tôi nghĩ là phải như thế. Đó là điều chẳng thể tránh nổi - người thiếu phụ này phải đổi thay y như những đường tướng mạo trên trái đất này đă đổi thay vào lúc một tia sáng từ một ngôi sao xa xôi đă rọi đến. Nếu vào lúc mà tôi nh́n thấy nàng từ trên nóc sơn môn chùa Nam Thiền nàng và tôi đă cùng nhau dự liệu buổi gặp gỡ ngày hôm nay th́ đă có thể xóa mờ đi những sự thay đổi như thế trong con người nàng từ lúc ấy đến giờ; chỉ cần sửa đổi đôi chút là có thể phục hồi sự vật trở lại trạng thái trước kia của chúng và cái tôi vào lúc đó có thể tương kiến với cái nàng vào lúc ấy. 

V́ vậy tôi kể cho nàng nghe câu truyện. Tôi kể một mạch hụt hơi và lắp bắp liên hồi. Trong lúc tôi nói, những chiếc lá non một lần nữa lại bắt đầu óng ánh, các v́ tiên và con phượng hoàng đường vẽ ở trên trần lại trở về cuộc sống. Đôi má thiếu phụ thắm hồng và ánh mắt hoang dại của nàng lúc này thành mơ màng, rối loạn. 

“Thế vậy ư?” nàng nói: “Trời ơi! Có thực đă như vậy không? Thật là một mối kỳ duyên! Phải. Chính là mối kỳ duyên!” 

Lúc nàng nói, mắt nàng ràn rụa những giọt lệ vui mừng. Nàng đă quên sự tủi nhục ban nẫy của ḿnh và thay v́ thế lại đắm ḿnh vào những hoài niệm. Từ niềm vui thích này sang niềm vui thích khác nàng ngă nghiêng như điên như dại, cái vạt áo in h́nh hoa đằng nát nhầu. 

“Bây giờ em chẳng c̣n tí sữa nào nữa,” nàng nói. “Ôi, đứa con bé nhỏ đáng thương của em! Không, em chẳng c̣n tí sữa nào, nhưng bây giờ em cũng làm cho anh điều em đă làm lần trước. V́ anh yêu em kể từ dạo đó, em sẽ coi anh cũng như anh ấy. Chừng nào c̣n có thể nghĩ như vậy, em thấy chảng có ǵ phải xấu hổ hết. Vâng, đúng vậy. Em sẽ làm y như trước kia em đă làm.” 

Nàng nói như thể sắp sửa đưa ra một quyết định quan trọng. Hành động sau đó của nàng dường như phát xuất từ một nỗi vui sướng điên cuồng hoặc một miềm tuyệt vọng không bờ bến. Tôi cho rằng chính nỗi vui sướng điên cuồng đă đưa nàng tới hành vi mê dại ấy, nhưng sức mạnh g̣ ép thực sự vẫn là nỗi tuyệt vọng mà Kashiwagi đă đem lại cho nàng, hoặc ít nhất là cái dư vị đắng cay của nỗi tuyệt vọng ấy c̣n dính măi trong miệng. 

Thế rồi ngay trước mặt tôi nàng tháo tung giải lụa thắt quanh thân ḿnh và gỡ bỏ những dây chằng chịt. Tiếng lụa sột soạt và giải thắt lưng bung ra; và không c̣n bị thắt chặt, chiếc áo nàng mặc hở tung. Tôi có thể loáng thoáng nh́n thấy bộ ngực trắng nơn của người thiếu phụ. Đưa tay vén áo nàng lên nàng nâng bầu vú bên trái ch́a ra ngay trước mặt tôi. 

Nếu bảo rằng tôi không hề cảm thấy choáng váng, ngất ngây th́ không đúng. Tôi nh́n bộ ngực của nàng. Tôi nh́n từng li từng tí. Tuy thế tôi vẫn giữ ḿnh ở địa vị chứng nhân. Cái điểm trăng trắng thần bí mà tôi đă nh́n thấy từ xa măi tít trên nóc sơn môn không pahỉ là cái chất lượng nhất định của một khối thịt như thế này. Ấn tượng ấy đă ấp ủ đến lên men trong ḷng tôi quá lâu nên bầu vú mà tôi nh́n thấy lúc này h́nh như chỉ là một khối thịt, một thứ vật chất không hơn không kém. Khối thịt này tự nó cũng không có sức mạnh để mời mọc hoặc quyến rũ. Phơi trần ra đó trước mắt tôi và hoàn toàn xa rời cuộc đời, khối thịt ấy chỉ làm chứng cứ tố cáo tính cách không cằn của cuộc sống. 

Tuy vậy, tôi không muốn nói điều ǵ dối trá; và rơ ràng là khi nh́n thấy bộ ngực nơn nà của nàng tôi liền bị choáng váng, ngây ngất ngay tức th́. Chỉ phiền một nỗi là tôi nh́n quá kỹ lưỡng, tường tận cho nên cái bầu vú mà tôi nh́n thấy đă vượt ra khỏi t́nh trạng bầu vú đàn bà để dần dần biến dạng trở nên một mảnh vụn vô ư vị. 

Chính vào lúc ấy đă xẩy ra một sự lạ. Sau khi trải qua sự thích thú đau đớn như thế cuối cùng bầu vú nàng làm tôi ngây ngất v́ vẻ đẹp. Nó được trời cho một vẻ đẹp có tính chất cằn cỗi, trơ trơ và trong lúc vẫn hiện ra sờ sờ trước mắt tôi bầu vú đó từ từ vùi ḿnh vào cái nguyên lư tự thể của một bông hoa hồng. Tôi nhận ra cái đẹp rất chậm. Người khác nhận ra cái đẹp và nhục cảm trong cùng một lúc; c̣n đối với tôi cái đẹp luôn luôn đến chậm hơn. Bây giờ trong khoảnh khắc bầu vú thiếu phụ nối lại những liên quan với toàn thể, nó vượt lên khỏi t́nh trạng chỉ là một khối thịt để trở thành vật chất bất cảm bất hủ, gần với vĩnh cửu. 

Tôi hy vọng là đang nói rơ để cho người khác hiểu ḿnh. Một lần nữa Kim Các Tự lại hiện ra trước mắt tôi. Hoặc hơn thế, tôi cần nói rằng bầu vú ấy đă biến dạng trở thành Kim Các Tự. 

Tôi nhớ lại phiên túc trực trong đêm băo tố đầu thu. Nếu như ngôi chùa đă phơi ḿnh dưới sánh trăng th́ cũng có một màn tối dầy đặc bao phủ lên ngôi chùa và màn tối này đă lẻn vào bên trong ngôi chùa âm u, len qua các cửa sổ, qua các cửa gỗ lớn, qua các trần nhà với phiến lá vàng long lở bên dưới. Và đó là sự đương nhiên. V́ lẽ chính Kim Các Tự thực ra chỉ là hư vô đă được tạo h́nh và kiến trúc hết sức công phu. Đúng như vậy, bầu vú nàng bên ngoài có tỏa ra ánh da thịt sáng rực, nhưng bên trong lại chứa đầy bóng tối âm u. Thực chất của nó cũng bao gồm cái bóng tối âm u dầy đặc ấy. 

Chắc chắn là tôi không say sưa, ngây ngất v́ nhận thức của ḿnh. Nhận thức của tôi đă bị chà đạp và khinh miệt; dĩ nhiên là cuộc đời và dục vọng cũng vậy. Tuy nhiên, cảm giác hoảng hốt sâu xa vẫn chưa tan hết và tôi đă ngồi ́ ra đó khá lâu như thể bị tê liệt trước bầu vú phơi bầy của người thiếu phụ. 

Tôi cứ ngồi đó nghĩ ngợi miên man về cái bầu vú phơi bầy của người thiếu phụ. Nàng nhét vú vào trong áo. Tôi cho nàng hay là tôi phải ra về. Nàng tiễn tôi ra cổng rồi đóng sầm cửa lại. 

Đến lúc về tới chùa tôi vẫn c̣n hoảng hốt ngây ngất cả người. Trong ḷng tôi cứ nh́n thấy hết Kim Các Tự rồi lại đến bầu vú của nàng. Ḷng tôi tràn ngập một niềm hạnh phúc ră rời. 

Tuy nhiên, khi nh́n thấy h́nh dáng Tổng môn của Lộc Uyển tự bắt đầu hiện ra sau rừng thông âm u đang ŕ rào trong gió, ḷng tôi dần dần mát dịu đi, cảm giác vô lực ră rời và sự ghét bỏ - chính tôi cũng không biết là ghét bỏ cái ǵ nữa - nổi bật lên trong tôi. 

“Như thế là một lần nữa ḿnh lại ngăn cách với nhân sinh!” tôi tự nhủ. “Tại sao Kim Các Tự lại che chở cho ḿnh măi thế? Tại sao nó lại cố gắng ngăn cách ḿnh với cuộc đời trong khi ḿnh không bảo nó làm như vậy? Dĩ nhiên, có thể là Kim Các Tự đang cứu ḿnh khỏi rơi xuống địa ngục. Song làm như thế, Kim Các Tự lại càng làm cho ḿnh độc ác, xấu xa hơn những con người đă thực sự sa xuống địa ngục; nó đang làm cho ḿnh biến thành “thằng con trai biết rơ địa ngục hơn bất cứ ai.” 

Cổng chính của ngôi chùa tối đen và im lặng. Ở cổng bên, ngọn đèn chỉ tắt khi nào tiếng chuông triêu minh ngân vang lúc này c̣n đang le lói sáng. Tôi đẩy cửa bên. Trong chiếc xích sắt cũ kỹ han rỉ kêu loảng xoảng bên trong. Cửa mở, Ông gác cổng đă đi ngủ từ lâu. Bên trong cổng có một tấm biển ghi rơ nội quy nói rằng người nào về chùa sau mười giờ tối phải khóa cổng lại. Hai thẻ gỗ khắc tên người cho thấy chủ nhân chúng vẫn chưa về chùa. Một tấm thẻ của Lăo sư phụ c̣n tấm kia là của ông lăo bộc già nua. 

Trong lúc đi về phía chùa, tôi nom thấy dựng ở bên phải nơi thợ làm việc một số những tấm ván dài khoảng năm thước đang được dùng vào việc xây cất ǵ đó. Dù đêm tối ḿnh cũng có thể nh́n thấy đường vân mờ mờ trên các tấm ván. Khi tới gần hơn, tôi thấy mạt cưa rơi tung tóe khắp chỗ đó giống như những bông hoa vàng vàng nho nho răi khắp nơi, mùi gỗ thơm phưng phức tỏa lan trong màn đêm. Trước khi vào bếp, tôi quay lại ngắm Kim Các Tự một lần nữa. Tôi đi xuống lối ṃn dẫn về phía ngôi chùa và ṭa kiến trúc ấy hiện rơ dần dần. Tiếng lá cây sột soạt bao quanh trong khi nó đứng đó hoàn toàn bất động giữa ḷng đêm tối nhưng tỉnh táo vô cùng, thật như thể nó làm hộ vệ cho đêm tối vậy. Phần có người ở trong Lộc Uyển tự ngủ vào ban đêm, song chưa bao giờ tôi nh́n thấy Kim Các Tự ngủ cả. Ṭa kiến trúc không có người ở này có thể quên không biết ngủ. Vẻ âm u ẩn kín bên trong nó hoàn toàn vượt ra kỏi mọi phép tắc của nhân gian. 

Thế ṛi bằng một giọng hầu như là nguyền rủa, lần đầu tiên trong đời, tôi sỗ sàng với Kim Các Tự: “Rồi một ngày kia thế nào ta cũng chi phối được ngươi. Đúng, rồi một ngày kia ta sẽ bắt người uốn ḿnh trong phép tà ma của ta để ngươi chẳng bao giờ c̣n có thể chắn đường ngăn lối ta nữa.” 

Tiếng tôi vang ch́m trong đêm sâu của Kính Triều tŕ.

 

Hết phần 6

 

Minh Quang posted September 24, 2005

 

[Home] [Up] [Kim Các Tự 1] [Kim Các Tự 2] [Kim Các Tự 3] [Kim Các Tự 4] [Kim Các Tự 5] [Kim Các Tự 6] [Kim Các Tự 7] [Kim Các Tự 8] [Kim Các Tự 9] [Kim Các Tự 10]