Phật Học Phổ Thông
KhóaThứ Chín
Thích Thiện Hoa
Tập Ba
Bài Thứ Bảy &
Nguyên Văn
BÀI THỨ BẢY
CHÁNH VĂN
Hỏi: - Như trên đă thành lập
Duy thức tướng và Duy thức tánh rồi; Người nào mới có thể nhập được? Và làm
sao để ngộ nhập?
Đáp: - Phải là người có đủ hai
giống tánh Đại thừa và tu hành trải qua năm địa vị sau này mới được ngộ nhập:
1. Vị Tư lương
2. Vị Gia hạnh
3. Vị thông đạt
4. Vị Tu tập
5. Vị Cứu tánh.
Hỏi: - Hành tướng của vị Tư lương
thế nào?
Đáp: - Nguyên văn chữ Hán
Năi chí vị khởi thức
Cầu trụ Duy thức tánh
Ư nhị thủ tùy miên
Du vị năng phục diệt
Dịch nghĩa
Luận chủ nói bài tụng để trả lời
rằng: Từ khi chưa phát tâm, cho đến khi đă phát tâm cầu an trụ Duy thức tánh,
trong thời gian đó hai món thủ (ngă chấp, pháp chấp) hăy c̣n miên phục; hành
giả chưa có thể chinh phục hay diệt trừ được.
LƯỢC GIẢI
Từ trước đến đây đă nói
rơ về Duy thức cảnh rồi, tức là Duy thức tướng và Duy thức tánh. Nay sẽ nói
Duy thức hạnh và Duy thức quả, tức là dạy người sau khi học hiểu, phải phát
tâm tu hành rồi mới chứng được Duy thức quả.
Vậy từ khi phát tâm tu
Duy thức, cho đến chứng Duy thức quả, phải trải qua năm địa vị:
1. Vị Tư lương:
Lương phạn, đồ hành lư. Thí như người đi đường. Trước phải sắm sửa lương
phạn tiền bạc v.v...để lên đường.
Địa vị này bắt đầu từ
khi chưa phát tâm tu Duy thức quán, cho đến khi phát Bồ Đề tâm, cầu an trụ
Duy thức tánh (chơn như tâm).
Thí như chúng ta nghe
trong kinh dạy: “vạn pháp Duy thức”; rồi chúng ta bắt đầu ngày đêm tu Duy
thức quán. Bất luận thời giờ nào, khi thấy nghe hay biết, chúng ta đều
quán “Tất cả pháp là giả tướng, Duy thức biến hiện”. Chúng ta luôn luôn ở
trong Duy thức quán. Cũng như người ở trong cảnh Tịnh độ bảy báu trang
nghiêm. Được như thế th́ tất cả phiền năo không thể xâm nhập.
Song, khi mới cầu an trụ
Duy thức, công tu chưa thâm, năng lực c̣n kém, nên chưa có thể an trụ Duy
thức tánh được. Lúc bấy giờ hai món phiền năo (năng thủ, sở thủ) c̣n miên
phục, chưa trổi dậy; cũng như cỏ bị đá đè. Đến khi áp lực được nhẹ đi, th́
hai món chủng tử này sẽ sanh khởi trở lại.
Duy thức tánh như ông
chủ nhà, phiền năo như kẻ trộm. Kẻ trộm không bao giờ ưa chủ nhà; chủ nhà
lúc nào cũng ghét kẻ trộm.
Duy thức tánh và phiền
năo cũng thế. Nếu không diệt trừ phiền năo th́ không thể an trụ Duy thức
tánh được. Bởi thế nên muốn an trụ Duy thức tánh th́ quyết định phải diệt
trừ hai món thủ (ngă, pháp).
CHÁNH VĂN
Hỏi: - Hành tướng của vị Gia
hạnh thế nào?
Đáp: - Nguyên văn chữ Hán
Tụng viết:
Hiện tiền lập tiểu vật
Vị thị Duy thức tánh
Dĩ hữu sở đắc cố
Phi thật trụ Duy thức
Dịch nghĩa
Luận chủ nói bài tụng để trả lời
rằng: Nếu hiện tiền c̣n một tí thấy ḿnh an trụ Duy thức tánh, th́
chưa phải thật an trụ Duy thức tánh, v́ c̣n có chỗ sở đắc vậy.
LƯỢC GIẢI
2. Vị Gia hạnh:
Gia công tấn hạnh. Vị Gia hạnh này giống như người đi đường, trước phải dự
bị đồ hành lư, rồi sắp sửa khởi hành.
Hành giả, khi tu Duy
thức quán, thấy cảnh giới Duy thức hiện tiền, nếu chấp ḿnh chức được Duy
thức tánh, như thế là c̣n có chỗ sở đắc, nên chưa phải thật chứng Duy thức.
Cũng như ông Nhan Hồi học Đạo với đức Khổng tử, sau khi thể hội được Đạo,
ông nói rằng: “Như có một vật ǵ đứng đồ sộ vậy”.
Đó cũng là cảnh giới Duy thức biến, chẳng qua thức biến không đồng.
V́ chơn tánh của Duy
thức, chẳng phài có, chẳng phải không, tuy chứng mà không có ǵ là chứng,
thế mới thật là chứng Duy thức.
Người an trụ được chơn
tánh của Duy thức, cũng như cái tay nghười biết viết chữ: Không thấy có ǵ
khác cả. Bởi thế nên nói “đặng mà không có ǵ là đặng”.
Nay người tu Duy thức,
do hiện tiền c̣n một tí thấy ḿnh chứng Duy thức, nên không phải thật an trụ
nơi Duy thức tánh.
Hỏi: - Hành tướng của vị Thông
đạt thế nào?
Đáp: - Nguyên văn chữ Hán
Tụng viết:
Nhược thời ư sở duyên
Trí đô vô sở đắc
Nhĩ thời trụ Duy thức
Ly nhị thủ tướng cố
Dịch nghĩa
Luận chủ nói bài tụng để trả lời
rằng: bao giờ cảnh sở quán và trí năng quán đều không, khi đó mới an trụ nơi
Duy thức tánh, v́ đă xa ĺa được hai món thủ vậy.
LƯỢC GIẢI
3. Vị Thông đạt:
Rơ ràng thông suốt. Vị Thông đạt này cũng như người đi đường, đă thông suốt
con đường sẽ đi, bắt đầu khởi hành, không c̣n lo ngại.
Hành tướng của vị nầy,là
khi hành giả đối với cảnh sở quán và trí năng quán, đều xem như huyễn như
hoá, không có sở đắc
Vị Gia hạnh trước, chưa
xa ĺa hai món thủ (Ngă chấp, Pháp chấp), v́ c̣n có sở đắc
Vị Gia hạnh trước, chưa
xa ĺa hai món thủ (Ngă chấp, Pháp, chấp), v́ c̣n có sở đắc, nên chưa có thể
an trụ nơi Duy thức. Đến vị Thông đạt này, th́ đă xa ĺa hai món thủ, không
có sở đắc, nên mới thật an trụ nơi Duy thức.
Đoạn văn này, đ̣ng một
nghĩa với câu: “Vô trí diệc vô đắc” (không có trí năng đắc và cảnh sở đắc)
trong Bát Nhă Tâm kinh.
CHÁNH VĂN
HỎI: - Hành tướng của vị Tu
tập thế nào?
Đáp: - Nguyên văn chữ Hán
Tụng viết:
Vô đắc bất tư nghị
Thị xuất thế gian trí
Xả nhị thô trọng cố
Tiện chứng đắc chuyển y.
Dịch nghĩa
Luận chủ nói bài tụng để trả lời
rằng: Cảnh giới: Vô đắc này không thể nghĩ bàn; đây là “Trí xuất thế gian” (vô
phân biệt trí). Do đă xa ĺa được hai món thô trọng (Phiền năo chướng và Sở
tri chướng) và chứng được hai món chuyển y (Bồ Đề, Niết bàn).
LƯỢC GIẢI
4. Vị Tu tập:Tu
hành tập luyện. Địa vị Thông đạt trên, là chỉ thông suốt giáo lư, song chưa
tu tập. Đến địa vị này mới tu tập Lục độ muôn hạnh, để chứng ngộ chơn lư.
Ở
địa vị Thông đạt mới vừa chứng cái “Thể” của trí vô đắc. Đến địa vị Tu tập
này mới đặng “Diệu dụng”của trí vô đắc. Diệu dụng của trí này này không thể
nghĩ bàn. Nhưng, nếu trí c̣n có sở đắc là trí của thế gian; cái trí không có
sở đắc, mới phải là trí của xuất thế gian.
Trí
Vị Thông đạt mới vừa chứng cái “thể” trí vô đắc
Vô đắc
Vị Tu tập mới được “Diệu dụng” của trí vô đắc
Vị Tu tập này đă xả bỏ
được chủng tử của hai chướng là Phiền năo chướng và Sở tri chướng và chứng
được hai quả Bồ Đề và Niết bàn.
Bài tụng trên nói chữ
“thô trọng” là chỉ cho hai món chủng tử của hai món chướng: Phiền năo và Sở
tri: c̣n nói chữ “chuyển y” ,nghĩa là y cứ trên y tha khởi tánh, mà chuyển
nhiễm trở lại tịnh: chuyểm phiền năo chướng thành Đại giải thoát (Niết bàn),
chuyển sở tri chướng thành Đại Bồ Đề
( Xả hai
món nhiễm (
Phiền năo chướng
Trên tánh
(
( và Sở tri
chướng
Y tha khởi
(
(
Đặng hai quả
( Đại Niết bàn
( Thanh
tịnh
( và Đại Bồ Đề
CHÁNH VĂN
Hỏi: - Hành tướng của vị Cứu
cánh thế nào?
Đáp: - Nguyên văn chữ Hán
Tụng viết:
Thử tức vô lậu giới
Bất tư nghị, thiện, thường
An lạc, Giải thoát thân
Đại Mâu ni danh pháp
Dich nghĩa
Luận chủ nói bài tụng để trả lời
rằng: Đây là cảnh giới vô lậu, cũng gọi là: 1. Bất tư nghi, 2. Thiện, 3.
Thường, 4. An lạc, 5. Giải thoát thân, 6. Đại Mâu ni, cũng gọi là Pháp thân.
LƯỢC GIẢI
5. Vị Cứu cánh:
Quả vị rốt ráo; trong các quả vị tu hành, đến đây đă cùng tột rồi, không c̣n
quả vị nào hơn nữa. Hành giả chứng được quả vị Bồ Đề, Niết bàn là cảnh giới
vô lậu rốt ráo thanh tịnh.
Nói “Cảnh giới thanh
tịnh” tức là chỉ cai Tổng tướng của vị Cứu cánh; nếu chỉ Biệt tướng của vị
này th́ có 6 món:
1. Bất tư nghi:
cảnh giới này không thể dùng trí suy nghĩ hay lời nói luận bàn được.
2. Thiện:
Cảnh giới này đă xa ĺa hết các pháp nhiễm ô, bất thiện.
3. Thường:
cảnh giới này thường c̣n, tột đến đời vị lai, không có cùng tận vậy.
4. An lạc:
Cảnh giới này rất thanh tịnh vui vẻ, không có các điều khổ năo bức bách vậy.
5. Giải thoát thân:
Do xa ĺa các phiền năo triền phược, nên được thân Giải thoát (Cảnh giới của
Nhị thừa).
6. Đại Mâu Ni
hay gọi là Pháp thân. Do xa ĺa được sở tri chướng, nên chứng
đặng quả vô thượng Bồ Đề: v́ quả vị này bản tánh rất thanh tịnh, nên gọi là
Đại Mâu ni (tịnh mặc) cũng gọi là Pháp thân vậy.
A. Tổng tướng: Cảnh giới vô lậu: Nào thể, Dung, Tánh,
Tướng đều phi hữu lậu.
1. Bất tư nghị:
không thể nói năng và luận bàn
2. Thiện:
Pháp lành thanh tịnh.
VỊ
Đại thừa và
3. Thường: Thường
c̣n cùng tận đời vị lai
CỮU
Tiểu thừa
4. An lạc:
An vui vắng lặng, không có bức năo
CÁNH
đều có
5. Giải thoát
thân: Không
có phiền năo triền phược (cảnh giới của Nhị thừa)
B.Biệt Tướng
( 6. Đại Mâu
ni: Rất vắng
lặng thanh tịnh
( vô
thương“Pháp thân”:
( (cảnh giới của
Phật chứng)
( cũng gọi
Đặc biệt của
Đại thừa
( Vĩnh viễn xa
ĺa hai Chướng:
( phiền
năo và Sở trí.
Dịch xong tại chùa Phật quang (Trà
Ôn)
Ngày trừ tịch năm Canh Tư
(14-2-1961)
DUY THỨC TAM THẬP TỤNG
CHÁNH VĂN
Ngài Bồ Tát THIÊN THÂN tạo luận
Ngài HUYỀN TRANG dịch ra chữ Hán
Sa môn T.THIỆN HOA dịch ra chữ Việt
Nguyên văn chữ Hán
Nhược Duy thức, vân hà thế gian
cập chư Thánh giáo thuyết hữu Ngă, Pháp?
Tụng viết:
Do giả thuyết Ngă Pháp
Hữu chủng chủng tướng chuyển
Bỉ y thức sở biến
Thử năng biến duy tam [1]
Vị: Dị thục, Tư lương
Cặp liễu biệt cảnh thức.
Dịch nghĩa
Hỏi: - Nếu chỉ có thức, tại
sao người thế gian và trong Phật giáo đều nói có Ngă và Pháp?
Đáp: - Luận chủ nói bài tụng để
trả lời rằng:
Do giả nói Ngă, Pháp:
Các tướng Ngă, Pháp kia,
Nương nơi thức sanh ra.
Thức năng biến có ba:
Dị thục và Tư lương
Cùng thức Liễu biệt cảnh.
Nguyên văn chữ Hán
Tuy dĩ lược thuyết tam năng biến
danh, nhi vị quảng biện tam năng biến tướng; thả sơ năng biến kỳ tướng vân
hà?
Tụng viết:
Sơ A lai da thức
Dị thục, Nhứt thế chủng [2]
Bất khả tri chấp thọ
Xứ liễu thường dữ xúc
Tác ư, Thọ, Tưởng, Tư
Tương ưng duy Xả thọ [3]
Thị vô phú vô kư
Xúc đẳng diệc như thị
Hằng chuyển như bộc lưu
A lại hán vị xả. [4]
Dịch nghĩa
Hỏi: - Trên đă được nói cái
“tên” của ba thức Năng biến, song chưa nói rơ cái “tướng”; vậy cái “tướng”
của thức Năng biến thứ nhứt thế nào?
Đáp: - Luận chủ nói bài tụng để
trả lời rằng:
Trước là A lại da,
Dị thục, Nhứt thế chủng.
Không thể biết: giữ, chịu (chấp thọ)
Thế giới (xứ) và phân biệt (liễu).
Tương ưng năm Biến hành,
Năm thọ chỉ Xả thọ
Thức này và Tâm sở
Hằng chuyển như nước thác
A la hán mới xả.
Nguyên văn chữ Hán
Như thị dĩ thuyết sơ năng biến
tướng, đệ nhị năng biến kỳ tướng vân hà?
Tụng viết:
Thứ đệ nhị năng biến
Thị thức danh Mạt na
Y bỉ chuyển duyên bỉ
Tư lương vi tánh tướng [5]
Tứ phiền năo thường câu
Vị: Ngă si, Ngă kiến
Tinh Ngă mạm, Ngă ái
Cặp dư Xúc đẳng câu [6]
Hữu phú vô kư nhiếp
Tuỳ sở sanh sở hệ
A la hán, Diệt định,
Xuất thế đạo vô hữu. [7]
Dịch nghiă
Hỏi: - Trên đă nói thức Năng
biến thứ nhứt; c̣n thức năng biến thứ hai thế nào?
Đáp: - Luận chủ nói bài tụng để
trả lời rằng:
Thức năng biến thứ hai,
Tên là thức Mạt na.
Nương kia lại duyên kia (A lại da)
Tánh tướng đều lo nghĩ;
Thường cùng bốn phiền năo;
Ngă si và Ngă kiến
Ngă mạn với Ngă ái;
Cùng với Xúc vân vân.
Hữu phú vô kư tánh
Sanh đâu chấp ngă đó.
La hán và Diệt định
Đạo Xuất thế không có.
Nguyên văn chữ Hán
Như thị dĩ thuyết đệ nhị Năng
biến, đệ tam Năng biến kỳ tướng vân hà?
Tụng viết:
Thứ đệ tam Năng biến
Sai biệt hữu lục chủng
Liễu cảnh vi tánh tướng
Thiện, bất thiện, câu phi [8]
Thử tâm sở Biến hành
Biệt cảnh, Thiện, Phiền năo
Tuỳ phiền năo, Bất định
Giai tam thọ tương ưng [9]
Dịch nghĩa
Hỏi: - Như vậy đă nói thức
Năng biến thứ hai, c̣n thức Năng biến thứ ba thế nào?
Đáp: - Luận chủ nói bài tụng để
trả lời rằng:
Thức Năng biến thứ ba
Có sáu món sai biệt
Tánh, tướng đều biết (liễu) cảnh.
Thiện, Bất thiện, Vô kư
Đây tâm sở: Biến hành
Biệt cảnh, Thiện, Phiền năo
Tuỳ Phiền năo, Bất định,
Tương ưng với ba thọ.
Nguyên văn chữ Hán
Tiền dĩ lược phiêu lục vị tâm sở
tương ưng, kiêm ưng quảng biện bỉ sai biệt tướng; thả sơ nhị vị kỳ tướng vân
hà?
Tụng viết:
Sơ Biến hành: Xúc đẳng
Thứ Biệt cảnh vị: Dục,
Thắng giải, Niệm, Định, Huệ.
Sở duyên sự bất đồng [10]
Dịch nghĩa
Hỏi: - Trên đă lược nêu 6 vị tâm
sở tương ưng; nay xin nói rơ hành tướng sai khác của các loại tâm sở. Vậy
hai vị tâm sở đầu thế nào?
Đáp: - Luận chủ nói bài tụng để
trả lời rằng:
Trước Biến hành là Xúc;
Sau biệt cảnh là Dục,
Thắng giải, Niệm, Định, Huệ
Cảnh bị duyên không đồng.
Nguyên văn chữ Hán
Dĩ thuyết Biến hành, Biệt cảnh
nhị vị,
Thiện vị tâm sở kỳ tướng vân hà?
Tụng viết:
Thiện, vị: Tín, Tàm, Quí
Vô tham đẳng tam căn
Cần, An, Bất phóng dật
Hành xả cập Bất hại. [11]
Dịch nghĩa
Hỏi: - Trên đă nói hai loại
Biến hành và Biệt cảnh, c̣n hành tướng của Thiện tâm sở thế nào?
Đáp: - Luận chủ nói bài tụng để
trả lời rằng:
Thiện là: Tín, Tàm,Quí
Vô tham, Sân và Si
Cần, An, Bất phóng dật
Hành xả và Bất hại
Nguyên văn chữ Hán
Như thị dĩ thuyết Thiện vị tâm sở,
Phiền năo tâm sở kỳ tướng vân hà?
Tụng viết:
Phiền năo vị: Tham, Sân
Si, Mạn, Nghi, Ác kiến.
Dịch nghĩa
Hỏi: - Như trên đă nói Thiện
tâm sở rồi, c̣n hành tướng của căn bản phiền năo thế nào?
Đáp: - Luận chủ nói bài tụng để
trả lời rằng:
Phiền năo là: Tham, Sân
Si, Mạn, Nghi, Ác kiến.
Nguyên văn chữ Hán
Dĩ thuyết căn bản lục phiền năo
tướng, chư Tuỳ phiền năo kỳ tướng vân hà?
Tụng viết:
Tùy phiền năo vị: Phẫn
Hận, Phú, Năo, Tật, Xan [12]
Cuống, Siễm dữ Hại, Kiêu
Vô tàm cập Vô quí
Trạo cử dữ Hôn trầm
Bất tín tinh Giải đăi [13]
Phóng dật cập Thất niệm
Tán loạn, Bất chánh tri
Dịch nghĩa
Hỏi: - Trên đă nói 6 món căn
bản phiền năo c̣n hành tướng của Tuỳ phiền năo thế nào?
Đáp: - Luận chủ nói bài tụng để
trả lời rằng:
Tùy phiền năo là: Phẫn,
Hận, Phú, Năo, Tật, Xan
Cuống, Siểm, và Hại, Kiêu
Vô tàm với Vô quí
Trạo cử cùng Giải đăi
Phóng dật và Thất niệm
Tán loạn, Bất chánh tri.
Nguyên văn chữ Hán
Dĩ thuyết nhị thập Tùy phiền năo
tướng,
Bất định hữu tứ kỳ tướng vân hà?
Tụng viết:
Bất định vị Hối, Miên
Tầm, Tư nhị các nhị. [14]
Dịch nghĩa
Hỏi: - Trên đă nói hai mươi
món Tùy phiền năo, c̣n hành tướng của bốn món Bất định thế nào?
Đáp: - Luận chủ nói bài tụng để
trả lời rằng:
Bất định là Hối, Miên
Tầm, Tư lại chia hai
Nguyên văn chữ Hán
Dĩ thuyết lục vị tâm sở tương ưng
Vân hà ưng tri hiện khởi phận vị?
Tụng viết:
Y chỉ căn bản thức
Ngũ thức tùy duyên hiện
Hoặc câu hoặc bất câu
Như đào ba y thủy [15]
Ư thức thường hiện khởi
Trừ sanh vô tưởng thiên
Cập vô tâm nhi6 định
Thùy miên dữ muộn tuyệt. [16]
Dịch nghĩa
Hỏi: - Trên đă nói 6 loại tâm
sở tương ưng rồi, bây giờ làm sao biết được phận vị hiện khởi của 6 thức?
Đáp: - Luận chủ nói bài tụng
để trả lời rằng:
Nương nới thức căn bản (A lại da)
Năm thức tùy duyên hiện,
Hoặc chung hoặc chẳng chung,
Như sóng nương với nước.
Ư thức thường hiện khởi,
Trừ sanh trời vô tưởng
Và hai định vô tâm,
Ngủ mê hay chết giả.
Nguyên văn chữ Hán
Dĩ quảng phân biệt tam Năng biến
tướng, vi tự sở biến nhị phần sở y; vân hà ưng tri y thức sở biến, giả
thuyết ngă pháp, phi biệt thật hữu, do thị nhứt thế duy hữu thức da?
Tụng viết:
Thị chư thức chuyển biến
Phân biệt sở Phân biệt
Do thử bỉ giai vô
Cố nhứt thế Duy thức. [17]
Dịch nghĩa
Hỏi: - Trên đă nói ba thức
Năng biến, đều do hai phần (Tự chứng và Chứng tự chứng) làm sở y, rồi tự nó
biến ra hai phần (Kiến phần và Tướng phần); bây giờ làm sao lại biết “Tất cả
đều Duy thức biến ra” rồi giả nói ngă pháp, chứ không phải thật có?
Đáp: - Luận chủ nói bài tụng để
trả lời rằng:
Các thức này chuyển biến:
Phân biệt, bị phân biệt.
Do bỉ, thử đều không
Nên tất cả Duy thức
Nguyên văn chữ Hán
Nhược duy hữu thức, đô vô ngoại duyên, do hà nhi sanh chủng phân biệt?
Tụng viết:
Do nhứt thế chủng thức
Như thị như thị biến
Dĩ triển chuyển lực cố
Bỉ bỉ phân biệt sanh [18]
Dịch nghĩa
Hỏi: - Nếu chỉ có nội thức
không có ngoại cảnh để làm duyên, thí làm sao sanh ra các món phân biệt.
Đáp: - Luận chủ nói bài tụng để
trả lời rằng:
Do tất cả chủng thức,
Biến như vậy như vậy;
V́ sức biến chuyển đó,
Sanh các món phân biệt.
Nguyên văn chữ Hán
Tuy hữu nội thức, nhi vô ngoại duyên, do hà hữu t́nh sanh tử tương tục?
Tụng viết:
Do chư nghiệp tập khí
Nhị thủ tập khí câu
Tiền Dị thục kư tận
Phục sanh dư Dị thục [19]
Dich nghĩa
Hỏi: - Nếu chỉ có nội thức,
không có ngoại cảnh để làm trợ duyên, th́ tại làm sao chúng hữu t́nh lại
sanh tử tương tục?
Đáp: - Luận chủ nói bài tụng để
trả lời rằng:
Do chủng tử các nghiệp
Và chủng tử hai thủ (năng thủ, sở thủ)
Nên Dị thục trước chết
Lại sanh Dị thục sau
Nguyên văn chữ Hán
Nhược duy hữu thức, hà cố Thế Tôn xứ xứ kinh trung, thuyết hữu tam tánh?
Ưng tri tam tánh, diệc bất ly thức.
Sở dĩ giả hà?
Tụng viết
Do bỉ bỉ Biến kế
Biến kế chủng chủng vật
Thử Biến kế sở chấp
Tự tánh vô sở hữu [20]
Y tha khởi tự tánh
Phân biệt duyên sở sanh
Viên thành thật ư bỉ
Thường viễn ly tiền tánh [21]
Cố thử dữ Y tha
Phi dị phi bất dị
Như vô thường đẳng tánh
Phi bất kiến thử bỉ. [22]
Dịch nghĩa
Hỏi: - Nếu chỉ có thức, tại
sao trong các kinh Đức Thế Tôn nói có ba tánh?
Đáp: - Phải biết ba tánh đó
cũng không rời thức.
Hỏi: - Tại sao thế?
Đáp: - Luận chủ nói bài tụng để
trả lời rằng:
Do các tánh biến kế,
Chấp hết tất cả vật.
Tánh Biến kế sở chấp,
Tự nó không thật có.
C̣n tánh Y tha khởi
Do các duyên mà sanh.
Viên thành thật với kia (Y tha)
Xa ĺa Biến kế trước.
Thành thật với Y tha,
Cũng khác cũng không khác;
Như vô thường vân vân
Chẳng thấy đây (Viên
thành) và kia (Y tha)
Nguyên văn chữ Hán
Nhược hữu tam tánh, như hà Thế
Tôn thuyết nhứt thế pháp, giai vô tự tánh?
Tụng viết
Tức y thử tam tánh,
Lập bỉ tam vô tánh.
Cố Phật mật ư thuyết:
Nhứt thế pháp vô tánh. [23]
Sơ tức tướng vô tánh,
Thứ vô tự nhiên tánh,
Hậu do viễn ly tiền:
Sở chấp ngă pháp tánh. [24]
Thử chư pháp thắng nghĩa,
Diệc tức thị Chơn như:
Thường như kỳ tánh cố;
Tức Duy thức thật tánh. [25]
Dịch nghĩa
Hỏi: - Nếu có ba tánh, tại sao
đức Thế Tôn nói: “tất cả pháp đều không có tự tánh”?
Đáp: - Luận chủ nói bài tụng để
trả lời rằng:
Y theo ba tánh này,
Lập ra ba vô tánh.
Nên Phật mật ư nói:
Tất cả pháp vô tánh.
Trước là “tướng” vô tánh,
Kế, không tự nhiện tánh,
Sau, do xa ĺa trước:
Tánh chấp Ngă và Pháp.
Đây Thắng nghĩa các Pháp,
Cũng tức là Chơn như,
V́ tánh thường như vậy,
Tức thật tánh Duy thức.
Nguyên văn chữ Hán
Như thị sở thành Duy thức tướng tánh, thuỳ y kỷ vị, như hà ngộ nhập?
Vị cụ Đại thừa nhị chủng tánh giả, lược hữu ngũ vị, phương năng ngộ nhập.
Nhứt Tư lương vị, nhị Gia hành vị, tam Thông đạt vị, tứ Tu tập vị, ngũ Cứu
cánh vị.
1. Sơ Tư lương vị, kỳ tướng vân hà?
Tụng viết
Năi chí vị khởi thức
Cầu trụ Duy thức tánh
Ư nhị thủ tuỳ miên
Du vi năng phục diệt [26]
Dịch nghĩa
Hỏi: - Như thế là đă thành lập
tướng và tánh của Duy thức. Vậy người nào, có mấy vị, và làm sao ngộ nhập
được Duy thức ?
Đáp: - Phải người có đủ hai
món tánh Đại thừa và tu hành trải qua năm địa vị sau này, mới ngộ nhập được
Duy thức tánh.
1. Vị Tư lương,
2. Vị Gia hạnh,
3. Vị Thông đạt,
4. Vị Tu tập,
5. Vị Cứu cánh.
Hỏi: - Hành tướng của vị Tư
lương thế nào?
Đáp: - Luận chủ nói bài tụng để
trả lời rằng:
Cho đến chưa khởi thức
Cầu trụ Duy thức tánh
Hai thủ c̣n miên phục
Chưa có thể diệt trừ.
Nguyên văn chữ Hán
2. Thức Gia hạnh vị, kỳ tướng vân hà?
Tụng viết:
Hiện tiền lập thiểu vật
Vị thị Duy thức tánh
Dĩ hữu sở đắc cố
Phi thật trụ Duy thức [27]
Dịch nghĩa
Hỏi: - Hành tướng của vị Gia
hạnh thế nào?
Đáp: - Luận chủ nói bài tụng để
trả lời rằng:
Hiện tiền c̣n một tí
Gọi là Duy thức tánh;
V́ c̣n sở đắc vậy,
Chẳng thật trụ Duy thức.
Nguyên văn chữ Hán
3. Thứ Thông đạt vị, kỳ tướng vân hà?
Tụng viết
Nhược thời ư sở duyên
Trí đô vô sở đắc
Nhĩ thời trụ Duy thức
Ly nhị thủ tướng cố. [28]
Dịch nghĩa
Hỏi: - Hành tướng của vị Thông
đạt thế nào?
Đáp: - Luận chủ nói bài tụng để
trả lời rằng:
Khi nào “cảnh” bị duyên
Và “trí” đều không có
Khi đó trụ Duy thức
Đă ĺa hai món thủ.
Nguyên văn chữ Hán
4. Thứ Tu tập vị, kỳ tướng vân hà?
Tụng viết:
Vô đắc bất tư ng