Chùa Hải-Đức in Jacksonville
|
LƯỢC SỬ PHẬT GIÁO ẤN ĐỘ Thích Thanh Kiểm
MỤC LỤC ĐẠI CƯƠNG
1. THIÊN THỨ NHẤT: THỜI ĐẠI NGUYÊN THỦY PHẬT GIÁO CHƯƠNG THỨ NHẤT. THỜI ĐẠI ĐỨC THÍCH TÔN I. Tư tưởng tôn giáo đă có trước thời đại Đức Thích Tôn xuất thế. II. Tư tưởng triết học ở thời kỳ Đức Thích Tôn xuất thế. III. Trạng thái chính trị và xă hội trong thời đạiĐức Thích Tôn. CHƯƠNG THỨ HAI. LƯỢC SỬ ĐỨC THÍCH TÔN I. Đức Thích Tôn trước khi thành đạo. II. Đức Thích Tôn sau khi thành đạo. III. Đức Thích Tôn nhập Niết bàn. CHƯƠNG THỨ BA. GIÁO ĐOÀN TỔ CHỨC VÀ KINH ĐIỂN KHỞI NGUYÊN I. Giáo đoàn tổ chức. II. Kinh điển khởi nguyên. CHƯƠNG THỨ TƯ. GIÁO LƯ NGUYÊN THỦY PHẬT GIÁO I. Giáo lư căn bản của Phật giáo. II. Tứ đế. III. Mười hai nhân duyên IV. Thế giới quan. V. Phân loại thế giới. VI. Phiền năo và giải thoát. VII. Ư nghĩa Niết bàn. VIII. Giáo lư thực tiễn tu hành. IX. Tam học. 2. THIÊN THỨ HAI: THỜI ĐẠI BỘ PHÁI PHẬT GIÁO CHƯƠNG THỨ NHẤT. KẾT TẬP KINH ĐIỂN VÀ SỰ NGHIỆP CỦA VUA A DỤC ĐỐI VỚI PHẬT GIÁO I. Kết tập kinh điển lần thứ II. II. Sự nghiệp của A Dục Vương đối với Phật giáo. III. Kết tập kinh điển lần thứ III. CHƯƠNG THỨ HAI. GIÁO ĐOÀN PHÂN PHÁI I. Sự đối lập căn bản của hai bộ. II. Sự phân liệt về mạt phái của hai bộ. CHƯƠNG THỨ BA. GIÁO NGHĨA CỦA CÁC BỘ PHÁI I. Giáo nghĩa của Thượng tọa bộ và Hữu bộ. II. Giáo nghĩa của Đại chúng bộ. III Giáo nghĩa của mạt phái và chi phái. CHƯƠNG THỨ TƯ. PHẬT GIÁO Ở VƯƠNG TRIỀU KANISKA I. Phật giáo sau triều đại A Dục Vương. II. Vương triều Kaniska. III Kết tập kinh điển lần thứ IV. CHƯƠNG THỨ NĂM. PHẬT GIÁO Ở THỜI KỲ GIỮA TIỂU THỪA VÀ ĐẠI THỪA I. Lời tiểu dẫn. II. Ngài Nagasena. III Ngài Vasumitra. IV. Ngài Asvagosa (Mă Minh Bồ tát). V. Giáo nghĩa của ngài Mă Minh. CHƯƠNG THỨ SÁU. VIỆC THÀNH LẬP TAM TẠNG I. Luật tạng thành lập. II. Kinh tạng thành lập. III Luận tạng thành lập. IV. Vấn đề ngôn ngữ của Nguyên thủy kinh điển. V. Hai hệ thống lớn của kinh điển Phật giáo. CHƯƠNG THỨ BẢY. SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TIỂU THỪA PHẬT GIÁO I. Tiểu thừa Phật giáo thành lập. II. Sự phát triển của giáo nghĩa Hữu bộ. III Sự phát triển của hệ thống Kinh lượng bộ. IV. Nội dung bộ A Tỳ Đạt Ma Câu Xá luận. V. Nam phương Thượng tọa bộ Phật giáo. 3. THIÊN THỨ BA: THỜI ĐẠI ĐẠI THỪA PHẬT GIÁO CHƯƠNG THỨ NHẤT. KHỞI NGUYÊN CỦA ĐẠI THỪA PHẬT GIÁO I. Ư nghĩa Đại thừa và Tiểu thừa. II. Khởi nguyên của tư tưởng Đại thừa Phật giáo. III Các kinh điển của Đại thừa Phật giáo thành lập trước thời đại ngài Long Thọ. CHƯƠNG THỨ HAI. PHẬT GIÁO Ở THỜI ĐẠI NGÀI LONG THỌ, ĐỀ BÀ VÀ BẠT ĐÀ LA I. Lược truyện và trước tác của ngài Long Thọ. II. Giáo nghĩa của ngài Long Thọ. III. Ngài Đề Bà. IV. Ngài Bạt Đà La. CHƯƠNG THỨ BA. CÁC KINH ĐIỂN CỦA ĐẠI THỪA PHẬT GIÁO (Thành lập sau thời đại ngài Long Thọ) I. Kinh Thắng Man. II. Kinh Đại Bát Niết Bàn. III. Kinh Giải Thâm Mật. IV. Kinh Lăng Già. CHƯƠNG THỨ TƯ. PHẬT GIÁO Ở THỜI ĐẠI NGÀI VÔ TRƯỚC, THẾ THÂN I. Lược truyện và trước tác của ngài Vô Trước. II. Lược truyện và trước tác của ngài Thế Thân. III. Giáo nghĩa của ngài Vô Trước và Thế Thân. CHƯƠNG THỨ NĂM. HAI HỆ THỐNG LỚN CỦA ĐẠI THỪA PHẬT GIÁO I. Các bậc luận sư thuộc hệ thống Thực Tướng luận. II. Các bậc luận sư thuộc hệ thống Duyên Khởi luận. III. Nguyên nhân hưng thịnh của chùa Na Lan Đà. CHƯƠNG THỨ SÁU. PHẬT GIÁO Ở THỜI ĐẠI NGÀI TRẦN NA ĐẾN NGÀI GIỚI HIỀN I. Ngài Trần Na. II. Ngài Thanh Biện. III. Ngài Hộ Pháp. IV. Ngài Trí Quang và Giới Hiền. 4. THIÊN THỨ TƯ: THỜI ĐẠI MẬT GIÁO CHƯƠNG THỨ NHẤT. SỰ THÀNH LẬP VÀ BIẾN THIÊN CỦA MẬT GIÁO I. Sự quan hệ giữa Mật giáo và Ấn Độ giáo. II. Tư tưởng Mật giáo thành lập. III. Sự phát triển của Mật giáo. IV. Quân Hồi giáo xâm nhập và bi kịch của Phật giáo. CHƯƠNG THỨ HAI. PHẬT GIÁO TÂY TẠNG I. Phật giáo bắt đầu truyền vào Tây Tạng. II. Sự biến thiên của Phật giáo Tây Tạng. III. Kinh điển của Phật giáo Tây Tạng. IV. Giáo lư của Phật giáo Tây Tạng. PHỤ LỤC DI TÍCH CỦA PHẬT GIÁO ẤN ĐỘ • Các sách tham khảo.
Lịch sử Phật giáo đă có từ trên 2500 năm. Lúc đầu Phật giáo được triển khai từ Ấn Độ, rồi dần dần lan tràn ra hai ngả Bắc phương và Nam phương. Bắc phương là các nước Tây Tạng, Mông Cổ, Trung Quốc, Việt Nam, Triều Tiên và Nhật Bản, cùng các nước thuộc địa vực Tiểu Á Tế Á. Nam phương là những nước Tích Lan1, Miến Điện2, Thái Lan, Ai Lao3, Cao Miên4, đảo Java, Sumatra trong Nam Dương5 quần đảo và hiện nay Phật giáo đă được phổ cập hầu khắp các nước trên thế giới. Về tư tưởng của Phật giáo th́ có những giáo lư của Nguyên thủy Phật giáo, Tiểu thừa Phật giáo, Đại thừa Phật giáo, và giáo nghĩa của các tôn, các phái. Hơn nữa, Phật giáo được truyền bá vào nước nào th́ tư tưởng của Phật giáo cũng được viết bằng tiếng Việt. Trong khi chưa đi Nhật Bản, chính chúng tôi cũng muốn học hỏi và nghiên cứu lịch sử Phật giáo Ấn Độ, nhưng không thể t́m đâu ra sử liệu đó viết bằng Việt ngữ, ngoài vài nét tượng trưng thấy chép trong cuốn “Lịch sử truyền bá Phật giáo” của tác giả Thích Trí Quang v.v... Ấy cũng v́ những lư do trên nên cuốn “Lược sử Phật giáo Ấn Độ” này mạnh dạn được ra đời. Nội dung cuốn “Lược sử Phật giáo Ấn Độ” này chia làm bốn thiên. Thiên thứ nhất là “Thời đại Nguyên thủy Phật giáo”, kể từ thời kỳ Đức Phật c̣n tại thế cho tới cuối thế kỷ thứ III trước Tây lịch, sau vương triều Asoka, lược chép tất cả sự biến thiên và sự phân liệt của giáo đoàn Phật giáo, và bàn rơ phần giáo lư của Nguyên thủy Phật giáo. Thiên thứ hai là “Thời đại Bộ phái Phật giáo”, kể từ cuối thế kỷ thứ III trước Tây lịch đến cuối thế kỷ thứ II Tây lịch, trong khoảng 400 năm, chép sự biến thiên của giáo đoàn cũng là giáo nghĩa của Bộ phái Phật giáo. Sau nói về sự phát triển của Tiểu thừa Phật giáo. Thiên thứ ba là “Thời đại Đại thừa Phật giáo”, kể từ cuối thế kỷ II cho tới cuối thế kỷ thứ VII, chép về sự hưng long và phát triển của Đại thừa Phật giáo qua các thời đại ngài Long Thọ, Đề Bà, đều thích ứng với tập tục của từng dân tộc, từng địa phương mà chuyển hướng, nên tư tưởng của Phật giáo đă rộng lại rộng thêm. Lịch sử truyền bá của Phật giáo đă quá rộng mà tư tưởng của Phật giáo lại quá sâu, nếu người muốn nghiên cứu về giáo lư của Phật giáo mà không đặt một đường lối đă định để noi theo th́ khó thể đạt được phần kết quả tốt đẹp. Vậy bước đầu tiên của đường lối đó chính là việc nghiên cứu về lịch sử của Phật giáo. Lịch sử Phật giáo của mỗi địa phương, mỗi nước đều có những đặc chất khác nhau. Tuy vậy, nhưng Phật giáo ở các nước đều bắt nguồn từ Ấn Độ mà có, nên việc khảo sát về lịch sử Phật giáo Ấn Độ nó chiếm một địa vị rất quan trọng. Ở Việt Nam ta, Phật giáo được truyền vào đă có gần 2000 năm lịch sử. Tư tưởng của Phật giáo đă từng làm bá chủ ở dưới các triều đại Đinh, Lê, Lư, Trần. Phật giáo đă tạo cho nước Việt Nam thành một nước văn hiến. Và lịch sử Phật giáo Việt Nam cũng dựa theo vào từng thời đại, có lúc thịnh lúc suy. Để ghi chép lại tất cả những giai đoạn thịnh suy đó, nên cuốn “Việt Nam Phật Giáo Sử Lược” của Thượng tọa Thích Mật Thể đă được ra đời. Riêng về lịch sử Phật giáo Ấn Độ, là điều kiện không thể thiếu trong việc nghiên cứu Phật giáo th́ lại không thấy Thế Thân và Vô Trước. Đó là thời đại toàn thịnh của Phật giáo Ấn Độ. Thiên thứ tư là “Thời đại Mật giáo”, kể từ cuối thế kỷ thứ VII tới thế kỷ thứ XII, lược thuật sự hưng thịnh và biến thiên của Mật giáo ở Ấn Độ và Tây Tạng; cuối cùng phụ lục về di tích của Phật giáo Ấn Độ. Trong khi biên soạn cuốn sử này, chúng tôi đă vấp phải sự khó khăn nhất, đó là vấn đề “Niên đại”. V́ các bộ sách dùng để tham khảo, về niên đại xảy ra ở các thời đại, th́ mỗi sách nói mỗi khác, chỉ nói phỏng chừng, như “Vào khoảng năm ấy, thế kỷ ấy” vậy nên khó thể mà quyết định được chính xác. Đó thực là một khuyết điểm lớn trong việc chép sử, rất mong độc giả lưu ư. Sau khi thảo xong bản cảo, chúng tôi tự nghĩ, trên phương diện kê cứu c̣n có nhiều điểm thiếu sót, chưa phải đă là một cuốn sử hoàn bị. Nhưng v́ mục đích gây một phong trào cho công việc nghiên cứu lịch sử, và để góp một phần nào sử liệu cho Phật giáo nước nhà, nên chúng tôi cho cuốn sử nhỏ này ra mắt cùng độc giả, trong khi quư vị chờ đợi một cuốn sử hoàn bị hơn. Saigon, mùa Xuân năm Quư Măo (1963) Sa môn THÍCH THANH KIỂM 1. THIÊN THỨ NHẤT. THỜI ĐẠI NGUYÊN THỦY PHẬT GIÁO (624 - 270 trước Tây lịch)
CHƯƠNG THỨ NHẤT. THỜI ĐẠI ĐỨC THÍCH TÔN I. Tư tưởng tôn giáo đă có trước thời đại Đức Thích Tôn xuất thế. II. Tư tưởng triết học ở thời kỳ Đức Thích Tôn xuất thế. III. Trạng thái chính trị và xă hội trong thời đại Đức Thích Tôn. CHƯƠNG THỨ HAI. LƯỢC SỬ ĐỨC THÍCH TÔN I. Đức Thích Tôn trước khi thành đạo. II. Đức Thích Tôn sau khi thành đạo. III. Đức Thích Tôn nhập Niết bàn. CHƯƠNG THỨ BA. GIÁO ĐOÀN TỔ CHỨC VÀ KINH ĐIỂN KHỞI NGUYÊN I. Giáo đoàn tổ chức. II. Kinh điển khởi nguyên. CHƯƠNG THỨ TƯ. GIÁO LƯ NGUYÊN THỦY PHẬT GIÁO I. Giáo lư căn bản của Phật giáo. II. Tứ đế. III. Mười hai nhân duyên IV. Thế giới quan. V. Phân loại thế giới. VI. Phiền năo và giải thoát. VII. Ư nghĩa Niết bàn. VIII. Giáo lư thực tiễn tu hành. IX. Tam học.
CHƯƠNG THỨ NHẤT. THỜI ĐẠI ĐỨC THÍCH TÔN
I. TƯ TƯỞNG TÔN GIÁO ĐĂ CÓ TRƯỚC THỜI ĐỨC THÍCH TÔN XUẤT THẾ Trước thời kỳ Đức Thích Tôn xuất thế, văn hóa Ấn Độ cũng đă phát triển tới một tŕnh độ khá cao, do tư tưởng sáng tạo của giống người Aryan. Nguyên thủy, giống người Aryan cư trú tại miền Trung ương Á Tế Á, lấy nghề du mục để sinh sống. Vào khoảng 3000 năm trước kỷ nguyên, giống người này vượt qua dăy núi Hindukush di cư xuống vùng Đông nam Á Tế Á; một phần của giống người này di chuyển về phía Tây nam thuộc Ba Tư (Iran), một phần th́ tiếp tục di chuyển về phía Đông nam, xâm nhập vào phía Tây bắc nước Ấn Độ, đánh đuổi người bản xứ, chiếm lĩnh vùng Panjab (Ngũ hà địa phương), thuộc thượng lưu sông Indus, và giống người này được gọi là dân tộc Aryan Ấn Độ. Dân tộc Aryan Ấn Độ cư trú ở vùng Panjab, ngày một phồn thịnh, nhất là về mặt tư tưởng th́ rất phát đạt, v́ thế, dân tộc này đă chế tác được bộ kinh điển đầu tiên, tức là kinh điển Rg Veda (Lê Câu Phệ Đà) 40 quyển, là nguồn tư tưởng văn hóa ở thời kỳ thứ nhất của Bà La Môn giáo, trong khoảng 1500 -1000 năm trước kỷ nguyên. Nội dung của kinh điển Rg Veda chỉ là những bài ca tán có tính cách thần thoại, nhưng bao hàm nhiều tư tưởng về vũ trụ và nhân sinh quan, tư tưởng Rg Veda là tư tưởng mở đầu cho nền văn minh và triết học Ấn Độ, và cũng là cơ sở để khai triển cho những trào lưu tư tưởng hậu lai. Nguồn tư tưởng ở thời kỳ thứ hai của Bà La Môn giáo là thời đại Bràhmana (Phạm thư), trong khoảng 1000 - 800 năm trước kỷ nguyên. Trong thời kỳ này, dân tộc Aryan Ấn Độ lần lượt tiến về phía Đông, chiếm cứ khu đất đồng bằng ph́ nhiêu trên bờ sông Hằng Hà (Gange), lấy nghề canh nông làm mục tiêu, đặt ra chức tước vua quan, bắt những người khác giống làm nô lệ, chia xă hội thành bốn giai cấp khác nhau: Giai cấp Bà-la-môn (Bràhmana), chủ trương việc nghi lễ tôn giáo; giai cấp Sát-đế-lợi (Ksatriya) là giai cấp vua quan, nắm quyền thống trị; giai cấp Tỳ-xá (Vaisya) là giai cấp b́nh dân, nông, công, thương; giai cấp Thủ-đà-la (Sùdra) là giai cấp tiện dân, đời đời làm nô lệ. V́ giai cấp Bà-la-môn chủ trương công việc lễ nghi, tôn giáo, nên đă chế tác ra bộ kinh điển Bràhmana, để chú thích và thuyết minh kinh điển Veda. Nội dung của sách Bràhamana th́ hoàn toàn là một pho sách có tính cách thần học. Tư tưởng triết học của Bràhmana th́ khai triển theo thứ tự trong ba giai đoạn. Giai đoạn thứ nhất lấy Prajapati (Sinh sản) làm trung tâm. Tư cách của Prajapati là thần tối cao, tạo ra vũ trụ, trời đất và hư không, rồi lần lượt tạo ra Thái Dương thần, Phong thần, Hỏa thần, con người và vạn hữu, nên giai đoạn này thuộc về quan niệm sáng tạo. Giai đoạn thứ hai, lấy Bràhaman (Đại ngă) làm trung tâm. Bràhman thay thế Prajapati để nắm quyền chi phối các vị thần. Giá trị của Bràhman đứng trên hai phương diện, một phương diện th́ duy tŕ cái bản chất bất biến bất động của nó, mặt khác th́ hoạt động theo hai yếu tố là Nàma (Danh) và Rùpa (Sắc) để khai triển vạn hữu. Giai đoạn thứ ba, lấy Àtman (Tự ngă) làm trung tâm. Bràhaman và Àtman tên tuy khác nhau nhưng cùng một thể. Bràhman thuộc về phương diện vũ trụ; Àtman thuộc về phương diện tâm lư. Căn cứ vào phương diện tâm lư th́ linh hồn bất diệt, nghĩa là Àtman khi ĺa thể xác th́ linh hồn được quy thuộc về Bràhman. Nguồn tư tưởng ở thời kỳ thứ ba của Bà La Môn giáo là triết học Upanishad (Áo nghĩa thư). Tiếp sau tư tưởng Bràhman là triết học Upanishad được thành h́nh trong khoảng 800 - 600 năm trước kỷ nguyên. Nội dung tư tưởng triết học này chủ trương thuyết PHẠM NGĂ ĐỒNG NHẤT (Bràhman, Àtman ailkyam), và lư tưởng giải thoát. Lư tưởng giải thoát chia làm ba giai đoạn. Giai đoạn thứ nhất là việc đi t́m giải thoát, nhưng giải thoát phải t́m ở tự nơi ḿnh, không phải là t́m ở bên ngoài, cho nên nhân của giải thoát là tự giác, nhân của luân hồi là bất giác. Giai đoạn thứ hai, muốn thoát luân hồi cần phải an trụ cái bản tính, và bồi dưỡng phần trí tuệ. Giai đoạn thứ ba, phải noi theo phương pháp tu tŕ để mong phát minh trực quán trí, tức là phép tu Du-già (Yoga). Theo thứ tự như thế mà tu, dần dần chân ngă sẽ toàn hiện, tới lúc chân ngă toàn hiện, th́ Àøtman trở thành Bràhman, tức là giải thoát, chấm dứt luân hồi.
II. TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC Ở THỜI KỲ ĐỨC THẾ TÔN XUẤT THẾ Tư tưởng trong ba thời kỳ: Rg Veda, Bràhmana và Upanishad như trên đă kể đều là tư tưởng căn bản của Bà La Môn giáo. Nhưng từ khoảng 600 năm trước kỷ nguyên trở về sau, tư tưởng Ấn Độ được tự do phát triển, thế lực chính thống của Bà La Môn giáo ngày một sút kém, v́ thế nên đă phát sinh ra nhiều tư tưởng, tôn giáo và triết học mới như Phật giáo, Kỳ Na giáo, Lục Sư ngoại đạo phái và sáu phái triết học. KỲ NA GIÁO (Jaina). - Giáo Tổ tên là Vardhamana (Đại Hùng). Giáo này chủ trương về Vật hoạt luận. Tư tưởng triết học căn bản của giáo này là thực thể (dravaya). Thực thể chia ra hai trạng thái là Sinh mệnh yếu tố và Phi sinh mệnh yếu tố (Java, Ajava). Sinh mệnh yếu tố th́ gồm đủ hai phần lư trí và t́nh cảm; phi sinh mệnh yếu tố được chia làm năm thứ: Không (Akasa), Pháp (Dharma), Phi pháp (Adharma), Vật chất (Pudgala) và Thời gian (Kala). Không là nguyên lư bao gồm mọi nơi mọi chốn; vật chất là nguyên lư tạo thành nhục thể; pháp là nguyên lư vận động; phi pháp là nguyên lư đ́nh chỉ; thời gian là nguyên lư biến hóa. Sinh mệnh yếu tố và Phi sinh mệnh yếu tố v́ liên kết với nhau nên sinh ra các phiền năo, bị luẩn quẩn trong ṿng luân hồi. V́ mong giải thoát luân hồi nên giáo này chủ trương phương pháp tu hành khổ hạnh làm mục đích tối cao. LỤC SƯ NGOẠI ĐẠO PHÁI (Sat-Tirthakarah). - Căn cứ vào kinh điển và sử liệu của Phật giáo, đương thời Đức Thích Tôn, có sáu nhà ngoại đạo chủ trương mỗi phần lư thuyết khác nhau, nên Phật giáo thường gọi là “Lục Sư ngoại đạo”. Nhưng, những lư thuyết của sáu phái này chỉ bột phát nhất thời rồi bị tiêu diệt. Đại cương về lư thuyết của Lục Sư ngoại đạo phái như sau: 1. Phái Pùrana Kàssápa (Phú Nan Đà Ca Diếp). - Phái này chủ trương thuyết ngẫu nhiên, không tin luật nhân quả, cho hết thảy sự khổ vui, họa phúc của con người chỉ là ngẫu nhiên. Phật giáo gọi phái này là phái ngoại đạo “Vát vô nhân quả”. 2. Phái Makkhali Gosàla (Mạt Già Lê Câu Xá Lợi). - Phái này chủ trương thuyết tự nhiên, cho hết thảy sự vui khổ, họa phúc của con người đều là tự nhiên, không ảnh hưởng của bất cứ một nguyên nhân nào. Nên Phật giáo gọi phái này là “Tà mệnh ngoại đạo”. 3. Phái Ajitakesa Kambali (A Di Đa Thúy Xá Khâm Bà La). - Phái này chủ trương thuyết Duy vật luận, cho thân thể con người chỉ là do bốn yếu tố: Địa, Thủy, Hỏa, Phong kết hợp lại mà thành, khi chết th́ tứ đại lại hoàn tứ đại, không trọng dụng về phương diện tinh thần, đạo đức, lấy chủ nghĩa khoái lạc cho nhục thể làm mục đích. 4. Phái Pakudha Katyàyana (Bà Phù Đà Ca Chiên Diên). - Phái này chủ trương sinh mệnh và vật chất đều thường trụ, cho tất cả các vật được tạo thành là nương vào sự ḥa hợp của bảy yếu tố: Địa, Thủy, Hỏa, Phong, Khổ, Lạc, Sinh mệnh. Vậy nên sự sinh tử chỉ là một công việc tụ hay tán của bảy yếu tố đó, mà những yếu tố đó th́ thường trụ bất diệt. 5. Phái Aønjaya Belatthiputta (Tán Nhạ Gia Tỳ La Lê Tử). - Phái này chủ trương thuyết tu định, thuộc phái ngụy biện. Họ cho chân lư không phải là không biến đổi, nên việc tu đạo là vô ích, mà chỉ chuyên tu thiền định. 6. Phái Nigantha Nàtaputta (Ni Kiền Đà Nhă Đề Tử). - Phái này chủ trương tu khổ hạnh, cho sự khổ, vui, họa, phúc của con người đều do tiền nghiệp đă định, muốn thoát khỏi tiền nghiệp đó, cần phải luyện thân khắc khổ để mong cầu giải thoát. SÁU PHÁI TRIẾT HỌC. - Kỳ Na giáo và Lục Sư ngoại đạo phái như trên đă lược thuật, không thuộc về tư tưởng của Bà La Môn giáo, nhưng sáu phái triết học mới phát sinh th́ đều chịu ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp của ba thời kỳ Rg Veda, Bràhmana và Upanishad. Tư tưởng đại cương của sáu phái triết học như sau: 1. Phái Nyàya (Chính lư phái). - Thủy tổ tên là Aksapàda (Túc Mục). Tư tưởng của phái triết học này thuộc Đa nguyên luận, lấy kinh điển Nyàya Sùtra làm căn cứ. Kinh này gồm có 538 câu. Về quan niệm nhân sinh lấy phương châm ĺa khổ tới chỗ giải thoát làm mục đích. Phái này cho rằng con người được sinh ra nơi trần thế là có đầy dẫy sự khổ, mà nguyên nhân được sinh ra (janma) là do tác nghiệp (pravrtti), tác nghiệp làm cơ sở cho phiền năo (dosa), phiền năo là căn bản của vô tri (mithyajnàna). Vậy nên muốn ĺa khổ phải tiêu diệt vô tri, tiêu diệt được vô tri tức là tới cảnh giới an vui giải thoát (nihsreyasa). Lư thuyết này tương tự với thuyết mười hai nhân duyên trong Phật giáo. Về phương thức nghị luận, phái này chia làm năm giai đoạn: Tôn (Pratijanà), Nhân (Hetu), Dụ (Udàhadana), Hợp (Upanaya), Kết (Nigamana). Phương thức lư luận này nếu đem so sánh với luận lư Tây phương, th́ “Tôn” tương đương với bộ phận “Đoán án”, “Nhân” là “Môi giới từ”, “Dụ” tương đương với bộ phận “Đại tiền đề”. Nhưng phương thức luận lư của phái này c̣n thêm hai chi là “Hợp”, “Kết”, tỏ ra lập trường luận lư rất vững vàng. Về sau, phương thức luận lư này được phủ chính những chỗ chưa hoàn bị qua tay hai bậc thạc học trong Phật giáo là Thế Thân và Trần Na, và được chuyển làm môn luận lư học trong Phật giáo. 2. Phái Vaisésika (Thắng luận phái). - Phái này chủ trương thuyết “Thanh thường trụ” (Âm thanh thường c̣n), đứng trên lập trường tự nhiên triết học để giải thích vũ trụ vạn hữu. Khai tổ là Kanada (Ca Na Đà), kinh điển căn cứ là Vaisesika Sùtra, gồm có 370 câu. Trong đó có nêu ra sáu phạm trù: Thực cú nghĩa, Đức cú nghĩa, Nghiệp cú nghĩa, Đồng cú nghĩa, Dị cú nghĩa và Ḥa hợp cú nghĩa, làm nguyên lư để thành lập vạn hữu. Trước hết chỉ quan sát vạn hữu ở phần cụ thể, gạt bỏ phần tính chất, vận động và trạng thái, mục đích để đạt tới khái niệm thực thể của vạn hữu. Để thích ứng với nguyên lư đó, nên trước hết thành lập “Thực cú nghĩa” (Dravya Padàrtha); gác bỏ khái niệm của thực thể và vận động, chỉ quan sát về khái niệm tính chất hay thuộc tính của vạn hữu, để thích ứng với nguyên lư này nên thành lập ra “Đức cú nghĩa” (Guna Padàrtha); chỉ thích ứng với nguyên lư thực tại để hợp với khái niệm vận động nên thành lập ra “Nghiệp cú nghĩa” (Karma Padàrtha). Tóm lại, vạn hữu đều do ba nguyên lư “Thực, Đức, Nghiệp” (Thể, Tướng, Dụng) kết hợp lại mà thành lập. Căn cứ vào ba nguyên lư ấy mà quan sát sự quan hệ trong nơi vạn hữu, nếu trường hợp ba nguyên lư ấy cùng quan hệ với nhau, nên lại thành lập ra “Đồng cú nghĩa” (Sàmànya Padàrtha); nếu ba nguyên lư ấy ở trong trường hợp phản đối nhau, nên thành lập ra “Dị cú nghĩa” (Visésa Padàrtha); năm nguyên lư kể trên nếu ở trong trường hợp liên kết với nhau, nên lại thành lập ra “Ḥa hợp cú nghĩa” Samavàya Padàrtha). Sáu nguyên lư kể trên tức là sáu phạm trù căn bản để thuyết minh và lư giải vạn hữu. Về phương diện nhân sinh quan, phái này cho con người được thành lập bởi tám yếu tố. Trước hết là yếu tố “Àtman”, thực thể của nó th́ bất sinh bất diệt; thứ hai là “Ư” (Manas), ư là cơ quan liên lạc giữa Àtman và ngũ căn, ngũ căn th́ hoàn toàn do vật chất tạo thành: “Nhăn căn” do hỏa đại, “Nhĩ căn” do không đại, “Tỷ căn” do địa đại, “Thiệt căn” do thủy đại, “Thân căn” do phong đại tạo thành. Đối tượng của ngũ căn là ngũ trần: Sắc, thanh, hương, vị, xúc. Àtman là trung tâm, c̣n các cơ quan khác chỉ là phụ thuộc để nhận thức và hành động. Yếu tố sau hết là “Nghiệp lực” (Adrsta), bởi nghiệp lực huân tập nên bị luân hồi, muốn thoát luân hồi cần phải diệt nghiệp lực, muốn diệt nghiệp lực cần phải tu tŕ khổ hạnh để mong đạt tới cảnh giới thuần túy của Àtman, đó là lư tưởng của giải thoát. 3. Phái Sàmkhya (Số luận phái). - Khai tổ là Kapia (Ca Tỳ La). Phái này chủ trương Nhị nguyên luận là tinh thần và vật chất. Vật chất là yếu tố để thành lập vạn vật, đối lập với vật chất là vô số linh hồn (tinh thần). Linh hồn th́ hoạt động, tự do kết hợp với vật chất để tạo thành sinh vật. Bản chất của linh hồn th́ thuần túy chủ quan, không biến động; vật chất là khách quan luôn luôn biến hóa dao động, nương theo ba nguyên chất là “Sattva” (hỷ), “Rajas” (ưu), và “Tamas” (ám). Ba nguyên chất này c̣n gọi là ba đức (guna). Căn cứ vào sự phối hợp của ba đức này để thuyết minh hiện tượng vạn hữu. Thí dụ: Ba đức ấy nếu cứ hai đức một chi phối lẫn nhau là động lực tạo thành ba đức ấy đứng ở trạng thái b́nh hành là nguyên nhân tiêu diệt. 4. Phái Yoga (Du già phái). - Khai tổ là Patanjali (Bát Tử Xà Lê), lấy kinh điển Yoga Sùtra làm căn cứ. Phái này chú trọng ở pháp môn tu thiền định để mong cầu giải thoát, theo phương pháp thực tu chia làm tám giai đoạn: Cấm chế (Yama), Khuyến chế (Niyama), Tọa pháp (Àsana), Điều tức (Prànàyàma), Chế cảm (Pratyàkàra), Chấp tŕ (Dhàranà), Tĩnh lự (Dhyàna), Đẳng tŕ (Samàdhi). Cấm chế cần phải giữ năm giới điều: Không sát sinh, không trộm cắp, không gian dâm, không nói dối, không tham lam, thuộc đức độ tiêu cực. Khuyến chế cần phải làm năm việc: Thanh tịnh, măn định, khổ hạnh, học tập kinh điển, định thần, thuộc đức độ tích cực. Tọa pháp là để điều ḥa thân thể. Điều tức, để chỉnh đốn hô hấp. Chế cảm, để thống trị ngũ căn. Chấp tŕ, để tập trung tư tưởng. Tĩnh lự, để thống nhất cái tâm. Đẳng tŕ, để tâm trở thành vắng lặng như hư không, chỉ c̣n là cảnh giới xán lạn, tức là chứng được tam muội (sammadhi), chỉ c̣n là một “thần ngă” giải thoát tự tại. 5. Phái Mimàmsà (Nhĩ Man Tát phái). - Khai Tổ là Jaimini (Sà Y Nhĩ Ni), lấy kinh điển Mimàmsà Sùtra làm căn cứ. Phái này chú trọng về phương diện luân lư triết học, phục tùng mệnh lệnh và cấm chế của kinh điển Veda, chủ trương thuyết “Âm thanh thường trụ”. Về lư tưởng giải thoát, phái này cho rằng hiện thế và lai thế, muốn được sung sướng, cần phải có nhiều h́nh thức hy sinh. Kết quả của sự hy sinh được báo đền trong đời tương lai hay hiện tại. 6. Phái Vedànta (Phệ Đàn Đa phái). - Khai tổ là Bàdarayana (Bà Đạt La Gia Na), lấy kinh điển Vedànta do Bàdarayana trước tác làm căn cứ. Tư tưởng triết học của phái này chủ trương rằng, Bràhman là tổng nguyên lư của vũ trụ, vạn hữu, là duy nhất, là siêu việt. Thế gian vạn hữu đều bao hàm trong Bràhman, tự ư chí của Bràhman khai triển ra hiện tượng giới. Bràhman, trước hết khai triển ra “Hư không”, từ hư không phát sinh ra “Gió”, từ gió phát sinh ra “Lửa”, từ lửa phát sinh ra “Nước”, từ nước phát sinh ra “Đất”. Năm nguyên tố này một mặt được tổ chức thành vật khí thế gian, một mặt được tổ chức thành hữu t́nh thế gian. Căn cứ ở kinh Vedànta Sùtra th́ Bràhman và Àtman là một thể. Khi ở giai đoạn chưa khai triển th́ Àtman là bào thai của Bràhman, nhưng khi ở giai đoạn đă khai triển th́ Àtman của con người ở địa vị độc lập, chịu phần chi phối của Bràhman. Đặc chất của Àtman là trí tuệ, hành vi, nương theo vào tự do ư chí phán đoán, tạo thành nhiều loại tác nghiệp, do tác nghiệp huân tập nên quên mất cố hương, chỉ theo huân tập chịu sinh tử luân hồi trong hiện tượng giới, chịu khổ năo trong loài hữu t́nh. Hữu t́nh là một bộ phận của Bràhman, đầy đủ thể tính thanh tịnh như Bràhman, muốn trở lại với Bràhman th́ cần phải noi theo môn tu hành giải thoát. Do công phu tu hành giải thoát, Àtman lại được dung hợp với cảnh giới Bràhman, tới giai đoạn này th́ hoàn toàn giải thoát vĩnh viễn.
III. TRẠNG THÁI CHÍNH TRỊ VÀ XĂ HỘI TRONGTHỜI ĐỨC THÍCH TÔN Về thời cổ đại, dân tộc Ấn Độ tổ chức guồng máy chính trị theo chính thể Cộng ḥa. Nhưng tới thời kỳ Đức Thích Tôn xuất thế, th́ chế độ đó đă bị suy tàn, và được thay thế bằng chính thể Quân chủ chuyên chế. Duy có hai nước là Magadha (Ma Kiệt Đà) và Kosala (Kiều Tát La) là chế độ Cộng ḥa vẫn c̣n tồn tại. Nước Magadha ở phía Nam sông Hằng Hà, đô thị của nước này là Rajagrha (Vương Xá thành). Nước Kosala ở phía Bắc Ấn Độ, đô thị của nước này là Sravasti (Xá Vệ thành). Hai nước này là trung điểm cho nền văn minh Ấn Độ lúc đương thời và rất có quan hệ mật thiết với Phật giáo. Phía Đông bắc nước Ma Kiệt Đà có gịng họ Anga (Ương Già tộc) đóng đô ở thành Campà (Chiêm Ba); đối diện với nước này có gịng họ Licchavi (Ly Xa Tỳ tộc) đóng đô ở thành Vesaĺ (Phệ Xá Ly). Ngoài ra c̣n có các gịng họ Kàsi (Ka Thi), Vacchà (Bà Ta), Mallà (Mạt La) cư trụ ở gần nước Kosala v.v..., gây thành trạng thái quần hùng cát cứ lúc đương thời. Và gịng họ của Đức Phật là Sàkyà (Thích Ca tộc) đóng đô ở thành Ca Tỳ La (Kapilavastu), phương Bắc nước Kosalà thuộc Trung Ấn Độ. Thời cổ đại, dân tộc Ấn Độ rất tôn trọng nghi thức tế tự, kính thần. Lúc đầu họ đặt ra người gia trưởng, hoặc tộc trưởng để giữ việc tế lễ, gọi là chức Ty tế. Dần dần chức Ty tế này trở thành việc chuyên môn nên được thay thế bằng các Tăng lữ. Mặc khác, v́ theo đà tiến triển của xă hội, liền phát sinh ra bốn chức nghiệp: Sĩ, nông, công, thương. Dần dần, nghề nghiệp này trở thành giai cấp hóa. Giai cấp Tăng lữ coi việc tế tự chiếm địa vị tối cao; thứ đến giai cấp vua chúa, nắm quyền thống trị; thứ dân thuộc hạng nông, công, thương ở địa vị thứ ba; sau cùng là tiện dân ở địa vị thấp nhất. Lối phân chia giai cấp đó mỗi ngày thêm chặt chẽ. Các Tăng lữ nắm được thực quyền của xă hội, liền đem tổ chức thành bốn giai cấp rơ rệt: Tăng lữ thuộc giai cấp Bà-la-môn (Bràhman), vua chúa thuộc giai cấp Sát-đế-lợi (Ksatriya), b́nh dân thuộc giai cấp Tỳ-xá (Vaisya), tiện dân thuộc giai cấp Thủ-đà-la (Sùdra). Hai giai cấp Bà-la-môn và vua chúa là giai cấp thống trị, hai giai cấp b́nh dân và tiện dân là hai giai cấp bị trị. Bốn giai cấp này theo chế độ thế tập, cha truyền con nối, nên giai cấp nô lệ cứ phải đời đời làm nô lệ tạo thành một tổ chức xă hội bất công. Giai cấp Bà-la-môn lại nương vào chế độ của xă hội mà quy định thành bốn thời kỳ tu hành của giai cấp ḿnh. Bốn thời kỳ đó như sau: 1. Phạm trí kỳ (Brahmacàrin). - Thời kỳ sinh hoạt học sinh của thời đại thiếu niên, từ 7 tới 11 tuổi. Ở tuổi này, phải xuất gia theo thầy học tập kinh điển Veda, tới khi học nghiệp thành tựu lại được trở về nhà. 2. Gia cư kỳ (Grhastha). - Thời kỳ sinh hoạt gia đ́nh của thời đại tráng niên. Thời kỳ này là thời kỳ lập gia đ́nh, trông nom con cháu, làm trọn nhiệm vụ tế tự của người gia trưởng. 3. Lâm cư kỳ (Vànaprastha). - Kỳ sinh hoạt xuất gia của thời đại tráng niên. Người đă làm xong nghĩa vụ của gia đ́nh rồi, liền vào chốn thâm sơn, rừng rậm để tu luyện thiền định, khổ hạnh. 4. Du hành kỳ (Parivràjaka). - Thời kỳ sinh hoạt du hành của thời đại lăo niên. Tới thời kỳ tuổi già cần phải mong cầu cho sự tu hành được thành tựu, thân tâm được thanh tịnh, giải thoát, nơi ở không nhất định, nay đây mai đó. Cho nên, người tu ở thời kỳ này có tên là khất sĩ (Bhiksu) hay hành giả (Yati). Bốn thời kỳ sinh hoạt kể trên là sinh hoạt lư tưởng của giai cấp Bà-la-môn. Nếu người nào trong đó tu hành đạt tới chỗ cứu cánh th́ được mọi người trong xă hội cung kính tột bậc. Gịng họ Bà-la-môn đă chế định ra bốn giai cấp, tự cho ḿnh ở địa vị tối cao, và chia sự tu hành làm bốn thời kỳ, sinh hoạt theo lư tưởng. Nhưng trái lại c̣n ba giai cấp khác, nhất là giai cấp tiện dân lại bị xă hội khinh miệt, không được pháp luật bảo hộ, cấm chế không cho dự phần tín ngưỡng tôn giáo, và tán tụng kinh điển Veda. Do đó mà gây thành sự tổ chức xă hội bất công, dân chúng họ hằng khát vọng có bậc thánh nhân xuất hiện cứu đời.
Để đáp lại ḷng mong mỏi đó, nên đă phát sinh một tôn giáo tha thiết với mục
đích nhất vị b́nh đẳng cứu đời, chính là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni sáng lập.
Đức Phật, Ngài không nương vào gịng họ cao thấp để định giá con người, mà
chỉ nương vào phần phẩm hạnh đạo đức. Đặc biệt, Ngài phủ
nhận giai cấp bất công, đem chế độ b́nh đẳng để đăi ngộ mọi hạng người trong
xă hội. Cho nên, Ngài chỉ căn cứ vào phần trí tuệ có nông sâu, đức
hạnh có hậu bạc để định thứ vị con người. Đến như kẻ tiện dân là ông Ưu Ba
Ly (Upàli), sau khi Đức Phật độ cho xuất gia, cũng chứng được đạo quả, mà
trở thành “Bậc Tŕ luật thứ nhất”, là một trong số mười vị đại đệ tử của
Phật. Đức Phật không phân biệt kẻ nghèo, giàu, sang, hèn nên trong mỗi kỳ
thuyết pháp, bá giáo của Ngài, trên có các bậc quốc vương, các nhà hào phú,
dưới đến các cùng dân nghèo khổ cũng đều được thấm nhuần pháp vũ. Do đó nên
mọi người trong xă hội đương thời, bất luận thuộc giai cấp nào cũng đều
ngưỡng mộ cái đức độ Từ Bi Hỷ Xả của Ngài tới cực độ.
CHƯƠNG THỨ HAI. LƯỢC SỬ ĐỨC THÍCH TÔN
I. ĐỨC THÍCH TÔN TRƯỚC KHI THÀNH ĐẠO Vị Giáo chủ sáng lập ra đạo Phật là Phật Thích Ca Mâu Ni (Sàkyàmuni), Hán dịch là Năng Nhân Tịch Mặc, lấy ư nghĩa Ngài là một bậc trí tuệ trong gịng họ Thích Ca. Tên chính của Ngài là Cù Đàm Tất Đạt Đa (Gautama Siddhàtha). Cù Đàm nghĩa là Giác Giả (Budha), hay là Thế Tôn (Bhagavat). Giác Giả và Thế Tôn là danh hiệu tôn xưng về đức độ của Ngài. Gịng họ Thích Ca cư trú ở nước Ca Tỳ La Vệ (Kapilavastu), thuộc phía Bắc Trung Ấn. Vua nước này là Tịnh Phạn (Suddhodana), vương phi là Ma Da (Maya) phu nhân, con gái vua A Nâu (Anu) nước Câu Ly (Koli), một nước nhỏ đối diện với nước Ca Tỳ La Vệ. Ma Da phu nhân măi tới năm 45 tuổi mới thọ thai. Tới kỳ măn nguyệt khai hoa, phu nhân trở về cố quốc để sinh nở (theo phong tục lúc đương thời, khi người đàn bà có thai, phải trở về quê ngoại để sinh). Ở nơi đây, một biệt điện đă được thiết lập sẵn sàng trong vườn Lâm Tỳ Ni (Lumbini) để đón Ma Da phu nhân. Tục truyền, một hôm Ma Da phu nhân ra dạo chơi vườn th́ sinh Thái Tử ở dưới gốc cây Vô ưu (Asoka), nhằm vào ngày mồng 8 tháng 4 năm 624 trước Tây lịch(1). Vua Tịnh Phạn đặt tên cho Thái Tử là Tất Đạt Đa (Siddhàtha). Sau khi sinh Thái Tử được bảy ngày th́ Ma Da phu nhân bất hạnh từ trần. Thái Tử được kế mẫu là Ba Xà Ba Đề (Prajàpati) trông nom nuôi nấng. Khi lên 8 tuổi, Thái Tử được theo học về cả hai ngành văn học và vơ đạo. V́ bẩm tính thông minh, nên học không bao lâu, Thái Tử đều thông thạo cả. Để tiếp xúc với cuộc đời, đă ba lần Thái Tử được phép vua cha cho ra ngoài thành để quan sát về trạng thái dân gian, xă hội. Thái Tử đă mục kích thấy những cảnh tương tàn tương sát của các loài sâu bọ chim muông, những cảnh già, ốm, chết của nhân thế. V́ vậy, nên Thái Tử cảm ngay thấy cuộc đời không có chi là vui sướng, là bền vững, là giải thoát, hết thảy đều là vô thường. Sau khi quan sát, Thái Tử sinh ra buồn rầu, và luôn luôn suy nghĩ để t́m cách cứu khổ cho chúng sinh. Lại một lần nữa Thái Tử ra chơi ngoài thành, lần này gặp một vị Sa môn, tướng mạo đoan trang, đi đứng ung dung, trông có vẻ tiêu dao giải thoát, do đó Thái Tử liền nảy ra tư tưởng xuất gia cầu đạo. Thái Tử đă mấy lần xin phép vua cha đi xuất gia, nhưng vua cha đều không ưng thuận. V́ sợ Thái Tử đi xuất gia nên vua bắt t́m đủ mọi sự khoái lạc để cho Thái Tử khuây ḷng. Khi 16 tuổi (hoặc 19, 20 tuổi), Thái Tử đă phải vâng lệnh vua cha, thành hôn cùng công chúa Da Du Đà La (Yásoddharà), con gái vua Thiện Giác (Suppabuddha) nước Câu Ly (Koli), sau Thái Tử đă sinh một con trai tên là La Hầu La (Rùhula). Vua cha thấy thế lại càng yêu quư, vui mừng, và sai tuyển thêm mỹ nữ vào cung để hầu hạ Thái Tử. Nhưng v́ chí xuất gia đă quyết, nên dù ở trong hoàn cảnh cao quư, xa hoa, lộng lẫy mà Thái Tử cũng không say đắm. Khi tới 29 tuổi (có thuyết 19 tuổi), là thời kỳ xuất gia đă đến, Thái Tử không thể chậm trễ được nữa, liền trốn vua cha, từ giă vợ và con, bỏ nơi hoàng cung, nửa đêm vượt thành ra đi, nhằm vào ngày mồng 8 tháng Hai. Sau khi vượt thành ra đi, Thái Tử một ḿnh dấn thân trước băng tuyết, t́m vào nơi sơn lâm u tịch để sưu tầm chân lư. Trước hết, Thái Tử đi vào rừng khổ hạnh, thuộc nước Ma Kiệt Đà, hỏi đạo ông tiên Bạt Già Bà (Bhagavà), sau khi nghe giáo lư của ông, v́ không măn nguyện, nên chỉ lưu lại có một đêm rồi từ giă ra đi nơi khác. Sau Thái Tử lại hỏi đạo ở nhà đại học giả trứ danh của tôn giáo Ấn Độ đương thời là A Ra La Ca Lan (Aràlakàlama) và Uất Đà Ka La Ma Tử (Udraka Ràmaputta), nhưng về tư tưởng triết lư của hai học giả này, đại khái chỉ là tu thiền định để mong cầu phúc báo sinh lên cơi trời “Vô Sở Hữu Xứ” (Akicavyàyatan) và “Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ” (Naivasamjnanàsamjnayatana) làm cảnh giới giải thoát tối cao. Thái Tử cho rằng pháp môn tu này cũng chưa phải là cứu cánh, v́ sau khi hưởng hết phúc báo cơi trời, rồi lại bị sinh tử luân hồi, nên Thái Tử cũng lại từ biệt ra đi. Thái Tử, sau khi từ biệt các ông tiên ra đi, liền tự nghĩ: “Phải chính ḿnh tu th́ mới t́m được chính đạo”. Nghĩ thế rồi, Thái Tử đi sâu vào khu rừng khổ hạnh, thuộc Tây ngạn sông Ni Liên Thuyền (Nairanjanà), một chi lưu của sông Hằng Hà, để làm nơi căn cứ tu hành. Ở nơi đây, Thái Tử tu hành khổ hạnh suốt trong sáu năm trường, mỗi ngày chỉ ăn cầm hơi một chút gạo, chút vừng, thân thể trở nên khô héo, gầy c̣m, chỉ c̣n da bọc xương mà vẫn chưa chứng được đạo quả. Thái Tử tự nghĩ: “Ta thường hành hạ xác thịt, chỉ khổ sở mà không ích ǵ, chi bằng cứ tự ăn uống như thường, giữ cho xác thân khỏe mạnh, để làm cái lợi khí cầu đạo giải thoát”. Sau lúc nghĩ đó, bỗng có một thiếu nữ chăn ḅ tên là Nan Đà trông thấy Thái Tử, trong ḷng vui mừng khôn xiết, nàng liền chọn hai con ḅ mập, vắt lấy sữa đem về nhà canh, rồi đựng vào bát vàng mang ra dâng cúng Thái Tử. Thái Tử hoan hỷ nạp thọ và cầu nguyện cho nàng, do công đức cúng dường này, nàng sẽ được sung sướng đời đời. Sau khi dùng sữa xong, Thái Tử tự thấy trong ḿnh khoan khoái, khí lực điều ḥa, liền xuống sông Ni Liên Thuyền tắm gội sạch những cáu ghét mà trong nhiều năm tu hành khổ hạnh không để ư đến. Tắm xong, Thái Tử đến dưới cây Tất-bà-la (Pippala, tức là cây Bồ-đề, Bodhydruma) ở Già Da (Yàyà) rải cỏ cát tường làm ṭa, ngồi kiết già, hướng mặt về phía Đông. Khi bắt đầu ngồi, Thái Tử thề rằng: “Nếu ta ngồi ṭa này mà không chứng được đạo Vô Thượng Bồ Đề, th́ thân này dù nát, ta cũng quyết không chịu đứng dậy”. Phát nguyện xong, Thái Tử lặng lẽ vào thiền định, suy nghĩ luôn trong 49 ngày đêm, Ngài suy nghĩ biết được kiếp trước của ḿnh, của người, của mọi chúng sinh. Đến nửa đêm thứ 49, nhằm vào ngày mồng 8 tháng 12, giữa lúc sao Mai mọc th́ trong tâm Thái Tử tự nhiên đại ngộ, sạch hết phiền năo, chứng được đạo quả Vô Thượng Đại Bồ Đề, hiệu là Phật Thích Ca Mâu Ni, vào năm Thái Tử 35 tuổi (có thuyết 30 tuổi).
II. ĐỨC THÍCH TÔN SAU KHI THÀNH ĐẠO Sau khi Thái Tử thành Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni, Ngài liền đem những giáo pháp đă chứng ngộ được để giảng diễn hóa độ chúng sinh, cho biết đến cội nguồn sự khổ và sự vui. Trước hết, Ngài tuyên dương pháp môn Tứ đế ở vườn Lộc Dă (Mrgadava), thuộc nước Ba La Nại Tư (Vàrànaś) để độ cho năm người đệ tử đầu tiên tên là A Nhă Kiều Trần Như (Ajnàta Kaudinya), A Thấp Bà (Ásvjit), Bạt Đề (Bhadrika), Ma Ha Nam (Màhànàman) và Thập Lực Ca Diếp (Dásbala Kàsypa). Trong Phật điển gọi lần thuyết pháp này là Sơ chuyển Pháp luân (Dharma cakrapravatana). Ngôi Tam bảo tức là Phật bảo (Buddha), Pháp bảo (Dharma), Tăng bảo (Sangha) cũng bắt đầu có từ đây. Cũng ở vườn Lộc Dă, Đức Phật c̣n độ cho ông trưởng giả Da Xá (Yassa) và song thân của ông làm tại gia Phật tử. Bên nam giới gọi là Ưu-bà-tắc (Upàsaka), bên nữ giới gọi là Ưu-bà-di (Upàsika). Hai chúng tại gia Phật tử cũng bắt đầu từ đó. Sau khi độ năm vị Tỷ-khưu, Đức Phật và các đệ tử đi các nơi giáo hóa. Trước hết, Ngài đi về nước Ma Kiệt Đà, thủ phủ là Vương Xá thành. Ở giữa đường, Ngài đă độ cho ba anh em ông Ca Diếp, tức là Tam Ca Diếp. Trưởng huynh tên là Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp (Uruvilvà Kàsưapa), thứ huynh là Na Đề Ca Diếp (Nani Kàsưapa), người em út là Già Da Ca Diếp (Giyà Kàsưapa). Ba ông này thuộc Bà La Môn giáo, thờ thần Lửa, nghe Phật giáo hóa, ai nấy đều vui mừng, làm lễ cải giáo, xin theo Phật làm đệ tử. Các ông này c̣n có một ngàn người đồ đệ cùng được đắc độ. V́ vậy giáo đoàn của Đức Phật ngày một bành trướng, vua Tần Bà Sa La (Bimbisàra) nước Ma Kiệt Đà, sai trưởng giả Ca Lan Đà (Karanda) xây dựng Trúc Lâm tinh xá (Venuvana Vihàra) phía ngoài thành Vương Xá, và tinh xá Linh Thứu ở núi Kỳ Xà Quật (Gghridharkùta), để cúng dường Phật làm nơi thuyết pháp an cư. Ở nơi này, Đức Phật đă độ cho ba ông thuộc Bà La Môn giáo: Xá Lợi Phất (Sàriputra), Mục Kiền Liên (Maudgalyàyana) và Đại Ca Diếp (Mahà Kàsưapa). Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên có hai trăm năm mươi người, thường thường đi theo Phật giáo hóa. Khi trở về thăm bệnh Phụ vương, Đức Phật c̣n giáo hóa cho cả vua Tịnh Phạn cùng các hàng vương tử. Trong các hàng vương tử, có chính con của Ngài là La Hầu La, người em khác mẹ là Nan Đà (Nanda), em họ là A Nan Đà (Ànanda), Đề Bà Đạt Đa (Devadatta), A Nâu Lâu Đà (Anurudha), cũng đều xin theo Phật làm đệ tử. Sau Đức Phật đi hóa đạo tới thành Vương Xá, thủ phủ nước Kiều Tất La, vua nước này là Ba Tư Nặc (Prasenajit), con vua Ba Tư Nặc là thái tử Kỳ Đà (Jeta). Thái tử Kỳ Đà và một bậc phú hào trong nước là trưởng giả Tu Đạt Đa (Sudatta) được nghe Phật thuyết pháp, rất hâm mộ và kính phục, hai ông đều phát nguyện làm Kỳ Viên tinh xá (Jetavana Vihàra) để cúng dường Phật. Ngoài ra, như vua nước Tỳ Xá Ly (Vaisàli) th́ làm Đại Lâm tinh xá (Mahàvana Vihàra) và giảng đường Lộc Tử Mẫu (Mrgàramàtuh Pràsàda); đối ngạn với thành Vương Xá là nước Phệ Xá Ly th́ thiết lập Trùng Các giảng đường (Kùtàgàra Sàla); phía Tây thành Vương Xá là nước Kiều Thưởng Di (Kosambi) th́ dựng tinh xá Cù Sử La Viên (Ghosilàràma) để cúng dường Phật làm nơi thuyết pháp. Các tinh xá tuy có rất nhiều, nhưng chỉ có Trúc Lâm tinh xá và Kỳ Viên tinh xá là Đức Phật hay lui tới giảng đạo nhiều hơn cả. Phật thành đạo được năm năm th́ Phụ vương mất, kế mẫu của Đức Phật là Ba Xà Ba Đề và công chúa Da Du Đà La cũng được Phật độ cho xuất gia làm Tỷ-khưu-ni. Đó là lần đầu tiên mà bên nữ giới được Phật độ vào hàng đệ tử xuất gia. Đến đây th́ Giáo đoàn của Phật gồm đủ tứ chúng, là hai chúng xuất gia: Tỷ-khưu (Bhiksu, Tăng đoàn) và Tỷ-khưu-ni (Bhiksuni, Ni đoàn); hai chúng tại gia là Ưu-bà-tắc (nam giới) và Ưu-bà-di (nữ giới). Trong hàng đệ tử của Phật th́ rất đông, nhưng có mười vị đệ tử trứ danh, trong kinh gọi là Thập đại đệ tử. Đó là Tôn giả Xá Lợi Phất là bậc trí tuệ đệ nhất; Mục Kiền Liên, thần thông đệ nhất; Đại Ca Diếp, tu định đệ nhất; Ca Chiên Diên, nghị luận đệ nhất (các vị đệ tử kể trên xuất thân từ giai cấp Bà-la-môn); A Nan Đà, đa văn đệ nhất; A Nâu Lâu Đà, thiên nhăn đệ nhất; La Hầu La, mật hạnh đệ nhất (các vị đệ tử này xuất thân từ giai cấp Sát-đế-lợi); Tu Bồ Đề, giải không đệ nhất; Phú Lâu Nan (Purna), biện tài đệ nhất (các vị này xuất thân từ giai cấp Tỳ-xá); Ưu Ba Ly, tŕ luật đệ nhất (xuất thân từ giai cấp Thủ-đà-la). Các đệ tử ngoại hộ Phật pháp trứ danh trong chúng Ưu-bà-tắc như vua Tần Tỳ Xa La và vua A Xà Thế (Ajàtasatru) nước Ma Kiệt Đà; vua Ba Tư Nặc nước Kiều Tất La; trưởng giả Tu Đạt thành Xá Vệ... Các hàng đệ tử trong giới Ưu-bà-di như: Vi Đề Hy (V́deh́) phu nhân, Mạt Lợi và Thắng Man (Srimàlà) phu nhân, và vợ của ông Tu Đạt là Thiện Sinh (Sujàtà) v.v...
III. ĐỨC THÍCH TÔN NHẬP NIẾT BÀN Từ lúc Đức Phật thành đạo tới lúc nhập Niết-bàn, trong khoảng 45 năm trời (có thuyết 49 năm), Ngài đi khắp nơi tuyên dương chánh pháp, hóa độ chúng sinh, không mấy lúc là gián đoạn. Nơi trung tâm điểm mà Đức Phật thường hay lui tới giáo hóa nhiều nhất là hai nước Ma Kiệt Đà và Kiều Tất La, rồi đến các nước thuộc Trung Ấn Độ, theo duyên ngạn sông Hằng Hà như: nước Thiểm Ba (Campà) ở phía Đông, nước Kiều Thưởng Di và nước Ma Thâu La (Mathùrà) ở phía Tây, nước Ba La Nại Tư (Barànaisi) thuộc phía Nam, thành Ca Tỳ La thuộc phía Bắc. Ngoài ra c̣n nhiều nước nhỏ khác cũng đều có vết chân của Phật tới thuyết pháp. Về cách thức thuyết pháp mà Đức Phật hay dùng nhiều nhất là phương pháp đối thoại và thí dụ, cốt để người nghe pháp dễ hiểu và mau lĩnh ngộ. Về nội dung của sự thuyết pháp th́ Đức Phật tùy theo căn cơ mà nói, nghĩa là tùy cơ thuyết pháp, tùy bệnh cho thuốc, như đối với các hàng vua chúa, Đức Phật nói phương pháp trị nước, an dân, lợi ích hộ tŕ Phật pháp; đối với thường dân, Phật giảng dạy cách làm phúc bố thí, cách cư xử trong gia đ́nh, ngoài xă hội. Đối với phía tại gia Phật tử, Phật giảng giải những pháp Tam quy, Ngũ giới, Thập thiện và Bát chánh đạo. Đối với phía xuất gia, Phật giảng giải về pháp môn Tứ đế, Mười hai nhân duyên, Ngũ uẩn v.v... Tóm lại, lối thuyết pháp của Phật là phương pháp dụ dẫn từ thấp tới cao, từ nông tới sâu, từ phàm phu trở thành Phật quả. Đức Phật, tới khi 80 tuổi, Ngài nhận thấy cơ duyên giáo hóa chúng sinh đă viên măn, và đă tới lúc vào Niết-bàn, Ngài liền thống lĩnh các hàng đệ tử, du hành tới rừng Sa la (Sala), trên bờ sông Ni Liên Nhă Bạt Đề (Hiranyavati) thuộc thành Câu Thi Na Yết La (Kusínagara), để giảng giải cho các đệ tử nghe những chỗ nào c̣n hồ nghi. Trong khi đó, có ông Tu Bạt Đà La (Subbadra) đă 120 tuổi, thuộc Bà La Môn giáo, tu ở gần đó, nghe tin Phật sắp vào Niết-bàn, vội đến hỏi đạo, và xin theo làm đệ tử, Phật liền nói pháp cho nghe và thu nạp làm đệ tử, đó là người đệ tử cuối cùng được Phật độ. Để ban lời giáo huấn cuối cùng, chỉ có trong một ngày đêm mà Ngài đă nói xong bộ kinh Đại Bát Niết Bàn. Nói kinh xong, Ngài lên ṭa thất bảo, nằm nghiêng sườn bên phải, đầu gối về phía Bắc, chân duỗi về phương Nam, mặt ngoảnh về phía Tây, rồi vào Đại diệt độ (Mahàvirvàna), nhằm vào ngày 15 tháng 2. Trước khi nhập Niết-bàn, Ngài đă giao phó y bát cho Tôn giả Ma Ha Ca Diếp, vị đệ tử tối cao của Ngài. Phật nhập Niết-bàn rồi, ngài Ma Ha Ca Diếp và đại chúng rước kim quan của Ngài tới giàn thiêu để làm lễ Trà-tỳ (jhàpeta, hỏa táng), làm lễ xong th́ Xá lợi (Sarira) được chia làm nhiều phần cho các nước để xây tháp cúng dường. Tập tục tín ngưỡng Xá lợi cũng được bắt nguồn từ đây. C̣n các di tích của Phật th́ trở thành nơi chiêm bái tín ngưỡng của toàn thể Phật giáo đồ. Vườn Lâm Tỳ Ni nơi Phật giáng sinh, Bồ-đề Đạo Tràng nơi Phật thành đạo, vườn Lộc Dă nơi Phật “Sơ chuyển Pháp luân”, Sa la Song thọ nơi Phật nhập diệt, là bốn thắng cảnh được nhiều người chiêm bái nhất.
CHƯƠNG THỨ BA. GIÁO ĐOÀN TỔ CHỨC VÀ KINH, LUẬT KHỞI NGUYÊN
I. GIÁO ĐOÀN TỔ CHỨC SỰ TỔ CHỨC CỦA GIÁO ĐOÀN. - Giáo đoàn của Phật giáo gọi là Tăng già (Sangha), nghĩa của Tăng già là đại chúng hay ḥa hợp. Thành phần tổ chức của Tăng già là đoàn thể tôn giáo. Đức Thích Tôn khi c̣n tại thế, phương thức đoàn thể tôn giáo cũng đă được chế định. Những pháp quy của đoàn thể Tăng già gọi là Luật tạng để quy định về cách tổ chức và sinh hoạt. Thành phần của đoàn thể Tăng già gồm có bảy chúng xuất gia và tại gia: 1. Tỷ-khưu (Bhiksu). - Phái nam xuất gia từ 20 tuổi trở lên, đă thọ giới Cụ túc. 2. Tỷ-khưu-ni (Bhiksuni). - Phái nữ xuất gia từ 20 tuổi trở lên, đă thọ giới Cụ túc. 3. Sa-di (Sràmanera). - Phái nam xuất gia, đă thọ 10 giới. 4. Sa-di-ni (Sràmaneri). - Phái nữ xuất gia, đă thọ 10 giới. 5. Thức-xoa-ma-na (Sikhaimànà). - Phái nữ đi xuất gia, phải hai năm chuẩn bị học giới để thọ giới Tỳ khưu ni. 6. Ưu-bà-tắc (Upàsakak). - Phật giáo đồ phái nam. 7. Ưu-bà-di (Upàsika). - Phật giáo đồ phái nữ. Trong bảy chúng, năm chúng trên thuộc chúng xuất gia, hai chúng sau thuộc chúng tại gia. Về đoàn thể Tăng già có nghĩa rộng và nghĩa hẹp, nên Tăng già được khu phân thành ba loại: Loại thứ nhất là Lư tưởng Tăng già. Lư tưởng Tăng già th́ không phân biệt tại gia hay xuất gia, v́ ai nấy đều là Phật tử, đều là Phật giáo đồ, nếu quyết tâm tu hành cũng đều có thể chứng ngộ, giải thoát. Về Lư tưởng Tăng già, có thể khảo sát theo hai phương diện: khảo sát theo phần lượng, về nghĩa rộng của Tăng già, th́ hết thảy chúng sinh đều bao hàm ở trong Tăng già; nếu khảo sát về phần chất th́ hết thảy chúng sinh đều có thể chứng ngộ. Loại thứ hai chỉ dành riêng cho năm chúng xuất gia mới gọi là Tăng già, tức Tỷ-khưu Tăng già và Tỷ-khưu-ni Tăng già. Sa-di thuộc Tỷ-khưu Tăng già, Sa-di-ni và Thức-xoa-ma-na thuộc Tỷ-khưu-ni Tăng già. Loại thứ ba là Hội nghị Tăng già. Tỷ-khưu Tăng già, hoặc Tỷ-khưu-ni Tăng già, căn cứ vào nhân số trong các cuộc tập họp mà thành lập. Nghi thức về hội nghị của Tăng già, cần phải có từ bốn người trở lên mới được gọi là Tăng già, từ ba người trở xuống th́ không gọi là Tăng già mà gọi là “Quần” (Gana). Hội nghị của Tăng già chia làm năm thứ: 1. Hội nghị Tăng già gồm 4 người; 2. Hội nghị Tăng già gồm 5 người; 3. Hội nghị Tăng già gồm 10 người; 4. Hội nghị Tăng già gồm 20 người; 5. Hội nghị Tăng già từ 20 người trở lên. Nghi thức hội nghị chia nhiều thứ như vậy, là v́ dựa vào từng công việc một mà xử sự. Thí dụ việc thọ giới Cụ túc, nếu là nơi trung tâm trong nước th́ hội nghị Tăng già cần phải có 10 người, nhưng ở nơi biên địa th́ thay thế bằng hội nghị 5 người. Hội nghị Tăng già đă được tổ chức từ hồi Đức Thích Tôn c̣n tại thế, trong lúc Ngài sơ chuyển Pháp luân, độ năm ông Tỷ-khưu làm đệ tử, ở vườn Lộc Dă. CÁCH SINH HOẠT CỦA NGƯỜI XUẤT GIA. Đức Thích Tôn khi c̣n tại thế, Ngài đă chế định ra giới luật, để làm tiêu chuẩn sự tu hành và sinh hoạt cho các đệ tử. Sau khi Ngài diệt độ, các bậc Kỳ túc Trưởng lăo lại theo đấy mà giải thích và quy định lại, biên thành Tỷ-khưu giới bản và Tỷ-khưu-ni giới bản. Y vào luật Tứ Phần th́ kinh Giới bản của Tỷ-khưu có 250 giới, Tỷ-khưu-ni có 348 giới. Theo Nam truyền Luật tạng th́ giới bản của Tỷ-khưu có 277 điều, Tỷ-khưu-ni có 311 điều. Các giới điều tuy có khác, nhưng chỉ khác phần chi tiết, c̣n phần đại cương vẫn giống nhau. Giới bản của Tỷ-khưu có 250 giới, được chia thành tám loại như sau: 1. 4 giới Ba-la-di (Catru Paràjikà) 2. 13 giới Tăng tàn (Trayodasa Samghàdesena) 3. 2 giới Bất định (Dvy Aniyata) 4. 30 giới Xả đọa (Trimsan naisargita) 5. 90 giới Đan đọa (Navati Pràyascittiya) 6. 4 giới Đề-xá-ni (Catra Pratidèsaniya) 7. 100 giới Chúng học (Sata saiksa) 8. 7 giới Diệt-tránh (Sapta Dhikkàrasamatha) (Muốn tường tận xin xem kinh Giới bản của Tỷ-khưu và Tỷ-khưu-ni) Người đi xuất gia sau khi đă được thọ giới Cụ túc rồi, cần phải nương theo vào các điều giới luật như trong giới bản để làm mực thước sinh hoạt hàng ngày. Về sinh hoạt của người xuất gia, phải nương vào Tứ y pháp: 1. Y vào khất thực để sinh sống; 2. Y vào áo vải thô để che thân; 3. Y vào dưới gốc cây để ngủ nghỉ; 4. Y vào thuốc hủ nát để chữa bệnh. Nghĩa là sự sinh hoạt hàng ngày của người xuất gia th́ không chú trọng ở các vật xa hoa, các món ăn cao lương mỹ vị, chỉ lấy sự thanh đạm làm măn nguyện, đó là tinh thần của Tứ y pháp. Tuy nương vào Tứ y pháp làm tiêu chuẩn cho sinh hoạt, nhưng tùy từng địa phương, từng trường hợp các hàng tại gia Phật tử, đàn việt làm tinh xá, giảng đường, áo mặc, đồ ăn đem cúng dường bố thí, cũng vẫn được thọ dụng, mà không trái với Tứ y pháp. Vật sở hữu của Tỷ-khưu th́ chia ra cá nhân sở hữu và Tăng già sở hữu. Vật cá nhân sở hữu, nếu y vào chế độ Nam phương Phật giáo là ba tấm áo cà-sa: An-đà-hội (Antarivàsaka), Uất-đa-la-tăng (Uttaràsamgha) và Tăng-già-lê (Samhàli), b́nh bát, khăn lọc nước, dao thế, kim khâu và túi, gọi là tám vật. Nếu y vào chế độ Bắc phương Phật giáo là ba tấm áo cà-sa, b́nh bát, khăn lọc nước và tọa cụ gọi là sáu vật. Ngoài ra là những dụng cụ như giày dép, khăn mặt, khăn tay v.v... Vật sở hữu của Tăng già như: Tự viện, Già lam, giảng đường, pḥng xá, vườn rừng, cây quả, chăn màn, giường gối v.v... đều là vật công cộng của toàn thể chư Tăng, ai cũng có quyền tự do sử dụng. Công việc hàng ngày của các Tỷ-khưu: buổi sáng sớm th́ tụng kinh, tọa thiền, đàm đạo; trước giờ Ngọ phải đi khất thực, rồi mang về pḥng ăn đúng giờ Ngọ, xong có giờ chỉ tĩnh, rồi lại chuyên việc tu hành, giảng đạo; buổi tối tụ tập tại thiền đường công cộng để cùng nhau bàn về pháp thoại, và có giờ nghiên cứu cộng đồng, măi tới nửa đêm mới đi nghỉ. Tóm lại, về sinh hoạt hàng ngày của Tỷ-khưu lấy sự tu luyện làm cốt yếu. QUY ĐỊNH CỦA TĂNG GIÀ. - Một bộ phận của Luật tạng là Giới bản như trên đă thuật, ngoài ra c̣n một bộ phận gọi là Kiền-độ-phận (Khandhaka), tức là những quy định về các pháp thọ giới, bố-tát an cư, tự tứ v.v... của đoàn thể Tăng già. Nội dung của Kiền-độ-phận th́ rất phức tạp, phần phức tạp này là do các bậc Kỳ túc Trưởng lăo của Giáo đoàn chế định thêm, c̣n y vào quy định ở thời Đức Thích Tôn c̣n tại thế th́ giản dị hơn. Công việc quan trọng nhất của Giáo đoàn là việc tác pháp tiến cụ (upasampadà), nghi thức công nhận người gia nhập đoàn thể. Trước hết, nếu ai tin Phật, được Phật hứa khả, tức là nghi thức tác pháp công nhậ |