Chùa Hải-Đức in Jacksonville
|
Kính Bạch: Chư Tôn Đức Toàn thể Phật tử Bản Việt Ngữ Chiêm Bốc pháp thuộc giáo Pháp mật Tông nầy xuất hiện v́ nhu cầu hướng dẫn cho Phật Tử tu học nội bộ. Với tâm thanh tịnh cần cầu Chánh Pháp, người Phật tử với tinh thần cầu tiến, hăy tự ḿnh tinh tấn tu hành để sớm được thành tựu. Việc làm nầy hoàn toàn không liên quan đến thương măi. Ngưỡng cầu Tam Bảo và Chư Hộ Pháp nhũ ḷng từ bi gia hộ cho tấm ḷng thành của hàng thiện tín để có đủ tài liệu tu học.
Om Ah Ra Pa Tsa Na Dhi
Âm Hán Việt:
Ông A Na Ba Tra Nả Đích
DIỆU CÁT TƯỜNG CHIÊM BỐC PHÁP
Mục Lục
Lời Nói Đầu
Đảnh Lễ Bồ Tát Văn Thù Sư LợiĐức Văn Thù Sư Lợi (Manjushri) là hoá thân của Trí Huệ. Trong các bậc Đại Bồ Tát Phật Giáo, Đức Quán Tự Tại Bồ Tát được tôn xưng là “Đại Bi”, Ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát được tôn xưng là “Đại Trí”. Theo quan điểm của Mật Tông Tây Tạng, hành giả nên dùng “Tâm Bồ Đề” làm căn bản tu tập, Bồ Đề Tâm phải có 2 nhân tố: thứ nhất là Đại Bi, thứ hai là Đại Trí. Cho nên hành giả mật tạng phải đặc biệt kính ngưỡng hai vị Bồ Tát này. Ư nghĩa của chữ “Văn Thù Sư Lợi” là “Diệu Cát Tường”, nghĩa là “tốt đẹp nhất”. Trong nghi quỹ của Mật Tông Tây Tạng, ngài Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi đă thị hiện thành một đồng tử. V́ vậy mà Ngài c̣n được tôn xưng là “Diệu Cát Tường Đồng Tử.” Quyển “Phép Tiên Đoán của Ngài Diệu Cát Tường Bồ Tát” này rút ra từ Mật Tông Tây Tạng, phái Hồng Giáo do ngài Ninh Mă Nham Truyền Đại Bất Bại Tôn giả Tương Cống Mật Bành (Jamegon Mipham 1846-1912) lập nên. V́ dùng chú ngữ của Ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát lập thành 36 quẻ, lại dùng chú tự của chú ngữ để tiên đoán nên lại có tên là “Phép Tiên Đoán Diệu Cát Tường”. Gần đây có Jay Goldberg đă dịch sang Anh Ngữ và đă xuất bản, do Tát Ca Pháp Vương đề tựa. Nay lại dịch sang Trung Văn có tu chính lại để hành giả Trung Quốc tiện xử dụng. Bất Bại Tôn giả trong Mật Tông là một vị có tài năng đặc biệt, Ông được tôn xưng là Nham truyền Đạo sư, trên thực tế chưa nắm hết mật pháp của nham tạng. Người ta tôn xưng là (Nham Truyền), chỉ v́ tất cả mật pháp đều do tự tâm, ư mà ra, như từ Nham Tạng mà ra gọi là “Ư Nham”, theo nghĩa mà nói, do tâm ư mà nói ra tức là Mât Pháp Vô thượng của Nham Tạng. Quyển “Phép Tiên Đoán Diệu Cát Tường” nầy cũng thuộc một trong những loại Ư Nham, cho đến phái Ninh Mă và Phái Tát Ca (Hoa Giáo) cũng tôn sùng và đều công nhận là pháp điển của ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát. Tôn giả sanh tại miền Đông Tây Tạng, tuy tu học pháp với Ninh Mă phái nhưng lại tinh thông giáo pháp của bốn phái lớn là Hồng, Hoa, Bạch và Hoàng, lúc sanh thời đă trước thuật nhiều tác phẩm, nội ngoại ngũ minh đều thông hiểu. Về ngoại minh, Kiến trúc và Chiêm tinh làm nỗi tiếng nhất. C̣n về việc chú thích Mật Tục và Phật điển, lại làm cho những nhân sĩ mật thừa cận đại tôn sùng là bậc khuôn mẫu. Đối với phép tiên đoán nầy, người viết cũng có một lần chính bản thân đă thể nghiệm. Hơn 10 năm trước, Pháp Vương Ninh Mă Phái là ngài Đôn Châu Ninh Ba Xa (Dudjom Rinpoche) đến Hồng Kông lần thứ nh́, người viết đă đến yết kiến và xin Pháp Vương tiên đoán cho một quẻ xem số tiền hàng ở Đài Loan có thu hồi đầy đủ được không. Pháp Vương từ bi chấp thuận. Ngài bắt đầu lần hột và tụng niệm Thần chú của Ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, sau đó ngồi im lặng một chút, rồi thuận tay đang lần hột nắm tới một đoạn dài chuổi hột, xong bắt đầu đếm cứ 6 hột là một đoạn cho đến khi số thừa c̣n lại là số bao nhiêu. Sau khi làm như vậy hai lần xong, Ngài nói với người viết rằng tiền hàng không thu hồi được đâu. Ngài Dudjom lại nói tiếp ngài đă dùng phương pháp tiên đoán của Ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, nên người viết rất thích thú về phương pháp tiên đoán nầy. Pháp Vương lại nói “Anh quá yêu thích về thuật số. Mật tông cũng nên biết một chút thuật số. Nhưng Mật Tông lại có quá nhiều thuật số như: Chiêm tinh và Phong thủy đều bắt nguồn từ Trung Quốc, cho nên anh thích môn thuật số cũng tốt lắm.” Lúc đó người viết đă có ư xin Ngài truyền thọ cho phép tiên đoán nầy, ngờ đâu Pháp Vương đă biết trước được tâm ư của người viết nên Ngài nói “Tương lai anh nhất định có cơ duyên để học môn nầy.” Thực ra rất đơn giản, Kinh Dịch của chúng ta bắt đầu rất phức tạp. Nói một cách chính xác, nếu đem phương pháp bói toán trong Kinh Dịch mà so với phương pháp nầy th́ Kinh Dịch phức tạp hơn nhiều. Tuy nhiên, hai loại lại khác nhau. Kinh Dịch dùng Âm Dương, quẻ hào, chính nó có một phép tắc riêng biệt, c̣n đối với cách tiên đoán trong cuốn sách này hoàn toàn dựa vào sự “quán tưởng”, cũng như dựa vào sự “tu tŕ” của người đoán. Quán tưởng: là công phu căn bản của Mật Tông Tây Tạng. Quán Bổn Tôn, quán Đàn Thành là giai đoạn căn bản phải trải qua của người mới nhập môn. Kỳ thực mà nói cách Quán Tưởng th́ tất cả mọi người đều có thể đạt được, chỉ một số ít người quá đam mê; vừa nhắm mắt là thấy được h́nh tượng mà chính ḿnh sùng bái và cho rằng quán tưởng được rồi. Dùng phương pháp tiên đoán theo sách nầy, phải quán tưởng Ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát. Dưới đây chúng tôi sẽ lần lượt giới thiệu phương pháp Quán Tưởng mong quí độc giả hăy chú tâm để có thể tu tập được thành công. Kỳ thực tu tập quán tưởng cũng như làm cho vỏ đại năo được nghỉ ngơi, dù rằng không làm việc chiêm bốc, đối với việc tu dưỡng tinh thần và dưỡng sinh chắc chắn có lợi ích rất nhiều. .
I. Phép Quán Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát Phép tu mật thừa Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, đặc biệt thân thể Ngài có nhiều loại màu sắc khác nhau như: Bạch Văn Thù (thân Ngài màu trắng), Hoàng Văn Thù (thân Ngài màu vàng), Hắc Văn Thù (thân Ngài màu đen), Hồng Văn Thù (thân Ngài màu hồng). Pháp tu trong cuốn sách nầy lấy Ngài Văn Thù có thân màu vàng (Hoàng Văn Thù) để tu tập. Cách quán tưởng của pháp nầy: a) Quán chính ḿnh hóa thành ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát. b) Cũng có thể quán Đức Văn Thù Bồ Tát đối diện với ḿnh. Phép quán đầu gọi là “Tự Sanh”, phép quán sau gọi là “Đối Sanh.” Chúng tôi không thảo luận về “Tự Sanh” ở đây bởi v́ phương pháp tu hành pháp môn nầy đ̣i hỏi phải có tŕnh độ căn bản về Mật tông. Người đă tu qua căn bản Mật Tông rồi th́ không thể dùng bút mực để hướng dẫn được. Cho nên chỉ bàn đến “Đối Sanh” để độc giả tiện tu tập mà thôi. Trong lúc tu tập nên quán Không, tức là tinh thần không để ư vào một chỗ nào cả kể cả chung quanh ḿnh, chỉ chú tâm vào hoàn cảnh trước mặt mà quán thành hư không. Trong hư không, ngang tầm nh́n trước ḿnh có một Hoa sen màu xanh ngàn cánh, trên hoa sen có một mặt trăng tṛn màu trắng. Trên mặt trăng có một chữ tự chủng của Ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát. Chữ nầy độc âm Việt là “Đi” (Dhi). Quán tưởng chữ tự chủng nầy màu vàng nhưng không phải là màu vàng nhạt, tốt nhất là màu vàng cam. Quán tưởng chữ tự chủng nầy đang phóng ra ánh sáng hóa thành ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, thân thể Ngài cao chừng hai thước, Bồ Tát có một mặt, hai tay, thân màu vàng (như màu của tự chủng). Trên đầu ngài đội mũ Ngũ Phật, thân thể trang nghiêm, tươi mát như hoa nở , cánh tay tṛn, tay đeo xuyến, chân đeo ṿng. Ngài đeo ba (3) xâu chuổi: xâu thứ nhất ṿng quanh cổ, xâu thứ nh́ ṿng quanh ngực, xâu thứ ba ṿng quanh rốn. Bồ Tát ngồi kiết già trên mặt trăng, sau lưng có mặt trời màu hồng. Ngài mặc quần lụa, lưng đeo đai màu, hiện thân một đồng tử khoảng 16 tuổi. Tay phải Bồ Tát cầm kiếm, đầu mũi kiếm phóng ra ngọn lửa trí tuệ, tay trái cầm một đóa hoa Ô bà lạp, trên hoa có một quyển kinh Bát Nhă. “Bát Nhă” tức lá Trí Tuệ. Chính giữa tâm luân Bồ Tát phóng ra một tia sáng màu vàng chiếu thẳng đến tâm luân của người tu tập và nơi đây cũng có ánh sáng màu vàng đang quay tṛn. Như trên đă tŕnh bày từng bước một để quán tưởng, việc nầy cũng không khó khăn lắm, chỉ chuyên tập một thời gian có thể có được một h́nh bóng của Bồ Tát. Điều quan trọng nhất là nên đem ánh sáng từ tâm luân của Bồ Tát phóng ra để quán tưởng thành ánh sáng thật trong sáng, càng sáng càng tốt. Trong lúc ban đầu quán tưởng có một chút tiến bộ nên tŕ thần chú của Ngài Văn Thù như sau: Om Ah Ra Pa Tsa Na DhiÂm Hán Việt: Ông A Na Ba Tra Nả ĐíchTrong câu chú năm (5) chữ “A Na Ba Tra Nả” đại biểu cho năm (5) vị Phật khác nhau. Chữ Đích như đă nói ở trên là chữ “Dhi”, chữ tự chủng của Ngài Văn Thù. Sau đây sẽ tường thuật thêm. Câu chú của Bồ Tát, niệm càng nhiều càng tốt. Trong lúc niệm hăy quán tưởng “Đối Sanh” tâm luân của Bồ Tát phóng ra ánh sáng màu vàng rất mạnh, tùy theo âm của chú mà bánh xe quay từ từ, ánh sáng màu vàng cũng quay theo. Đó là cách thực tập quán tưởng cùng với cách niệm chú (khoảng 21 lần, tốt nhất niệm đủ một chuổi) tức là có thể bắt đầu tiên đoán. Sau đó phải tu tŕ và luyện tập quán tưởng.
II. PHÉP TIÊN ĐOÁN Trong lúc tiên đoán, trưóc hết phải quán tưởng đối sanh với tâm luân của Ngài Bồ Tát Văn Thù, phóng ra ánh sáng màu vàng thật rơ ràng. Lúc nầy chấp tay và tụng niệm bài văn cầu xin dưới đây:
Đại Trí Diệu Cát Tường đồng tử, Chữ tam thời trong bài tụng trên là quá khứ, hiện tại, và tương lai. V́ có khả năng vô ngại nên quan sát được ba (3) thời, biết được nhân quả thành bại của sự vật. Do đó mà nói ra được những lời dự đoán trước. Tam Bảo là Phật Pháp Tăng. Mật Tông Tây Tạng, chữ Tăng không những chỉ các vị xuất gia mà c̣n chỉ cho tất cả những người tu hành theo Phật Pháp. Tam căn bản là: Cản bản Thượng Sư, Căn bản Bổn Tôn, và Căn bản Không Hạnh. Theo kinh Mật Tông, người được Thượng Sư truyền pháp Quán Đănh tuy không có Tam căn bản, mà chỉ có quy y Tam Bảo cũng được. Theo phép tiên đoán truyền thống của Mật Tông Tây Tạng, những dụng cụ để tiên đoán là hột súc sắc. Hột gồm có sáu (6) mặt khắc sáu (6) chữ của Thần chú như sau: 1 = Ah, 2 = Ra, 3 = Pa, 4 = Tsa, 5 = Na, 6 = Dhi. Vị trí của sáu (6) chữ cũng giống như hột súc sắc thông thường. Chữ trên mặt thứ nhất (1) và mặt thứ sáu (6) đối điện nhau, mặt thứ hai (2) và mặt thứ năm (5) đối nhau, mặt thứ ba (3) và bốn (4) đối nhau.
Trong khi tụng niệm nhũng câu cầu xin, hai ḷng bàn tay chấp lại, quán tưởng ngay tâm luân Bồ Tát phóng ra ánh sáng chiếu đến hột súc sắc. Nếu như lắc hột bằng một hộp đựng hột th́ sau khi niệm tụng xong dùng tay cầm hột bỏ vào hộp. Nếu không có hộp th́ hai tay bụm lại tự nhiên; rồi bỏ hột vào 2 ḷng bàn tay, sau đó niệm chú 21 biến, quán tưởng luồng ánh sáng màu vàng từ nơi tâm luân Bồ Tát chiếu thẳng đến hột. Trong khi niệm chú, tâm nghĩ đến sự việc cần tiên đoán, sự việc nầy chỉ hạn định một vấn đề mà thôi. Ví dụ: hỏi bệnh, th́ qúi vị có thể hỏi bệnh t́nh biến chuyển tốt hay xấu. Thầy thuốc có đúng chuyên khoa không, phương pháp trị liệu có thích hợp không (ví dụ: có nên nghe theo lời dặn của thầy thuốc không? ..) Nhưng không đem vấn đề đă hỏi để hỏi lại một lần nữa, mà chỉ đem vấn đề khác để xin tiên đoán mà thôi. Sau khi niệm chú của Ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát xong, trong tâm phải nghĩ ngay đến vấn đế muốn hỏi và tiếp tục tụng chú Nhân Duyên sau đây: Om Yea Dar Ma Heh Too Pra Bah WahTa Tha Ga Toe Ha Ya Wa Tet Tay Ken Cha Yo Nec Ro Da Eh Wam Wa Dee Ma Ha Shra Ma Na So Ha Chú nầy có thể cải thành bài tụng như sau: Chư Pháp nhân duyên sanh, Pháp diệt nhân duyên diệt. Thị chư Pháp nhân duyên, Phật Đại Sa Môn thuyết. Ư nghĩa của bài tụng: nói về tất cả các pháp (sự vật và hiện tượng), tất cả đều do nhân duyên sanh, duyên đủ th́ sanh, duyên hết th́ diệt, nên gọi là duyên khởi. Ví dụ như trồng cây, có ánh sáng mặt trời, mưa, sương mù th́ sẽ nẩy mầm, nở hoa. Ánh sáng, mặt trời, mưa, móc là duyên. Nếu không có ánh sáng, mưa, móc gọi là duyên không đủ, do đó mà ta có thể quyết định là không có hoa nở. Tất cả những điều chúng ta muốn hỏi kỳ thực đều như vậy cả, đều nằm trong ṿng nhân duyên của hiện tượng và sự vật mà thôi. Tụng niệm xong, là nghĩ ngay đến vấn đề muốn hỏi, lắc hộp đựng hột, chí tâm ư để phát sanh ra một ư niệm ngưng nghĩ, lập tức ngừng lại và xem hột súc sắc đang ở chữ ǵ trong câu chú. Nếu không dùng hộp lắc hột, có thể với ḷng thành buông thả hột xuống cũng có được một chữ của chú. Xong một lần rồi, có thể làm tiếp lần thứ hai, lần nầy không nên tụng chú và tụng bài văn lại, mà chỉ quán tưởng ánh sáng vàng nơi tâm luân của Bồ Tát phóng ra chiếu thẳng vào hột súc sắc. Sau khi xong hai (2) lần xin quẻ, hăy t́m lời giải đoán đúng theo số và tên quẻ đă xin. Nếu không có hột súc sắc đúng với bộ sách nầy, có thể dùng hột thường cũng được. Nên dùng hột mới và so sánh số của hột nầy với số thứ tự chữ của câu chú mà biết số quẻ. Ghi thêm: Nên nhớ một quẻ phải có hai (2) số hoặc hai (2) chữ và mỗi một số hay chữ phải xin một (1) lần. Tiến tŕnh xin một quẻ có 2 giai đoạn: Giai đoạn I là xin số và chữ đầu của quẻ:
Giai đoạn II là xin số và chữ thứ nh́ của quẻ:
DÙNG CÁC DỤNG CỤ KHÁC ĐỂ TIÊN ĐOÁN
Ngoài các phương pháp tiên đoán theo truyền thống như dùng hột súc sắc c̣n có thể dùng nhiều cách khác để thay thế. Như đă tŕnh bày ở phần trước, ngài Đôn Châu Ninh Ba Xa (Dudjom Rinpoche) đă dùng chuổi hột để tiên đoán tức là một ḷng quán tưởng Ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát phóng quang chiếu đến chuổi hột, trong tâm trí tưởng đến vấn đề muốn hỏi, sau đó dùng đầu chuổi hột tức là nơi b́nh Cam Lồ làm trung tâm điểm, thuận tay nắm lấy một đoạn chuổi hột, xong hướng về phía đầu chuổi (phía có b́nh Cam Lồ đếm từng đoạn, sáu (6) hột cho mỗi đoạn, khi gần đến đầu chuổi xem số thừa c̣n lại nhiều hay ít, nếu như thừa một (1) hột tức là quẻ chữ Ah, thừa hai (2) hột là quẻ chữ Ra. Cứ như vậy mà t́m các chữ khác. Nếu như số lượng qua hai (2) lần tức là qua hai (2) chữ của câu chú là có được một quẻ. (Một lần quán Bồ Tát và một lần quán sự việc.) Nếu người không có chuổi hột cũng có thể tiên đoán bằng cách dùng gạo. trong lúc xin quẻ để một chén gạo trước mặt, niệm chú quán tưởng như đă nói ở trước. Sau khi niệm quán tưởng xong liền niệm tiếp một biến Chú hay Kệ Nhân Duyên và nghĩ ngay đến vấn đề muốn hỏi. Biến quán tưởng Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát có phóng quang chiếu thẳng tới chén gạo; dùng tay nhúm một nhúm gạo, đếm sáu (6) hạt một lần, tiếp tục cho đến khi nào hết số lần sáu (6) th́ xem số dư c̣n lại mà tính quẻ. Làm hai (2) lần như vậy mới được một quẻ. Dùng phương pháp nầy có một khuyết điểm, đó là khi bốc mà lộn gạo nữa (tấm) vào th́ không định quẻ đúng được. V́ vậy nên chọn gạo tốt trước khi xin quẻ. (C̣n có nhiều phương pháp khác như dùng con cờ, hoặc tờ giấy v.v…để xin quẻ theo cách trên.)
III. NGUYÊN TẮC TIÊN ĐOÁN A. Nguyên tắc tiên đoánDùng bản phép tiên đoán phải biết một số nguyên tắc như sau: 1) Mỗi quẻ (tức lắc hột hai lần) nhưng chỉ hỏi một vấn đề. 2) Đối với vấn đề trọng đại, có thể kiểm tra lại quẻ, nghĩa là sau khi xin được một quẻ rồi lại quán tưởng vấn đề củ muốn hỏi để xin một quẻ nữa. a. Nếu như xin hai (2) lần mà được hai (2) quẻ giống nhau th́ câu trả lời là rất chắc chắn. b. Nếu như hai (2) chữ chú của 2 quẻ bị đảo ngược với nhau, ví dụ như quẻ thứ nhất đựơc Ah-Ra, quẻ thứ nh́ là Ra-Ah, như vậy là lời giải chưa chính xác. Nên quán tưởng tŕ chú lại một lần nữa, sau đó mới tiến hành xem quẻ lại. c. Nếu như 2 quẻ khác nhau, lời giải đoán cũng không giống nhau. Chắc chắn lời giải đoán của quẻ thứ nhất là không chính xác, cho nên phải quán và xin quẻ lại. 3) Một số vấn đề cần phải phân biệt cả hai phía được tiên đoán như thưa kiện nhau, quí vị trước tiên phải xin hỏi cho chính ḿnh có thể thắng được không. Sau đó mới xin hỏi cho đối phương có thắng hay không. Phải tham cứu cả hai quẻ thật rơ ràng, thông thường th́ lời giải là chính xác. Nếu cả hai phía đều bị bại cả, th́ thuộc loại cả hai bên đều được ḥa giải. 4) Vấn đề liên hệ với nhau là dính líu đến nhiều người có thể nên quán tưởng diện mạo từng người một khi họ đến xin tiên đoán. Ví dụ: Như sự liên quan đến một nhóm người của một công ty, giả như sự kiện dính líu đến ba (3) nhân viên trong công ty đó, th́ có thể chia làm ba (3) lần xin quẻ cho mỗi người riêng biệt để biết được thái độ từng người, xem ai có lợi cho ḿnh và ai gây trở ngại cho ḿnh. 5) Đối với các vấn đề: phạm pháp, những việc không hợp lư… th́ không nên tiên đoán. Ví dụ: Lấy của công có thành công không? 6) Vấn đề thuộc về cờ bạc, ăn chơi …không nên tiên đoán. Ví dụ: không thể tiên đoán về đua ngựa, đánh chim, các loại được, thua, thắng, bại… 7) Những vấn đề cần phải tiên đoán hai lần theo thời gian như: đi du lịch, nếu xin được quẻ không tốt, th́ một tháng sau có thể xin lại. C̣n như việc buôn bán, nếu xin được quẻ không tốt th́ có thể xin lại vấn đề phát triển tiếp theo như thế nào. 8) Phàm khi tiên đoán th́ tâm trí phải an b́nh, không nên nghĩ trước lời dự đoán trong trí, lời giải nầy ắt rằng không chính xác. 9) Trong khi xin quẻ lại, tốt nhất là phải nghỉ ngơi một chút, sau đó niệm chú ngài Văn Thù Sư Lợi, chờ cho tâm trí b́nh thản, tâm nghĩ đến tốt hay không tốt phải giảm thiểu tối đa, khi đó mới bắt đầu xin quẻ. 10) Không được khởi tâm nhớ đến sự thù hận củ nếu có, ḷng trả thù không được dấy lên khi xin quẻ. Nên biết rằng tất cả mọi sự kiện đều liên quan đến nghiệp lực, v́ thế mà bất luận tốt hay xấu, tâm khí đều phải b́nh lặng để có được biện pháp suy nghĩ riêng biệt. Nếu c̣n sanh chấp trước chắc chắn việc xin quẻ để tiên đoán sẽ không chính xác. B. Phương Pháp Suy Đoán Sau khi xin được một quẻ, có thể t́m lời giải quẻ ấy trong 36 quẻ ở sách nầy. Phương pháp t́m kiếm rất đơn giản. Ví dụ: xin được quẻ Ah Ah, tức có thể tra theo chữ, cũng có thể t́m theo số 1-1. Lại như xin được quẻ Na Pa, tức có thể t́m theo số 5-3… Mỗi một lời giải của quẻ, đầu tiên cho thấy biểu tượng của quẻ, như là loại “Vô vân t́nh không” nghĩa là “Trời trong mây tạnh” Nhờ vào biểu tượng của quẻ nầy mà có thể đoán được sự lành, dữ, tốt,xấu. Mỗi một biểu tượng của quẻ trong sách đều có ghi thêm lời giải thích, làm sáng tỏ ư nghĩa của biểu tượng. Người tiên đoán phải lưu tâm vấn đề nầy bởi v́ có khi cho những thí dụ theo ư riêng của ḿnh sẽ bị sai lạc với lời lư giải của quẻ trong sách. Chẳng hạn như quẻ “Vô vân t́nh không”, một số người giải rằng: trong sáng, sáng sủa. Nhưng theo lời giải thích trong sách nầy là “Tánh không”, đây là một danh từ Phật học, người viết cũng đă vấp phải trường hợp nầy, nên tùy theo loại văn mà giải thích để độc giả tiện lư giải. Sau khi có biểu tượng của quẻ rồi, sẽ thấy một tín hiệu rất đơn giản, tín hiệu nầy là một loại cương lĩnh để suy đoán một quẻ. Có khi một số tín hiệu lại có liên quan đến Mật tông, một số người không dễ ǵ lư giải nỗi. Ví dụ: Quẻ “Long Thần đích vĩ”, nghĩa là “Đuôi của loại Long Thần”, người không biết th́ nói rất khó mà hiểu được ngụ ư của nó. Người viết cũng đă cho lời giải thích rơ ràng. Sau tín hiệu là các tiết mục để tiên đoán. Toàn bộ cuốn sách nầy đă biên soạn theo hoàn cảnh xă hội của Tây Tạng cho nên có nhiều điều không thích hợp với xă hội người Hán hiện đại. Ví dụ như chăn trâu giữ dê, tu phép lợi hại, những điều nầy rất ít liên quan đến chúng ta, cho nên người viết đă sửa chữa lại để thích hợp với độc giả. Sự sửa chữa đă ghi ở trước, người viết cũng đă tu học xong ba (3) buổi “Hoàng Văn Thù pháp” và đă tu một khóa Thượng Sư pháp. Trong lúc tu pháp, thắp một loại hương đen trước bàn Hộ Pháp, tro hương đă kết thành một khối, đây là điềm rất tốt có thể tượng trưng cho phương pháp tiên đoán của cuốn sách nầy là đủ để truyền bá rộng răi ra ngoài và lưu truyền măi măi. Nói thực ra, nếu như v́ lợi ích riêng tư người viết sẽ không sửa đổi những điều cần thiết trong cuốn sách nầy, thà rằng để vậy dành cho người chuyên dùng lại dễ kiếm lợi hơn. Nay chỉ v́ sự thích hợp trong vấn đề truyền bá Mật Tông tại Trung quốc cho người thế tục, nếu có người thấm nhuần được pháp Mật thừa nầy mà được lợi ích, vậy là đă tiến được một bước về nhận thức Mật pháp, tu tŕ Mật pháp, những điều đó đă đưa đến mục đích là sửa đổi lại cuốn sách nầy. Sau khi hiệu đính, sắp xếp chi tiết các mục giải đoán gồm có 12 loại được giải thích rơ ràng như sau: 1. Gia Trạch: Liên quan tới sự hưng thịnh của gia đ́nh, bao gồm sự thay đổi, tăng giảm, hao tổn về sản nghiệp, gia tộc đến con người được b́nh an không, nhất là sự b́nh an của chính người xin đoán, đôi khi cũng bao gồm cả việc thêm, bớt số người trong gia đ́nh. 2. Tài Phú: Sự giàu có hay hao tổn cá nhân, buôn bán có thịnh vượng không. Tuy nhiên loại nầy chỉ cho biết một loại, nếu có một mục đích đặt biệt như muốn buôn bán một loại hàng nào đó mà cần bàn thảo xem thử có thành công hay không, th́ nên tham khảo lời giải đoán của mục “Mưu Vọng” hoặc “Nhờ cậy”. 3. Mưu Vọng: Liên quan đến sự nghiệp, mục đích và nguyện vọng của sự việc nên làm hay không nên làm, được như ư hay không như ư. Ví dụ: Di dân có được tốt không? Tức thuộc phương diện tiến hành hay ngưng lại (thuộc sự mong muốn ), hay là thi nhập học cũng thuộc vào loại nầy. 4. Nhân Sự: Chủ yếu là liên quan đến sự nghiệp, sự giàu có của những người có quan hệ, ngoài ra liên quan đến người khác th́ tham khảo mục “Nhờ cậy” nghĩa là hỏi ư kiến người khác. 5. Cừu Oán: Chỉ ra cho bạn mọi mặt để bạn có thể đạt được đối với người đối nghịch, bao gồm cả sự tai tiếng tốt, xấu. 6. Người đi xa: Tiên đoán Người đi xa đi xa có được b́nh an không, khi nào th́ trở về... 7. Tật Bệnh: Liên quan đến t́nh trạng sức khỏe, tốt nhất là tự ḿnh xin quẻ, hoặc trực tiếp nhờ người khác xin giúp, nếu như nhờ người khác thay ḿnh để xin quẻ th́ mức độ chính xác có sự sai khác. Như người đang lâm trọng bệnh, nên nhờ người thân thuộc trực hệ xin quẻ giúp (con, cháu...) 8. Ma Sùng: Đây là một mục có màu sắc tôn giáo, những ai đang gặp sự bất lợi hoăc bệnh tật liên miên, nên xin tiên đoán về mục nầy để xem thử có phải là bị ma quỷ quấy nhiễu hay không. Mục nầy cũng bao gồm cả nhà ở, sở làm việc, có phong thủy (địa lư) không thích hợp. Tuy nhiên cần phải chú ư là khi hỏi về mục nầy th́ đừng hỏi về mục khác. C̣n nếu có hỏi về các mục khác th́ không chịu ảnh hưởng bởi mục nầy. Ví dụ: Hỏi bệnh th́ không nên xem lời giải thích mục nầy v́ rất dễ dàng lầm lẫn giữa bệnh hữu h́nh và bệnh do Ma Sùng gây nên. 9. Mất đồ: Xin quẻ để biết vật bị mất có t́m lại được không, t́m lại ở đâu. 10. Nhờ cậy (Xin Giúp Đỡ): Cùng với người khác bàn luận, xem thử có đạt được mục đích của ḿnh không, có được người ủng hộ giúp đỡ không. 11. Hôn Nhân: Bao gồm t́nh huống những người đă có gia đ́nh và nguyện vọng của những người chưa lập gia đ́nh. 12. Linh tinh (Những chuyện khác): Mục nầy chỉ nói ra có tính cách suy đoán, những sự việc không có đề cập trong 11 tiết mục trên. C. Ư Nghĩa Của sáu 6 Chữ Chú Ah-Ra-Pa-Tsa-Na-Dhi, đây là sáu (6) chữ chú, ngoài sự lập thành mỗi quẻ 2 chữ và giải thích lời đoán c̣n có ư nghĩa riêng của mỗi chữ mà trong lúc giải đoán cần phải tham khảo. 1. Ư nghĩa căn bản: AH: Chấm dứt tất cả mọi tai ách, tăng ích, tiêu trừ bốn (4) loại lực lượng. V́ vậy mà chữ nầy có thể nói là có một đặc tính riêng. Chính v́ lư do nầy nên riêng lẽ chữ ấy đă cho một nghĩa có tính cách phổ biến, nên không được rơ ràng lắm. RA: Nghĩa là hàng phục. Nếu chữ nầy đứng đầu trong một quẻ th́ biểu thị tự ḿnh có đủ sức để hàng phục đối phương (làm cho đối phương theo ḿnh). Nếu chữ nầy là chữ thứ hai của quẻ, biểu thị chính ḿnh sẽ nhượng bộ đối phương. PA: Nghĩa là chấm dứt tai họa. Do đó thuộc loại ḥa b́nh, bất động. Nếu là chữ đầu trong quẻ cho thấy tai họa của chính ḿnh sẽ được qua khỏi, nếu là chữ thứ nh́ biểu thị đối phương bất động. Do đó giả như thay người để xin hỏi bệnh. Xin được chữ PA đứng thứ hai trong quẻ, điều nầy cho thấy tật bệnh sẽ kéo dài triền miên (v́ bất động nên đưa đến triền miên). TSA: Nghĩa là rối loạn và phá hoại. Chữ nầy đi cùng với chữ RA đều thuộc về phạm vi “Hàng Phục” nhưng mức độ động, tỉnh lại khác nhau. Nếu là chữ đầu của quẻ cho thấy chính ḿnh tâm trí bất an, có nguy cơ đến sự nghiệp … Nếu là chữ thứ nh́ biểu thị đối phương bị nguy hiểm, và cũng có thể biểu thị đối phương bất hợp tác, đều thuộc loại phá hoại. NA: Nghĩa là tăng ích. nếu là chữ đầu quẻ cho thấy chính ḿnh tăng ích, như lợi ích được tăng thêm, hay được thắng lợi trong các vụ tranh chấp… Nếu là chữ thứ nh́ th́ lợi ích thuộc về phía đối phương. DHI: Nghĩa là ái kính. Nếu là chữ đầu của quẻ cho thấy ḿnh được người khác tôn kính, trọng vọng, nhân duyên tốt…Nếu là chữ thứ nh́ biểu thị đối phương so với ḿnh có nhân duyên hơn, nên dựa vào họ. 2. Lục Trần:
3. Lục Căn:
4. Lục Thức
5. Phương Vị (Vị Trí)
6. Phật Bộ
7. Màu Sắc
8. Khí Quan (Nội Tạng)
9. H́nh Thể
10. Tam Giới
11. Giới Tính
12. Trí Tuệ
Người làm công việc tiên đoán, ngoài các lời giải của quẻ ra, phải thường xuyên tham khảo ư nghĩa của các chữ chú, thường thường phải hiểu rơ ràng chi tiết thật tỉ mỉ của một điểm. Ví dụ như thái độ của đối tượng mà ḿnh đang giao thiệp như thế nào, người ấy là nam hay nữ. Lại như trong trường hợp hội nghị, người đó mặc áo màu ǵ, có ủng hộ hay giúp đỡ về sự việc ǵ. Tất cả những chi tiết thuộc loại nầy nên để ư và nên biết rơ ràng. Lời giải đoán thường hay làm cho người ta giật ḿnh, kinh sợ. Do đó phải nghiên cứu, học tập phương pháp tiên đoán trong cuốn sách nầy kỹ lưỡng không nên lơ đăng bỏ sót những biểu nghĩa của chữ chú.
IV PHẦN TIÊN ĐOÁN
A. Biểu tượng của 36 quẻ:
B. Lời Giải 36 Quẻ
1. Quẻ 1: Ah-Ah (1-1)
Tín Hiệu: Tam bội hư không chi thanh (Âm thanh của hư không tăng gấp ba lần) Âm thanh truyền đi trong hư không, tuy nhỏ nhưng truyền đi lại lớn. Người đến xin quẻ, trong vấn đề xử sự nên giữ b́nh tỉnh, nếu chỉ hơi hoảng hốt (một tí xíu) th́ việc nhỏ sẽ trở thành việc lớn, khó xử lư. Nếu loại trừ được tâm suy hơn tính thiệt mà xử sự công b́nh, ắt là gặt hái được kết quả tốt, tuy họa mà thành phúc.
GIẢI ĐOÁN
1. Gia trạch: (Nhà cửa, đất đai). Cả nhà đều b́nh yên, của cải và sanh mạng đều vô hại. Xin được quẻ nầy chỉ chủ về gia đ́nh vui vẻ, chứ không chủ tăng thêm người. 2. Tài phú: Tiền bạc, của cải ổn định, phát triển như thường lệ, chỉ một điều là nh́n về phía truớc không được lạc quan lắm. Nếu cầu được lợi to, chắc chắn sẽ thất bại, không nên kinh danh kiểu đầu cơ, nếu đ ược vậy th́ tất cả mọi việc sẽ tự nhiên tốt đẹp. Nếu gặp có sự cạnh tranh, nên giữ tâm b́nh thường mà xử sự. V́ vậy mà lời giải nầy để kiểm thảo lại sự nghiệp củ, bất lợi nhất là sự đầu cơ. 3. Mưu vọng: (Sự mong muốn). Phàm cứ tự nhiên mà xử sự, theo lẽ phải mà làm, chắc chắn là không gặp trở ngại, sẽ đạt được mục đích. Lời đoán nầy tốt nhất đối với sự tiêu tai giải nạn, v́ đây là biểu tượng của bỉ cực thái lai (cực rồi lại sướng). V́ thế mà tất cả mọi điều xấu đă hỏi đều thay đổi. Nếu trong ḷng c̣n mưu tính việc đầu cơ, chắc rằng biểu tượng của quẻ không tốt như bầu trời quang đăng th́nh ĺnh có mây che, đó là chướng ngại dồn dập đến. 4. Nhân Sự: Trước mắt sự quan hệ nhân sự rất tốt, cũng dễ dàng thay đổi mau chóng, v́ vậy phải biết nắm thời cơ mà xử sự. Chuẩn bị để ǵn giữ cho “Hoa được tươi” phải tụng “Bát Nhă Tâm kinh” để cầu đảosự cải tiến về nhân sự mà không có hại cho ḿnh. Kinh nầy nói về trí hụê Bát Nhă tức Tánh Không, làm cho con người nên biết dụng tâm b́nh thường (sẵn có) mà xử sự. Trí hụê Tự Tánh đó có khả năng thay đổi mọi t́nh huống đối đăi; nó không nịnh bợ, không sợ sệt cho nên người biết dụng nó chắc chắn sẽ có kết quả tốt đẹp. 5. Cừu Oán: Nên dùng tâm b́nh thường mà xử sự đối đăi với người, chắc là không có thù oán, thị phi cũng đều dứt, có sự kiện tụng cũng nên ḥa giải. 6. Người đi xa: Người khách b́nh an, trên đường đi vui vẻ. Người đi xa sẽ đi đến nơi đúng hẹn, tin tức sẽ đến đúng kỳ. 7. Tật Bịnh: Người bị bịnh sẽ hồi phục. Chú ư đến phương pháp trị liệu, không nên giải phẩu lớn (đại phẩu) 8. Ma Sùng: Không có ma, không có sùng, không có quỷ, cũng không có Thần theo quấy phá. Phong thủy th́ theo thiên nhiên đă sắp đặt, thường mở cửa để cho ánh nắng mặt trời chiếu vào nhà buổi sáng rất tốt. Không nên bày biện quá nhiều thứ trong nhà. 9. Mất đồ: Đồ vật bị mất ở một nơi không xa lắm, có thể t́m lại được. Nếu không biết được chỗ đang để đồ bị mất th́ không cách ǵ t́m lại được. 10. Nhờ cậy:(xin giúp đỡ) Có nhờ giúp đỡ, người ta cũng đồng ư, nhưng cũng mất thời gian khá lâu, chớ người ta không giúp liền được. Nếu người ta không đồng ư giúp đỡ th́ thôi, để ngày khác đến xin giúp đỡ lại. 11. Hôn Nhân: Người chưa lập gia đ́nh, duyên đến tự nhiên thành vợ chồng. Người đă có gia đ́nh rồi, th́ không c̣n cách nào để thay ḷng đổi dạ nữa. Nếu như người phối ngẫu của ḿnh ngoại t́nh, cứ theo lẽ b́nh thường mà giải quyết, hoặc xử sự một cách tự nhiên, kết cuộc sẽ tốt. 12. Linh tinh: (Những chuyện khác) Trời quang mây tạnh là đại biểu cho Tánh Không, tức mọi pháp đều không có bản chất thật. Tất cả mọi sự, mọi việc trên đời đều do nhân duyên hội hợp. Hiểu được lư nầy th́ thành, bại, thạnh, suy, được, mất cũng chẳng nên bận tâm thương tiếc. Ḷng tham cầu nay không c̣n, tâm xảo quyệt cũng chẳng có, nếu cứ tự nhiên như thế mà xử sự với người, chắc chắn sẽ chuyển họa thành phúc, duy tŕ được sự an lạc. Muốn cầu lợi th́ phải làm tiêu tan việc hung xấu. Nếu cứ tích cực t́m cầu th́ cơ hội thành và bại mỗi thứ một nữa. Hành giả Mật Tông phải niệm nhiều “Bách Tự Minh” hướng về ngài Kim Cang Tát Đỏa mà cầu nguyện. Phật giáo đồ phải niệm nhiều “Bát Nhă Tâm Kinh” hoặc “Ma Ha Bát Nhă Ba La Mật Kinh”. Như ư nghĩa lời giải đoán trong quẻ nầy là “Được Đại Vô Úy” (Tâm không sợ sệt). V́ thế người xin quẻ cứ yên tâm mà làm việc không cần suy tính được, thua.
2. Quẻ 2: Ah-Ra (1-2)
Tín Hiệu: Thanh tịnh vô nhiễm chi cảnh (Một nơi sạch sẽ không dính bụi trần) Ngài Đại Nhật Như Lai là báo thân Phật, được tôn xưng là Đại Nhật biểu thị Phật pháp như ánh sáng mặt trời chiếu khắp mọi nơi phá tan hết tất cả bóng tối, có khả năng tiêu trừ vô minh của chúng sanh trong lục đạo. V́ vậy mà người đến xin quẻ phải giữ tâm thanh tịnh, trong sáng ngay thẳng, ắt được tốt đẹp. Tất cả những điều hung dữ đều tan biến, tất cả những điều tốt lành sẽ thành tựu. Nhưng nếu có ư tưởng mờ ám hoặc có hành vi không đứng đắn, chắc chắn là tự ḿnh chuốc lấy tai họa. V́ ánh sáng rực rỡ của mặt trời phá tan bóng tối không kể ḿnh hay người. Vậy nếu ḿnh mờ ám th́ ánh sáng mặt trời cũng phá luôn. |