Chùa Hải-Đức in Jacksonville

[Home] [Up] [Điểm Sách] [Sutras] [Dharma Talks] [GĐPT] [Sinh Hoạt] [Our Activities] [Kinh] [Pháp Thoại audio mp3] [Tin Tức Phật Giáo] [Thuyết Pháp] [Thơ Văn] [Ngoại Điển] [Tụng Kinh] [Nghi Lễ - Rituals]

GIỚI THIỆU

PHẬT GIÁO ĐẠI THỪA BỒ TÁT GIỚI

 Thích Thái Ḥa 

 

 

I. Tổng Luận Và Ư Nghĩa: 

1. Tổng luận:

 

Ư thức tự giác là yếu tố cơ bản để xác định con người có khả năng trưởng thành, về tư duy và sáng tạo, có khả năng đạp vỡ mọi trói buộc và mở ra một chân trời giải thoát. Ư thức ấy đă được khơi mở từ nơi đời sống của Bậc giác ngộ, Bậc thanh tịnh hoàn toàn, siêu xuất trần thế không để lại chút nào phiền muộn cho bất cứ ai. H́nh ảnh của Đấng có ư thức tự giác, là một h́nh ảnh tuyệt đẹp, v́ ở đó không có gợn lên một tí xi của sự sống nô lệ. Và hiển nhiên, đó là h́nh ảnh tuyệt vời để cho chúng sanh quy ngưỡng và là mảnh ruộng ph́ nhiêu để cho chúng sanh gieo trồng phước đức.

 

Bởi vậy, ai là người đánh mất ư thức tự giác, th́ đó là kẻ sống đời nô lệ, là kẻ phàm t́nh, là kẻ bị mê hèn bởi năm uẩn, bị dục vọng đánh lừa, là đồng lơa với hèn nhác và bị ch́m đắm khổ đau.

Và hễ tu tập mà để đánh mất ư thức tự giác, th́ không mong ǵ bước đi được những bước đi tự do, không mong ǵ dự vào ḍng Thánh để trở thành và chứng đắc các Thánh quả.

Muốn có ư thức tự giác, th́ trước hết con người phải thọ tŕ “Biệt giải thoát luật nghi”, nghĩa là luật nghi có khả năng đưa hành giả thoát khỏi từng đối tượng cá biệt của nghiệp đạo, để rồi ung dung tự tại, cỡi trên sóng thức mà vượt qua muôn ngàn trùng dương sanh tử.

Bồ Tát giới là đặt trên nền tảng của “Biệt giải thoát luật nghi”, nên hễ nếu không thọ và tŕ Biệt giải thoát luật nghi, th́ không thể thọ và tŕ Bồ Tát giới.

V́ sao? V́ không có cơ sở để Bồ Tát giới phát sinh.

Lại nữa, Bồ Tát giới là giới bao gồm cả ba tụ thanh tịnh, mà thuật ngữ Phật học gọi là “Tam tụ tịnh giới”.

 

Tụ thứ nhất là Nhiếp luật nghi giới, gồm có:

Thanh tịnh về biệt giải thoát luật nghi, đó là sự thanh tịnh về “chỉ tŕ”, mà các điều cấm chỉ ở trong giới bổn đă quy định.

Thanh tịnh về căn luật nghi, đó là luật nghi có khả năng pḥng hộ, khiến các quan năng khi nhận thức, không bị trần cảnh bên ngoài khuấy động.

Thanh tịnh về mạng luật nghi, đó là luật nghi nuôi dưỡng thanh tịnh về mạng bằng Bốn Thánh Chủng.

Thanh tịnh về niệm luật nghi, đó là luật nghi làm cho bốn oai nghi đi đứng nằm ngồi đều ở trong sự thanh tịnh.

Do đó, một người tu tập viên măn về tụ Nhiếp luật nghi là viên măn về Pháp thân thường trú ở chư Phật. 

 

Tụ thứ hai là Nhiếp thiện pháp giới, gồm tất cả giới thuộc về thực hành pháp Thiện vô lậu, nghĩa là Thiện do đ́nh chỉ các ác của thân, ngữ và ư mà phát sinh, do thanh tịnh ba nghiệp mà phát sinh, do thực hành ba mươi bảy phẩm trợ đạo, do thực hành ba pháp quy y, thể hiện bốn đức tin kiên cố, tu tập Lục độ, Tứ vô lượng tâm… mà phát sinh.

Tụ giới nầy, không những nhắm đến chỉ tŕ mà c̣n nhắm đến tác tŕ nữa.

Sống bằng đời sống không gây tổn hại cho người khác, chính nó đă là Thiện, chính nó đă là phụng hành các Thiện, nhưng Thiện ấy, không kiên cố, không lớn mạnh, không siêu việt, bằng Thiện do vận khởi tâm từ, tâm bi, tâm hỷ, tâm xả để là lợi ích cho ḿnh và người. Bởi vậy, Nhiếp Thiện Pháp Giới cũng được gọi là “Trưởng Dưỡng Thiện Pháp Giới”. Do đó, hễ hành tŕ viên măn tụ thứ hai nầy là viên măn về Báo thân trang nghiêm của chư Phật.

 

Tụ thứ ba là Nhiêu Ích Hữu T́nh Giới, gồm tất cả giới thuộc về Thệ và Nguyện.

Thệ nguyện của tụ giới nầy là lấy Bồ Đề Tâm làm nhân hạnh tu tập, lấy đạo quả Vô Thượng Bồ Đề làm mục tiêu hướng đến và lấy hết thảy chúng sanh làm đối tượng phục vụ. Do đó, hễ hành tŕ viên măn tụ nầy là viên măn Thiên bách ức hóa thân của chư Phật.

Thệ nguyện viên măn Thiên bách ức hóa thân của chư phật, là để Bồ Tát phục vụ chúng sanh đem lại lợi ích cho họ và Bồ tát có thể sử dụng mọi phương tiện, mọi h́nh thức để giáo hóa chúng sanh, khiến họ quay lưng lại với trần lao mà hướng đến quả vị giác ngộ. Sự phục vụ chúng sanh như vậy, gọi là Bồ Đề Hạnh, Bồ Đề Nguyện.

Do thực hành Bồ Đề, mà người thọ tŕ Bồ tát giới cầu học các trí, tu tập các pháp môn tâm địa và làm lợi ích cho hết thảy chúng sanh, không biết mệt mỏi, không biết chán nản.

Họ là bạn của chúng sanh không mời mà tự đến, phục vụ xong việc liền đi, không có một điều kiện nào để thủ và xả.

Đối với chúng sanh nào thiện căn chưa có phát khởi, th́ làm cho phát khởi, đă phát khởi th́ làm cho tăng trưởng, đă tăng trưởng th́ làm cho chứng đắc các Thánh quả.

Đối với chúng sanh nào, khổ do bệnh hoạn, th́ trao cho phương pháp trị liệu và dược liệu, khổ do ngu dốt th́ trao cho văn hóa, khổ do lạc đường th́ chỉ cho nẻo chánh, khổ do bội phản th́ dạy cho pháp quán thi ân không mong cầu đáp trả, khổ do sợ hăi các nạn, th́ dạy cho cách bảo hộ, khổ do nghèo nàn th́ dạy cho cách làm tăng trưởng phước đức, và đối với chúng sanh ương ngạnh, th́ t́m cách điều phục, huấn luyện.

 

Sự thực hành Bồ Đề như vậy là nhờ có Thệ, có Nguyện, nếu không có Thệ và Nguyện độ chúng sanh th́ không có Bồ Tát Giới.

Do đó, chính Thệ và Nguyện đă tạo thành ư nghĩa Bồ Tát giới một cách linh hoạt và mầu nhiệm.

 

2. Ư Nghĩa:

 

Bồ Tát Giới là ǵ? Bồ Tát Giới hay c̣n gọi là Bồ Tát Tâm Địa Giới, đó là giới lấy tâm làm thể, làm chỗ tu nhân, làm đức tin, làm đối tượng chuyển hóa, quán chiếu để thấy rơ không- lư; lấy tâm làm cứ điểm để lập Thệ và Nguyện, nhằm xác quyết mọi hành động; lấy tâm làm chủ đích hướng đến đạo quả Vô Thượng Bồ Đề; lấy tâm làm lănh địa để duy tŕ và sinh trưởng các Thiện pháp, sinh trưởng các địa vị giác ngộ của Bồ Tát và Phật, nên Bồ Tát Giới là giới tâm của bốn mươi địa vị Hiền Thánh.

Bồ Tát Giới là giới thuộc về Phật tính, Phật tính là bản thể của giác ngộ, là chủng tử của giác ngộ có khả năng sinh trưởng sự giác ngộ, nên Phật tính không bị khu biệt bởi thời gian, bởi không gian và bởi chủng loại.

Do đó, Bồ Tát Giới khẳng định, hết thảy chúng sanh đều có Phật tính, nghĩa là hết thảy họ đều có Bồ Tát Giới tính, v́ hết thảy chúng sanh đều có Bồ Tát Giới tính, nên hết thảy chúng sanh đều có thể thọ và tŕ Bồ Tát Giới để thành Phật. V́ Bồ Tát Giới không bị khu biệt bởi không gian, nên hết thảy chúng sanh trong mọi không gian đều có thể thọ và tŕ Bồ Tát Giới, và v́ Bồ Tát Giới không bị khu biệt bởi thời gian nên chúng sanh ở ba đời đều có thể thọ và tŕ Bồ Tát Giới để tu tập và thành Phật. Bồ Tát Giới là vậy, nên Bồ Tát Giới c̣n có những ư nghĩa như sau:

 

a- Giới Pháp Vô Tận:

Bồ Tát Giới mà gọi là giới pháp vô tận, v́ người thọ và tŕ giới này, khi xả thân và thọ thân, giới thể Bồ Tát vẫn tồn tại không mất, tồn tại cho đến khi nào vị đó thành tựu đạo quả Vô Thượng Bồ Đề. Và vị đó dù ở bất cứ cảnh giới nào, chủng loại nào th́ giới thể Bồ Tát ở họ vẫn hằng tồn.

Như vậy, Bồ Tát Giới mà gọi là Giới Pháp Vô Tận, v́ nó vô tận với không gian, vô tận với thời gian và vô tâïn với sinh mệnh.

 

b- Giới Pháp Tâm Thọ:

Bồ Tát Giới là giới pháp thuộc về tâm thọ, v́ nó luôn tồn tại với tâm và nó là tâm, do tâm thệ nguyện lănh thọ mà giới thể thành tựu.

 

c- Giới Pháp Thuộc Về Công Đức:

V́ thệ độ hết thảy chúng sanh và nguyện thành Phật là từ nơi giới này mà phát sinh; v́ Tứ Vô Lượng Tâm và Lục Ba La Mật từ nơi giới này mà phát sinh, các Thiện pháp vô lậu cũng từ nơi giới nầy mà phát sinh, các địa vị Hiền Thánh cũng từ nơi giới nầy mà phát sinh, trí tuệ siêu việt cũng từ nơi giới nầy mà phát sinh, ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp cũng từ giới nầy mà phát sinh, thiết lập Vương quốc Tịnh độ với Y báo, Chánh báo trang nghiêm cũng từ giới nầy mà phát sinh và ngay cả Phật địa cũng do giới nầy mà phát khởi.

Do đó, giới kinh nói:

“Chúng sanh thọ Phật giới,

tức nhập chư Phật vị.

Vị đồng đại giác dĩ,

chơn thị chư Phật tử”.

(Phạm Vơng Kinh, tr 1004, Đại Chính 24).

Nghĩa là:

Chúng sanh thọ Phật giới,

chính vào địa vị Phật.

Vị đă đồng đại giác,

đích thị là Phật tử.

Từ ngữ Phật tử là một từ ngữ đích thực xứng gọi cho những ai có thọ và tŕ Bồ Tát Giới.

V́ người đó trong hiện tại, họ đang chuyển hóa tự tâm để thành tâm của Bồ Tát và Phật, thân đang làm việc của Bồ Tát và Phật, miệng đang nói lời của Bồ Tát và Phật, và tương lai họ sẽ tiêu sạch hết các vọng tưởng sai lầm về tự ngă, về con người, về chúng sanh, về sinh mệnh và họ sẽ đầy đủ các đức tướng, các đức tính của một vị Đại Giác Ngộ.

Do đó, Bồ Tát Giới là giới pháp thuộc về mọi công đức.

 

d- Giới Pháp Bản Nguyên:

Tất cả chúng sanh đều có gốc rễ từ nơi Tự Tánh Thanh Tịnh, mà tự tánh ấy chính là Bồ Tát Giới tính. Bồ Tát Giới tính là tính b́nh đẳng với tâm, b́nh đẳng với Phật, b́nh đẳng với chúng sanh. Sỡ dĩ, chúng là b́nh đẳng, v́ chúng đều có gốc rễ từ nơi Tự Tánh Thanh Tịnh.

Do đó, hễ chúng sanh nào trở về với Tự Tánh Thanh Tịnh ấy, th́ chúng sanh ấy là Phật, Phật chính là bản nguyên Tự Tánh Thanh Tịnh.

Do đó, hễ tự tâm của chúng sanh nào lắng hết tất cả vọng trần, tiêu hết các duyên trần, th́ tâm đó là tâm của Phật và Phật đó chính là tâm, chúng sanh nào đạt được tâm như vậy, th́ chúng sanh ấy có tâm của Phật.

 

Bởi vậy, Kinh Hoa Nghiêm nói: “Tâm, Phật, chúng sanh, tam vô sai biệt”. Nghĩa là Tâm, Phật, và chúng sanh, cả ba đều b́nh đẳng, không có sai khác. Sự không sai khác ấy, chính là sự không sai khác về Bản Nguyên Tự Tánh Thanh Tịnh giữa Tâm, Phật và chúng sanh.

Giới pháp thuộc về Bản Nguyện Tự Tánh Thanh Tịnh là bảo vật vô giá của hết thảy chúng sanh, nên chúng sanh cần phải trở về để tiếp nhận và giữ ǵn.

 

Trong Giới Kinh Phạm Vơng, Đức Phật Thích Ca nói: “Giới pháp ấy là giới quư báu như ngọc kim cương và là bản nguyên của chư Phật, của Bồ Tát, là chủng tính của Phật. Hết thảy chúng sanh đều có Phật tính, nên hết thảy chúng sanh có thân, có tâm, có ư, có thức, những loài có t́nh, có tâm ấy, đều nhập vào trong giới pháp tính Phật. Đương nhiên, v́ đă có gốc rễ như vậy, th́ chắc chắn sẽ có hoa trái của pháp thân thường trú. Mười Ba La Đề Mộc Xoa, ta đă nói ra ở trong thế giới nầy, giới pháp ấy, hết thảy chúng sanh trong ba đời, phải phụng kính thọ tŕ. Ta nay sẽ v́ đại chúng, mà nói lại mười giới pháp vô tận, mà nguồn gốc của giới là Tự Tánh Thanh Tịnh nơi hết thảy chúng sanh.” (Phạm Vơng Kinh, tr 1003, Đại Chính 24).

 

e- Giới Pháp Viên Măn Cụ Túc:

Bồ Tát Giới mà gọi là viên măn cụ túc, v́ là giới đầy đủ cả ba tụ. Nhiếp luật nghi giới, Nhiếp thiện pháp giới, Nhiêu ích hữu t́nh giới. Và đồng thời Bồ Tát Giới cũng đầy đủ cả Tín, Hạnh, Nguyện và Nhiếp thọ. Tín là gốc của Hạnh, Nguyện và nhiếp thọ. Mọi Hạnh, Nguyện và Nhiếp thọ phải phát xuất từ Tín.

Kinh Hoa Nghiêm nói: “Tín là gốc của Đạo, là mẹ đẻ của mọi thứ công đức, nuôi lớn hết thảy gốc của Thiện”.

Luận Đại Trí Độ th́ nói: “Biển cả Phật pháp mênh mông, sâu thẳm, nếu không có Tín, th́ không thể vào được”.

Thật vậy, có những vị chưa hiểu Phật pháp là ǵ, nhưng chỉ do họ có đức tín thuần tịnh, nên họ đi vào biển cả Phật pháp và an trú vào bậc Hiền Thánh một cách an toàn và kiên cố, họ thực hành các thiện pháp một cách vững chắc, họ hướng nguyện Bồ Đề về nhiếp hóa, làm lợi ích cho hết thảy chúng sanh không có ǵ lay chuyển nổi. Bởi vậy, trong bất cứ lời thệ nguyện nào của Bồ Tát cũng đều có đủ cả ba tụ thanh tịnh giới. Trong mười nguyện của Bồ Tát Phổ Hiền, chúng cũng hàm chứa đủ cả ba tụ thanh tịnh nầy. Bồ Tát Phổ Hiền là vị Bồ Tát có đủ hiền trí và hiền đức để phổ nhiếp chúng sanh, khắp trong mọi không gian và thời gian, một vị Bồ Tát thường xuất hiện trong các thời thuyết giáo của Đức Phật Thích Ca, để làm tiêu biểu cho bậc có đức tin và có khả năng thực hiện đức tin Đại Thừa, tức là thực hiện đức tin đối với Bồ Tát Giới. Ngài thường xuyên xuất hiện qua h́nh thức cỡi trên voi chúa trắng sáu ngà. Voi chúa có sức mạnh, có bước đi vững chắc, ấy là tượng trưng cho Bồ Tát Phổ Hiền, là vị có đức tin kiên cố, đối với giới học, định học và tuệ học Đại Thừa, và có đức tin vững chắc đối với đại Hạnh và đại Nguyện.

Màu trắng của voi chúa là tượng trưng cho Bồ Tát Phổ Hiền có khả năng thực hành giới đức một cách thanh tịnh, đó là sự thanh tịnh về Biệt giải thoát, về các căn, về sinh mạng và về các oai nghi tế hạnh trong lúc phụng hành các thiện pháp và nhiếp hóa chúng sanh. Sáu ngà là tượng trưng cho Bồ Tát Phổ Hiền có khả năng thực hành viên măn Lục độ một cách hiện thực qua sự vận khởi bi và trí để giáo hóa, làm cho chúng sanh thuần thục đối với đạo quả Vô Thượng Bồ Đề. Nên, mười hạnh nguyện Phổ Hiền là một mô thức căn bản cho những người thọ tŕ Bồ Tát Giới, thực hành Bồ tát Đạo.

 

Trong mô thức hành động nầy, hẳn nhiên, chúng bao gồm đủ cả ba tụ thanh tịnh giới như:

Lễ kính chư Phật.

Xưng tán Như Lai.

Quảng tu cúng dường.

Ba hạnh nguyện nầy thuộc về Nhiếp Thiện pháp giới. Nếu người thọ tŕ Bồ Tát Giới mà không có Hạnh và Nguyện như vậy, th́ không có tác tŕ, không có tác tŕ th́ không thể gọi là bậc có đại Nguyện, không có đại Nguyện th́ không thể vận khởi đại bi và đại trí để nhiếp hóa chúng sanh nhằm trang nghiêm bản thân và Phật độ.

Sám hối nghiệp chướng.

Hạnh nguyện nầy thuộc về Nhiếp Luật Nghi Giới. Nghiệp chướng là chướng ngại do nghiệp.

Chướng ngại nầy là do không có thanh tinh về thân, thanh tịnh về ngữ, thanh tịnh về ư, khiến trở ngại sự đoạn trừ các ác, trở ngại sự phụng hành các thiện, trở ngại sự nhiếp hóa chúng sanh, trở ngại sự thành tựu đạo quả Vô Thượng Bồ Đề. Vậy, Bồ Tát do thực hành hạnh nguyện sám hối nầy mà đoạn trừ được các ác của thân, ngữ và ư, làm cho pháp thân thanh tịnh được biểu lộ.

Tùy hỷ công đức.

Thỉnh chuyển pháp thân.

Thỉnh Phật trụ thế.

Thường tùy Phật học.

Hằng thuận chúng sanh.

Phổ giai hồi hướng.

Sáu hạnh nguyện nầy, thuộc về Nhiêu ích hữu t́nh giới. V́ mục đích của Bồ tát là làm lợi ích cho hết thảy chúng sanh, và v́ vậy, Bồ Tát thực hiện sáu hạnh nguyện nầy thuần thục là có thể thành tựu Thiên bách ức hóa thân để giáo hóa chúng sanh một cách tự tại.

Tóm lại, ư nghĩa của Bồ Tát Giới là ư nghĩa của sự thực hành hạnh nguyện Bồ Tát đạo.

 

Kinh Đại Bát Nhă nói: “Tịnh giới vô lậu của hàng Thanh văn, Độc giác, chỉ hồi hướng đến Niết Bàn để cầu tự lợi, c̣n tịnh giới của Bồ Tát là v́ độ thoát vô lượng chúng sanh mà hồi hướng đến Vô thượng Bồ Đề. Do dó, tịnh giới của Bồ Tát, siêu việt hơn tịnh giới vô lậu của hàng nhị thừa”.( Đại Bát Nhă Ba La Mật Đa Kinh 586, tr 1032, Đại Chính 7).

Một hành giả từ nơi Bồ Đề Tâm mà phát khởi Hạnh và Nguyện để thọ tŕ Bồ Tát Giới, vị ấy hiện hữu giữa cuộc đời như là sự hiện hữu của Đấng t́nh yêu mang đầy đủ chất liệu của trí tuệ để làm tươi mát cho mọi sự sống.

Sự hiện hữu ấy, như là sự hiện hữu của lư tính mầu nhiệm, không hề làm trở ngại bất cứ một lư tính nào.

Sự hiện hữu ấy, như là sự hiện hữu của t́nh yêu cao vợi, không làm trở ngại bất cứ thứ t́nh yêu nào.

Sự hiện hữu ấy, có mặt trong mọi sự hiện hữu để ǵn giữ bản chất và hành tŕ sự tướng của tuệ giác, nên bản chất của mọi sự tướng không hề trở ngại nhau.

Sự hiện hữu ấy, đi vào trong mọi sự hiện hữu, chúng không có mâu thuẫn giữa các giới Thanh Văn và Bồ Tát. Chúng có khả năng dung nhiếp hết thảy để đưa vào biển trí.

Do đó, Bồ Tát Giới hiện hữu như là sự hiện hữu của Bản Nguyên Tự Tánh Thanh Tịnh nơi hết thảy chúng sanh. Và chính đó là ư nghĩa cứu cánh của Bồ Tát Giới vậy.

 

II. Phân Tướng loại:

 

Theo Kinh và Luận Đại Thừa, th́ Bồ Tát Giới có chín tướng loại:

 

1- Tự tánh giới:

 

Bồ Tát Giới là giới thuộc về tự tính.

Sở dĩ gọi là tự tánh giới, v́ loại giới này có bốn đức tính.

 

a. Tùng tha chánh thọ: Lănh thọ thánh giới từ nơi Đức Phật, hoặc Bồ Tát, hoặc từ Tôn Tượng, hoặc từ vị đại diện Phật và Bồ Tát.

b. Thiện tịnh tâm thọ: Lănh thọ tánh giới từ nơi tự tâm thanh tịnh, trong sáng. Đây là h́nh thức tự thọ Bồ Tát Giới.

c. Phạm dĩ tức hối: Hễ thấy có phạm giới, th́ phải sám hối ngay tức khắc, không để cho nhiều sát na tâm trôi qua, v́ mỗi sát na trôi qua, th́ tội lỗi theo sát na ấy mà tăng trưởng trên tâm.

d. Chuyên tâm niệm trú, kiên tŕ bất phạm: Chuyên tâm an trú vào Nhiếp luật nghi giới, Nhiếp thiện pháp giới và Nhiêu ích hữu t́nh giới không có vi phạm.

Tự tánh giới c̣n gọi là “Chơn thật giới”, ấy là giới đích thực không hư vọng của Bồ Tát. C̣n gọi là “Tự tha lợi giới”, đó là giới đem lại lợi ích cho ḿnh và người. C̣n gọi là “Nhiêu ích chúng sanh giới”, là giới làm lợi ích cho hết thảy chúng sanh. C̣n goi là “Tăng trưởng nhân thiên giới”, là giới làm tăng trưởng phước trí cho cơi người và cơi trời. C̣n gọi là “Vô lượng công đức giới”, là giới có năng lực làm phát sinh công đức không kể số lượng.

 

2- Nhất thiết giới:

Hay c̣n gọi là “Thông giới”, nghĩa là giới thông cả hàng xuất gia và tại gia.

 

3- Nan giới:

Bồ Tát Giới là giới rất khó thọ tŕ, v́ chúng có những trường hợp như sau:

a.V́ người giàu có tài sản, đầy đủ thế lực mà từ bỏ để xuất gia, thọ tŕ Bồ Tát Giới, đây là một điều rất khó, nên Bồ Tát Giới là giới khó thọ tŕ.

b.V́ người thọ tŕ Bồ Tát Giới, dù ở trong bất cứ hoàn cảnh nguy khốn nào, cũng không để cho giới đă thọ tŕ bị sứt mẻ, bị khuyết tật, nên Bồ Tát Giới là giới rất khó thọ tŕ.

c. Người thọ tŕ Bồ Tát Giới, th́ đối với các hạnh tu tập, tất cả chánh thọ, tất cả sự nhớ nghĩ, tâm luôn luôn an trú Chánh niệm, không loạn động, cho đến đời kiếp các giới thuộc về tế hạnh, cũng không bị khuyết tật, chứ đừng nói đến các trọng giới, nên gọi giới Bồ Tát là giới khó thọ tŕ.

 

4- Nhất thiết môn giới:

Bồ Tát Giới là giới đi vào tất cả các cửa ngơ của Chánh thọ, tánh giới, tập giới, phương tiện giới.

a. Chánh thọ giới:

Là giới Bồ Tát, thọ đủ cả ba tụ thanh tịnh giới.

b. Tánh giới:

Là Bồ Tát có Bồ Tát giới tính, nên thanh tịnh về thân, thanh tịnh về ngữ, thanh tịnh về ư và hiền thiện vốn là bản chất của Bồ Tát.

c. Tập Giới:

Là Bồ Tát vốn tu tập Bồ Tát Giới, nên đời này qua đời khác, nhân của giới vẫn c̣n, tam tụ tịnh giới đă từng tu tập, nên tâm thường nhàm chán điều ác mà không làm, chỉ thích làm điều thiện.

d. Phương tiện thành giới:

Là người thọ tŕ Bồ Tát Giới, y vào bốn nhiếp pháp mà thực hành hiền thiện của thân ngữ đối với hết thảy chúng sanh.

 

5- Thiện nhân giới:

Bồ Tát Giới là giới của bậc Hiền trí và Hiền đức.

Hiền trí và Hiền đức có năm trường hợp để hành tŕ.

a. Tự tŕ tịnh giới:

Nghĩa là tự ḿnh hành tŕ giới thanh tịnh.

b. Thọ dự tha nhân:

Nghĩa là đại diện Phật và Bồ Tát để trao truyền cho người khác.

c. Tán thán tịnh giới:

Ca ngợi công đức do hành tŕ giới đem lại.

d. Kiến đồng pháp giả sanh tâm hoan hỷ:

Thấy chúng sanh đồng tu tập các pháp tịnh giới như ḿnh, liền sanh tâm hoan hỷ.

e. Thiết hữu hủy phạm như pháp hối trừ:

Giả thiết rằng: Bậc hiền trí và hiền đức có phạm vào giới pháp, th́ sám hối trừ diệt đúng như pháp.

 

6- Nhất hành giới:

C̣n gọi là “nhất thiết chủng giới”. Nội dung của loại nầy, có hai trường hợp bao gồm mười ba loại như sau:

 

Trường hợp một có sáu loại:

a. Hồi hướng giới:

V́ thọ và tŕ giới là quay ngược lại với điều ác, quay ngược lại với mê lầm mà hướng đến đạo quả Vô Thượng Bồ Đề.

b. Quảng bác giới:

V́ trong giới Bồ Tát là thâu nhiếp hết thảy học giới.

c. Vô tội hoan hỷ xứ giới:

V́ là giới tránh xa hai hành động buông lung tâm ư, một là phóng theo dục lạc, hai là tự khắc khổ ép xác.

d. Hằng thường giới:

V́ người thọ tŕ Bồ Tát Giới tuy thân mệnh đă hoại chung, nhưng giới thể vẫn tiếp tục tồn tại, không mất.

e. Kiên cố giới:

V́ người thọ tŕ Bồ Tát Giới, th́ tất cả các thứ lợi dưỡng, khen chê, phiền năo không thể làm phá hỏng.

g. Thi la trang nghiêm cụ tương ưng giới:

V́ là giới tương ưng với sự trang nghiêm tốt đẹp.

 

Trường hợp hai có bảy loại:

a. Chỉ tức giới:

Nghĩa là giới đ́nh chỉ và chấm dứt mọi hành vi giết hại…

b. Chuyển tác giới:

Nghĩa là giới có khả năng thâu nhiếp tất cả thiện và làm lợi ích cho hết thảy chúng sanh.

c. Pḥng hộ giới:

Nghĩa là giới có khả năng pḥng hộ các điều ác, chuyển khởi các điều thiện, và làm lợi ích cho tất cả chúng sanh.

d. Đại sĩ tướng dị thục giới:

Nghĩa là giới làm cho thuần thục tướng mạo của hiền đức và hiền trí.

e. Tăng thượng tâm dị thục giới:

Nghĩa là giới làm cho tăng trưởng sự thuần thục.

g. Khả ái thú dị thục giới:

Giới thuần thục dẫn đến sự ái mộ.

h. Lợi hữu t́nh dị thục giới:

Nghĩa là giới thuần thục làm lợi ích cho hết thảy chúng sanh.

 

7- Trừ năo giới:

Hay c̣n gọi là Toại Cầu Giới. Đó là giới mà người thọ tŕ mong cầu rằng: Những kẻ khác đừng năo hại họ và chúng sanh, bằng những hành vi như : giết mất mạng sống, đối với tài sản không cho mà lấy, uế hạnh, tà hạnh, nói dối, nói lời thêu dệt, nói ly gián, nói tục, đánh đập.

Nếu họ mong cầu được như vậy, th́ vui vẻ toại ư, nếu họ mong cầu như vậy mà không được, th́ tâm ư của họ không vui.

 

8- Thử thế tha thế lạc giới:

Nghĩa là Bồ Tát tu tập tịnh giới, đối với những điều ngăn chỉ th́ ngăn chỉ, những điều cần khai mở th́ khai mở, những điều cần nhiếp thọ th́ nhiếp thọ, những điều cần hàng phục th́ hàng phục và trong khi thực hành bố thí ba la mật đều có mặt của tŕ giới ba la mật, khi hành nhẫn nhục ba la mật, tinh tấn ba la mật, thiền định ba la mật, trí tuệ ba la mật đều có tŕ giới ba la mật.

Bồ Tát tự ḿnh tu tập tịnh giới và giáo hóa kẻ khác tu tập để không những đời nầy họ an trú niềm vui, mà đời sau cũng như vậy.

 

9- Thanh tịnh giới:

Hay c̣n gọi là Tịch tịnh giới. Nội dung của thanh tịnh giới có mười trường hợp:

a. Sơ thiện thọ giới:

Điều thiện đầu tiên thọ giới là để làm sa môn, là v́ đạo quả Bồ Đề mà không tiếc quư thân mạng.

b. Bất thái trầm giới:

Tŕ giới không thái quá và không khởi lên nghi ngờ đối với các học xứ.

c. Ly giải đăi giới:

Nỗ lực tŕ giới, không ham thích ngủ nghỉ.

d. Ly sự phóng dật sở nhiếp thọ giới:

Thâu nhiếp tâm ư, khiến chúng không buông lung.

e. Chánh nguyện giới:

Tu tập chánh nguyện Bồ Đề, không mong cầu tài lợi, không ước muốn sanh thiên mà chỉ thực hành hạnh tịch tịnh.

g. Quy tắc cụ túc sở nhiếp thọ giới:

Ǵn giữ và khéo sử dụng oai nghi để thi hành các công việc, phương tiện tu hành các thiện, thân hành và ngữ hành đúng pháp độ, sống đầy đủ chánh mạng, tất cả những lời nói dối trá, nịnh hót và bao nhiêu loại nói sai lầm đều vĩnh viễn xa ĺa.

h. Tịnh mạng cụ túc sở nhiếp thọ giới:

Tránh xa sự dối trá của tâm hành và ngữ hành cũng như mọi sinh hoạt tà mạng.

i. Ly nhị biên giới:

Tránh xa hai cực đoan, không buông lung theo các dục và ép xác khổ hạnh.

k. Vĩnh xuất ly giới:

Do tu tập giới mà vượt khỏi ác thú, xa ĺa các tà kiến của ngoại đạo.

l. Ư tiên sở thọ vô tổn thất giới:

Giới đă được lănh thọ để tu tập, không để chúng bị khuyết tật tổn giảm.

Mười nội dung này gọi là thanh tịnh giới, gọi là Bồ Tát đại giới tụ, tu tập để chứng đắc đạo quả Vô Thượng Bồ Đề. ( Bồ Tát Địa Tŕ Kinh 4 và 5, tr 910 – 918; Bồ Tát Địa Giới Kinh 4, tr 982 – 984; Du Già Sư Địa Luận 40, tr 510, Đại Chính 30).

Thật ra, sự phân tướng loại của Bồ Tát Giới như thế nầy, cũng là để khai triển sâu rộng và chi tiết hóa của ba loại giới, là Nhiếp luật nghi giới, Nhiếp thiện pháp giới và Nhiêu ích hữu t́nh giới.

Do đó, Bồ Tát tam tụ tịnh giới là giới nói tổng, c̣n chín tướng loại là nói biệt.

Lại nữa, thường nói tổng đă gọn mà đủ, nói biệt th́ rườm rà mà lại thiếu.

Tuy nhiên, nếu đề cập đến cả tổng và biệt, th́ nó thông cho hết thảy các căn cơ học tập và nghiên cứu.

 

III. NGUYÊN UỶ CỦA BỒ TÁT GIỚI

 

1- Từ Phật Pháp Thân:

 

Bồ tát giới có khởi điểm và truyền thừa từ đâu?

Theo giới kinh Phạm Vơng, th́ Bồ tát giới có nguồn gốc từ Đức Phật Tỳ Lô Xá Na. Nghĩa là từ Đức Phật nầy nói ra và Đức Phật Thích Ca Mâu Ni được truyền và thọ từ đó.

Như Kinh nói: “Bấy giờ Đức Phật Tỳ Lô Xá Na đă v́ Đại chúng mà khai thị một cách tóm tắt, chỉ bằng đầu sợi lông ở trong Pháp môn tâm địa, v́ pháp môn ấy nhiều ví như cát trăm ngàn sông Hằng không thể nói hết. Pháp môn tâm địa ấy, hết thảy chư phật trong thời quá khứ đă nói, chư phật ở thời vị lai sẽ nói, chư phật ở thời hiện tại đang nói, tất cả bồ tát trong ba đời đă học, sẽ học và hiện đang học. Tôi đă trăm kiếp thực hành Pháp môn Tâm địa ấy, hiệu của tôi là Lô Xá Na. Hỡi chư phật! Xin các Ngài hăy truyền đạt những điều tôi nói ra, cho hết thảy chúng sanh, nhằm khai thị con đường Tâm địa cho họ. Bấy giờ trên Ṭa Sư Tử sáng chói rực rỡ của Thế giới Liên Hoa Đài Tạng, Đức Phật Lô Xá Na phóng tỏa ra ánh sáng của hào quang, gọi một ngàn Đức Phật Thích Ca hóa thân, trên một ngàn cánh hoa mà bảo rằng:

Hỡi quư Ngài! Xin hăy đem pháp môn Tâm địa của tôi mà đi truyền đạt lại cho một trăm ngàn ức Đức Phật Thích Ca và tất cả chúng sanh.

Hỡi quư Ngài! Xin hăy nói tuần tự về pháp môn Tâm địa của tôi ở trên.

Hỡi quư Ngài! Xin các Ngài thọ và tŕ, đọc và tụng, nhất tâm mà thực hành.” (Phạm Vơng Kinh, tr 1003, Đại Chính 24).

Như vậy, Đức Phật Tỳ Lô Xá Na là ai, mà Ngài là vị đầu tiên trao truyền pháp môn Tâm địa tức là Bồ Tát Giới cho hàng ngh́n Đức Phật Thích Ca hóa thân và lại c̣n khuyến khích một ngàn Đức Phật Thích Ca hóa thân ấy, lại tuần tự trao truyền cho trăm ngàn ức Đức Phật Thích Ca hóa thân khác và hết thảy chúng sanh?

Tỳ Lô Xá Na hay Tỳ Lô Giá Na Phật là chuyển ngữ của Phạn âm Vairocanabuddha.

Vairocana, Hán dịch là “Biến nhất thế xứ”, nghĩa là có mặt khắp cả mọi không gian và mọi thời gian, có khi cũng dịch là “Tịnh măn”, nghĩa là hoàn toàn thanh tịnh; hoặc “Quảng bác nghiêm tịnh”, nghĩa là sự nghiêm tịnh cùng khắp; hoặc “Quang minh biến chiếu”, nghĩa là ánh sáng soi chiếu khắp hết thảy thời-không; và cũng dịch là “Đại nhật”, nghĩa là mặt trời soi chiếu vĩ đại.

Vậy, Vairocanabuddha hay Đức Phật Tỳ Lô Giá Na là Đức Phật có mặt khắp mọi thời-không; Đức Phật nghiêm tịnh cùng khắp, Đức Phật mặt trời đại…

Đức Phật nầy, hiện đang ngồi trên Ṭa Sư Tử sáng chói rực rỡ của thế giới “Liên hoa đài tạng”, một thế giới theo lời Ngài Phổ Hiền thuật lại, ở trong Kinh Hoa Nghiêm là rất nghiêm tịnh, được Đức Phật Tỳ Lô Xá Na tạo nên, bởi vô số đại nguyện thanh tịnh, trải qua vô số kiếp tu tập, gần gũi vô số đức Phật mà h́nh thành, và hiện nay, Ngài là vị đang làm giáo chủ trên thế giới ấy. (Hoa Nghiêm kinh, Phẩm Hoa Tạng Thế Giới, Đại Chính 10).

Đức Phật Tỳ Lô Xá Na cũng chính là bản thân hay Pháp thân của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Và Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, hay ngàn Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là thọ nhận thân của Đức Phật Tỳ Lô Xá Na , và trăm ngàn ức Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là “Biến hóa thân” của Đức Phật Tỳ Lô Xá Na.

 

Nói cách khác, ngàn Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, trên ngàn cánh hoa sen, ở nơi thế giới “Liên hoa đài tạng”, hay trăm ngàn ức Đức Phật Thích Ca đều là báo thân, ứng hóa thân của Đức Phật Tỳ Lô Giá Na, nghĩa là các đức Phật Thích Ca ở trong mười phương đều ứng hóa từ Pháp thân của Phật.

Pháp môn Tâm địa hay Bồ Tát giới, đă được Đức Phật Pháp Thân tức là Đức Phật Tỳ Lô Xá Na, nói tại “Liên hoa đài tạng thế giới”, cho một ngàn Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, ngồi trên một ngàn cánh hoa sen nghe. Và một ngàn Đức Phật Thích Ca nầy đă vâng lời Đức Phật bản thân, để truyền đạt pháp môn Tâm địa cho một trăm ngàn ức Đức Phật Thích Ca hóa thân và hết thảy chúng sanh.

Tóm lại, Pháp môn Tâm địa hay Bồ Tát Giới đă được Đức Phật bản thân nói ra, từ nơi Bản Nguyên Tự Tánh Thanh Tịnh, và đă được phụng hành, đọc tụng bởi các Đức Phật Thích Ca hóa thân ở nơi mỗi thế giới mà các Ngài hiện đang ứng thân để giáo hóa.

 

2- TỪ ĐỨC PHẬT HÓA THÂN:

 

Bồ Tát Giới mà có khởi điểm từ nơi Bản Nguyên Tự Tánh Thanh Tịnh, được nói ra bởi Đức Phật Tỳ Lô Xá Na, tại thế giới “Liên hoa đài tạng”, đó là Bồ Tát Giới có tính truyền thừa siêu không gian, siêu lịch sử. Tính nầy, những người không có đức tin Đại Thừa, không có bản chất của Bậc Hiền trí và Hiền đức, th́ họ không dễ ǵ chấp nhận. Tuy nhiên, dù họ có chấp nhận hay không, điều đó chẳng có ǵ quan trọng đối với sự thật tuyệt vời ấy. Nhưng, đối với mặt lịch sử, theo Phạm Vơng giới kinh, th́ Bồ Tát Giới là do Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nói ra từ pháp môn Tâm địa, ngay khi Ngài mới thành đạo dưới gốc cây Bồ Đề.

Kinh nói: “ Bấy giờ, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni ngồi dưới gốc cây Bồ Đề, khi mới thành tựu Tuệ Giác Vô Thượng, đầu tiên Ngài quy định Bồ tát giới. Ngài nói, sự hiếu thuận với Cha Mẹ, Thầy, Chúng Tăng và Tam Bảo. Hiếu là Pháp của Đạo Chí Thượng, sự hiếu thuận ấy cũng gọi là giới, cũng gọi là sự chế ngự và đ́nh chỉ các ác.

Chính từ nơi miệng của Đức Phật, Ngài đă phát ra vô lượng ánh sáng. Bấy giờ, đại chúng có trăm vạn ức, gồm các vị Bồ Tát, mười tám vị cơi Phạm thiên, sáu vị thiên tử ở cơi trời Dục Giới, các vua của mười sáu nước giàu mạnh, hết thảy họ đều chắp tay, lắng hết tâm trí mà nghe Đức Phật tụng lại Giới Pháp Đại Thừa, của tất cả chư Phật.

Đức Phật dạy các vị Bồ tát rằng, nay tôi cứ nửa tháng đích thân tụng lại giới pháp của chư Phật. Quư vị, tất cả những hàng Bồ Tát mới phát tâm cũng phải tụng, cho đến các hàng Bồ Tát ở địa vị Mười Phát thú, Mười Trưởng dưỡng, Mười Kim cang và Mười địa cũng phải tụng.

Do đó, ánh sáng từ nơi miệng tôi phát ra, là v́ có duyên cớ, chứ không phải không có lư do.

Ánh sáng của hào quang ấy, không lệ thuộc màu xanh, đỏ, vàng, trắng và đen, không lệ thuộc vào vật lư và tâm lư, không lệ thuộc vào các khái niệm có và không, không liên hệ đến các pháp thuộc về nhân quả, mà ánh sáng ấy là Bản Nguyên của chư Phật, là căn bản hành tŕ Bồ Tát đạo, là căn bản hành tŕ của toàn thể Phật tử.

Do đó, toàn thể Phật tử phải học tập, thọ và tŕ, đọc và tụng một cách thông minh.

Hỡi những Phật tử thông minh! Quư vị hăy lắng nghe kỹ, nếu những ai đă lănh thọ giới pháp của chư Phật, dù là QuốcVương, Vương tử, Tể tướng, Bách quan,Tỷ khưu,Tỷ khưu ni, chư Thiên của mười tám tầng trời thuộc Sắc giới, chư Thiên của sáu tầng trời thuộc Dục giới, tất cả dân chúng những kẻ hoàng môn, dâm nam, dâm nữ, nô bộc, tỳ thiếp, các vị quỷ thần trong tám bộ loại, các thần Kim cang, các loài súc sanh cho đến những kẻ biến hóa, hễ hiểu rơ tiếng nói của Pháp sư trong lúc truyền giới, th́ hết thảy họ có thể thọ và đắc giới, đều có thể gọi là Bậc thanh tịnh số một”.(Phạm Vơng Giới Kinh, tr 1004, Đại Chính 24).

 

Như vậy, ở mặt lịch sử, th́ Bồ Tát Giới do Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nói và trao truyền cho đại chúng Phật tử, mà trong đó gồm đủ, các vị Bồ Tát, trời, người… và chính ở đây và lúc nầy, Ngài cũng đă quy định một số điều cần thiết đối với sự lănh thọ và hành tŕ Bồ Tát Giới.

 

3- TỪ CÁC KINH VÀ LUẬN:

 

3-1. KINH HOA NGHIÊM.

 

Bồ Tát Giới có gốc rễ từ Kinh Hoa Nghiêm, kinh này do Đức Phật nói ra dưới gốc cây Bồ Đề trải qua hai mươi mốt ngày kể từ khi Ngài thành đạo.

Ở trong kinh nầy, Bồ Tát Giới liên hệ chặt chẽ với các Phẩm Hoa Tạng Thế Giới, Tỳ Lô Xá Na, Tịnh Hạnh, Hiền Thủ, Tu Di Đảnh Kệ Tán Thập Trú, Sơ Phát Tâm Công Đức, Minh Pháp, Thập Hạnh, Vô Tận Tạng, Thập Hồi Hướng, Thập Địa…

 

Kinh Hoa Nghiêm có ba bản dịch:

a. Hoa Nghiêm Kinh 60.

Do Ngài Phật Đà Bạt Đà La dịch, vào đời Tấn (359-429).

Phật Đà Bạt Đà La, là chuyển ngữ của Phạn ngữ Buddhabhadra, Tàu dịch là Giác Hiền, Ngài là người ở Bắc Ấn, nghiêm tŕ giới luật cẩn mật, rất tinh thông Thiền học, Ngài đă đến Trung quốc năm Hoằng thủy thứ 10, tức năm 408 TL.

Ở Trung quốc, Ngài dịch rất nhiều Kinh và Luật, trong đó có, bộ Hoa Nghiêm sáu mươi quyển nầy, Ngài mất năm 429 thọ 71 tuổi.

b. Hoa Nghiêm Kinh 80.

Do Ngài Thật Xoa Nan Đà dịch, vào đời Đường (618-907).

Thật Xoa Nan Đà là chuyển âm của Phạn ngữ Sikshànanda, Tàu dịch là Học hỷ, Ngài người nước Vu Điền, đến Trung quốc năm 695, do đáp ứng lời mời của Tắc Thiên Vơ Hậu. Ngài đă trú tại chùa Đại-Biến-Không, ở Lạc Dương để dịch Kinh. Ngài tịch năm 710, thọ 59 tuổi.

c. Hoa Nghiêm Kinh 40.

Do Ngài Bát Nhă dịch vào đời Đường.

Bát Nhă là chuyển âm của Phạn ngữ Prajñà, Ngài người Bắc Ấn, đến Trung quốc năm 786 TL, và dịch xong bộ Kinh Hoa Nghiêm bốn mươi cuốn nầy vào năm 798.

Ba bản Kinh Hoa Nghiêm nầy, hiện trong đại Tạng Tân Tu đều có đủ.

 

3-2. KINH BÁT NHĂ.

 

Bồ Tát Giới cũng được đề cập đến rất nhiều ở trong hệ thống Kinh tạng Bát Nhă mà cụ thể nhất là các Kinh:

a. Đại Bát Nhă Ba La Mật Đa kinh, từ quyển 584 đến 588:

Do Ngài Huyền Tráng dịch vào đời Đường.

Ngài người Trung Hoa, sinh khoảng năm 600 và mất năm 664, Ngài là người đă vượt suối băng ngàn từ Trung Hoa đến Ấn Độ học Phật tại tu viện Nalanda vào năm 629, và rồi đă trở về Trung Hoa năm 645, sự nghiệp tu học và dịch kinh của Ngài vô cùng vĩ đại.

Trong bản kinh Đại Bát Nhă do Ngài dịch nầy, nói về thọ và đắc, tŕ và phạm cũng như công đức hành tŕ Bồ tát Giới rất rơ.

Kinh hiện có trong Đại Tạng Tân Tu 7, từ trang 1019-1044.

b. Đại Thừa lư thú lục ba la mật đa kinh:

Do Ngài Bát Nhă dịch. Trong bản kinh nầy có đề cập đến tŕ, phạm và sáu mươi lăm giới tướng của Bồ Tát.

Trong đó, mười giới hoàn toàn giống Thập Thiện giới, và các giới c̣n lại, nội dung đề cập đến quy tín Tam Bảo, Hiếu kính cha mẹ, hiếu kính đối với Hoà Thượng truyền giới, với vị Giáo Thọ và với các vị tôn Chứng. Tôn trọng các giới, không cầu học và chấp trước ở nơi các quả vị Thanh Văn và Độc Giác. Pḥng hộ các oai nghi lúc giao tiếp với ngoại đạo, với những nhà giàu có… để tránh những cơ hiềm của kẻ khác. Pḥng hộ năm căn. Phải học tập để hiểu biết. Phải luôn luôn giữ bốn vô lượng tâm. Phải tự xét lỗi ḿnh không ḍm ngó lỗi người. Phải thường nghe, thân gần thiện tri thức, tránh xa ác tri thức. Phải quán niệm vô thường mà không tiếc thân mạng…

Trong bản kinh có đề cập đầy đủ giới hành của Bồ Tát, ở đây chúng tôi chỉ dịch lược.

Những ai muốn nghiên cứu kỹ để hành tŕ, xin đọc thẳng vào Đại Chính Tân Tu 8, trang 889-890.

 

3-3. PHẠM VƠNG KINH.

 

Bồ Tát Giới được đề cập trong Kinh Phạm Vơng rất cụ thể.

Kinh nầy theo lời tựa của Ngài Tăng Triệu, th́ Pháp sư Cưu Ma La Thập dịch gồm có 120 cuốn, bao gồm 61 phẩm. Nhưng, hiện tại ở Đại Tạng Tân Tu chỉ hai cuốn Thượng và Hạ.

Nội dung của cuốn Thượng nói rằng: Đức Phật Thích Ca bấy giờ, ở tại cơi trời Ma Hê Thủ La của sắc giới, đă đưa tất cả đại chúng đến Liên Hoa Đài Tạng Thế Giới để gặp Đức Phật Tỳ Lô Xá Na, nhằm hỏi con đường thành tựu hàng Bồ Tát Thập địa và cũng như những h́nh thái để thành tựu Phật quả.

Và bấy giờ, Đức Phật Tỳ Lô Xá Na, đă nói cho đại chúng nghe pháp môn Tâm địa, tức là con đường tu tập thành Phật của Ngài, và thế giới Liên Hoa Đài Tạng là do Ngài tu tập pháp môn Tam địa nầy mà tạo nên, cũng như trăm ngàn ức Đức Thích Ca cũng đều là hóa thân từ Ngài.

Đức Phật Tỳ Lô Xá Na đă nói cho ngàn Đức Phật Thích Ca báo thân và trăm ngàn Đức Phật Thích Ca ứng hóa thân về pháp môn Tâm Địa, mà trong đó gồm có: Thập Phát Thú Tâm, Thập Trưởng Dưỡng Tâm, Thập Kim Cang Tâm và Thập Địa.

Cuốn Hạ, th́ kinh đề cập đến sự ẩn một của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni từ nơi thế giới Liên Hoa Đài Tạng và sự xuất hiện của Ngài trong thế giới Ta Bà nầy. Trong đó, nội dung đề cập đến thân thế, chí nguyện xuất gia, tu tập, thành đạo và nói năm mươi tám giới của Bồ Tát, gồm mười giới tướng là thuộc về giới pháp vô tận.

Bốn mươi tám giới c̣n lại là thuộc về giới nhẹ, nghĩa là chúng không quan trọng so với mười giới pháp vô tận, nhưng nó lại cần thiết để thành tựu pháp môn Tâm địa.

Kinh do Ngài cưu Ma La Thập (Kumaraj́ra) dịch vào thời hậu Tần.

Ngài người Kucha (Khâu Tư) thuộc Ấn Độ, xuất gia năm bảy tuổi. Ngài là vị thần đồng không thua bất cứ ai về sự thông minh vào thời bấy giờ.

Ngài học thông Tam Tạng, đáp ứng lời mời của vua Phù Kiên đời Tiền Tần, nên đă đến Trung Quốc năm 383-386.

Ngài đă ở Tràng An để dịch thuật nhiều kinh điển từ Phạn sang Hán và mất năm 413 T L.

Sự nghiệp dịch kinh của Ngài đă để lại cho đời rất đại. Kinh Phạm Vơng là một bản kinh do Ngài dịch, hiện đang được lưu hành, tŕ tụng rất phổ biến ở các nước Phật giáo Đại Thừa. Kinh hiện có ở Đại Tạng Tân Tu 24, trang 997.

 

3-4. BỒ TÁT ANH LẠC BẢN NGHIỆP KINH.

 

Kinh nầy có hai cuốn thượng và hạ, bao gồm tám phẩm, do Ngài Trúc Phật Niệm dịch vào đời Diêu Tần (317-419 TL).

Cuốn thượng, Kinh đề cập đến bốn mươi hai địa vị Hiền Thánh. Trong đó, gồm có: Thập Trú, Thập Hạnh,Thập Hướng, Thập Địa, Vô Tướng Vô Cấu Địa, Diệu Giác Vô Thượng Địa.

Ở trong Kinh c̣n tŕnh bày hai mươi bốn đại nguyện trong lúc tu tập Bồ Tát Hạnh.

Nội dung của hai mươi bốn đại nguyện nầy bao gồm, Mười Ba la mật và các nguyện liên hệ đến Phật tâm, Phật hạnh, Phật trí, Phật đức và Phật thân…

Cuốn hạ, kinh giải thích cụ thể ư nghĩa của bốn mươi hai địa vị Hiền Thánh. Và ở phẩm đại chúng thọ học của kinh nầy, có đề cập rất rơ về cách lănh thọ và truyền Bồ Tát Giới, cũng như nêu rơ mười giới pháp vô tận.

Mặc dù thứ tự của mười giới pháp vô tận ở kinh Anh Lạc có khác đôi chút so với kinh Phạm Vơng, nhưng nội dung của hai kinh đều giống nhau.

Và hễ đă thọ và tŕ mười giới pháp vô tận nầy mà huỷ phạm một trong mười, th́ đều mất hết bốn mươi hai địa vị Hiền Thánh, quan điểm nầy đồng với kinh Phạm Vơng.

C̣n về phần giới nhẹ, kinh nầy không nêu rơ từng phần như kinh Phạm Vơng, chỉ nêu lên một câu rất tổng quát là “Hết thảy giới thuộc về tám vạn oai nghi, gọi là phần nhẹ, nếu có phạm cần đối thủ sám hối, th́ tội liền diệt”. (Bồ Tát Anh Lạc Bản Nghiệp Kinh, tr 1024, Đại Chính 24).

 

3-5. BỒ TÁT NỘI GIỚI KINH.

 

Kinh nầy do Bồ Tát Văn Thù khởi thỉnh Đức Phật nói . Và Đức Phật đă nói cho Ngài Văn Thù Sư Lợi cũng như hội chúng về công đức tu tập của hàng Sơ Phát Ư Bồ Tát kể cả tại gia và xuất gia.

Đức Phật đă dạy cách lănh thọ Bồ Tát Giới cho hàng Bồ Tát sơ phát ư như sau: Phải lănh thọ ba pháp tự quy, sám hối ba nghiệp kể từ mười vạn kiếp đă trải qua cho đến ngay lúc mới phát ư hành Bồ tát đạo, phải thực hành lục độ, phải phát khởi ba nguyện.

a. Nguyện tu tập là để thành Phật và dựng xây Vương quốc tịnh độ theo mô thức tịnh độ của chư Phật.

b. Nguyện sanh về cảnh giới tịnh độ của Đức Phật A Di Đà.

c. Và phải thực hành các oai nghi, trong lúc vào chùa, cũng như trong lúc ăn uống.

Trong kinh nầy, Đức Phật cũng nêu ra mười hai phần thích hợp, để hàng Bồ Tát Sơ Phát Ư tu tập.

Phần thứ nhất là đề cập đến bốn mươi bảy giới tướng mà hàng Bồ Tát Sơ Phát Ư phải thọ tŕ.

Mười một phần c̣n lại là đề cập đến các phương pháp tu tập để tăng trưởng giới đức, giới hạnh của Bồ Tát Sơ Phát Ư.

Kinh do Ngài Cầu Na Bạt Ma dịch vào đời Tống, Nam Bắc Triều.

Cầu Na Bạt Ma là chuyển âm từ Phạn ngữ Gunavarman, Ngài người Kế Tân Ấn Độ, đến Trung Quốc vào năm 431. Ngài đă ở đấy 9 tháng, dịch được một số kinh luật và tịch năm 413, thọ 54 tuổi.

 

3-6. BỒ TÁT THIỆN GIỚI KINH.

 

a. Kinh 9 cuốn.

Kinh nầy cũng do Ngài Cầu Na Bạt Ma dịch, vào đời Tống, Nam Bắc Triều, gồm có 9 cuốn.

Nội dung của kinh là nói đến sự phát tâm Bồ Đề, tu tập Bồ Tát hạnh, chứng đắc các Bồ tát địa cho đến Phật địa.

Cụ thể là các phẩm “Bồ Tát Địa Thiện Hành Tánh, Bồ Tát Địa Lợi Ích Nội Ngoại, Bồ Tát Địa Bồ Đề, Bồ Tát Địa Bồ Đề Lực”… và cụ thể nhất là “Bồ Tát Địa Giới”.

Trong phẩm Bồ tát địa giới nầy, kinh nêu rơ Bồ tát giới có chín tướng loại và giải thích từng loại khá thấu đáo, trong đó cũng đề cập đến thọ, tŕ và phạm…

b. Kinh một cuốn.

Cũng do Ngài Cầu Na Bạt Ma dịch. Nội dung kinh đề cập đến cách thức thọ tŕ Bồ Tát giới, nêu rơ các giới tướng, gồm có tám trọng giới và các khinh giới mà vị đă thọ tŕ Bồ tát giới phải phụng hành.

Cả hai bản kinh đều có ở trong Đại Tạng Tân Tu 30, trang 960 và trang 1013.

 

3-7. BỒ TÁT ĐỊA TR̀ KINH:

 

Bồ tát địa tŕ kinh liên hệ chặt chẽ với Bồ tát giới, nhất là các phẩm:

- Chủng tánh: Phẩm nầy đề cập đến mười pháp của Bồ tát đạo.

- Phát Bồ Đề tâm: Phẩm nầy nói về phát khởi tâm Bồ Đề bao gồm những thệ và nguyện.

- Tự tha lợi: Phẩm nầy đề cập đến bảy cứ điểm thực hành Bồ Tát và liên hệ chặt chẽ với Bồ tát giới phẩm là phẩm nói rơ thọ, đắc, tŕ, phạm đối với Bồ tát giới, về giới tướng th́ nói rơ bốn pháp Ba La Di và ba mươi lăm pháp thuộc về Đột Kiết La.

Kinh có mười cuốn, do Ngài Đàm Vô Sấm dịch từ đời Bắc lương.

Tên Phạn của Ngài là Dharmaraksa, Ngài người Trung Ấn, đến Trung Quốc vào đời Bắc Lương năm 412, và đă bỏ ra hai mươi năm để dịch rất nhiều kinh.

Bồ Tát giới bản và Bồ Tát địa tŕ kinh, đều do Ngài dịch, hiện có trong Đại Tạng Tân Tu 24, trang 1107 cho Bồ tát giới bản và Đại Tạng Tân Tu 30, trang 888, cho Bồ Tát địa tŕ kinh.

 

3-8. ƯU BÀ TẮC GIỚI KINH:

 

Mặc dù kinh có tên gọi là Ưu bà tắc giới, nhưng thật chất nội dung là nói về Bồ Tát giới.

Ngay ở phẩm Tập hội của kinh, Đức Phật đă dạy cho Thiện Sanh rằng: Kính lễ sáu phương là thực hành Lục Ba La Mật và sáu phương ấy không ra ngoài tâm của chúng sanh.

Ngay ở phẩm nầy, Đức Phật c̣n giải thích ư nghĩa Bồ Tát cho Thiện Sanh nghe như sau: “V́ có được Bồ Đề, nên gọi là Bồ tát; v́ có bản chất Bồ Đề, nên gọi là Bồ tát”.

Và phẩm Phát Bồ Đề tâm, phẩm phát nguyện, phẩm tự lợi tha, phẩm thọ giới… đều đề cập đến Bồ tát giới.

Trong phẩm thọ giới, kinh có nêu rơ sáu trọng giới và hai mươi tám giới khinh, mà người thọ Bồ Tát Ưu Bà Tắc Giới phải hành tŕ.

Kinh có bảy cuốn, cũng do Ngài Đàm Vô Sấm dịch vào đời Lương, hiện có ở trong Đại Tạng Tân Tu 24, trang 1034.

 

3-9. DU GIÀ SƯ ĐỊA LUẬN:

 

Bộ Luận nầy, do Bồ Tát Di Lặc nói, Ngài huyền Tráng đă dịch gồm 100 cuốn.

Luận liên hệ chặt chẽ đến Bồ tát Giới. Và luận cũng đă giải thích cặn kẽ con đường tu tập để thành tựu đạo quả Vô Thượng Bồ Đề.

Cuốn bốn mươi của luận nêu rơ các loại giới tướng và giải thích từng loại rất chu đáo kể cả các cách thọ và tŕ.

Du Già Sư Địa Luận, hiện có ở trong Đại Tạng Tân Tu 30, trang 279.

Ngoài các kinh, Luận ở trên chúng ta c̣n có các bản kinh liên hệ đến Bồ Tát giới như sau:

- Bồ tát giới yết ma văn, do Ngài Di Lặc nói, Ngài Huyền Tráng dịch.

- Đại Thừa Giới Kinh, do Ngài Thi Hộ dịch vào đời Tống.

- Thanh Tịnh Tỳ Ni Phương Quảng Kinh, Ngài Cưu Ma La Thập dịch.

- Bồ Tát Tạng Kinh, Ngài Tăng Già Bạt La dịch vào đời Lương.

- Đại Thừa Tam Tụ Sám Hối Kinh, do Ngài Xà Na Quật Đa và Cấp Đa dịch ở đời Tùy.

Và hai cuốn Bồ tát giới bổn do Bồ tát Di Lặc nói, một cuốn do Ngài Đàm Vô Sấm dịch vào đời Bắc Lương và một cuốn do Ngài Huyền Tráng dịch vào đời Đường.

Như vậy, nguyên ủy Bồ Tát giới là có từ chư Phật Pháp Thân, Báo Thân, Ứng Hóa Thân và các kinh luận do các vị Tổ sư qua các thời đại đă phiên dịch, trước tác và truyền thừa.

 

THỌ VÀ ĐẮC ĐẠI THỪA BỒ TÁT GIỚI

 

Thọ và đắc từ Chư Phật và Bồ Tát:

 

Nếu có duyên mà thọ và đắc từ Chư Phật và Bồ Tát th́ sự thành tựu giới thể rất là vượt bực.

Đây là cách thọ Bồ Tát giới của ngàn Đức Phật Thích Ca báo thân và trăm ngàn ức Đức Phật Thích Ca ứng hóa thân từ Đức Phật Lô Xá Na ở nơi thế giới Liên Hoa Đài Tạng.

Và đây cũng là cách thọ Bồ Tát giới của chúng đại Bồ Tát mà lúc Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đang ở tại cung trời Ma Hê Thủ La của Sắc giới.

Ở nơi cung trời nầy, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đă dùng năng lực của thiền định đưa toàn thể thính chúng ở đó, đến gặp Đức Phật Tỳ Lô Xá Na ở thế giới Liên Hoa Đài Tạng và được Đức Phật nầy dạy về con đường tu tập tâm địa.

Cách thọ nầy, cũng là cách thọ của hội chúng, khi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni hóa thân xuống cơi Ta Bà nầy, sau khi thành Đạo, Ngài liền quy định Bồ Tát giới và trao truyền Bồ Tát giới cho đến cả trăm ngàn ức Bồ Tát, các vị Phạm Thiên, chư thiên của Cơi Sắc và Cơi Dục cũng như những vị ở nhân giới đều nghe thọ (Phạm Vơng Kinh, tr 997, Đại Tạng Tân Tu 24).

Sự thọ và đắc Bồ Tát giới bằng cách nầy rất là mầu nhiệm, rất là tối thượng, v́ giới đă được trao truyền trực tiếp từ Đức Phật pháp thân và Đức Phật báo thân.

 

Thọ và đắc từ vị Pháp sư:

 

Trong Kinh Phạm Vơng, Đức Phật nói: “Hỡi Phật tử hăy lắng nghe cho kỹ!

Hễ muốn lănh thọ giới pháp của chư Phật, th́ không kể bất cứ ai, dù là Quốc Vương, Vương tử, Bách quan, Tể tướng, Tỷ khưu, Tỷ khưu ni, Phạm thiên, chư thiên trong mười tám tầng trời Cơi Sắc, chư thiên trong sáu tầng Cơi Dục, tất cả dân chúng, những kẻ huỳnh môn, dâm nam, dâm nữ, nô bộc, tỳ thiếp, tám bộ quỷ thần, Kim cang thần, súc sanh cho đến những loài do biến hóa, miễn rằng tất cả họ, hiểu được lời của vị pháp sư trao giới, th́ hết thảy họ, đều đắc giới và có thể trở thành bậc hoàn toàn thanh tịnh.” (Phạm Vơng Kinh, tr 1004, Đại Tạng Tân Tu 24).

Như vậy, Bồ Tát giới mang tính bao dung và quảng lượng hơn so với Tỷ khưu giới.

Nhưng, không phải v́ vậy, mà dung nạp một cách không trật tự.

Sự trật tự của Bồ Tát giới được tạo nên là do đức tin và sự mong cầu tuệ giác.

Hễ bất cứ ai, bất cứ loài nào, có đức tin và có sự khát ngưỡng tuệ giác, th́ tất cả họ có thể đi vào biển cả Giới Pháp đại thừa một cách không ngăn ngại.

Trong Kinh Bồ Tát Anh Lạc Đức Phật nói: “Hỡi các Phật tử! Tất cả chúng sanh muốn vào biển cả của Tam Bảo, th́ hết thảy họ phải lấy đức tin làm căn bản. Và họ muốn an trú trong ngôi nhà của giác ngộ, th́ hăy lấy giới pháp làm gốc” (Bồ Tát Anh Lạc Bản Nghiệp Kinh, tr1020, Đại Tạng Tân Tu 24).

Thật vậy, loài không có đức tin hoặc có đức tin sai lầm, hoặc những loại ngu đần, th́ tự họ không thể nh́n thấy một dấu tích nào của Phật pháp, chứ đừng nói ǵ đến tin, hiểu, thọ và đắc Bồ Tát giới. Tự bản thân họ không nghe được tiếng Thiện là ǵ, chứ đừng nói ǵ đến thọ và đắc giới để hành Thiện.

Dẫu rằng, giới có châu biến cả mười phương, nhưng họ &