Chùa Hải-Đức in Jacksonville
|
GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT Hoà thượng THÍCH THIỆN HOA
***
PHẬT HỌC PHỔ THÔNG
QUYỂN BAKHOÁ IX X XI XII
1997
PHẬT HỌC PHỔ THÔNG KHÓA IX
*
DUY THỨC HỌC VÀ NHƠN MINH LUẬN
MỤC LỤC
PHẬT HỌC PHỔ THÔNG KHOÁ THỨ IX (DUY THỨC HỌC VÀ NHƠN MINH LUẬN)
1. Đại-thừa Bá Pháp Minh Môn Luận (Luận Đại-thừa trăm pháp) và Bát thức Quy Củ Tụng. 2. A-Đà-Na Thức luận (Duy-thức tập IV) 3. Duy-Thức Tam-Thập Tụng (Duy-thức tập V) 4. Nhơn-Minh luận
Bấm nút dưới này để nghe trực tiếp.
LỜI NÓI ĐẦU
Giáo-lư của Phật có đến tám vạn bốn ngàn (84.000) pháp-môn, chia ra làm mười tôn, chung quy chỉ có hai loại: Pháp-tánh và Pháp-tướng. Duy-thức tôn thuộc về Pháp-tướng. Nghiên-cứu, phân-tích, t́m hiểu Duy-thức tôn gọi là Duy-thức học. Môn học này là một môn triết-học rất cao-siêu và rộng răi, nên từ xưa đến nay không biết bao nhiêu học-giả đă phải bóp trán nặn đầu v́ nó. Cái khó khăn trong việc nghiên-cứu Duy-thức có nhiều nguyên-nhân: 1. Rất nhiều danh-từ chuyên-môn mới lạ mà học-giả chưa quen nghe; 2. Phân-tích các Hành-tướng về tâm-lư cũng như vật-chất rất nhiều, và quá tỉ-mỉ, làm cho học-giả khó nhớ. 3. Sách vở Duy-thức quá nhiều, học-giả không biết nên xem quyển nào trước, quyển nào sau; 4. Những sách ấy phần nhiều là sách chữ Hán, văn lại quá cổ nên người nay khó học; 5. Phải có tu quán mới hiểu rơ được Duy-thức. V́ những nguyên-nhân trên, học-giả phần đông đành bỏ lỡ một môn triết-học thâm thuư, cao-siêu là Duy-thức học! Muốn nghiên-cứu môn học này một cách có hiệu-quả, cần phải có phương-pháp và người hướng-dẫn. Chúng tôi c̣n nhớ, khi đang ṭng học tại Phật-học-đường Lưỡng-Xuyên (Vĩnh-B́nh), một hôm Sư cụ Tuyên-Linh (Lê-Khánh-Hoà) Giám-đốc Phật-học-đường Lưỡng-Xuyên đưa cho chúng tôi quyển “Đại-thừa bá pháp minh môn luận” mà dạy rằng: “Duy-thức là một môn học khó vô cùng. Văn chương đă khó danh-từ lại nhiều, và hành-tướng Tâm-vương, Tâm-sở cũng rất phiền-phức. Tôi đă ba năm nghiên-cứu bộ Thành Duy-thức luận, mà như người đi vào rừng rậm, không t́m được lối ra. Đến năm Đinh-Măo nhờ ban tổ-chức trường hương chùa Long-Khánh ở Quy-Nhơn mời tôi làm Phá- sư. Tôi được may mắn gặp Hoà-thượng Thập-Tháp. Tôi thuật lại sự khó khăn trong việc nghiên-cứu Thành Duy-thức của tôi. Hoà-thượng Thập-Tháp nghe xong, đem biếu tôi quyển “Đại-thừa bá pháp minh môn luận chuế ngôn” và nói: “Tôi biếu ngài một cái ch́a khoá để mở kho Duy-thức. Người nghiên-cứu Duy-thức mà trước không đọc Luận này, th́ cũng như người gỡ nùi tơ rối mà không t́m được mối. Vậy Ngài nên đọc quyển Luận này cho kỹ rồi nghiên-cứu Thành Duy-thức. Ngài sẽ thấy dễ dàng ...” “Quả thật như thế. Sau khi tôi trở về Nam, chuyên chú đọc quyển “Đại-thừa bá pháp minh môn luận” trong ba tháng, tôi trở lại nghiên-cứu Thành Duy-thức, thấy không c̣n khó khăn như trước nữa. Bởi thế, quyển “Bá pháp” này đối với tôi quư báu vô cùng: Ngoài cái kỷ-niệm vô giá của Hoà-thượng Thập-Tháp, nó c̣n là một cái ch́a khoá cho tôi mở cửa vào nhà Duy-thức. “Hôm nay, tôi trao lại cho các ông quyển Luận này để các ông khởi công trong việc nghiên-cứu Duy-thức”. Mặc dù Sư cụ Thập-Tháp và Sư cụ Tuyên-Linh đă về cơi Phật gần hai chục năm rồi, song những kỷ-niệm cao quư của hai Sư cụ mà chúng tôi được vinh-hạnh theo hầu trong mấy năm, vẫn c̣n ghi đậm nét trong tâm-hồn chúng tôi, và những lời vàng ngọc trên vẫn c̣n văng vẳng bên tai chúng tôi. Ngày nay, để nhắc nhở công-đức lớn lao của hai Sư cụ, những vị đă lập công đầu trong phong-trào chấn-hưng Phật-giáo Việt-Nam, và cũng để cho học-giới nước nhà nghiên-cứu được dễ dàng môn học Duy-thức, chúng tôi đánh bạo, cố gắng phiên-dịch và giải-thích quyển “Đại-thừa bá pháp minh môn luận” này và đổi danh-đề là “Duy-thức nhập môn” cho dễ hiểu. Quyển Duy-thức nhập môn này, như danh-đề của nó đă nêu lên, sẽ hướng-dẫn quư vị độc-giả đi đúng vào cửa của toà nhà Duy-thức. Quư độc-giả hăy đọc và nhớ kỹ quyển sách này, rồi tiếp tục đọc những quyển Duy-thức học tập I,II,III, v.v... th́ quư vị sẽ thấy ḿnh đang bước dần một cách dễ dàng và thú-vị lên ṭa lâu-đài rực rỡ và đồ sộ của Duy-thức. Mong quư vị sẽ chóng đạt được mục-đích.
Biên tại Phật-Học-Đường Nam-Việt Mạnh-Đông năm Mậu-Tuất (1958)
THÍCH-THIỆN-HOA
TẬP NHỨT
LUẬN ĐẠI-THỪA TRĂM PHÁP VÀ BÁT THỨC QUI CỦ TỤNG
***
BÀI THỨ NHỨT
LUẬN ĐẠI-THỪA TRĂM PHÁP (Trích yếu - Bài này nên học thuộc ḷng)
PHẦN THỨ NHỨT
CHÁNH VĂN Hỏi: Như lời Phật dạy: “Tất cả các pháp đều vô ngă”. Vậy cái ǵ là “Tất cả pháp” và sao gọi là “vô ngă”?
Đáp: Tất cả các pháp tuy
nhiều, nhưng tóm lại có 100 pháp, chia làm 5 loại:
LƯỢC GIẢI
I. TÂM-PHÁP HOẶC GỌI LÀ TÂM-VƯƠNG CÓ 8 MÓN
1. Nhăn-thức (cái biết của
mắt) II. TÂM SỞ HỮU PHÁP, GỌI TẮT LÀ TÂM SỞ, CÓ 51 MÓN, PHÂN LÀM 6 LOẠI:
1. Biến-hành,
có năm: Xúc, Tác-ư, Thọ, Tưởng, Tư. III. SẮC-PHÁP, CÓ 11 MÓN:
Năm căn:
Nhăn-căn, Nhĩ-căn, Tỹ-căn, Thiệt-căn và Thân-căn. IV. TÂM BẤT-TƯƠNG-ƯNG-HÀNH-PHÁP, GỌI TẮT LÀ “BẤT-TƯƠNG-ƯNG-HÀNH”, CÓ 24 MÓN: Đắc, Mạng-căn, Chúng-đồng-phận, Dị-sanh-tánh, Vô-tưởng-định, Diệt-tận-định, Vô-tưởng-báo, Danh-thân, Cú-thân, Văn-thân, Sanh, Trụ, Lăo, Vô-thường, Lưu-chuyển, Định-vị, Tương-ưng, Thế-tốc, Thứ-đệ, Thời, Phương, Số, Ḥa-hiệp-tánh, Bất-ḥa-hiệp-tánh. V. VÔ-VI PHÁP, CÓ 6 MÓN: Hư-không vô-vi, Trạch-diệt vô-vi, Phi-trạch-diệt vô-vi, Bất-động-diệt vô-vi, Tưởng-thọ-diệt vô-vi, Chơn-như vô-vi.
Nguyên văn chữ Hán:
Nhứt thế tối thắng cố
一切最勝故。 Dịch nghĩa: Thứ lớp như vầy: Tâm-vương hơn tất cả. Tâm-vương cùng Tâm-sở hợp nhau. Do hai món: Tâm-vương và Tâm-sở, mà hiện ra ảnh-tượng là “sắc-pháp”. Do ba món: Tâm-vương, Tâm-sở và Sắc-pháp, mà thành ra 24 món sai khác là “Bất-tương-ưng-hành”. Do bốn món: Tâm-vương, Tâm-sở, Sắc-pháp và Bất-tương-ưng-hành, đều thuộc về Pháp Hữu-vi, nên hiện ra 6 Pháp Vô-vi.
LƯỢC GIẢI
Tóm lại, ngoại-nhơn hỏi:
“Cái ǵ là tất cả pháp?” Đại ư, Luận-chủ trả lời: Các pháp tuy nhiều, nhưng
ước-lược chỉ có một trăm pháp, phân làm 5 loại: Trong 5 loại, lại chia làm hai: Bốn loại trên thuộc về Pháp Hữu-vi, loại thứ 5 thuộc về pháp Vô-vi. Trên nguyên-văn nói “tất cả pháp” tức là pháp Hữu-vi và Vô-vi vậy. Từ trước đến đây Luận-chủ đă trả lời xong câu hỏi thứ nhứt: “Cái ǵ là tất cả pháp”. V́ muốn cho học-giả dễ nhớ, nên Cổ-nhơn có làm bài kệ bốn câu, tóm lại 100 pháp như vầy:
Sắc-pháp thập nhứt, tâm-pháp bát, Dịch nghĩa:
Sắc-pháp mười một, Tâm-pháp tám,
***
PHẦN THỨ HAI
Luận-chủ trả lời câu hỏi thứ hai: “Sao gọi là vô ngă?” Chánh văn
- Nói “vô ngă”, lược có 2 món:
LƯỢC GIẢI
Chúng-sinh chấp thân, tâm này thật là ḿnh (ta), như thế là “Nhơn-ngă” ; chấp núi, sông, đất, nước, tất cả sự vật bên ngoài là thật có, như thế là “Pháp-ngă”. V́ “Nhơn” không thật có và “Pháp” cũng không thật có, nên Phật gọi rằng: “Tất cả Pháp vô ngă”; tức là “Nhơn không thật” và “Pháp không thật” vậy. Như thế là Luận-chủ đă trả lời xong câu hỏi thứ hai: “Thế nào là vô ngă”.
*** Minh Quang posted May 25, 2005
|
|
|