NHƠN MINH LUẬN
BÀI HỌC THUỘC L̉NG
(Quí
vị muốn học Nhơn minh luận được dễ hiểu, trước phải học thuộc ḷng những
danh từ sau đây)
Theo dơi bài giảng
Nhơn Minh Học, phần 1
ngày 26 tháng 2 năm 2006 do Cư sĩ
Minh-Quang Nguyễn Lê Đức tại chùa Hải Đức
Nhơn minh nhập
chánh lư luận,
nội dung có ba phần (tam chi): Tôn, Nhơn, Dụ.
Tợ "Tôn" có chín lỗi:
Năm Tôn này đều bị
lỗi "trái với tự tướng của các pháp":
1. Hiện
lượng tương vi
2. Tỷ lượng
tương vi
3. Tự giáo
tương vi
4. Thế gian
tương vị
5. Tự ngữ
tương vị
Ba Tôn
này đều bị lỗi "bất thành":
6. Năng biệt
bất cực thành
7. Sở biệt
bất cực thành
8. Câu bất
cực thành
Tôn này
lập không có hiệu quả:
9. Tương phù
cực thành
Tợ "Nhơn" có 4 lỗi, phân làm 3 phần:
I. Bất thành có 4
lỗi
1. Lưỡng câu
bất thành
2. Tuỳ nhứt
bất thành
3. Dụ dự bất
thành
4. Sở y bất
thành
II. Bất
định có 6 lỗi
1. Cộng bất
định
2. Bất cộng
bất định
3. Đồng phẩm
nhứt phần chuyển,
Dị phẩm biến chuyển
bất định
4. Dị phẩm
nhứt phần chuyển,
Đồng phẩm biến chuyển bất định.
5. Câu phẩm
nhứt phần chuyển bất định
6. Tương vị
quyết bất định
III.
Tương vi có 4 lỗi
1. Pháp tự
tướng tương vi
2. Pháp sai
biệt tương vi
3. Hữu pháp
tự tướng tương vi
4. Hữu pháp
sai biệt tương vi
Tợ Dụ có 10 lỗi, phân làm 2 phần:
I. Tợ đồng có 5 lỗi
1. Năng lập
pháp bất thành
2. Sở lập
pháp bất thành
3. Câu bất
thành
4. Vô hiệp
5. Đảo hiệp
II. Tợ dị
dụ có 5 lỗi
1. Sở lập
pháp bất khiển
2. Năng lập
pháp bất biến
3. Câu bất
khiển
4. Bất ly
5. Đảo ly.
NHƠN MINH LUẬN CƯƠNG YẾU
NHƠN MINH LUẬN TỪ
ĐÂU MÀ CÓ?
Trước thời Phật
Thích Ca giáng sanh (chưa rơ xác thật là bao nhiêu năm),ở Ấn độ có nhiều
phái ngoại đạo, tranh chấp nhau bằng lư thuyết. Ông Túc Mục Tiên nhơn là một
trong các vị Tổ của các phái, lập ra pháp luận lư này, để bác các đạo.
Phương pháp này được tín dụng và đắc lực trong thời kỳ ấy.
Đến khi Phật ra đời,
thấy Nhơn minh là một môn luận lư có qui tắc, vừa đúng lư và vừa hợp thời, được
công chúng thừa nhận, nên Phật cũng dùng lối lư luận này để bác các ngoại
đạo tà giáo đem về chánh lư.
Sau khi Phật nhập
diệt, độ khoảng 600 năm, có Ngài Mă Minh và Long thọ, hai vị Bồ Tát ra đời ở
Ấn độ, sưu tập lại, phân làm năm phần: Tôn, Nhơn, Dụ, Hiệp, Kết.
Về sau Ngài Trần Na
Bôtát, cải cách lại, thành lập Nhơn minh luận có 3 phần: Tôn, Nhơn, Dị và
viết ra bộ "Nhơn minh nah65p chánh lư luận". Từ ngài Trần Na về trước, người
ta gọi là: "Cổ Nhơn minh"; từ Ngài Trần Na về sau là: "Tân Nhơn minh".
Đến đời Đường, Ngài
Huyền Trang Pháp sư (người Trung hoa) sang Ấn dộ học Phật pháp, rất tinh
thông về môn học này. Ngài đă nhiều lần lên luận đàm, dùng lối lư luận Nhơn
minh này mà biện luận, làm cho cả Ấn độ 18 nước đều kính phục.
Sau khi trở về
nước, Ngài dịch lại và truyền bá trong nước Trung hoa.
V́ sự đ̣i hỏi của
tín đồ, nên tôi (Sa môn Thích Thiện Hoa) phỏng dịch và chú giải bằng chữ
Việt.
SAO GỌI LÀ "NHƠN
MINH NHẬP CHÁNH LƯ LUẬN?"
Nhơn minh luận là
một luận lư tối cổ ở Á đông, vừa đúng lư, vững chắc và vừa có qui tắc. Điều
cố yếu là phải rành rơ "nguyên nhân" hay "lư do v́ sao", th́ lối luận lư mới
chơn chánh và đúng đắn, nên gọi là "Nhơn minh nhập chánh lư luận".
V́ nhờ "Nhơn" mới
rơ được Tôn, nhờ "Nhơn" mới lập được Dụ. Bởi "Nhơn" rất trọng yếu như vậy,
nên gọi là "Nhơn minh", mà không gọi là "Tôn minh hay Dụ minh. Nhơn minh là
một trong ngũ minh
NỘI DUNG CỦA NHƠN
MINH
Nội dung của Nhơn
minh luận chia làm 3 phần: Tôn, Nhơn, Dụ. Theo Cổ Nhơn minh có thêm 2 phần:
Hiệp và Kết là 5 phần:
Cổ Nhơn
minh:
1. Tôn: Nhơn
loại đền phải chết.
2. Nhơn: V́
có sanh vậy.
3. Dụ: Như
loài vật
4. Hiệp:
Phàm có sanh phải có chết
5. Kết: Loài
vật có sanh, nên loài vật phải có chết; nhơn loại có sanh, nên nhơn loại
phải có chết.
Tân Nhơn
minh:
1. Tôn: Nhơn
loại đền phải chết.
2. Nhơn: V́
có sanh vậy.
3. Dụ: Phàm
có sanh phải có chết, như loài vật.
***
A. TÔN
Phàm nói ra một câu
ǵ, hày tŕnh bày một lập thuuyết ǵ, cái lập thuyết ấy gọi là Tôn.như nói:
Tôi ăn cơm.
Tôn có nhiều tên,
như:
1. Tiền trần(danh
từ trước) cũng gọi: Hữu pháp, Tự tướng, Sở biệt.
2. Hậu trần (danh
từ sau) cũng gọi: Pháp, Sai biệt, Năng biệt.
Thí dụ như nói: Tôi
ăn cơm
Tôi: Tiền trần
(danh từ trước), Hữu pháp, Tự tướng, Sở biệt.
Ăn cơm: Hậu trần
(danh từ sau), Pháp, Sai biệt, Năng biệt.
TÔN CÓ TÔN Y VÀ TÔN
THỂ
I.Tôn y gồm có 2
phần
1. Tiền
trần:Hữu pháp, Sở biệt và Tự tướng
2. Hậu trần:
Pháp, Năng biệt và Sai biệt.
II. Tôn thể. Cổ
Nhơn minh (từ Ngài Trần Na về trước) lấy Tiền trần làm Tôn y, Hậu trần
làm Tôn thể.
Tân Nhơn minh (từ
Ngài Trần Na về sau) cho Tiền trần và Hậu trần là
vật
kiện để lập Tôn, nên đều là Tôn y. Hai vật kiện ấy hợp chung lại th́ gọi là
Tôn thể.
CHÍN LỖI VỀ TỢ TÔN
Phàm lập Tôn phải
tránh chín lỗi sau đây, th́ cái Tôn ấy mới đúng đắn, mới đủ tư cách để thành
lập luận thuyết của ḿnh, hoặc bác thuyết của người khác. Chín lỗi gồm có:
1. Hiện lượng tương
vi. Lập cái tôn, trái với cảm giác hiện tiền. Như hiện tiền ai cũng
hiểu biết rằng: Mũi ngửi mùi, tai nghe tiếng v.v...Nay lại lập cái Tôn
rằng:
Tôn
1. Tai tôi
nghe mùi thơm
2. mắt tôi
thấy tiếng nói v.v ...
V́ nói như vậy là
trái với sự hiểu biết hiện tại; vừa nói ra, người ta thấy ḿnh nói sai
rồi. Tôn đă sai th́ làm sao lập được "Nhơn" và "Dụ".
2. Tỷ lượng tương
vi. Lập cái Tôn rái với sự "so sánh phân biệt". Theo sự so sánh hiểu biết của
người: Phàm là người, ai cũng phải chết, như các vị tiền nhân đă chết. Và
phàm vật ǵ có h́nh phải có hoại, cũng nhu bao nhiêu vật đă hoại trước. Nay
lại lập Tôn rằng:
Tôn
1. Tôi sống
hoài không chết.
2. Cái nhà
tôi không bao giờ hư.
Lập Tôn như vậy là
trái với sự "so sánh phân biệt" của người, nên có lỗi.
3. Tự giáo tương
vi. Lập cái Tôn, trái với giáolư của ḿnh tôn thờ. Nói rộng ra là trái với
chủ nghĩa, đảng phái, gia đ́nh, quốc gia hay một lư thuyết mà ḿnh đương tôn
trọng.
Như trong Đạo Phật
nói "Chúng sanh có quả báo luân hồi". Và nói "Có thế giới cực lạc ở phương
Tây v.v...". chúng ta là Phật tử lại lập cái Tôn rằng:
Tôn
1. Chúng
sanh không có luân hồi quả báo
2. không có
nước cực lạc.
Ngoại nhơn hỏi lại:
"Ông nói như vầy, th́ mâu thuẩn với Tôn giáo của ông. Vậy ông nói đúng lư,
hay Tôn giáo của ông đúng lư? Nếu Tôn giáo ông dạy đúng lư, th́ lời nói ông
sai, c̣n lời nói của ông đúng lư th́ Tôn giáo của ông sai. Vậy ông nh́n nhận
cái nào đúng?" Họ không cần bác mà ḿnh cũng bị thua.
4. Thế gian tương
vi. Lập cái Tôn, trái với phong tục, tập quán và sự hiểu biết của thế
gian. Thế gian có 2 hạng người: Có học thức và không học thức.
Nếu đối với người
có học thức mà chúng ta lập cái Tôn như vầy:
Tôn
1. Ông Thiên
lôi đánh anh Xoài chết
2. Bịnh ho
lao không phải do vi trùng gây nên.
Lập cái Tôn như
thế, bị lỗi trái với thế gian, với những người có hoc thức (Khoa học). V́
khoa học (người có học thức) nói "bịnh ho lao do vi trùng gây nên", và không
công nhận có ông Thiên lôi. Chúng ta nói như thế, sẽ bị họ chê là người
không có học thức.
Trái lại, nếu đối
với thế gian người vô học, mà chúng ta lập cái Tôn như vầy, cũng bị lỗi thế
gian tương vi.
Tôn
1. Không có
ông Thần ban phuớc giáng hoạ.
2. Bịnh ho
lao phát sinh do vi trùng.
Bởi thế người thế
gian vô học, họ tin có ông Thần ban phước giáng hoạ và họ không biết vi
trùng. Mặt dù chúng ta nói phải, nhưng thiếu những lời lẽ khôn khéo ngăn
đón, nên họ không công nhận. Bởi họ không công nhận, nên lời nói sau của
ḿnh không giá trị, v́ thế nên mới bị lỗi "Thế gian tương vi".
5. Tự ngữ tương vi.
Lập cái Tôn mà lời nói sau của ḿnh, tự mâu thuẩn với lời nói trước của ḿnh.
Như lập:
Tôn
1. Vật này
bao nhiêu mà rẽ vậy?
2. Ông này
mù mà cái chi cũng thấy hết.
Đă không biết giá
là bao nhêu, tại sao biết rẽ? Đă là mù th́ tại sao cái chi cũng thấy. Lời
nói của ḿnh tự mâu thuẫn với lời nói của ḿnh. Chính ḿnh cũng thấy sai,
th́ ai công nhận là phải.
6. Năng biệt bất
cực thành. Lập cái Tôn mà "danh từ sau" bên đối phương không công nhận. Như
đối với Pht học hay khoa học mà lập cái Tôn như vầy:
Tôn
1. Thế giới
này (danh từ trước) do Thần Tạo vật (danh từ sau) sanh.
2. Anh Ồi
(danh từ trước) bị Thiên lôi (danh từ sau) đánh.
Phật học và khoa
học đồng nhận Thế giới và anh Ồi; nhưng không bao giờ nhận có "Thần Tạo vật"
và "Thiên lôi". Bởi đối phương không công nhận nên bị lỗi "bất thành".
7. Sở biệt bất cưc
thành. Lập cái Tôn mà "danh từ trước" bên đối phương không công nhận. Như
đối với Phật học và khoa học, lập như vầy:
Tôn
1. Thần Tạo
vật (danh từ trước) sanh ra loài người.
2. Thái cực
(danh từ trước) sanh ra vạn vật.
Loài người và vạn
vật là hai danh từ sau, th́ cả Phật học và khoa học đều nhhận có: c̣n Thần
Tạo vật và Thái cực là hai danh từ trước, th́ Phật học cũng như khọc học đều
không công nhận, nên bị lỗi "bất thành".
8. Câu bất cực
thành. Lập cái Tôn mà "danh từ trước" và "danh từ sau", bên đối phương đều
không nh́n nhận. Như đối với khoa học mà lập như vầy:
Tôn
1. Cốc thần,
Thái cực tức là chơn như
2. Thần Tạo
vật chính là Thái cực.
Bên khoa học không
nh́n nhận danh từ trước là "Cốc thần, Thái cực hay Thần Tạo vật" và cũng không
nh́n nhận danh từ sau là "Chơn như hay Thái cực". Phàm lập luận mà bên đối
phương không hiểu, hoặc hiểu mà không nh́n nhận, th́ không thể lư luận được
nữ. Nên bị lỗi "bất thành".
Tóm lại, ba lỗi bất
thành này (Năng biệt, Sở biệt và Câu bất thành) bên đối phương không hiểu, hoặc
hiểu mà không công nhận. Bởi hai nguyên nhơn:
1. Lập không đúng.
2. Lập đúng
mà thiếu lời khôn khéo giản biệt, nên bị lỗi ấy.
9. Tương phù cực
thành. Lập cái Tôn mà trùng ư kiến với bên đối phương. Như lập:
Tôn
1. Cơm ăn no
bụng.
2. Nước uống
đă khác.
Phàm cĩa nhau là v́
hai bêb ư kiến không đồng. Nếu bên khách đă nh́n nhận như ḿnh, mà ḿnh c̣n
lập thêm cái tôn ra nữa th́ vô ích, nên bị lỗi "tương phù" (trùng điệp).
Trong 9 lỗi về Tôn,
tứ 1 đến 5 là thuộc về lỗi "tươmng vi"; từ 6 đến 8 là thuộc vể lỗi "Bất
thành". Lỗi thứ 9 v́ lập trùng điệp, nên không có hiệu quả. 9 lỗi về tợ Tôn,
giải thích đă rồi, bây giờ sẽ nói 14 lỗi về tợ Nhơn.
PHỤ BÀI HỌC ÔN
(ÔN LẠI 9
LỖI VỀ TỢ TÔN)
Quư vị nên xét kỹ,
những câu sau này, đối với 9 lỗi trong tợ Tôn, thuộc về lỗi ǵ?
1. Mẹ tôi không có
chồng.
2. Không có Trời
Đất Quỷ Thần.
3. Không Nhơn quả,
Luân hồi.
4. Không Thiên
đường và Địa ngục.
5. Trời sanh muôn
loại.
6. Trời không luân
hồi.
7. Minh sơ sanh
Thần ngă.
8. Ṿ ṿ bắt sâu
làm con của nó.
9. Tai nghe mùi
thơm.
10. Tai nghe tiếng,
mũi ngửi mùi.
11. Tôi trường sanh
bất tử.
12. Vật này bao
nhiêu mà rẻ vậy.
13. Ông mù này, cái
chi cũng thấy.
14. Ngựa đua dưới
nước, tàu chạy trên bờ.
***
B. NHƠN
Nhơn là nguyên nhơn
hay lư do. Phàm một sự vật hay câu nói ǵ, cũng đều có nguyên nhơn hay lư do
cả.
Như nói
Tôn: Tôi
muốn ăn cơm.
Nhơn: V́ tôi
đói bụng vậy (lư do).
Phàm cái "Nhơn" nào
đủ cả ba tánh chất sau đây, mới đúng đắn. Trái lại, nếu thiếu một, thiếu
hai, hoặc thiếu ba, th́ cái Nhơn ấy có lỗi. 14 lỗi về Nhơn sau này,
cũng bởi
thiếu một, hai hoặc ba tánh chất sau đây. Vậy quư vị nên nhớ kỹ ba tánh chất
của Nhơn.
1. Biến thị Tôn
pháp tánh.
Nghĩa là: Cái Nhơn phải bao trùm cả Tôn (tánh chất thứ nhứt).
Biển Như Tôn: Tôi
muốn ăn cơm.
Lập Nhơn:V́
tôi đói bụng vậy.
Cái Nhơn "V́
tôi đói bụng" này, nó trùm được danh từ trước của Tôn là "Tôi muốn"; và cũng
trùm được danh từ sau của Tôn là "Ăn cơm".
Nhơn trùm cả Tôn
Nghĩa là: V́
tôi đói bụng, nên "tôi muốn"; và v́ tôi đói bụng, nên "tôi ăn cơm".
2. Đồng phẩm định
hữu tánh.
Nghĩa là cái Nhơn quyết định phải hoàn toàn hoặc ít nhứt là phải có một phần
liên quan với Đồng dụ. Nó phải là đồng một tánh chất như Đồng dụ (tánh
chất thứ hai của Nhơn).
BIỂU Tôn: Tôi muốn
ăn cơm
Như Nhơn: V́
đói bụng vậy
lập Đồng dụ:
Như anh A (đói bụng và muốn ăn cơm)
"Như anh A "
là đồng dụ. Nghĩa là anh A cũng "v́ đói bụng" (Nhơn) nên "muốn ăn cơm"
(Tôn).
Nhơn trùm cả Tôn và
liên quan với Đồng dụ
Cái Nhơn "v́ đói
bụng" này, hoàn toàn liên quan với Tôn và Đồng dụ (thí dụ thuận).
3. Dị phẩm biến vô
tánh.
Cái "Nhơn" này đối với Dị dụ (thí dụ về bề trái) phải hoàn toàn không liên
quan; nghĩa là tánh chất của Nhơn, phải hoàn toàn không có trong Dị dụ mới
được (tánh chất thứ ba của Nhơn).
BIỂU
Tôn: Tôi muốn ăn
cơm
Như Nhơn: V́
đói bụng vậy
lập Đồng dụ:
Như anh A (đói bụng, muốn ăn)
Di dụ: Như
anh B (no bụng
không muốn
ăn)
Cái Nhơn "v́ đói
bụng" này, đối với Dị dụ hoàn toàn không có liên quan; nghĩa là: anh B (Dị
dụ) đă no bụng (trái với Nhơn: đói bụng), nên không muốn ăn (trái với Tôn:
muốn ăn). Nhơn này trùm cả Tôn và Đồng dụ, c̣n Dị dụ th́ không liên quan đến
Tôn và Nhơn.
14 LỖI VỀ NHƠN
Phàm lập cái
"Nhơn", phải tránh 14 lỗi sau này, th́ cái "Nhơn" ấy mới hoàn toàn đúng
đắn, chia làm 3 loại:
1. BỐN LỖI BẤT
THÀNH:
1. Lưỡng câu bất
thành.
Lập cái Nhơn mà cả chủ và khách đều không nh́n nhận.
Như lập Tôn: con
rắn Hổ mây chạy mau
Nhơn: V́ nó
có chân vậy (nguyên nhơn)
Cả chủ và khách đều
không nh́n nhận "rắn hổ có chân". Nay lại lập cái Nhơn "v́ có chân", nên cái
Nhơn này chẳng thành.
2. Tùy nhứt bất
thành.
Phàm lập cái Nhơn, phải chủ và khách hai bên đều công nhận, ít nhứt là một
bên khách phải có công nhận, th́ cái nhơn ấy mới thành. Nay cái Nhơn này bên
khách không công nhận nên bị lỗi "Tùy nhứt bất thành". Như đối với nhà Khoa
học mà lập như vầy:
Như lập Tôn: Ṿ ṿ
không sanh con (trứng)
Nhơn: V́ nó
bắt sâu làm con vậy.
Theo Khoa học nói
con Ṿ ṿ đẻ trứng trong tổ, rồi bắt sâu nhét vào làm mồi, để cho con nó khi
nở ra có mồi ăn. Nay lập cái Nhơn "bắt sâu làm con" th́ bên khách (Khoa
học) không công nhận, nên bị lỗi.
3. Dự dự bất thành.
Cái Nhơn dụ dự chẳng nhứt định, nên không thành. Như ở xa thấy mù mù, không
rơ đó là sương mù hay khói mù, lại lập như vầy:
Như lập Tôn: Chỗ
kia có lửa
Nhơn: V́ có
mù (mây mù)
Bởi cái Nhơn này có
thể lập được cả hai Tôn, vừa "có lữa" và vừa "không có lữa", dụ dự không
nhứt định, nên bị lỗi "bất thành".
4. Sở y bất thành.
Chỗ y cứ của ḿnh, bên khách không công nhận. Như tín đồ Nhứt thần giáo đối
với khoa học hoặc Phật giáo mà lập như vầy:
Như lập Tôn: Thần
sanh ra mọi vật
Nhơn: V́
trong kinh của Đạo tôi nói vậy.
Phải là tín đồ của
Tôn giáo họ, mới nh́n nhận kinh của Đạo họ là đúng. C̣n đối
với khoa học
hay Phật giáo, không nh́n nhận kinh sách của họ, mà y cứ nơi kinh sách
đó để lập
luận với người ngoài Đạo ḿnh, nên bị lỗi "sở y ất thành".
Một tỷ dụ thứ hai:
Theo trong Nhơn minh có lập cái lượng như vầy:
Như lập Tôn: Hư
không thật có
Nhơn: V́
muôn vật đều y hư không vậy.
Phái "vô không luận",
họ chẳng công nhận "thật có hư không". Nếu với phái này, mà lập cái Nhơn như
vậy th́ bị lỗi "sởy bất thành".
Bốn lỗi "bất thành"
đă nói rồi, bây giờ sẽ nói đến sáu lỗi "bất định"
II. SÁU LỖI BẤT
ĐỊNH:
1. Cọng bất định.
Cái Nhơn này liên quan cả Đồng dụ và Di dụ, nên bị lỗi "không nhứt định"
BIỂU
Tôn: Anh A đau
Nhơn: V́ ăn
xoài sống
Như Đồng dụ:
Như anh B
Lập: (ăn
xoài sống và đau)
Dị dụ: Như
anh D
(ăn xoài
sống, không đau)
Nếu nói anh A "v́
ăn xoài sống" mà đau như anh B, th́ tại sao anh D cũng "ăn xoài sống"
mà lại không
đau? Bởi thế nên người ta có thể lập cái Tôn ngược lại rằng:
Tôn: Anh D
không đau
Nhơn: v́ ăn xoài
sống
Như lập Đồng dụ:
Như anh D (ăn xoài sống và không đau)
Dị dụ: Như anh A
(ăn xoài sống, đau)
Người ta có thể nói
rằng: Vậy th́ "v́ ăn xoài sống" mà bị đau như anh A, hay "v́ ăn xoài
sống" mà không đau như anh D?
Bởi lập cái Nhơn
bất định như vậy nên có lỗi.
2. Bất cọng bất
định.
Cái nhơn này không có liên quan với Đồng dụ.
BIỂU
Tôn: Tiếng là
thường c̣n
Nhơn: v́ tai
nghe vậy
Như Đồng dụ:
Như hư không
Lập (tai
không nghe)
Dị dụ: Như
cỏ cây (tai không nghe).
Cái Nhơn "v́ tai
nghe" này, đối với "Đồng dụ" và Dị dụ đều không có liên quan chút nào cả, nên
cũng bị lỗi "bất định". Bởi cái nhơn này người ta có thể lập ngược lại như
vầy:
Tôn: Tiếng là vô
thường
Như Nhơn: V́
tai nghe vậy
lập Đồng dụ:
Như cỏ cây (vô thường)
Dị dụ: Như
hư không (thường c̣n)
Vậy, "v́ tai nghe"
mà tiếng nói thường c̣n như hư không? Hay "v́ tai nghe" mà tiếng nói vô
thường như cỏ cây? Bởi thế nên cái Nhơn này bị lỗi "bất định".
3. Đồng phẩm nhứt
phần chuyển, Dị phẩm biến chuyển bất định:
BIỂU
Tôn : Chỗ kia có
khói
Nhơn: V́ có lửa vậy
Như Như lửa
rượu alcool
Đồng dụ: (có
lửa, không khói)
Lập Như lửa
ở nhà bếp
(có lửa, có
khói)
Dị dụ: Như
lửa ở nhà bếp (có lửa, có khói).
Nếu cái Nhơn "v́ có
lửa", dụ như lửa ở nhà bếp, th́ Tôn này có "khói"; c̣n "v́ có lửa", dụ như
lửa rượu, th́ cái Tôn này "không khói". V́ cái Nhơn này, đối với Tôn "có
khói" hay "không khói" đều không nhứt định, nên cái Nhơn này có lỗi bất
định. Bởi người ta có thể lập ngược lại như vầy:
Tôn : Chỗ
kia không khói
Như Nhơn : V́ có
lửa vậy
lập Đồng dụ:
Như lửa Alcool (có lửa, không khói)
Dị dụ : Như
lửa ở nhà bếp (có lửa, có khói)
4. Dị phẩm nhứt
phần chuyển, Đồng phẩm biến chuyển bất định:
Cái Nhơn này đối
với Dị dụ, có dính líu một phần, c̣n đối với Đồng dụ th́ phải hoàn toàn dính
líu, nên cái Nhơn này cũng bị lỗi "bất định".
BIỂU
Tôn : Con khỉ leo
cây giỏi
Nhơn: V́ có
hai tay.
Như Đồng dụ:
Như con
Dị dụ: Như con ḅ (không tay, không biết leo)
Như con rắn
(không tay, leo cây giỏi).
Phàm Đồng dụ th́
phải hoàn toàn liên quan cả Tôn và Nhơn; c̣n Dị dụ th́ hoàn toàn không dính
líu ǵ đến Tôn và Nhơn, như thế mới đúng.
Nay cái Nhơn này,
đối với Dị dụ bị dính líu hết mốt phần. Bởi thế cái tánh chất thứ ba
của Nhơn là "Dị phẩm biến vô tánh", nên bị lỗi; v́ khách có thể hỏi lại
rằng: "V́ không tay, nên leo cây giỏi như con rắn"; hay v́ không tay, nê
"chẳng biết lao cây như con ḅ?" Bởi thế nên cái Nhơn này bị lỗi "bất
định".
5. Câu phẩm nhứt
phần chuyển bất định:
Cái Nhơn này, đối
với Đồng dụ và Dị dụ đều chỉ có dính líu một phần, nên cũng bị lỗi "bất
định".
BIỂU
Tôn: Tiếng vô thường
Nhơn: V́ mắt
không thấy
Như tánh
giận, buồn v.v...
(mắt không
thấy và vô thường)
Như Đồng dụ
Như ruộng, nhà v.v...(mắt thấy lập Và cũng vô thường)
Như Hư
không (thường, mắt trông thấy)
Dị dụ: Như
Giác tánh (thường, mắt không thấy)
Cái thí dụ thứ
hai:
Tôn: Người ta ai
cũng phải chết
Nhơn: V́ vật
hữu t́nh vậy
Đồng: Như
cầm thú (hữu h́nh dụ có chết)
Dụ Như nước
biển (hữu h́nh, không chết)
Như lập
Dị dụ: Như hư không
(vô h́nh không chết)
Như tượng gỗ
(hữu h́nh không chết)
Nếu cái Nhơn "v́
hữu h́nh" này, mà dụ như cần thú, th́ cái Tôn nàu có chết", c̣n cái Nhơn "v́
hữu h́nh" mà thí dụ như nước, th́ cái Tôn này "không chết".
Phàm Dị dụ là dụ bề
trái của Tôn và Nhơn, nên phải dùng những vật "không chết". (trái với Tôn)
và "vô h́nh" (trái với Nhơn) để làm thí dụ._ Nay cái Dị dụ này chỉ trái với
Nhơn được phân nữa. V́ ngoại nhơn có thể hỏi lại rằng: vậy "hư không, không
chết" v́ vô h́nh vậy? Hay "tượng gỗ không chết "v́ hữu h́nh vậy? Bởi hữu
h́nh (tượng gỗ) vô h́nh (hư không) đều không chết, nên cái Nhơn này bị lỗi
"bất định".
6. Tương vi quyết
định bất định:
Chủ và khách lập
lượng trái nhau; song cả hai đều không có lỗi, và đều quyết định thành lập
được. Nhưng không bên nào phá dược bên nào.
Tôn: Sóng thường
c̣n
Nhơn: V́
sóng tức là nước
Khách lập
Đồng dụ: Như điện.
Tôn: Sóng là
vô thường
Chủ phá
Nhơn: V́ chuyển động dược
Đồng dụ: Như
gió.
Hai cái lượng này
rất mâu thuẩn nhau, song đều quyết định thành lập được. Bên khách vẫn công
nhận "sóng có chuyển động", bên chủ cũng nhận "sóng tức là nước". Nhưng
không bên nào phá được bên nào, nên Nhơn này bị lỗi "bất định". Đây cũng là
v́ thiếu lời lẽ khôn khéo, để làm cho "người ta phục ḿnh. Thưở xưa có người
nói: Ai lập trước th́ hơn".
Phải lập Tôn: Sóng
không thường c̣n
Nhơn: V́ nó
là nước bị gió động
Như vầy Đồng
dụ: Cũng như gió.
6 lỗi "Bất định" đă
giải thích rồi, bây giờ sẽ nói đến 4 lỗi tương vi.
III. BỐN LỖI TƯƠNG
VI
1. Pháp tự tướng
tương vi.
Cái Nhơn trái (mâu thuẩn) với tự tướng (lời nói trắng) của danh từ sau
Tôn: Gió thường
c̣n
Như lập
Nhơn: V́ có động vậy
Đồng dụ: Như
hư không
Dị dụ: Như
sóng.
Đă có động th́ làm
sao lại thường c̣n; nên cái Nhơn "có động" này, rất trái với tiếng "thường
c̣n" là lời nói trắng về danh từ sau của Tôn.
2. Pháp sai biệt
tương vi Nhơn.
Cái Nhơn trái (mâu thuẩn) với ư hứa (ẩn ư) của danh từ sau
Tôn: Loài người
quyết định có tạo ra
Như lập (ư
hứa là một vị thần).
Nhơn: V́ có
trí khôn và mắt, tai v.v...
Đồng dụ: Như
con do cha mẹ sanh ra
Trong cái Tôn này,
về chữ "quyết định có người tạo ra "là do người lập Tôn, ẩn ư của họ muốn
nói: Người tạo ấy là một vị Thần. Và ẩn ư của họ cho vị Thần ấy có ba đức
tánh sau này: 1. Toàn trí toàn năng, 2. Thường c̣n, 3. Độc tôn. Nhưng cái
Nhơn này nó lại trái ngược (mâu thuẩn) với ẩn ư của họ:
1. Nếu vị thần ấy
tạo ra loài người có trí khôn và mắt tai v.v...như cha mẹ sanh con; vậy cha
mẹ "không toàn trí toàn năng", v́ sanh ra có những đứa con ngỗ nghịch với
cha mẹ, th́ vị thần ấy cũng "không toàn trí toàn năng" v́ tạo ra loài
người mà có những kẻ oán trách lại vị Thần ấy, và giữa loài người, không
biết bao nhiêu những điều bất b́nh đẳng.
2. Cha mẹ sanh ra
con, đến khi già phải chết "không phải thường c̣n"; vậy vị Thần ấy đă sanh
ra loài người, th́ vị thần ấy cũng phải chết, "không thường c̣n".
3. Cha mẹ sanh ra
con, tất nhiên phải có ông, bà sanh lại cha mẹ, nên cha mẹ không phải "độc
tôn". Vậy th́ vị Thần ấy đă tạo ra loài người, th́ vị thần ấy cũng phải có
một vị thần lớn hơn sanh ra, nên vị thần ấy cũng không "độc tôn".
Bởi thế nên cái
Nhơn này bị lỗi mâu thuẩn với ư hứa (ẩn ư) của danh từ sau là "người tạo ra".
3. Hữu pháp tự
tưởng tương vi Nhơn.
Cái Nhơn mâu thuẩn với lời nói trắng (tự tướng) về danh từ trước của Tôn
Tôn: Phải có một
ông Vô h́nh, tạo ra Vũ trụ
Như lập Nhơn:
Vĩ Vũ trụ có trật tự ấy
Đồng dụ: Như
ông Kiến trúc sư làm nhà.
Cái Nhơn "V́ vũ trụ
có trật tự" này, rất trái ngược với danh từ trước của Tôn là
"Ông Vô h́nh".
Đă Vô h́nh th́ làm sao tạo ra Vũ trụ là vật hữu h́nh và có trật tự được?
Phải vật hữu h́nh mới tạo ra vật hữu h́nh. Như ông kiến trúc sư, v́ hữu h́nh
mới tạo ra cái nhà hữu h́nh được.
4. Hữu pháp sai
biệt tương vi nhơn.
Cái Nhơn trái ngược với ư hứa (ẩn ư) về danh từ trước của Tôn.
Tôn: Phải có một
đấng sanh ra vũ trụ
Như lập
Nhơn: V́ vũ trụ có thứ tự vậy.
Đồng dụ: Như
ông thợ làm nhà.
Người lập lượng
này, nếu nói trắng ra "Có một ông thần", th́ sợ bên đối phương không công
nhận, mà phải bị lỗi "Sở biệt bất thành", nên họ chỉ nói một cách hồn hàm là
"Có một Đấng".song ẩn ư của họ muốn nói "Đấng ấy là một vị thần"; và họ cho
vị Thần này có 3 đức tánh: 1. Thường c̣n, 2. Cao cả, 3. Sanh vạn vật.
Nhưng Đấng ấy đă
sanh ra ợ?c van vật, th́ Đấng ấy tất nhiên cũng phải bị người khác lớn hơn
sanh ra và chết; không phải cao cả và thườnhg c̣n. Cũng như ông thợ làm
nhà.
V́ cái Nhơn này,
trái ngược với ần ư của danh từ trước, nên bị lỗi "tương vị".
Ngoại nhơn
có thể lập lượng bác lại rằng:
Tôn: Đấng ấy phải
bị người khác sanh ra và phải chết.
Như lập
Nhơn: V́ Đấng ấy sanh ra vũ trụ vậy.
Đồng dụ: Như
ông thợ làm nhà.
14 lỗi về Tợ Nhơn,
chúng tôi đă giải thích rồi, sau đây sẽ nói 10 lỗi về Tợ dụ.
PHỤ BÀI ÔN HỌC
(ÔN LẠI
14 LỖI VỀ TỢ NHƠN)
Quí vị nên xét kỹ
các lượng sau này, rồi chỉ ra: lỗi của Tôn, lỗi của Nhơn, và nói rơ tại sao
Lượng thứ I
Tôn: Nhơn
loại quyết định có người tạo
Nhơn: V́ có
trí khôn và đủ cả mắt, tai v.v...
Đồng dụ: Như
con, phài có cha mẹ sanh ra.
Lượng thứ II
Tôn: Gió
thường c̣n
Nhơn: V́ có
động vậy
Đồng dụ: Như
hư không
Dị dụ: Như
sóng
Lượng thứ III
Tôn: Phải có
một Đấng sanh ra vũ trụ
Nhơn: V́ vũ
trụ có trật tự vậy
Đồng dụ :
Như ông Kiến trúc sư làm nhà
Lượng thứ IV
Tôn: Phải có
một ông vô h́nh tạo ra vũ trụ
Nhơn: V́ vũ
trụ có trật tự vậy
Đồng dụ: Như
ông thọ làm nhà.
***
C. DỤ
Phàm lấy một vật ǵ
mà bên đối phương đă biết và đă công nhận, để so sánh chúng minh với một vật
khá mà bên đối phương kia chưa biết, hoặc chưa công nhận th́ gọi là "Dụ".
Thí dụ khi lập cái
"Tôn thường c̣n", th́ phải lấy tất cả những vật "thường c̣n", làm Đồng
dụ; trái lại, phải lấy tất cả những vật "vô thường" làm Dị dụ.
Về Tợ dụ có 10,
chia làm 2 loại:
I. TỢ ĐỔNG DỤ CÓ
5:
1. Năng lập pháp
bất thành.
Phàm cái nhơn là để thành lập cái Tôn, nên cái Nhơn là "năng lập pháp" c̣n
cái Tôn là "Sở lập pháp". Cái Dụ này trái ngược Nhơn, nên bị lỗi "bất
thành"
Như lập
Tôn: Con
ngựa hay chạy
Nhơn: V́ có
bốn vó
Đồng dụ: Như
con rắn hổ ngựa
Cái Dụ này hiệp với
Tôn (chạy hay), ttrái với Nhơn (thiếu chân)
2. Sở lập pháp bất
thành.
Nhơn là Năng lập mà Tôn là Sở lập (bị lập). Cái dụ này trái ngược với Tôn,
nên cũng bị lỗi "bất thành".
Như lập
Tôn: Người
ta không bay được.
Nhơn: V́
thiếu hai cánh
Đồng dụ: Như
mây (không cánh, bay dược)
Cái Dụ này hiệp với
Nhơn (thiếu cánh) và trái ngược với Tôn và Nhơn. Bởi lấy Dị dụ làm Đồng dụ,
nên bị lỗi "bất thành".
3. Câu bất thành.
Như lập
Tôn: Tiếng
thường c̣n
Nhơn: V́
tai nghe vậy
Đồng dụ: Như
bàn, ghế.
Bàn, ghế "vô
thường" nên trái với Tôn, và "tai không nghe được", nên trái với Nhơn.
4. Vô hiệp.
Cái Dụ này không có lời phối hiệp để kết thúc lại cho dễ hiểu.
Như lập
Tôn: Người
ta phải chết
Nhơn: V́ có
sanh vậy
Đồng dụ: Như
chim v.v...
Đáng lẽ phải nói
lời phối hiệp để kết thúc lài như vầy: "Người ta có sanh (Nhơn) phải có
chết (Tôn). Phàm vật ǵ có sanh (Nhơn) phải có chết (Tôn), như chim
v.v..."thời người ta mới dễ hiểu. Cái này chỉ nói tắt rằng "như chim"; làm
cho người ta không hiểu: Như chim có hai cánh, hay là như chim có mỏ?nên bị
lỗi "vô hiệp".
5. Đảo hiệp.
Lời thí dụ, kết thúc phối hiệp lại trái ngược. Phàm kết thúc phối hiệp th́
phải nói cái nhơn trước rồi nói cái Tôn sau.
Như lập
Tôn: Người
ta phải chết
Nhơn: V́ có
sanh vậy
Đồng dụ:
Phàm vật ǵ có sanh (Nhơn) th́ phải có chết (Tôn)như chim v.v ...
Nay kết thúc lại
trái ngược, nghĩa là: Phối hiệp Tôn trước rồi nhơn sau.
Như lập
Tôn: Người
ta phải chết
Nhơn: V́ có
sanh vậy
Đồng dụ:
Phàm có chết (Tôn) phải có sanh (Nhơn) như chim v.v ...
Bởi v́ nói "có sanh
phải có chết" th́ ai cũng thấy; c̣n nói "có chết phải có sanh", người ta khó
nhận.
II. TỢ DỊ DỤ CÓ 5:
Phàm Dị dụ là dụ bề
trái của Tôn và Nhơn, ne6n phải hoàn toàn trái ngược với Tôn và Nhơn.
1. Sở lập pháp bất
khiển.
Cái Dị dụ này không trái với Tôn
Như lập
Tôn: Tiếng nói
thường c̣n
Nhơn: V́ vô
h́nh vậy
Đồng dụ: Như
hư không
Dị dụ: như
vi trần (vi trần hữu h́nh và thường c̣n)
vi trần có
h́nh chất mà lại thường c̣n. Nếu lấy vi trần làm Dị dụ, th́ chỉ trái
với Nhơn (vô h́nh) mà không trái với Tôn (thường) nên bị lỗi.