Chùa Hải-Đức in Jacksonville

[Home] [Up] [Điểm Sách] [Sutras] [Dharma Talks] [GĐPT] [Sinh Hoạt] [Our Activities] [Kinh] [Pháp Thoại audio mp3] [Tin Tức Phật Giáo] [Thuyết Pháp] [Thơ Văn] [Ngoại Điển] [Phật Học] [Tụng Kinh] [Nghi Lễ - Rituals]

AN TIÊM

 

KIM CÁC TỰ

 

YUKIO MISHIMA 

Đỗ Khánh Hoan và Nguyễn Tường Minh dịch

 

Chương 2

 

V́ Ba qua đời, nên quăng đời niên thiếu thực sự của tôi đă chấm dứt. Tôi vẫn thường ngạc nhiên khi thấy rằng quăng đời thơ ấu của ḿnh làm sao lại có thể hoàn toàn thiếu sót cái mà người đời gọi là mối quan tâm tới nhân gian cho đến thế. Tới khi nhận ra rằng ḿnh chẳng hề đau buồn chút nào về việc Ba qua đời, sự ngạc nhiên này biến thành mối cảm hoài thờ thẫn nào đó không c̣n được gọi là kinh ngạc nữa. 

Tôi vội vă trở về làng, và khi tôi tới nơi, Ba đă nằm yên trong quan tài rồi. Tôi đă đi bộ đến tận Uchiura và từ đó đi thuyền dọc theo vịnh tới Nariu mất trọn một ngày. Đó là thời kỳ nóng nực trong ngay trước mùa mưa và mặt trời rọi nắng hừng hực hết ngày này sang ngày khác. Ngay sau khi tôi nh́n thi hài Ba lần cuối, người ta đem chở quan tài tới hỏa trường tên mỏm đất để hỏa táng bên bờ bể.

Cái chết của người tu sĩ trụ tŕ một ngôi chùa miền quê thực là một việc dị kỳ. Dị kỳ bởi v́ quá thích thiết. Có thể nói vị tu sĩ ấy vẫn là trung tâm tinh thần cho toàn thể địa phương, là người trông nom cuộc sống của đạo hữu trong vùng, là người mà họ ủy thác trọn vẹn cuộc đời sau khi họ nhắm mắt. Ấy thế mà chính con người này lại chết trong ngôi chùa của ḿnh. Như thể ông đă hoàn tất chức vụ của ḿnh một cách quá trung thực, như thể chính con người vẫn hằng đi đó đi đây giảng dậy cho thiên hạ nên nhắm mắt ĺa đời như thế nào, đă tự ḿnh thực hiện một cuộc biểu diễn cho mọi người xem và do một sự lầm lẫn nào đó đă nhắm mắt ĺa đời thực sự. 

Thực vậy, quan tài của Ba có vẻ như đă được đặt ở một chỗ quá ư thích hợp, trong đó người ta đă dụng ư xếp đặt đủ mọi thứ để đón nhận. Má tôi, người tu sĩ trẻ tuổi cùng các dạo hữu trong vùng đều đứng khóc trước quan tài. Người tu sĩ trẻ tuổi ấp úng tụng kinh có vẻ như vẫn c̣n phải tùy thuộc vào chỉ thị của Ba, lúc đó đang nằm trong quan tài trước mặt anh ta. 

Khuôn mặt Ba ch́m trong những đóa hoa đầu mùa hạ. Có cái ǵ đáng sợ trong sắc cực kỳ tươi tắn của những bông hoa này. Trông như là chúng đang ghé mắt nh́n xuống đáy một cái giếng. V́ khuôn mặt một người chết ch́m xuống một mực sâu vô hạn dưới cái bề mặt lúc sinh thời, chẳng để lại chút ǵ cho những người c̣n sống nh́n thấy ngoại trừ khuôn h́nh của một mặt nạ; thực thế nó ch́m sâu đến nỗi chẳng bao giờ người ta có thể lôi được nó lên trên mặt nước nữa. Khuôn mặt một người chết có thể cho chúng ta thấy rơ hơn bất kỳ cái ǵ khác trên cơi đời này là chúng ta bị tách xa khỏi cuộc sống thực sự của vật chất đến như thế nào và chúng ta đă không thể nắm được phương cách hiện hữu của vật chất đến mức độ nào. Đó là lần đầu tiên tôi phải đương đầu với một cảnh huống như thế, trong đó tinh thần đă bị cái chết biến thành một vật thể thực sự và bây giờ toi cảm thấy là ḿnh dần dà bắt đầu hiểu được lư do v́ sao mà hoa xuân, mặt trời, bàn học, nhà trường, bút ch́ - tất cả đều là vật chất, thực vậy - vẫn luôn luôn có vẻ lạnh lùng đến thế đối với tôi, vẫn luôn luôn có vẻ hiện hữu ở một nơi nào thực xa cách với chính thân tôi. 

Má và nhiều đạo hữu khác lúc này đang đưa mắt nh́n tôi trong khi tôi đối diện với Ba lần cuối. Tính ngang bướng của tôi, tuy vậy, sẽ không chịu chấp nhận lối loại suy với thế giới của người sống mà từ ngữ “đối diện” ám chỉ. Bởi v́ đó thực không giống một cuộc đối diện mảy may nào hết, tôi chỉ đưa mắt nh́n khuôn mặt vô hồn của Ba mà thôi. 

Người ta chỉ đưa mắt nh́n thi hài. Tôi chỉ đưa mắt nh́n mà thôi. Biết rằng việc đưa mắt nh́n (nghĩa là việc nh́n vào một người nào đó như người ta vẫn thường làm không hề có một ư thức đặc biệt nào) là một chứng có cho thấy những ai c̣n sống vẫn c̣n quyền lợi và rằng việc đưa mắt nh́n này có thể là biểu lộ sự ác độc - tất cả những điều này bây giờ đến với tôi như một thể nghiệm mới mẻ. Như vậy, đứa thiếu niên, chưa bao giờ cao giọng cất tiếng hát, chưa bao giờ chạy quanh la hét đến vỡ lồng ngực, lúc này đang tự ḿnh xác định sự hiện hữu của chính ḿnh. 

Mặc dù thiếu can đảm về nhiều phương diện trong lúc này tôi không hề cảm thấy xấu hỗ chút nào khi quay khuôn mặt sáng sủa ráo hoảnh không một giọt lệ về phía những người đang đến dự đám tang. Ngôi chùa ở trên một mỏm núi trên bờ bể. Phía sau những người đưa đám, những dám mây mùa hè đang cuồn cuộn trên mặt nước mênh mông của biển Nhật Bản và ngăn chặn tầm mắt tôi lại. Bây giờ người tu sĩ bắt đầu tụng bài kinh trước khám thờ Phật, bài kinh vẫn thường được đọc khi chuyển cữu và tôi đọc theo. Căn chính điện tối om. Lá phướng treo giữa hàng cột, những đồ vàng mă lấp lánh trên bàn thờ, chiếc lư trầm và những b́nh hoa tất cả đều chói sáng lung linh dưới ánh những ngọn bạch lạp. Thỉnh thoảng một làn gió biển lùa vào bên trong, thổi phồng tay áo tăng y của ôi. Trong khi tụng kinh tôi vẫn thường xuyên cảm thấy được dáng vẻ các đám mây mùa hạ trong lúc chúng chiếu hắt ánh sáng chói ḷa vào khóe mắt tôi. 

Ánh sáng chói chang bên ngoài luôn luôn rọi vào một bên mặt tôi. Nó mới chói chan, rạng rỡ làm sao - cái sự khinh nhờn lấn ép này!… 

Khi đám tang chỉ c̣n cách hỏa trường chừng hơn hai trăm thước đột nhiên một trận mưa rào đổ ụp xuống đầu chúng tôi. May thay chúng tôi vừa đi ngay trước cửa căn nhà của một dạo hữu khá giả trong vùng nên chúng tôi có thể t́m chỗ trú mưa cùng với cả cái quan tài, chúng tôi lại tiếp tục cuộc hành tŕnh tới băi đất hỏa thiêu. 

Ḷ hỏa táng nằm trên một băi nhỏ đầy đá của một mỏm đất nhô ra bể ở phía đông nam ngôi làng. Hiển nhiên nơi này đă được dùng để hỏa táng từ những thời xa xưa, v́ khói không lan từ chỗ này về các ngôi nhà trong thôn. 

Xa khỏi nơi này biển động dữ dội trong khi các làn sóng lớn cuồn cuộn thi nhau xô lên phía trước, dâng lên cao rồi hạ xuống thấp những giọt nước mưa thường xuyên làm mặt nước xao động, nhăn nhó. Trong tối tăm mịt mù những giọt nước mưa lạnh lùng tiếp tục xuyên thủng mặt nước, không hay biết ǵ t́nh trạng dao động dị thường của mặt bể. Nhưng thỉnh thoảng một trận gió bể bất thần thổi hắt nước mưa vào những vách đá trắng phếch trở nên đen ś y như vừa bị phun đầy mực. 

Chúng tôi đi qua một con đường hầm và đến địa điểm. Trong khi các người phu trà t́ sửa soạn đồ hỏa táng, chúng tôi đứng trong đường hầm để tránh mưa. 

Tôi chẳng thể thoáng nh́n thấy ngay lấy quang cảnh bể cả. Chẳng có ǵ ngoài những đợt sóng cùng những tảng đá ướt át, đen ś và cơn mưa. Trong khi họ đổ dầu lên lớp ván quan tài, mưa rơi lên quan tài lộp độp. 

Họ châm lửa vào quan tài. Dầu đốt hiện bị hạn chế, nhưng v́ đây là đám tang của một tu sĩ nên họ đă xoay xỏa được một số dầu khá lớn, và bây giờ ngọn lửa đang vật lộn với trận mưa, đang bốc cao trong không khí, rít lên như tiếng roi quất mạnh. Mặc dù đang ban gnày, ngọn lửa trong suốt nổi bật giữa làn khói dầy đặc. Làn khói cuồn cuộn dâng lên và tạ dần về phía vách đá bên bờ bể; rồi thỉnh thoảng ngọn lửa uyển chuyển uốn ḿnh vươn cao giữa cơn mưa tầm tă. 

Bất chợt có tiếng một vật ǵ bị nứt tung gây ra một tiếng nổ kinh hồn. Nắp quan tài bất tung. 

Tôi nh́n má đang đứng sát ngay bên cạnh. Bà đứng đó hai tay gh́ chặt chuỗi tràng hạt. Khuôn mặt bà cứng dắn kinh khủng trông có vẻ nhỏ bé và quắt queo đến nỗi tưởng như có thể thu gọn vào một ḷng bàn tay. 

 

 

Theo di ngôn của Ba, tôi tới Kyoto va trở thành một sa di tại Kim Các Tự. Lúc đó tôi được xuống tóc đi tu dưới sự chứng giám của thượng tọa trù tŕ. Ông xuất tiền cho tôi đi học; đổi lại, tôi hầu hạ ông, lo việc quét dọn và làm những việc vặt vănh trong nhà. Nói theo thế tục, địa vị của tôi tương đương với địa vị một anh học tṛ được nuôi ăn cho ở trong chùa. 

Vừa mới vào chùa tôi nhận ra ngay rằng, sau khi viên quản liêu bị gọi nhập ngũ, những người duy nhất c̣n sót lại chỉ là những người già cả và những người hết sức ít tuổi. Dù sao đi nữa, việc đến đây ở đối với tôi cũng là một nguồn an ủi lớn lao. Chẳng bao giờ tôi c̣n bị chọc ghẹo là con của một thầy chùa như tôi đă từng bị tụi học tṛ con nhà tục gia ở trường trung học chọc ghẹo nữa, bởi lẽ ở đây ai cũng như ai, điểm khác biệt duy nhất là tôi nói lắp và bơi xấu hơn những người khác. 

Việc học của tôi ở trường trung học Đông Maizuru đă bị gián đoạn trước khi tôi tốt nghiệp; nhưng nhờ ḥa thượng Tayama Dosen giúp đỡ nên bây giờ tôi sắp sửa tiếp tục sự học ở trường trung học thuộc học viện Rinzai. Tôi sẽ bắt đầu học ở đó trong học kỳ mùa thu này, sẽ bắt đầu trong non một tháng. Tuy thế tôi biết rằng ngay khi khởi sự vào trường mới, tôi sẽ bị động viên lao động trong một xưởng máy nào đó. Lúc này tôi đang ở trước những hoàn cảnh mới. Tôi hăy c̣n được nghỉ hè vài tuần lễ nữa. Những ngày nghỉ hè trong thời gian cư tang của tôi, những ngày nghỉ hè lặng lẽ lạ lùng trong giai đoạn cuối cùng của chiến tranh năm Chiêu Ḥa thứ mười chín (1914). Cuộc đời khuôn phép của một chú sa di của tôi trôi qua một cách êm ả và măi măi sau này khi nghĩ lại tôi cảm thấy đó là những ngày nghỉ tuyệt đối cuối cùng trong đời tôi. Đến bây giờ tôi vẫn có thể nghe rơ mồn một tiếng ve sầu kêu ra rả. 

Kim Các Tự mà lúc này tôi được thấy lại sau mấy háng trời đang đứng lặng im thanh b́nh trong ánh nắng cuối hạ. V́ vừa mới gia nhập hàng ngũ tăng lữ nên tôi có cái đầu cạo bóng nhẵn thín. Tôi có cảm giác là không khí đă ôm chặt đầu tôi; tôi có cảm giác nguy hiểm lạ kỳ là những tư tưởng bên trong đầu tôi đang tiếp xúc với những hiện tượng ngoại giới qua một màng da mong manh nhạy cảm. Khi ngước mắt nh́n Kim Các Tự với cái đầu mới này của ḿnh, tôi cảm thấy ṭa kiến trúc đó đang thẩm nhập trong tôi, không những chỉ qua đôi mắt mà c̣n qua cả mái đầu tôi nữa. Cũng giống như đầu tôi nóng lên khi ánh mặt trời chiếu vào và mát đi khi gió lạnh ban chiều chợt thổi tới. 

“Hỡi Kim Các Tự! Cuối cùng ta đă tới sống bên ngươi!” Tôi th́ thầm ḷng tự nhủ ḷng trong khi ngưng tay quét lá vàng một lát. “Chẳng cần là phải ngay trong tức khắc, nhưng xin ngươi thỉnh thoảng hăy kết thân với ta và phơi bầy bí mật của ngươi cho ta được thấy. Ta cảm thấy vẻ đẹp của ngươi là cái ǵ ta sắp sửa thấy được tới nơi, thế nhưng đến lúc này vẫn c̣n chưa thấy được. Xin hăy để cho ta nom thấy rơ cái Kim Các Tự thực sự hơn là h́nh ảnh của ngươi trong tâm trí ta. Và hơn nữa, nếu thực sự ngươi đẹp đến nỗi không ǵ ở thế giới này có thể sánh kịp th́ xin nói cho ta hay tại sao ngươi lại đẹp đẽ như thế, tại sao ngươi lại cần phải đẹp đẽ như thế.” 

Mùa hè năm ấy Kim Các Tự dường như đă dùng những tin tức đáng buồn từ chiến trường hàng ngày đến với chúng tôi như một thứ lá chắn để nó rọi bóng rạng rỡ chói chan hơn bao giờ hết. Vào tháng sáu quân Mỹ đổ bộ ở Saipan và Đồng minh đang cố gắng vượt qua đồng bằng Normandy. Số du khách tới văn cảnh chùa giăm sút rơ rệt và Kim Các Tự dường như đang vui hưởng sự cô đơn, sự tĩnh mịch này. 

Cuộc chiến loạn, sự bất an, các đống xác người và máu xương chồng chất tự nhiên đă làm tăng thêm vẻ đẹp của Kim Các Tự. Bởi v́ ngày từ đầu Kim Các Tự đă được xây dựng trong sự bất an, đă được bao nhiêu người chủ tŕ trong ḷng có nhiều hắc ám - trong đó có cả một vị tướng quân - góp công xây dựng. Lối thiết kế tán loạn của ba tầng gác, trong đó nhà nghiên cứu lịch sử mỹ thuật chỉ có thể thấy một sự pha trộn các dạng thứ, hẳn rằng đă được khai triển thật tự nhiên từ ư định t́m kiếm một kiểu thức có thể kết tinh tất cả những bất an qui tụ xung quanh. Giả sử, Kim Các Tự đă được kiến tạo theo một dạng thức an định th́ có lẽ nó đă không bao nhiếp chịu đựng được sự bất an và tất nhiên có lẽ đă băng hoại từ lâu rồi. 

Tuy vậy, đă biết bao lần t́ tay trên cán chổi ngước mắt nh́n lên Kim Các Tự, tôi vẫn thấy lạ lùng hết sức là ṭa kiến trúc này đă thực sự tồn tại ở trước mắt. Kim Các Tự mà tôi đă được nh́n khi nghỉ đúng một đêm ở đây trong lần viếng thăm trước cùng với Ba đă không đem lại cảm giác này cho tôi. Lúc này tôi khó ḷng tin được drằng Kim Các Tự vẫn hằng luôn luôn ở đây ngay trước mặt tôi trong khi những năm tháng dài lê thê trôi qua. 

Trong những ngày sống ở Maizuru, khi nghĩ về Kim Các Tự tôi cảm thấy dường như thể vẫn hằng đứng măi tại một góc thành phố Kyoto, nhưng bây giờ tôi đă tới và sống ở đây, ngôi thiền đường ấy chỉ hiện ra trước mắt tôi khi nào tôi thực sự ngắm nh́n nó, và ban đêm khi tôi nằm ngủ trong chính điện th́ dường như nó không c̣n tồn tại nữa. Cứ thế trong một ngày tôi thường ra ngắm Kim Các Tự không biết bao nhiêu lần trước sự cười cợt của các sa di bè bạn. Tôi vẫn luôn luôn ngạc nhiên không biết bao nhiêu khi nhận thấy ngôi chùa vẫn thực sự ở đó, và lúc trở vào chính điện sau khi đă ngắm nh́n chán chê con mắt, tôi cảm thấy nếu chợt quay lưng chạy ra ngắm lại lần nữa th́ có lẽ ngôi chùa sẽ biến dạng và tiêu tan đi y hệt h́nh bóng Eurydice, người bạn đời của nhà nhạc sĩ tài danh Orphée vậy. 

 

 

Khi đă quét hét một ṿng xung quanh Kim Các Tự, tôi leo lên đồi ở phía sau chùa để tránh tia nắng mặt trời vào buổi sáng mỗi lúc một nóng bức hơn; tôi đi lên con đường nhỏ và bước về phía Tịch Giai đ́nh. Vẫn chưa tới giờ mở cửa vườn và chẳng thấy bóng dáng người nào cả. mấy chiếc phi cơ chiến đấu, có lẽ thuộc phi đội ở Maizuru, ầm ầm lao ngang đầu trong khi bay khá thấp trên Kim Các Tự, rồi lại mất hút để lại đằng sau những tiếng ầm ĩ chối tai. 

Trong khu đồi núi đằng sau chùa có một cái ao quạnh hiu đầy những cây hoa súng, được người ta gọi là An Dân trạch. Giữa ao có một g̣ đất nhỏ; trên g̣ ấy có ngọn tháp Bạch Xà Mông năm từng bằng đá đứng sừng sững. Tiếng chim hót líu lo tràn ngập bầu không khí ban mai; chẳng ai trông thấy con chim nào, song toàn thể khu rừng đều xôn xao tiếng chim ríu rít. 

Trước mặt ao cỏ mùa hè mọc đầy kết thành từng đám. Một hàng rào thấp ngăn cách lối đi nhỏ với đám cỏ rậm rạp này. Một thiếu niên mặc áo sơ mi trắng đang nằm gần hàng rào, ở bên cạnh một cái cào tre đứng dựng vào thân cây phong thấp. 

Thiếu niên ấy vụt nhổm người dậy mạnh bạo như thể đang khoét thủng hẳn làn không khí êm dịu mùa hè đang rập rờn trên đầu chúng tôi; tuy nhiên, khi nh́n thấy tôi, hắn ta chỉ nói: “Ồ, thế ra mày đấy ư?” 

Tôi mới được giới thiệu với thằng này vào tối hôm trước. Nó tên là Tsurukawa, từ một ngôi chùa trù phú ngoại ô Tokyo tới đây. Gia đ́nh nó đă cung cấp cho nó thừa thăi đủ mọi thứ, nào học phí, tiền tiêu vặt, nào thức ăn; và qua liên hệ nào đó với ḥa thượng trụ tŕ nó đă được gửi đến Kim Các Tự để nó có thể nếm mùi sự tu luyện dành cho những sa di b́nh thường. Nó đă trở về thăm nhà trong dịp nghỉ hè măi tới chiều tối hôm trước mới trở lại Kyoto, Tsurukawa nói năng lưu loát bằng một giọng Tokyo nghe thật hay. Hỏi ra tôi mới biết nó dự định học trường trung học thuộc học viện Rinzai mùa thu ấy theo cùng lớp với tôi, và ngay từ đêm qua, tôi bị ngỡ ngàng khôn tả v́ cái miệng lưỡi liến láu vui vẻ của nó. 

Lúc này khi nghe thấy nó nói: “Ồ, thế ra mày đấy ư?” tôi thấy miệng ḿnh cứng ngắt không sao thốt được ra lời. Có vẻ như nó cho rằng sự im lặng của tôi như một thứ phê b́nh. 

“ Như thế là được lắm rồi mày ạ. Ḿnh đâu cần phải quét tất cả cẩn thận đến thế. Đằng nào đi nữa khi khách văn cảnh tới đây, đâu đó lại đều bẩn hết ngay mà. Ngoài ra, mùa này cũng không có nhiều khách văn cảnh đến đây đâu.” 

Tôi chợt bật ra một tiếng cười. Cái tiếng cười mà tôi thường buộc ra một cách vô ư thức dường như đă khiến cho một số người cảm thấy thân t́nh với tôi. V́ thế chẳng phải là lúc nào tôi cũng có trách nhiệm về những ấn tượng phức tạp mà tôi hằng gây ra nơi người khác. 

Tôi leo qua hàng rào và đến ngồi tựa lưng bên cạnh Tsurukawa. Nó nằm gối đầu lên cánh tay. Tôi nhận thấy tay phía bên ngoài cánh tay làn da xạm nắng, song phần bên trong th́ trắng trẻo đến nỗi ḿnh có thể nh́n thấy tất cả những mạch máu qua làn da. Ánh sáng mặt trời ban mai len lỏi lai láng qua các lùm cây và rải rác những bóng h́nh sáng xanh trên mặt cỏ. Tôi có trực giác cảm thấy liền là thằng này sẽ chẳng hề yêu mến Kim Các Tự như tôi. Bởi lẽ sự thiên chấp của tôi đối với ngôi chùa này đă hoàn toàn bắt cỗi rễ từ sự xấu xí của chính thân tôi. 

Tsurukawa nói: “Tao nghe nói là ba mày mới qua đời.” 

“Phải, đúng thế.” 

Tsurukawa mau mắn đưa mắt nh́n sang bên,và rồi chẳng hề cố gắng che giấu là ḿnh say dắm lối suy luận trẻ con ra làm sao, nó nói: “Sở dĩ mày thích Kim Các Tự đến như thế là v́ nó nhắc nhở mày nhớ tới ba mày, có phải thế không? nghĩa là ta muốn nói, mỗi khi nh́n đến ngôi chùa này là mầy nhớ lại ba mày trước kia đă thích Kim Các Tự đến mực nào?” 

Tôi thấy hài ḷng là sự suy luận chỉ đúng nửa vời của nó đă không gây ra một nét thay đổi nào trên khuôn mặt không chút cảm động của tôi. Hiển nhiên là Tsurukawa đă sắp xếp một cách chính xác những t́nh cảm của con người vào trong những ngăn kéo nhỏ bé gọn gàng trong pḥng ngủ của nó, giống như trẻ con vẫn thường thích phân loại các côn trùng thuộc loại khác nhau; và rồi thỉnh thoảng nó lại khoái lôi ra để thực hiện một vài thí nghiệm. 

“Này, Ba mày qua đời làm mày buồn lắm phải không? V́ thế trông mày lúc nào cũng có vẻ buồn buồn. Tao đă nghĩ như vậy ngay từ khi mới gặp mày lần đầu vào đêm qua.” 

Dẫu sao, những lời nhận xét của nó chẳng hề làm cho tôi khó chịu chút nào. Thực vậy, cảm tưởng của nó cho rằng trông tôi có vẻ buồn rầu đă khiến tôi an tâm và tự do, miệng tôi thốt ra được những lời nói nhẹ nhàng trôi chảy. “Truyện đó cũng chẳng có ǵ đáng buồn mày ạ.” 

Lấy tay giụi đôi lông mày dài ngang trán, Tsurukawa trố mắt nh́n tôi: 

“Ơ!” nó nói. “Thế có nghĩa là mày ghét ba mày có phải vậy không? Hoặc ít nhất là mày cũng không ưa ông ấy.” 

“Tao chẳng có điều ǵ ghét bỏ mà tao cũng chẳng có điều ǵ yêu mến ǵ Ba tao hết.” 

“Vậy th́ tại sao mày lại không buồn?” 

“Nói ǵ th́ nói, sự thực nó là như thế. Chính tao cũng chẳng hiểu tại sao nữa.” 

Đụng đầu phải vấn đề khó khăn này, Tsurukawa bèn nhỏm dậy ngồi thẳng người trên cỏ. 

“Trong trường hợp ấy,” nó nói, “chắc hẳn là mày đă gặp phải một truyện đau buồn nào khác.” 

“Thực t́nh tao cũng chẳng biết nữa,” tôi đáp. 

Sau khi nói vậy, tôi phân vân tự hỏi không biết tại sao tôi lại cứ hay gợi sự hoài nghi trong tâm trí kẻ khác cho đến thế. C̣n đối với chính tôi th́ chẳng hề có chút hoài nghi nào hết. Sự việc thực là quá rơ rệt: t́nh cảm của tôi bắt nguồn từ tật nói lắp của tôi mà ra. Những t́nh cảm ấy chẳng bao giờ xuất hiện đúng lúc. Do đó, tôi cảm thấy dường như sự kiện Ba qua đời và sự kiện tôi buồn rầu là hai sự việc cô lập, cách biệt với nhau, không hề móc nối và không hề có đụng chạm tới nhau. Chỉ một chút lệch lạc về thời gian, chỉ một sự chậm trễ nhỏ nhặt đă làm cho những t́nh cảm và những biến cố mà tôi đă hiểu biết quay lại trạng thái rời rạc ban đầu; trạng thái này, theo như chỗ tôi biết, có lẽ là trạng thái căn bản của chúng. Khi tôi buồn, nỗi buồn đột phát mà không cần một lư do nào hết: nó không hề có một liên hệ nào với một sự kiện hoặc một động lực nào cả. 

Một lần nữa, câu truyện lại phải kết thúc v́ tôi không làm sao giải thích được tí ǵ cho người bạn mới đang ngồi đối diện tôi cả. Rút cuộc Tsurukawa phá ra cười. 

“Mày là một con người kỳ cục phải không mày?” nó nói. 

Mảnh áo sơ mi trắng trên bụng nó rập rờn gợn nếp theo tiếng cười. Tia nắng mặt trời rọi qua những cành lá đu đưa khiến tôi cảm thấy sung sướng. Giống như cái áo sơ mi nhăn nhúm của thằng thiếu niên, cuộc đời của tôi cũng nhăn nheo gợn nếp. Tuy nhiên, dù cho có bị nhăn nheo gợn nếp dưới ánh sáng mặt trời cái áo sơ mi trắng của nó mới rạng rỡ làm sao! Có lẽ cả tôi cũng thế nữa. 

Tách rời thế giới bên ngoài trong sinh hoạt riêng tư của nó, ngôi chùa tiếp tục sống theo những nghi thức thông thường của thiền tự. V́ đang vào mùa hè nên mỗi buổi sáng chúng tôi đều thức dậy vào lúc năm giờ. Thức dậy ở đây được gọi là “khai định”. Vừa thức dậy, chúng tôi tụng kinh khóa sáng. Công tác này được gọi là “tam thời hồi hướng”, v́ chúng tôi đọc những bài kinh ấy ba lần. Sau đó, chúng tôi quét dọn bên trong và lau nền nhà. Rồi đến bữa ăn sáng gọi là “chúc tọa”. Chúng tôi vừa ăn cháo vừa lắng nghe tụng bài kinh đặc biệt của chúc tọa. 

Chúc hữu thập lợi
            Nhiêu ích hành nhân. 
            Quả báo vô biên 
            Cứu cánh thường lạc. 

Cháo có mười điều lợi 
            Nhiều ích lợi cho người. 
            Quả báo không biên giới 
            Cứu cánh thường an vui. 

Sau khi ăn sáng, chúng tôi bắt tay vào những công việc vặt như nhổ cỏ, quét vườn và chặt củi. Sau đó, vào những ngày đi học, thời gian cho chúng tôi đi tới trường. 

Rồi, sau khi đi học về một lát, chúng tôi lại dùng “dược thạch” hoặc cơm chiều. Tiếp theo thường là buổi giải nghĩa về kinh điển nhà Phật của ḥa thượng trụ tŕ. Đến chín giờ tối bắt đầu buổi “khai chẩm”, nghĩa là giờ đi ngủ. 

Đó là cuộc sống hàng ngày của tôi và mỗi ngày dấu hiệu đánh thức tôi dậy là tiếng chuông của viên quản liêu trông nom bếp nước và nghi thức trong giờ ăn. 

Trước kia vốn có chừng mười hai mười ba người sống ngay trong Kim Các Tự, nghĩa là trong điện Lộc Uyển tự, nhưng v́ bị trưng dụng vào quân vụ và lao động nên trong chùa ngoài ông già phụ dịch khoảng bảy mươi tuổi và bà già gần sáu mươi tuổi lo việc thổi nấu, vị chấp sự và phó chấp sự, chỉ c̣n có ba đứa chúng tôi. Những người già thực đă phủ đầy rong rêu nửa sống nửa chết c̣n bọn trẻ chúng tôi hăy c̣n hoàn toàn là trẻ con. Viên chấp sự cũng gọi là phó ti hết sức bận rộn với cái việc kế toán trong chùa. 

Một vài ngày sau khi tới chùa, tôi được giao phó công việc đem báo tới tận pḥng ḥa thượng trụ tŕ (mà chúng tôi gọi là “Lăo sư phụ”). Báo tới hàng ngày vào khoảng thời gian khi chúng tôi đă làm xong những công việc quét dọn. Đối với lũ chúng tôi có mấy đứa mà quét phải dọn lau chùi từng hành lang của ngôi chùa có tới ba mươi pḥng trong một thời gian ngắn ngủi th́ thực là một công việc nặng nhọc. Sau khi làm xong công việc, tôi ra ngoài huyền quan thu nhặt báo chí đem vào; tôi đi qua hành lang phía trước căn sứ giả, rồi ṿng quanh phía sau “khách điện” và cứ thế len theo các hành lang kế tiếp tới Đại Thư Viện nơi Lăo sư phụ đang chờ đợi. Các hành lang tôi đi qua đều hăy c̣n ẩm ướt v́ mới được lau chùi; ở những chỗ trũng trên gỗ những vũng nước lấp lánh dưới ánh mặt trời sáng ban mai và làm ướt chân tôi tới tận mắt cá. V́ đang giữa mùa hè nên cái đó lại làm cho tôi có một cảm giác thích thú. Đoạn, tôi qú xuống ở phía ngoài bức mành pḥng Lăo sư phụ, con có vào được không ạ?” 

“Ừm!” tiếng trả lời vọng ra. 

Trước khi bước vào căn pḥng, tôi lấy riềm tấm áo cà sa lau kỹ đôi chân ướt; đó là một cái tṛ huyền bí mà tôi đă học được của mấy thằng bạn chú tiểu. Tôi ngửi thấy cái mùi vị tươi mát, nồng nặc của thế tục phát ra từ mực in trên tờ báo; lén lút liếc vội hàng chữ lớn đầu bài tôi đọc: “Đế đô không tránh khỏi bị không tập hay chăng?” 

Kể ra cũng kỳ diệu, nhưng cho măi tới lúc này tôi chưa hề nghĩ đến truyện Kim Các Tự bị máy bay oanh tạc. V́ Saipan đă thất thủ nên việc không tập vào chính quốc là điều từ lâu người ta đă cho rằng không thể tránh được, và nhà cầm quyền đă đẩy mạnh kế hoạch di tản một phần thành phố Kyoto; tuy nhiên, theo như chỗ tôi biết, dường như không hề có mối liên hệ giữa cuộc sống bán vĩnh cửu của Kim Các Tự với những tại họa do các cuộc không tập gây ra. Trong ḷng tôi nghĩ là ṭa Kim Cương bất hoại của Kim Các Tự và cái ngọn núi lửa khoa học do bom đạn gây ra phải biết rơ sự khác biệt hoàn toàn giữa bản chất của chúng, và tôi cũng nghĩ nếu hai thứ đó gặp nhau, chúng sẽ tự động tránh né lẫn nhau. Thế nhưng, sự thực vẫn là Kim Các Tự đang có nguy cơ bị thiêu tàn trong một cuộc không tập. Thực vậy, nếu mội việc cứ tiếp tục theo cái đà này th́ Kim Các Tự chắc chắn sẽ trở thành tro bụi. Từ lúc mà ư tưởng này đă bắt rễ trong ḷng, tôi thấy vẻ đẹp bi đát của Kim Các Tự mỗi ngày lại một gia tăng. 

Đó là một buổi chiều cuối hạ, một hôm trước ngày khai trường. Ḥa thượng trụ tŕ cùng viên phó chấp sư đă rời chùa để lo một pháp sự. Tsurukawa rủ tôi đi xem chiếu bóng, nhưng v́ tôi không có vẻ mặn mà nên nó cũng cảm thấy mất hứng, Tsurukawa vẫn có cái thói như thế. 

Đă được phép vắng mặt trong một vài giờ nên chúng tôi thắng bộ, đầu đội mũ học viện Rinzai, chân đi ghệt bó chặt lấy ông quần kaki, rồi rời chính đường. Ngôi chùa đắm ḿnh trong hơi nóng hừng hực của một ngày mùa hạ và không có người khách nào tới văn cảnh chùa cả. 

“Thế bây giờ bọn ḿnh đi đâu đây?” Tsurukawa nói. 

Tôi trả lời rằng trước khi đi bất cứ một nơi nào, tôi cần phải ngắm lại kỹ lưỡng Kim Các Tự, bởi v́ từ ngày mai trở đi, hàng ngày chúng tôi chẳng c̣n được ngắm nó vào giờ này nữa, và hơn thế trong khi chúng tôi xa chùa làm việc trong công trường, rất có thể Kim Các Tự bị máy bay oanh tạc mà cháy tiêu đi. Tôi ấp úng lắp bắp giải thích điều tôi muốn nói; Tsurukawa vừa lắng nghe vừa tỏ vẻ ngạc nhiên và nóng nẩy. Khi tôi chấm đứt câu nói ngắn ngủi này, mồ hôi đổ ra như suối trên mặt như thể là tôi dă nói năng điều ǵ rất đáng hổ thẹn. Tsurukawa là người duy nhất tôi bộc lộ cho hay sự quyến luyến lạ kỳ của tôi đối với Kim Các Tự. thế nhưng, trên vẻ mặt nó không có ǵ khác ngoài cái dáng bực bội mà tôi vẫn thường thấy trên mặt những người đang cố gắng t́m hiểu những lời nói lắp bắp ấp a ấp úng của tôi. Đó là những bộ mặt tôi gặp hàng ngày. Trong trường hợp tôi phơi bày những điều bí mật, trong trường hợp tôi nói cho người khác hay những cảm xúc nôn nao tràn ngập tâm hồn v́ một h́nh ảnh đẹp nào đó, trong trường hợp tôi cố gắng bộc lộ những điều chất chứa trong tim gan - cái mà tôi đụng đầu ấy là một bộ mặt giống như bộ mặt này. Đó không phải là bộ mặt mà thiên hạ thường chường ra cho nh́n nhau nh́n. Bộ mặt này đang bắt chước y hệt vẻ hoạt kê của chính tôi; nói cho ngay, đó là tấm gương khủng khiếp phản ánh chính tôi. Vào những lúc như thế này, cho dẫu bộ mặt người có đẹp đẽ đến thế nào đi nữa, nó cũng sẽ biến dạng thành một cái ǵ xấu xí giống như bộ mặt của chính tôi. Ngay khi tôi nhận thấy điều này, điều quan trọng tôi muốn diễn tả đă tan vỡ thành một cái ǵ vô giá trị như mảnh ngói lợp nhà vậy. 

Mặt trời mùa hạ rọi thẳng những tia sáng chói chang giữa Tsurukawa và tôi. Trong khi nó chờ đợi cho tôi dứt lời, khuôn mặt trẻ trung của nó bóng lộn những mỡ. Đôi lông mày nó lấp lánh màu vàng trong ánh nắng và hai lỗ mũi nó nở phồng lên v́ hơi nóng ngột ngạt. 

Tôi dứt lời. Và ngay khi vừa mới dứt lời, tôi liên cảm thấy tức giận điên cuồng. Suốt từ khi gặp Tsurukawa cho tới giờ, chưa một lần nào nó chọc ghẹo tôi v́ tật nói lắp. 

“Tại sao?” Tôi căn vặn nó như vậy để nó giải thích thái độ khoan dung của ḿnh. Như tôi vẫn thường kể lại, sự chê cười khinh miệt lắm khi c̣n làm tôi ưng ư hơn cả sự đồng t́nh nữa. 

Một nụ cười dịu dàng khôn tả thoáng hiện trên khuôn mặt Tsurukawa, và rồi nó nói: 

“V́ lẽ tao là thằng đếch có thêm bận tâm đến những điều ấy.” 

Tôi bàng hoàng kinh ngạc. Là người được nuôi nấng trong hoàn cảnh quê mùa thô lậu, tôi thực không quen với cái thứ dịu dàng tử tế như thế. Sự dịu dàng, tử tế của Tsurukawa đă dậy cho tôi biết rằng dù cho đời tôi không c̣n vướng mắc tật nói lắp nữa, tôi vẫn có thể là tôi. Tôi cảm thấy hoàn toàn thú vị ngay khi bị lột trần như nhộng. Đôi mắt Tsurukawa với hàng mi dài bao quanh đă gạn lọc tật nói lắp của tôi ra ngoài và chấp nhận nguyên vẹn phần c̣n lại trong con người của tôi. Cho đến lúc ấy, tôi vẫn hằng sống trong ảo tưởng kỳ lạ rằng việc không ngó ngàng ǵ đến tật nói lắp của tôi tự nó cũng tương đương như việc tru diệt chính sự hiện hữu của cái tôi vậy. 

Tôi cảm thấy trong ḿnh có sự ḥa hợp và cảm thấy hạnh phúc. Thực chẳng có ǵ lạ là từ đó đến nay chưa bao giờ tôi có thể quên được cái h́nh ảnh của Kim Các Tự dưới mắt tôi lúc đó. Hai đứa chúng tôi đi qua chỗ người phục dịch già nua đang thiu thiu ngủ; chúng tôi men theo lối ṃn vắng tanh dọc theo tường chùa rồi đi tới phía trước Kim Các Tự. 

Lúc này tôi vẫn nhớ cảnh đó rơ mồn một. Hai đứa thiếu niên chúng tôi đứng đó vai kề vai bên cạnh Kính Triều tŕ, ḿnh mặc sơ mi trắng và chân đi đôi ủng ống da. Trước mặt hai bóng người ấy, Kim Các Tự đứng sừng sững không có ǵ ngăn cách. Vào mùa hạ cuối cùng ấy, vào dịp nghỉ hè cuối cùng ấy, vào chính ngày cuối cùng ấy - tuổi trẻ của chúng tôi là đà ngây ngất ở ven bờ. Kim Các Tự cũng đứng ở ven bờ này đối diện với chúng tôi, đối thoại với chúng tôi. Tới mức độ này, sự chờ đợi cuộc không tập đă đem chúng tôi xích lại gần ngôi chùa hơn. 

Ánh mặt trời âm thầm cuối hạ đă lát những phiến vàng mỏng len mái Cứu Cánh đính, và làn ánh sáng từ trên hắt thẳng xuống đă làm bên trong Kim Các Tự đắm ch́m vào một màn tối âm u. Cho đến măi lúc ấy, sự bất tử với thời gian của ngôi chùa đă luôn luôn đè nặng tâm trí tôi và ngăn cách tôi với nó. Nhưng việc nó sắp bị đạn bom thiêu hủy tới nơi đă làm cho vận mệnh của nó lại gần vận mệnh của chính chúng tôi. Có thể rằng Kim Các Tự sẽ bị hủy diệt - trước cả chúng tôi nữa. Khi nghĩ như thế, tôi thấy dường như ngôi chùa đang sống cùng cuộc đời như đời chúng tôi vậy. 

Các núi đồi xung quanh với hàng tùng đỏ ửng đang tràn ngập tiếng ve sầu kêu ra rả, như thể vô số những tăng sĩ vô h́nh đang ngân nga đọc bài thần chú tiêu tai diệt họa bằng tiếng Phạn: “Khư khư khư tư khư, hồng hồng phọc la nhập phọc la, hựu nhập phọc là hựu nhập phọc la!” 

Tôi nghĩ ṭa nhà kiến trúc xinh đẹp sắp sửa trở thành một đống tro tàn. Kết cục, h́nh ảnh Kim Các Tự trong tâm tưởng tôi dần dần trở nên trùng hợp với Kim Các Tự trong chùa thực tế, y như là một bức họa đă được in lại trên một bức lụa vẽ trùng hợp với bức họa nguyên thủy; cái mái chùa trong tâm tưởng của tôi in trùng lên cái mái chùa thực sự. Thấu Thanh in trùng lên thấu thanh nhô ra bờ ao, những hàng song sắt in trùng lên hàng song sắt của Triều Âm động, những hoa đầu song in trùng lên cá hoa đầu song của Cứu Cánh đính. Kim Các Tự không c̣n là một kiến trúc bất động nữa. Có thể nói, nó đă trở thành một tượng trưng cho tính cách phù du của thế giới hữu h́nh. Do suy tư này, bay giờ ngôi chùa thực sự trở nên đẹp đẽ hơn ngôi chùa nằm trong tâm tưởng tôi. Ngày mai, bởi v́ tất cả chúng tôi đều biết, lửa sẽ từ trên trời cao trút xuống như mưa; lúc đó, những hàng cột mảnh mai, những đường nét ưu nhă của mái chùa kia sẽ biến thành tro tàn, và chúng tôi sẽ chẳng bao giờ c̣n được nh́n thấy chúng lần thứ hai. Nhưng lúc này đây ngôi chùa với đường nét tiêm tế xinh đẹp đang lộng lẫy đứng trước mặt chúng tôi, đang đắm ḿnh trong làn ánh sáng chói chang của lửa hạ. 

Phía viền núi nhiều đám mây hùng vĩ ùn ùn nhô lên cao giống như những đám mây tôi cảm thấy trong khóe mắt ḿnh lúc người ta tụng kinh trong đám tang Ba. Những đám mây ấy chứa đầy một thứ ánh sáng tù động đang ngoái nh́n nét kiến trúc của ngôi chùa. Dưới làn ánh sáng cuối hạ mănh liệt này, Kim Các Tự dường như mất hết đường nét khác nhau đă tạo nên nó; nó khư khư ôm lấy cuộn tṛn trong ḷng ḿnh bóng tối giá lạnh âm u; và với nét mờ thần bí, nó hoàn toàn lăng quên thế giới chói chang đang bao quanh nó. Chỉ có con phượng hoàng trên mái chùa là bám chặt móng vào chỗ đậu và gắng sức giữ khỏi bị loạng choạng dưới ánh mặt trời chói ḷa. 

Khó chịu v́ tôi mê mải ngắm nh́n ngôi chùa không chán mắt, Tsurukawa nhặt một ḥn sỏi, rồi với dáng điệu mềm mại của người bắt banh, nó ném cục sỏi nhỏ vào ngay giữa cái bóng phản ánh mà Kim Các Tự hắt lên trên mặt Kính Triều tŕ. Những vành sóng gợn lan rộng qua đám cây hoa súng và nét kiến trúc mảnh mai, ngoạn mục chợt vỡ tan thành trăm ngh́n mảnh nhỏ. 

Từ lúc đó cho đến lúc chiến tranh chấm dứt khoảng một năm sau là thời gian tôi thân thiết nhất với Kim Các Tự, luôn luôn lo lắng tới sự an toàn và hoàn toàn mê mải đắm say vẻ đẹp của nó. Đó là một thời kỳ đường như tôi đă kéo được Kim Các Tự xuống một chiều cao ngang với ḿnh, và tin tưởng vào điều này, tôi có thể yêu nó mà không cảm thấy mảy may sợ sệt. Cho đến bây giờ ngôi chùa vẫn chưa hề gây một ảnh hưởng xấu xa hoặc đem chất độc nào của nó tới tôi cả. 

Tôi thấy phấn khởi khi biết Kim Các Tự và tôi đang cùng trải qua một nỗi nguy nan trên cuộc đời này và tôi thấy ở đó một môi giới kết tôi với cái đẹp. Tôi cảm thấy là giữa tôi và cái điều từ trước đến giờ vẫn hằng xa cách, vẫn hằng cự tuyệt chính tôi, đến lúc này đă có một cây cầu liên lạc. 

Tôi hầu như say sưa ngây ngất nghĩ rằng cái ngọn lửa hủy diệt tôi chắc chắn cũng sẽ hủy diệt cả Kim Các Tự nữa. Cùng chịu một tai họa, cung chịu một vận mệnh dưới ngọn lửa chẳng lành, ngôi chùa và tôi đă tới để sống trong những thế giới thuộc cùng một thứ bực. Cũng giống như cái nhục thể yếu ớt, xấu xí của tôi, nhục thể của ngôi chùa tuy nó cứng dắn, vồn gồm toàn chất tro than dễ cháy. Nhiều lúc tôi nghĩ tôi có thể chạy trốn khỏi nơi này mang theo một ḿnh ngôi chùa giấu kín trong thịt xương, trong thân xác tôi - y như một tên ăn trộm nuốt một viên ngọc quí khi đang trên đường đào tẩu. 

Suốt trong năm đó tôi không học một bài kinh hoặc đọc một cuốn sách nào; trái lại, hết ngày này qua ngày khác, từ sáng đến tối, tôi chỉ bận rộn những bài học tu thân, giáo lư, huấn luyện quân sự và làm quen với các công tác cưỡng chế ngoài công trường. Bản tính tôi vốn đă thích mơ màng đó lại càng thêm mạnh mẽ hơn; và nhờ có chiến tranh cuộc sống con người lại càng thêm xa cách với tôi. 

Đối với bọn thiếu niên chúng tôi chiến tranh là một thứ kinh nghiệm giống như một thứ mơ mộng hoảng hốt thiếu hẳn thực chất. Chiến tranh là một cái ǵ na ná khu biệt lập trong bệnh viện ngăn cách con người với những ư vị của cuộc đời. 

Khi chiếc máy bay B.29 đầu tiên oanh kích Tokyo vào tháng 11 năm Chiêu Ḥa thứ chín (1944) th́ ai cũng nghĩ Kyoto sẽ bị không tập chỉ trong nay mai. Tôi âm thầm mê mộng là toàn thể Kyoto sẽ đắm ch́m thành biển lửa. Thành phố này lo lắng quá nhiều đến việc bảo vệ những di vật cổ truyền; bao nhiêu những thần xă, những Phật các khác màu khác kiểu đang cố gắng quên những ngọn lửa chói rực đă phát sinh từ bên trong. Khi tưởng tượng trận đại loạn Ojin đă biến thành phố này thành hoang phế ra làm sao, tôi cảm thấy Kyoto mất đẹp một đôi phần v́ đă quá lâu không biết đến t́nh trạng bất an của ngọn lửa chinh chiến. 

Ngày mai có thể Kim Các Tự sẽ bị thiêu hủy. Cái h́nh thái ấy đă lấp đầy không gian từ trước đến giờ sẽ biến mất luôn. Ngay cả con chim phượng hoàng bất tử trên mái chùa cũng sẽ như con chim phượng hoàng trong truyện cổ, sẽ vỗ cánh bay vút đi xa. Và chính Kim Các Tự từ trước đến giờ bực bội, khó chịu v́ h́nh thái của nó, sẽ tách rời được cái neo ràng buộc thân ḿnh và sẽ nhẹ nhàng phiêu diêu nơi này nơi nọ, gieo rắc ánh sáng nhạt mờ trên mặt hồ và trên các làn sóng biển đen ng̣m. 

Mặc dù tôi đă đợi chờ, đợi chờ khá lâu, song Kyoto vẫn chưa bao giờ bị không tập cả. Ngay cả khi tôi đọc trên báo ngày mùng chín tháng ba năm sau đăng tin cả một dăy phố thương mại trong thành phố Tokyo đắm ch́m trong lửa và mức tàn phá thật khủng khiếp, th́ Kyoto vẫn sống yên ổn dưới bầu trời trong sáng đầu Xuân xa hẳn mọi tai họa. Đến lúc gần như tuyệt vọng trong đợi chờ tôi đành cố gắng tự thuyết phục rằng bầu trời đầu Xuân ấy đă chứa đựng lửa đỏ và tàn phá bên trong, y như một cửa sổ có kính óng ánh che dấu những ǵ ẩn đằng sau. Như tôi đang nói ở trên mối quan tâm của tôi đối với nhân gian thật là mỏng manh. Sự qua đời cả Ba và cảnh bần cùng của Má chẳng ảnh hưởng ǵ đến sinh hoạt nội tâm của tôi hết. Tôi mơ ước một cái ǵ giống như một máy ép khổng lồ từ trên trời ụp xuống nhân gian dứt hết mọi bi kịch theo quy mô của nhân gian và nghiền nát hết mọi vật chất của nhân gian trong cùng một điều kiện như nhau. Không cần phân biệt đẹp, xấu ra sao. Đôi khi tôi thấy vẻ trong sáng khác thường của bầu trời đầu Xuân giống như ánh sáng của một lưỡi ŕu khổng lồ lạnh ngắt nào đó đang lấp lánh trên mặt đất. Thế rồi tôi chỉ việc chờ đợi cho nó rơi xuống nhanh đến độ không c̣n cho ai kịp suy nghĩ ǵ hết. 

Cho đến bây giờ vẫn c̣n một cái ǵ làm tôi cảm thấy lạ lùng khó hiểu. Xét tự căn nguyên tôi không hề bị những tư tưởng hắc ám chi phối. Điều quan tâm của tôi, vấn đề thực sự của tôi chỉ là cái đẹp mà thôi. Tuy nhiên, cuộc chiến tranh này đă chẳng có tác dụng ǵ đến tôi bằng cách đem theo vào đầu óc tôi những tư tưởng hắc ám. Khi tập trung tư tưởng vào cái đẹp, người ta có thể chạm trán với những tư tưởng hắc ám ở trong thế giới này mà không hay biết ǵ hết. Tôi dám nói rằng nhân gian vẫn có phong thái như vậy.

 

 ***

 

Tôi c̣n nhớ một truyện xảy ra ở Kyoto lúc chiến tranh gần chấm dứt. Một truyện tưởng như không làm sao tin được, nhưng không phải chỉ riêng một ḿnh tôi mà bên tôi c̣n có cả Tsurukawa mục kích nữa. 

Một hôm điện bị cắt, Tsurukawa và tôi cùng đến thăm chùa Nam Thiền. Đây là lần đầu tiên chúng tôi đến thăm chùa Nam Thiền. Chúng tôi vượt qua một con đường rộng lớn rồi bước lên một cái cầu gỗ bắc ngang nơi hạ thủy các con tàu. 

Đó là ngày tháng năm trong sáng. Bến hạ thủy không c̣n được sử dụng nữa, các đường rầy chạy xuống con dốc đă han rĩ và hầu như hoàn toàn đă bị cỏ dại phủ đầy. Giữa đám cỏ dại, những bông hoa h́nh chữ thập nhỏ bé, mỏng manh đang run rẩy trong gió. Ở mặt dốc khởi đầu bến hạ thủy, nước sông dơ bẩn và tù đọng. Chúng tôi đứng bên bờ hoàn toàn ch́m đắm dưới bóng lá cây anh đào. 

Đứng trên chiếc cầu nhỏ bé, chúng tôi lơ đễnh ngắm nh́n mặt nước. Giữa những hồi tưởng về chiến tranh, những giây lát lơ là ngắn ngủi như thế này đă để lại nhiều ấn tượng thật là tươi sáng. Những giây phút phóng tâm ngắn ngủi ấy rải rác trong thời gian, giống như những mảng trời xanh ngó qua đám mây, kể cũng kỳ lạ khi một giây lát này lại c̣n măi măi tươi mát trong tâm trí tôi, y như thể kư ức về một niềm khoái lạc thống thiết. 

“Đẹp, phải không?” Tôi nói và mỉm cười lơ đăng. 

“Ừ”, Tsurukawa đáp, rồi nó cũng nh́n tôi và mỉm cười. Hai đứa chúng tôi cảm thấy rơ rệt rằng hai ba giờ đồng hồ ngắn ngủi này hoàn toàn là của chúng tôi. 

Bên cạnh con đường đất rộng trải sỏi có một con lạch nước trong văn vắt, trong đó những loài thủy thảo xinh đẹp đang ngả nghiêng theo ḍng nước chẩy. Chẳng mấy chốc cửa Sơn Môn lừng danh hiện ra ngay trước mắt chúng tôi. Chẳng có một bóng người nào trong chùa. Giữa cḥm lá xanh tươi những viên ngói của mái tháp chùa rực rỡ lạ kỳ, như thể có quyển sách nạm bạc khổng lồ nào đă được đặt lên đó, vào một thời gian nào có nghĩa ǵ không? Ở một nơi nào đó, vào một thời gian nào đó, đối với tôi chiến tranh dường như đă trở thành một sự kiện tinh htần kỳ quái không hề tồn tại trong ư thức con người. 

Có lẽ chính ở cửa Sơn Môn này mà Ishikawa Goémon, tay trộm khét tiếng thời xưa, đă đặt bàn chân lên hàng lan can mà thưởng thức cảnh hoa nở rộ ở phía dưới cho đến chán mắt. Hai đứa chúng tôi cảm thấy ḿnh trở laọi tâm hồn con trẻ và, tuy đă đến cuối mùa hoa anh đào, lá xanh mọc ra, chúng tôi nghĩ phải làm sao thưởng ngoạn cảnh sắc này cũng trong dáng điệu của Goémon ngày trước. Chúng tôi trả ít tiền vào cửa rồi leo lên các bậc thềm thực dốc, gỗ đă ngả màu đen kịt. Trong căn điện ở thượng từng, nơi tập dượt các vũ điệu tôn giáo ngày trước, Tsurukawa va đầu vào cái trần nhà thấp. Tôi bật cười, nhưng ngay sau đó chính tôi cũng chợt va đầu ḿnh vào cái trần thấp lè tè ấy. Hai đứa chúng tôi rẽ lối khác, leo lên bậc thềm cuối cùng rồi tới lầu thượng. 

Sau khi trèo lên những bậc thềm, chật chội như trong một cái huyệt, rồi cảm thấy thân thể ḿnh bất thần được phơi ra cảnh trí rộng lớn bên ngoài thực là một sự căng thẳng khoái trá. Chúng tôi đứng đó một lúc ngắm nh́n những lá cây anh đào, những ngọn thông trong khu rừng cây um tùm thuộc thần cung Heian trải dài ra tận phía xa ngoài các dẫy nhà, những núi - Arashiyama, Kitanokata, Kifume, Minoura, Kompira - tất cả vươn lên mờ ảo khói sương măi tới đầu những đường phố Kyoto. Sau khi đă ngắm nh́n no mắt, chúng tôi cởi giầy rồi bước vào trong điện cung kính như hai chú tiểu gương mẫu. Trong căn ngự đường u ám này có hai mươi bốn chiếc chiếu cói trải trên sàn. Ở chính giữa là phong tượng đức Thích Ca, và những cặp mắt vàng óng của mười sáu vị La Hán rực sáng trong bóng tối. Người ta gọi nơi này là Ngũ phượng lâu. 

Cũng như Kim Các Tự, Nam Thiền tự cũng thuộc về tông Rinzai, nhưng trong Kim Các Tự theo phái Tướng quốc tự th́ nơi này là đại bản sơn của phái Nam Thiền tự. Chúng tôi đứng đó giống như hai anh học sinh trung học tầm thường, tay cầm quyển sách chỉ dẫn, mắt nh́n quanh những bức họa sắc màu rực rỡ trên trần nhà mà người ta bảo là tác phẩm của Tanyu Moniroby xuất thân từ trường phái Kano và Hogan Tokuetsu xuất thân từ trường phái Tosa. Ở một phía trần nhà có h́nh vẽ các v́ tiên đang giang cánh bay ngang bầu trời, đang thổi sáo và gẩy đàn t́ bà. Ở chỗ khác, có h́nh một con già lăng tần già đang vỗ cánh bay, miệng ngậm cành hoa mẫu đơn trắng. Đây là con chim có giọng hót tuyệt dịu sống trên núi Thiên Trúc Tuyết Sơn, nửa trên ḿnh nó là thân h́nh một người con gái mụ mẫm và nửa dưới ḿnh nó có h́nh thù một con chim. Ở chính giữa trần nhà có vẻ một h́nh con chim hoang đường ấy mà người ta bảo là bạn thân của con chim ở trên nó Kim Các Tự; nhưng con này giống như cái cầu vồng rực rỡ, hoàn toàn khác hẳn với con chim vàng óng mà tôi từng quá quen thuộc kia. 

Chúng tôi quỳ xuống trước pho tượng đức Thích Ca và chắp tay niệm kinh. Sau đó chúng tôi bước ra khỏi ngự đường. Đi từ lầu thượng lết xuống dưới thật là khó nhọc. Chúng tôi dựa lưng vào lan can, quay mặt về hướng Nam gần bực thềm cuối cùng chỗ chúng tôi đă trèo qua. Tôi thấy dường như ở một chỗ nào đó tôi có thể nh́n thấy một cái xoáy nước sặc sỡ, nhỏ bé, xinh đẹp trước mắt ḿnh. Hẳn đây phải là một dư ảnh của những màu sắc ngưng tụ phong phú thật giống như con chim già lăng tần già kia đang núp ḿnh đâu đó giữa đám lá xanh rờn trải rộng ra khắp nơi ở phía dưới và như thế nó đang để cho tôi thoáng nh́n thấy một góc đôi cánh mỹ miều. 

Tuy nhiên, không phải như thế. Dưới mắt chúng tôi cách một con đường là am Thiên Thụ. Một con đường nhỏ, trải đá h́nh vuông, góc ḥn nọ ăn khít với góc ḥn kia, chạy băng qua khu vườn, nơi có những cây thấp, lặng lẽ đă được trồng theo một lối đơn giản; con đường này dẫn tới một tọa phu rộng răi có cửa kéo mở toang. Người ta có thể nh́n thấy từng chi tiết trong tọa phu và các giá gỗ xiêu vẹo. Một tấm thảm màu đỏ tươi trải trên nền nhà: hiển nhiên là pḥng này thường được dùng làm nơi hiến trà và cho thuê làm lễ trà đạo. Một thiếu phụ đang ngồi đó. Chính h́nh ảnh người đàn bà trẻ tuổi này đă phản ánh trong mắt tôi. Trong thời chiến tranh không bao giờ người ta thấy một người đàn bà mặc áo kimono dài tay lộng lẫy như người ấy. Bất kỳ ai ra khỏi nhà mà mặc áo như người này chắc chắn thế nào cũng bị thiên hạ dè bỉu, chê trách là không biết sống thanh đạm v́ ḷng yêu nước, và thế nào cũng phải quay về nhà mà thay áo. Tấm áo thật là sặc sỡ. Tôi không nh́n thấy rơ hàng vải, song thấy nhiều bông hoa đă được vẽ và thêu tay trên nền vải màu nước xanh, đồng thời giải dây lưng màu son vàng cuốn quanh người đang óng ánh những sợi chỉ vàng; thật dường như thể không khí xung quanh đang rực sáng v́ vẻ rực rỡ của tấm áo nàng mặc. Người thiếu phụ trẻ đẹp đang ngồi trên nền nhà dáng vẻ hết sức chững chạc, có thể nói là khoe khoang nữa, nét mặt nàng nh́n nghiêng trắng bệch lồ lộ như thể được khắc nổi, v́ mới thoạt nh́n tôi ngăn ḿnh tự hỏi không biết có phải nàng thực sự là một con người hăy c̣n sống hay không. 

“Trời đất ơi!” Tôi lắp bắp đến cực độ nói không ra lời. “Có thực là nàng c̣n sống hay không vậy?” 

“Đó cũng là điều tao đang nghỉ. Trông nàng thật giống hệt một con búp bê, phải không mày? Tsurukawa vừa đáp vừa dựa hẳn người vào lan can và dán đôi mắt vào người thiếu phụ. 

Đúng lúc ấy một vị sĩ quan lục quân trẻ tuổi trong bộ quân phục xuất hiện ở cuối căn pḥng. Người ấy ngồi xuống thực thẳng người cách thiếu phụ độ hai thước và đối diện với nàng. Hai người ngồi trước mặt nhau, im lặng một lúc lâu. 

Nàng đứng dậy rồi lặng lẽ biến ḿnh trong bóng tối hành lang. Một lát sau, nàng trở lại, hai tay bưng một chén trà, đôi tay áo buông dài phất phơ trong gió nhẹ. Nàng qú ngay trước mặt chàng trai và dâng một tách trà. Sau khi mời chàng theo đúng nghi thức, nàng quay lại chỗ ngồi lúc nẫy. Chàng trai nói một điều ǵ đó. Chàng vẫn chưa uống tách trà. Thời gian kế tiếp có vẻ kéo dài và căng thẳng một cách kỳ lạ. Nàng cúi gục đầu và thực thấp. 

Chính vào giây phút ấy xẩy ra điều không thể làm sao tin được. Vẫn ngồi tại chỗ trong tư thế thực là nghiêm chỉnh, bất chợt thiếu phụ tháo tung cổ áo. Tai tôi hầu như nghe rơ tiếng lụa sột soạt trong lúc nàng kéo vạt áo ra khỏi sợi dây lưng. Thế rồi bộ ngực trắng nơn của nàng lộ ra. Tôi nín thở. Ngàng tự đưa hai bàn tay nàng nâng một bầu vú căng phồng nơn nà vạch ra ngoài. Người sĩ quan ch́a tách trà đậm màu ra rồi qú gối lần đến trước nàng. Thiếu phụ đưa cả hai tay nắn bóp bầu vú ḿnh. 

Tôi chẳng thể nói là đă nh́n thấy tất cả, song tôi cảm thấy rơ mồn một như thể cảnh ấy đă xẩy ra đầy đủ trước mắt tôi; chất sữa âm ấm, trắng toát đă từ vú nàng bắn vọt vào chất trà xanh thẩm sủi bọt bên trong cái tách, chất sửa ấy đă ḥa tan vào chất nước trong khi để sót lại những giọt sửa trắng ở trên đầu vú; mặt nước trà phẳng lặng kia đă bị cái bầu vú trắng nơn ấy làm đục màu và sủi bọt. 

Chàng trai nâng tách nước lên miệng và uống cạn tách trà huyền bí ấy. Thiếu phụ kéo áo che kín bộ ngực căng tṛn. 

Tsurukawa và tôi hai đứa trố mắt nh́n cảnh ấy. Về sau nghĩ lại cố t́m một cách giải thích thuận tai, chúng tôi đi đến một kết luận hẳn đó phải là một nghi thức biệt ly giữa một sĩ quan sắp sửa lên đường ra trận với người thiếu phụ đă mang trong bụng đứa con của ḿnh. Tuy nhiên, sự xúc động ấy khiến chúng tôi không sao t́m được một câu giải thích nào. Cứ măi giương mắt mà nh́n trân trân, chúng tôi không kịp để ư là chàng và nàng đă rời khỏi tọa phu, chẳng để lại ǵ đằng sau ngoại trừ tấm thảm lớn màu đỏ. 

Tôi nh́n thấy nét mặt nàng trắng trẻo xoay nghiêng, nổi bật lên như khắc và tôi nh́n thấy khung ngực nàng trắng nơn trắng nà. Sau khi nàng đă ra đi, trong suốt thời gian c̣n lại trong ngày hôm đó rồi cả ngày hôm sau và ngày hôm sau nữa tôi cứ chăm chăm nghĩ măi đến một điều. Tôi nghĩ thiếu phụ ấy không phải là ai khác mà chính là Uiko đă trở lại cơi trần.

 

Hết phần 2

 Minh Quang posted September 24, 2005

 

[Home] [Up] [Kim Các Tự 1] [Kim Các Tự 2] [Kim Các Tự 3] [Kim Các Tự 4] [Kim Các Tự 5] [Kim Các Tự 6] [Kim Các Tự 7] [Kim Các Tự 8] [Kim Các Tự 9] [Kim Các Tự 10]