Ngài Thiên Thân Bồ
Tát tạo luận
Ngài Huyền Trang Pháp Sư dịch chữ Phạn ra chữ Hán
Ông Đường Đại Viên giải dễ gọn
Sa môn Thích Thiện Hoa dịch lại chữ Việt và lượt giải.
1. DUY THỨC TAM THẬP TỤNG DỊ GIẢI
2. DUY THỨC TAM THẬP TỤNG CHÁNH VĂN
3. PHỤ HAI CÁI BIỂU
LỜI CỦA DỊCH GIẢ
Phật ra đời
độ sanh gần nửa thế kỷ, thuyết pháp trên 300 hội,nói ra 84.000 pháp môn, nào
quyền, thiệt, đốn, tiệm, các phương tiện đều dạy bày; chung qui lại chỉ có
hai phần: pháp tướng và pháp tánh. Duy thức tôn là một
trong Pháp tướng.
Lư Duy thức, trong các kinh điển, Phật đă nói nhiều.
Về sau các vị Bồ Tát trích lục lại, sắp xếp theo
hệ thống, có thứ lớp, biên thành sách, lập thành tôn, gọi là pháp tướng tôn
hay Duy thức tôn.
Như vào khoảng 900
năm, sau khi Phật diệt độ, có Ngài Bồ Tát Thiên thân, y
theo các kinh, viết qua quyển “Duy thức tam thập tụng" v.v...Đến
sau có 10 vị Đại luận sư (1) ra đời, tuần tự giải thích quyển “Duy thức tam
thập tụng" lập thành mười bộ đại luận.Trong số
ấy, bộ sớ giải của Ngài Hộ pháp là có phần hoàn bị hơn hết.
Đến đời Đường, ở
Trung Hoa có Ngài Tam Tạng Pháp sư Huyền Trang, trí tuệ vô saong, thông minh
xuất chúng, phát tâm qua Ấn độ, nghiên cứu Phật pháp 18 năm trường (xem bộ
Huyền Trang của Vơ Đ́nh Cường), Ngài rất thông về Duy thức tôn.
Sau khi trở về nước, Ngài phiên dịch rất nhiều kinh sách,
mà quyển “Duy thứ tam thập tụng" của Bôtát Thiên Thân là một. Ngài
lại c̣n lượm lặt những tinh hoa sớ giải trong 10 bộ luận của 10 vị Đại luận
sư, rồi phiên dịch ra chữ Trung Hoa, làm thành một bộ mười quyển, mệnh danh
là “Thành Duy thức luận”.
Đệ tử lớn của Ngài
Huyền Trang là Khuy Cơ, trải qua thời gian mấy mươi năm hầu Thầy, được đắc
truyền về môn Duy thức học này, nên sớ giải lại bộ “Thành Duy thức luận" đến
60 quyển, đặt tên là “Thành Duy thức luận thuật kư”.
Đến sau, Ngài
Huyền Trang muốn cho người học dễ nhớ, nên làm 12 bài tụng (mỗi bài bốn câu)
tóm tắt nghĩa lư rộng răi u huyền của Duy thức, đặt tên là “bát thức qui củ
tụng”.
Đành rằng sách vở
Duy thức rất nhiều, v́ các vị Bồ Tát nhắm nhiều khía cạnh của Duy thức mà
phân tích giảng giải, song có ba bổn, từ xưa đến nay được xem là chánh tông,
là căn bản của Duy thức học:
1. Đại thừa bá
pháp minh môn luận: Nói về pháp số (danh từ chuyên môn) của Duy thức.
2. Duy thức tam
thập tụng: Nói về nghĩa chánh của Duy thức.
3. Bát thức qui củ
tụng: Tóm tắt nghĩa lư bao la của Duy thức.
Về sau các học giả
hoặc sang tác hoặc giải thích sách vở Duy thức, đều căn cứ vào ba bổn luận
ấy, khai thác nhiều khía cạnh, rồi tán rộng ra hoặc làm cho nổi bật những
điểm quan trọng.
Bổn “Đại thừa bá
pháp minh môn luận" và bổn “Bát thức qui củ tụng" Tôi đă dịch và giải rồi,
hiệp chung lại dưới nhan đề là “Duy thức nhập môn”.
C̣n bổn “Duy thức tam thập tụng" này, nay mới dịch xong.
Nội dung của luận này, do Ngài Bồ Tát Thiên Thân dùng 24 bài tụng đầu, nói
về Duy thức tướng, bài tụng thứ 25 nói về Duy thức tánh, 5 bài tụng sau là
nói về Duy thức vị; hay nói một cách khác là: Duy thức cảnh, Duy thức hành
và Duy thức quả (xem 2 cái biểu ở cuối quyển này).
Quí vị muốn nghiên cứu về Duy thức học, trước nhứt nên
đọc kỹ 3 bổn luận này.Cũng như người học nghề vơ,
trước phải học đường thảo, rồi sau mới phân miếng.
Huyền diệu thay!
Cũng ba bổn luận này, mà từ xưa đến nay, không biết bao
nhiêu vị Đại luận sư và các nhà học giả, sớ giải măi cũng không cùng.
Chúng ta chớ nên
có ư nghĩ nông cạn: học sơ lược chánh văn hay đọc lời sớ giải thô sơ của ba
bổn luận này, rồi cho là đầy đủ. Phải học măi, coi nhiều,
chúng ta sẽ thấy rừng hoa Duy thức, thật không biết bao nhiêu màu sắc tốt
tươi xinh đẹp.
Kính đề
Sa Môn Thích Thiện Hoa
-ooOoo-
LỜI TỰA
Trong Duy thức
nói “Thức A lại da”, tức là nói về pháp chúng
sanh, đáng lẽ phải dễ hiểu, tại sao lại rất khó hiểu?
Tuy nói về pháp chúng sanh, song chúng sanh có vô
lượng vô biên, nên lời nói cũng phải vô lượng vô biên; đây là điều khó thứ
nhứt.
Lại nữa, bên Thiền tôn th́ chỉ thẳng về “Tâm pháp"
nên không cần văn tự ngữ ngôn; c̣n Duy thức tôn lại khai phương tiện, dùng
văn tự, ngữ ngôn. Đă dùng văn tự biên chép và lời nói luận bàn,
những sự lư vô lượng vô biên, cho nên lời nói phải nhiều, văn tự phải thâm;
đây là điều khó thứ hai.
Bởi hai điều
khó trên, nên môn học Duy thức này ngày xưa bị bặt tăm, cho đến ngày nay
người học Phật, phần nhiều cũng tránh chỗ khó mà t́m nơi dễ: nghe nói đến
Duy thức th́ thối lui. Đôi khi cũng có người cố gắng t́m học, song lạikhông
gặp cửa để vào!
Đại Viên này đă
ôm ấp chí lợi tha từ lâu, nên đối với việc khó khăn này đă nhiều lần lưu ư.
Nền tảng đầu
tiên của Duy thức học là quyển:
“Đại thừa bá pháp minh môn luận" và
quyển “Duy thức tam thập tụng”.
Song, nếu
theo những bản chú giải về đời Đường th́ rất khó
khăn; người sơ học không dễ ǵ nhập được. C̣n những bản Duy thức thuộc về
đời Minh chú giải, lại sợ ngụy truyền. Bởi thế nên tôi căn cừ
theo bản chú giải xưa (đời Đường), rồi cải tạo
văn thể những chỗ nghĩa lư thâm thuư khó hiểu, th́ tôi làm cho rơ ràng dễ
hiểu; c̣n những chỗ phiền phức, th́ tôi thanh giản cho gọn gàng.
V́ thế nên tôi đặt tên quyển sách này là “Duy thức dị
giản" (Duy thức dễ gọn).
Bởi “dễ”, nên
người đọc dễ hiểu và có thể đọc lâu, v́ “gọn" nên người học dễ
theo và có thể đọc nhiều.
Nay tôi giảng
30 bài tụng Duy thức này, là muốn cho người học dễ hiểu và dễ
theo, dễ tiến đến việc đọc nhiều, đọc lâu về môn
Duy thức học vậy.
Đường Đại Viên
-ooOoo-
BÀI THỨ NHỨT
DUY THỨC TAM THẬP
TỤNG DỊ GIẢI
* Ngài Bồ Tát THIÊN THÂN tạo luận
* Ngài HUYỀN TRANG dịch ra chữ Hán
* Ông ĐƯỜNG ĐẠI VIÊN giải dễ gọn
* Sa môn T. THIỆN HOA dịch ra chữ Việt
GIẢI ĐỀ MỤC
“Duy thức” - Thức là phân biệt; có hai phần: 1. Sở phân biệt (bị biết) gọi
là cảnh, hoặc gọi là sự vật, tức là núi, sông, ruộng, vườn ...2.
Năng phân biệt (cái biết) gọi là thức, tức là cái tác
dụng phân biệt hay nhận biết các cảnh vật.
Cảnh vật có h́nh tướng, thức không h́nh tướng.
Người đời đều nói hai vật này ( vật chất, tinh
thần) riêng khác; thật ra năng phân biệt (biết) và sở phân biệt (bị biết)
cũng đều là thức; ngoài thức ra không có vật ǵ khác.
Bởi thế nên gọi là Duy thức.
Người đời v́ chấp tất cả sự vật là thật có, nên không tin lư duy thức. Nay
môn học này, giải thích cho người biết: tất cả sự vật, chỉ có thức biến hiện,
không phải thật có, nên gọi là “Duy thức học”.
“Tam thập tụng” - Theo lệ thường, trong kinh Phật, mỗi một bài là bốn câu;
nay dùng 30 bài tụng, để giải thích nghĩa mầu nhiệm của Duy thức, cho nên
quyển luận này gọi là “Duy thức tam thập tụng”.
“Dị giải” - Nguyên văn bổn luận này có 30 bài tụng, do ngài Bồ Tát Thiên
Thân tạo ra. Văn tự đă khó mà nghĩa lư lại thâm, người
học rất khó hiểu.Nay tôi giải thích bổn luận này,
dùng những lời lẽ gọn gàng dễ hiểu, nên gọi là “Dị giải”.
CHÁNH VĂN
Hỏi: - Nếu chỉ có thức, tại sao người thế gian và trong Phật giáo, đều nói
có Ngă và Pháp?
LƯỢC GIẢI
Người đời chấp tất cả sự
vật, như núi, sông, cỏ, cây ...đều thật có.
Nay lại nghe nói:”Các cảnh vật ấy đều do thức biến hiện, chỉ là giả tướng,
chớ không phải thật có”, th́ họ quyết định không tin.
Bởi thế nên Luận chủ đề xướng Duy thức học, đặt ra những lời vấn đáp, để
giải thích các điều nghi ngờ đó.
Có người hỏi: - Nếu chỉ
có thức mà thôi, th́ tại làm sao, người thế gian và trong Phật giáo đều nói
có Ngă, Pháp ? Nếu lư Duy thức đúng, th́ lời
người thế gian và Phật giáo nói sai, c̣n nếu thế gian và Phật giáo nói đúng,
th́ lư Duy thức phải sai. Hai thuyết rất mâu thuẫn nhau, vậy bên nào nói
đúng lư ?
Câu hỏi này rất khó, nếu
không phải bực Bồ Tát trí huệ vô biên, th́ không dễ ǵ trả lời được.
“Ngă pháp”
nghĩa là ǵ? - “Ngă” là chủ tế (tự chủ, có quyền
sắp đặt).Như người đời chấp thân này là “ta”; có
quyền tự chủ, tự tại và sai khiến sắp đặt các việc, như thếgọi là “Ngă”.
“Pháp” là khuôn phép và
giữ ǵn; nghĩa là tự nó giữ ǵn bản chất của nó, làm cho người xem đến, th́
biết là vật ǵ.(Nhậm tŕ tự tánh, quỹ sanh vật giải).
Như cái bàn ở trước mặt
đây, tự nó giữ ǵn bản chất cứng nhắc, h́nh dáng dài rộng hoặc cao thấp và
có công năng chứa vật.Một khi người xem đến th́ biết là cái bàn.Như thế gọi là “pháp”.
Người thế gian chấp ngă,
như chấp thân mạng loài hữu t́nh, đều có quyền tự chủ, tự tại và sai khiến
sắp xếp mọi việc.
Người thế gian chấp pháp,
không ngoài ba điểm: Thật (bản chất), Đức (h́nh dáng), Năng (công dụng).
Như họ chấp nhà cửa cỏ cây, v.v ...là thật có (thật)
h́nh dáng tốt hay xấu (đức) và công dụng của nó (nghiệp); mỗi món đều gọi là
một pháp.
Trong Phật giáo nói ngă,
như nói “Tu Đà hoàn, Tu Đà hàm, A Na Hàm, A la Hán, v.v ...”.mỗi tên đều hàm ẩn ư nghĩa: ta đă chúng, ta được
tự chủ và tự tại.
Trong Phật giáo nói Pháp,
như nói “5 uẩn, 12 xứ, 18 giới, v.v...”.mỗi pháp đều tự giữ ǵn bản chất (tự tánh) và
h́nh dáng của nó; khi người xem đến, có thể biết đó là vật ǵ.
Nhưng chúng ta phải chú
ư ở điểm này: Trong Phật giáo nói “ngă” , không
đồng với người thế gian “chấp ngă”. Như kinh Kim Cang nói: “Gọi là Tu Đà
Hoàn (Nhập lưu) mà không có Tu Đà Hoàn (vô sở nhập) thế mới gọi là Tu Đà
Hoàn, v.v ...”
Đem đoạn kinh này để
chứng minh, th́ chúng ta thầy trong kinh tuy nói “Ngă”, song chỉ có giả danh
mà thôi, không phải như thế gian chấp có thật Ngă.
Đáp: - Nguyên văn chữ Hán
Tụng viết:
Do giả thuyết Ngă Pháp
Hữu chủng chủng tướng chuyển
Bỉ y thức sở biến.
Dịch nghĩa
Luận chủ nói ba câu tụng để trả lời rằng:
Thế gian và Thánh giáo đều giả nói có Ngă, Pháp; bởi v́ các tướng Ngă, Pháp
kia đều do thức sanh ra vậy.
LƯỢC GIẢI
Đại ư ba câu tụng này
nói: Do thế gian và Thánh giáo đều giả nói có Ngă, Pháp, rồi từ trên thức
của người nghe tự biến ra h́nh tướng của Ngă, Pháp.
NÓI VỀ TƯỚNG NGĂ, PHÁP
CỦA THẾ GIAN
Như có ngư6ời đang ngồi
yên trong nhà tối, bổng nghe người nói: “Ở góc nhà kia có con quỉ”. Lúc bấy
giờ trên thức của họ liền biến ra con quỉ,tóc tai
xù xụ, h́nh tướng rất ghê sợ, muốn chụp bắt người. Thật
ra không có quỉ, nhưng trên thức người nghe lại biến ra quỉ. Đây là
tướng Ngă của thế gian, do thức biến vậy.
Có người ngồi trong nhà,
nghe nói: “Tuyết rơi ngoài sân”. Lúc bấy giờ trên thức họ tự biến ra h́nh
tướng tuyết bay trắng xoá. Thật ra không có tuyết, nhưng
trên thức của người nghe lại biến ra có h́nh tướng của tuyết.Đây là tướng Pháp của thế gian, di thức biến ra vậy.
NÓI VỀ TƯỚNG NGĂ, PHÁP
TRONG THÁNH GIÁO
Như có người nghe trong
kinh nói: “Phật có 32 tướng”. Rồi từ trên thức của họ tự
biến ra tướng Phật tốt đẹp lạ thường. Đây là tướng “Ngă” trong Thánh
giáo, do thức biến ra.
Hoặc nghe nói: “Cơi Phật
có 7 món báu trang nghiêm”; rồi từ trên thức của họ biến ra cảnh Tịnh độ.
Đây là tướng “Pháp” trong Thánh giáo, do thức biến hiện.
***
Ngoại nhơn đă nghe Luận Chủ nói: “Các tướng Ngă, Pháp đều do thức biến hiện”,
thế tất nhiên họ phải nghi rằng:
H́nh tướng của thức thế nào?
Và có bao nhiêu chủng loại?
V́ đoán tâm lư của ngoại nhân, nên Luận chủ nói tiếp ba câu tụng, để trả lời
rằng:
Nguyên văn chữ Hán
Thử năng biến duy tam
Vị: Dị thục, Tư lương
Cập Liễu biệt cảnh thức
Dịch nghĩa
Thức
Năng biến này có 3 loại:
1. Dị
thục thức (thức thứ Tám)
2. Tư
lương thức (thức thứ Bảy)
3. Liễu Biệt cảnh thức (6 thức trước).
LƯỢC GIẢI
Đoạn trên nói: “Do thức
biến ra các tướng Ngă, Pháp”. Đă có cảnh sở biến (bị
biến) tất nhiên phải có thức năng biến.
Đoạn này nói về thức
năng biến.
Thức năng biến có ba loại:
1. Dị thục thức, tức là
thức thứ Tám
2. Tư lương thức, tức là
thức thứ Bảy
3. Liễu biệt cảnh thức,
tức là 6 thức trước (từ nhăn thức cho đến ư thức).
Ba loại thức Năng biến
này, nếu phân tích ra th́ có tám thức (Nhăn thức, Nhĩ
thức, Tỹ thức, Thiệt thức, Thân thức, Ư thức, Mạt na thức và A lại da thức)
***
BÀI THỨ HAI
CHÁNH VĂN
Hỏi: Trên đă lược nói cái “tên”, nhưng chua nói rơ cái “tướng” của thức Năng
biến; vậy cai “tướng” của thức Năng biến thứ nhứt thế nào?
Đáp: Nguyên văn chữ Hán
Tụng viết:
Sơ A
lại da thức
Dị
thục, Nhứt thế chủng.
Dịch nghĩa
Luận chủ nói tụng (10 câu) đễ trả lời rằng:
Thức Năng biến thứ nhứt tên là A lại da, cũng gọi
là Dị thục thức hay Nhứt thế chủng thức.
LƯỢC GIẢI
Thức Năng biến
thứ nhất có ba tướng:
I. Tự tướng
(thể); tiếng Phạn gọi là “A lại da”, Tàu dịch là
“Tàng”. Chữ Tàng có ba nghĩa:
1. Năng tàng:
Thức này có công năng chứa tất cả chủng tử (hạt giống) của các Pháp thiện ác;
cũng như cái kho có công năng chứa lúa.
2. Sở tàng:
Thức này có chổ để chứa chủng tử của các Pháp; cũng như cái kho là chổ để
chứa lúa.
3. Ngă ái chấp
tàng: Thức này thường bị thức thứ Bảy ái luyến chấp làm ngă.
Nó như người giữ kho, giữ ǵn chẳng cho
lúa mất (chấp tàng).
II. Quả
tướng (quả), gọi là “Dị thục thức”. Chữ Dị thục có
ba nghĩa:
1. Dị thời
nhi thục: Khác thời mà chín.
Dụ như trái xoài, từ khi sanh cho đến khi
chín, thời gian khác nhau.
2. Dị loại
nhi thục: Khác loài mà chín.
Dụ như trái xoài, khi nhỏ tánh chua, đến
chín lại ngọt.
3. Biến dị
nhi thục: Biến đổ khác chất mà chín.
Dụ như trái xoài, khi nhỏ th́ xanh, đến
khi già chín biến đổi lại vàng.
V́ thức Dị thục này lănh thọ thân quả báo, nên gọi là Dị thục
quả.
Tánh chất của Dị thục quả là vô kư (không nhứt định thiện hay ác); song về
nghiệp nhơn đời trước của nó, lại có thiện và ác.
Bởi lấy nghiệp
nhơn (thiện ác) đối với quả (vô kư) mà nói, nên có ba nghĩa: Khác thời gian
chín (Dị thời nhi thục), khác loại mà chín (Dị
loại nhi thục) và biến đổi chín (Biến dị nhi tục).
1. Dị thời ...
Dị thục
2. Dị loại ... nhị thục
3. Biến dị ... Quả (vô kư)
Nhơn (thiện, ác)
III. Nhơn
tướng (nhơn), gọi là Nhứt thế chủng thức.
Tất cà các pháp hiện tượng (hiện hành) trong thế gian và
xuất thế gian, đều có chủng tử (công năng tiềm tàng) của nó.Các chủng tử này đều chứa trong thức thứ Tám (tàng thức).
Các chủng tử là “nhơn” khởi hiện ra các
Pháp là “quả”. V́ theo “nhơn tướng” (chủng tử),
nên gọi thức này là “Nhứt thế chủng”.
Nguyên văn chữ Hán
Bất
khả tri chấp thọ
Xứ
liễu thường dữ xúc
Tác ư
thọ tưởng tư
Tương
ưng duy xả thọ
Dịch nghĩa
Không
thể biết hành tướng năng duyên và công năng giữ ǵn chủng tử, lănh thọ thân
thể và thế giới của thức này được. Thức này thường tương ưng với năm món
biến hành là: xúc, tác ư, thọ, tưởng và tư. Song
trong các thọ, nó chỉ tương ưng với xả thọ.
LƯỢC GIẢI
Hành tướng thức Năng
biến thứ nhứt rất là tế nhị! Bởi người đời tâm thô không
thể biết được, nên nói “Bất khả tri”.
Những việc của thức này
mà người đời không thể biết được, có hai phần:
1. Thức này giữ ǵn
chủng tử, thế giới, thân thể và làm cho thân thể sanh ra cảm giác, lănh thọ;
nghĩa là thức thứ Tám này biến hiện ra thế giới và chúng sanh rồi giữ ǵn
không cho mất; đây là điền khó biết thứ nhứt.
2. Hành tướng năng duyên
(liễu) của thức này, rất sâu xa và tế nhị, đây là điều khó biết thứ hai.
Không 1.
Kiến phần năng duyên của thức này (liễu)
Thể biết
2.Tướng phần bị
1. Chủng tử
Duyên của thức
2. Thân thể (chấp thọ)
này
3. Thế giới (xứ)
Tám thức, phân làm ba
món năng biến, đều có quyền tự chủ, tự tại; cũng như vị Quốc Vương, nên gọi
là Tâm vương.Song như vị Quốc vương phải có quần thần phụ tá, th́ mới
có thể giữ nước trị dân. Tâm vương cũng phải có bộ hạ tuỳ tùng để
giúp đỡ mới hay tạo ra các nghiệp. Những bộ hạ tuỳ tùng ấy lệ thuộc Tâm
vương, không được tự tại, nên gọi “Tâm sở”, hoặc gọi là “Tâm sở hữu”; nghĩa
là cái sở hữu của Tâm vương.
Lại nữa, Tâm sở đă giúp
Tâm vương tạo nghiệp, th́ Tâm vương với Tâm sở phải ưng thuận với nhau nên
gọi là tương ưng.
Hỏi: Có mấy
Tâm sở tương ưng với thức này?
Đáp: Chỉ có
năm món biến hành thường tương ưng với thức này là: Xúc, Tác ư, Thọ, Tưởng
và Tư.
Xúc:
Tiếp xúc. Như con mắt xen hoa, khi mới vừa tiếp xúc với
hoa; đó là tác dụng của Xúc Tâm sở. Thí như hai người đồng đi một con
đường; một người đi từ phương Đông đến phương Tây, một người đi từ phương
Tây đến phương Đông; hai người gặp nhau một chỗ, gọi đó là xúc.
Một thí dụ nữa,
như môn Kỷ hà học: trên cái h́nh tṛn gạch qua một đường, chỗ đụng nhau một
chỗ trên đường gạch, đó là xúc.
Tác ư:
Móng khởi cái ư. Như khi muốn xem hoa, trước nhứt móng khởi cái ư; đó là
“Tác ư Tâm sở”. Rồi nó dẫn dắt nhăn thức xem hoa.Nếu không có tác dụng của Tâm sở
này, th́ dù có gặp hoa cũng không thấy.
Người đời có khi đi ngang qua vườn đầy hoa, mà không thấy hoa.Như thế là v́ trong lúc đó, Tâm sở
tác ư không có tương ưng với nhăn thức.
Thọ:
Lănh thọ. Như khi thấy hoa, có sự cảm thọ vui
buồn ...
Tưởng:
Tưởng tượng. Như sau khi thấy hoa, rồi tưởng tượng h́nh tướng của hoa đỏ hay
vàng, tốt hay xấu ...
Tư:
Lo nghĩ, tạo tác. Như nhơn thấy hoa, rồi lo nghĩa trồng hoa hay bẻ
hoa ...
Lại nữa, “Thọ
Tâm sở” có 3 loại:
1. Lạc thọ:
Thọ vui. Khi gặp cảnh thuận, như
được người khen ngợi, th́ cảm thọ vui mừng.
2. Khổ thọ:
Thọ khổ. Khi gặp cảnh nghịch, như
bị người huỷ báng hạ nhục, th́ cảm thọ buồn khổ.
3. Xả thọ: Thọ
cảnh không vui buồn. Khi gặp cảnh
b́nh thường không thuận nghịch, như trong lúc không được khen hay bị chê,
th́ cảm thọ không vui buồn.
Tóm lại, thức
thứ Tám này, tương ưng với 5 món Tâm sở Biến hành và hành tướng của nó rất
là tế nhị, không có hiện ra khổ và vui, nên chỉ tương ưng với xả thọ.
Nguyên văn chữ Hán
Thị vô
phú vô kư
Xúc
đẳng diệc như thị
Dịch nghĩa
Tánh của thức này là vô phú vô kư, nên những
Tâm sở tương ưng với nó, như Xúc, Tác ư ...cũng vô phú vô kư.
LƯỢC GIẢI
Tánh của các pháp, tóm
lại có 3 loại: 1. Tánh thiện, 2. Tánh ác, 3. Tánh vô kư (không thiện không
ác).
Tánh vô kư lại chia làm
2 loại:1. Vô phú vô kư, 2.
Hữu phú vô kư _ Thí như mặt gương, không phải thiện ác, dụ cho “tánh vô kư”;
khi bị bụi che lấp ánh sáng, dụ cho “tánh hữu phú vô kư”.
Đến lúc lau chùi sạch bụi; dụ cho “tánh vô phú vô kư”.
Tóm lại, thức thứ Tám
này không bị các phiền năo ngăn che, nên thuộc về tánh vô phú vô kư.Và những Tâm sở tương ưng với thức này, như Xúx, Tác ư
...cũng thuộc về tánh vô phú vô kư.
Nguyên văn chữ Hán
Hằng
chuyển như bộc lưu
Dịch nghĩa
Hằng chuyển biến như
ḍng nước chảy mạnh.
LƯỢC GIẢI
Ngoại đạo chấp các pháp
thường c̣n không mất, như thế gọi là chấp “thường’; hoặc chấp chết rồi mất
hẳn, như thế gọi là chấp “đoạn’.
Nhà duy thức nói: từ vô
thỉ đến nay, thức này hằng chuyển biến luôn, mỗi niệm sanh diệt tương tục
không gián đoạn. Cũng như nước thác, từ trên núi cao đổ
xuống, một dăy trắng xoá; ở xa trông như tấm vải trắng.V́ nó hằng chảy luôn, nên chẳng phải “đoạn diệt”.Song nó liên kết tiếp tục nhiều giọt, biến chuyển sanh
diệt luôn, nên không phải “thường nhứt”.
Nguyên văn chữ Hán
A la
hán vị xả ?
Dịch nghĩa
Đến vị A la hán mới xả
bỏ thức này (tàng thức).
LƯỢC GIẢI
Hỏi: Thức này, đă sanh
diệt tương tục, là gốc của sanh tử luân hồi, vậy phải tu đến địa vị nào mới
xả bỏ nó được ?
Đáp: Người tu hành đoạn
hết phiền năo chướng, đến quả vị A la hán, mới xả bỏ được thức “A
lại da”. Song chỉ xả bỏ cái “danh”, chớ không phải xả bỏ
cái “thể” của thức này.
Hỏi: Tại sao không xả bỏ
cái “thể”, của thức này?
Đáp: Cái “thể” của thức
này có hai phần: nhiễm và tịnh. Phần tịnh tức là “Trí”.Trong bài tụng nói “xả bỏ thức này”, tức là chuyển thức
thành trí, chớ không phải xả bỏ.Nếu xả bỏ cái
“thể” của thức này, th́ thành ra đoạn diệt, thuộc về ngoại đạo.Trong Đạo Phật không có chủ trương đoạn diệt (mất hẳn).