Chùa Hải-Đức in Jacksonville
|
Bát Thức Quy Củ Tụng
Thích Thắng Hoan
Mục Lục
“Bát Thức Quy Củ Tụng” là một tác phẩm thuộc bộ môn Duy Thức do Ngài Huyền Trang đời Đường biên soạn. Nguyên tác vốn rất dài, khó nhớ, khó thuộc, v́ vậy Ngài Khuy Cơ, đệ tử của Ngài Huyền Trang được phép Sư Phụ, đă toát yếu tác phẩm trên thành 41 câu tụng, giúp người tu học Phật được dễ dàng hơn trong việc đọc tụng hằng ngày. Mặc dù là một tác phẩm tóm gọn, vẫn hàm chứa tất cả tinh yếu về hành trạng của tám Tâm Thức, diễn bày sự sinh hóa của vạn hữu, của mỗi cảnh giới chúng sanh và Phật. “Bát Thức Quy Củ Tụng” của Ngài Khuy Cơ nhằm đạt được sự tóm gọn, trở nên quá cô đọng, khiến đọc giả, chưa đi sâu vào bộ môn Duy Thức, khó hiểu; do đó Ḥa Thượng Thích Thắng Hoan đă giảng dịch tác phẩm này, giúp chúng ta có cơ hội khám phá kho tàng Duy Thức, vốn là một bộ môn quan trọng của Phật học, có tính cách khoa học, gần gũi với thờ́ đại mới. Với sự nghiên cứu sâu dày về bộ môn Duy Thức, qua gần 60 năm tu tập, Ḥa Thượng Thích Thắng Hoan đă biên soạn, giảng dịch nhiều tác phẩm về Duy Thức như: “Khảo Nghiệm Duy Thức học”, “Bát Ngă Tâm Kinh Qua Cái Nh́n Của Duy Thức ...” và bây giờ, với lối dịch thoát văn, lời giảng giải gọn gàng, ví dụ cụ thể, tác phẩm “Bát Thức Quy Củ Tụng” của Ngài Khuy Cơ do Ḥa Thượng Thích Thắng Hoan giảng dịch đă tŕnh bày một cách rơ ràng và sự biến hiện của các cảnh giới, sự sai khác và đồng nhất của vạn hữu ... Dù ngắn gọn, tác phẩm vẫn giúp chúng ta thấy được, hiểu được nguồn gốc và giá trị về những suy, tư, nghĩ, tưởng; nguyên nhân của sinh tử luân hồi, nghiệp nhân, nghiệp quả, mà mỗi chúng sanh đă đang tạo tác và thọ nhận ... Sự hiểu biết đó, được gọi là “Chánh Kiến” hành trang tối cần cho những ai muốn hướng đến đời sống cao đẹp, giải thoát. “Bát Thức Quy Củ Tụng"với lời giảng của Ḥa Thượng Thích Thắng Hoan qua đường lối Duy Thức, c̣n giúp cho chúng ta nhận rơ rằng: “Chính mỗi người, mỗi chúng sanh, đă tự tạo cuộc sống cho chính ḿnh, dù đó là an vui hay phiền năo, súc sinh hay nhân thiên, địa ngục hay niết bàn ...” Từ những thấy biết như vậy, niềm tự tin trở nên cần thiết hơn, thuận lợi hơn và đó là bước quan trọng trong đời sống tu tập để chuyển hóa ḿnh hướng về đời sống tốt đẹp. Nhà xuất bản Nguồn Sống ước mong quư độc giả sẽ được lợi ích khi đọc cuốn “Bát Thức Quy Củ Tụng" này, không phải chỉ tăng trưởng sự hiểu biết mà c̣n một lợi ích thiết thực ở nơi mỗi người khi thông hiểu về Duy Thức. Chúng tôi chân thành tri ân Ḥa Thượng đă v́ lợi ích chúng sanh, diễn dịch, biên soạn nhiều tác phẩm về Duy Thức Tông hết sức có giá trị về tinh thần học Phật của người Phật tử. Nhà xuất bản Nguồn Sống rất mong được đón nhận thêm những tác phẩm của Ngài để góp phần “Hoằng Dương Phật Pháp, Lợi Lạc Quần Sanh”, và xin hân hạnh giới thiệu tác phẩm giảng dịch “Bát Thức Quy Củ Tụng" của Ḥa Thượng Thích Thắng Hoan đến với quư độc giả thập phương và toàn thể Phật tử. Trân trọng,
Viết tại Pháp Duyên Tịnh Xá Trọng Xuân năm Bính Tư (1996) Tỳ Kheo THÍCH GIÁC LƯỢNG
“QUYỂN BÁT THỨC QUY CỦ TỤNG” của Ngài Huyền Trang, được Ngài Khuy Cơ toát yếu, chúng tôi nhận thấy rất quan hệ với quyển “Khảo Nghiệm Duy Thức Học” Quyển Bát Thức Quy Củ Tụng mà chúng tôi đă phân tích nội dung, mặc dù trong đó chỉ tŕnh bày hành tướng của tám tâm thức, nhưng đă nói lên được tất cả những ǵ liên quan đến tám Tâm Thức qua mọi lănh vực sinh hoạt đều có tác dụng tương ưng. Điểm đặc biệt nhất nơi quyển sách này là sự phân tích rơ ràng trong việc kết hợp giữa tám Tâm Vương và năm mươi mối Tâm Sở qua sự hỗ tương sinh hoạt, mà nơi quyển Khảo Nghiệm Duy Thức Học chúng tôi chưa tiện bề giải thích. Ngoài ra, quyển Bát Thức Quy Củ Tụng c̣n nói lên được tính chất và giá trị của tám Tâm Thức trong quá tŕnh chuyển hóa để giác ngộ hoặc để độ sanh. Do đó, trước tiên chúng tôi chọn quyển Bát Thức Quy Củ Tụng từ trong Đại Tạng Hán Tự để dịch sang Việt Ngữ, mục đích bổ túc tư tưởng cho quyển Khảo Nghiệm Duy Thức Học có thêm phần sáng tỏ lập trường. Quyển Bát Thức Quy Củ Tụng này được dịch theo lối thoát văn, nghĩa là chỉ lấy ư tưởng của Duy Thức Học để diễn giải bằng cách cô đọng vào trong quyển sách này hơn là dịch theo văn pháp của Trung Hoa, bởi v́ văn pháp cổ của Trung Hoa không giống như văn pháp của Việt Nam. Hơn nữa, cú pháp Trung Hoa trong quyển Bát Thức Quy Củ Tụng th́ quá cô đọng, v́ thế có thể trở nên tối nghĩa, khiến cho người đọc khó hiểu. Nơi bản dịch này, chúng tôi chủ trương “lấy ư hơn lấy lời”, cho nên sự giải thích trong đây nhằm soi vào những chỗ tối nghĩa; đồng thời sắp xếp lại theo chiều diễn tiến để cho ư tưởng Duy Thức Tông được phổ truyền sâu rộng. Theo tinh thần Phật giáo, người học Phật cần “đọc văn cầu lư” hơn là chấp trước nơi văn chương chữ nghĩa. Với chiều hướng này, mong rằng quư độc giả hoan hỷ và thông cảm cho lối dịch của chúng tôi không đi sát với văn cú của Hán Tự Trung Hoa. Quyển Bát Thức Quy Củ Tụng của Ngài Huyền Trang, một trong những tác phẩm tư tưởng Duy Thức, được xây dựng trên tinh thần Bồ Tát Hạnh. Phương pháp hành tŕ của Duy Thức Quán cũng là phương pháp tu tập của Bồ Tát Hạnh. Bởi sự liên hệ mật thiết giữa Bát Thức Quy Củ Tụng và Bồ Tát Hạnh, chúng tôi muốn nhứt cử lưỡng tiện cho việc tham khảo, nên cộng thêm bản dịch 50 ngôi vị tu tập của Bồ Tát trong Phật Học Đại Từ Điển do Phật Quang xuất bản với nhan đề: “Quá Tr̀nh Tu Tập Của Bồ Tát” nơi phần Phụ Bản để góp thêm tài liệu cho quư độc giả dễ dàng trong vấn đề nghiên cứu tu học. Không ngoài mục đích xương minh Phật Pháp và nhằm phát huy Duy Thức Tông trong thời đại mới, thời đại văn minh cơ giới cực thịnh, chúng tôi nguyện dịch quyển Bát Thức Quy Củ Tụng này hầu cống hiến đến quư độc giả phương pháp đi vào kho tàng tư tưởng Duy Thức Tông có tính khoa học. Vấn đề dịch thuật kinh sách, Giáo Điển cao thâm, Phật Pháp nhiệm mầu, thật là một việc làm đáng trách. Với tài sơ trí thiển, học cạn hiểu gần, chúng tôi qua phần dịch thuật, nơi tác phẩm này, không làm sao chu toàn giáo nghĩa. Nếu có chỗ sai lầm thiếu sót, âu cũng là bởi thấy biết hạn hẹp, kính mong các bậc cao minh niệm t́nh chỉ giáo. Thành thật cám ơn chư Tôn túc, quư thức giả và quư độc giả bốn phương. Trân trọng cẩn bút, THẮNG HOAN
(Những bài Tụng khuôn mẫu giảng về tám Thức Tâm Vương) Tác giả: HUYỀN TRANG Người toát yếu: KHUY CƠ Người dịch và giảng giải: THẮNG HOAN I. XUẤT XỨ: Đời nhà Đường, Ngài Huyền Trang là một vị Pháp Sư thông bác ba Tạng Kinh Điển của Phật giáo. Ngài dịch rất nhiều Kinh Luận Đại Thừa. Trong đó có những bộ luận thuộc về Tông Duy Thức. Bát Thức Quy Củ Tụng ở đây chính là một trong những bộ luận của Tông Duy Thức do Ngài sáng tác bằng văn xuôi. Nghĩa lư của Tông Duy Thức trong những bộ luận do Ngài phiên dịch cũng như sáng tác th́ rất sâu xa thâm diệu và khiến cho những người chưa quen thuộc với Tông Phái nói trên gặp phải khó khăn không ít trong việc nghiên cứu để t́m hiểu chân giá trị môn học này. Ngài Khuy Cơ là đệ tử của Ngài Huyền Trang, mong muốn sự lợi ích của Tông Duy Thức được phổ biến sâu rộng trong nhân gian, liền xin phép Bổn Sư toát yếu bộ luận đây thành bài Tụng để cho người đọc dễ nhớ. Những bài Tụng trong Bát Thức Quy Củ Tụng gồm có 4 Chương và mỗi Chương có 12 câu Tụng, nhằm mục đích tŕnh bày rơ ràng hành tướng của tám Tâm Thức chính yếu với nhan đề là “Bát Thức Quy Củ Tụng". II. ĐỊNH NGHĨA: A.- BÁT THỨC: THỨC: là hiểu biết, là phân biệt. Bát Thức nghĩa là tám loại hiểu biết, tám loại phân biệt. Tám loại hiểu biết được liệt kê như sau: 1.- Hiểu biết qua mắt gọi là Nhăn Thức. 2.- Hiểu biết qua tai gọi là Nhĩ Thức. 3.- Hiểu biết qua mũi gọi là Tỷ Thức. 4.- Hiểu biết qua lưỡi gọi là Thiệt Thức. 5.- Hiểu biết qua thân gọi là Thân Thức. 6.- Hiểu biết qua Ư (Manas) gọi là Ư Thức. 7.- Hiểu biết qua sự so đo, chấp trước gọi là Mạt Na Thức. 8.- Hiểu biết qua sự xây dựng, qua sự bảo tŕ và qua sự tàng trữ vạn pháp gọi là Alaya Thức. Sáu Tâm Thức ở trước, từ Nhăn Thức cho đến Ư Thức đều y cứ nơi Căn (Giác quan) để đặt tên cho chúng. Thức Mạt Na thứ bảy thường duyên đến và chấp trước nơi Kiến Phần tư lương của Thức Alaya thứ tám để chọn làm Ngă Pháp (Ngă Tướng và Pháp Tướng), nên được đặt tên là Thức Mạt Na. Kiến Phần Tư Lương nghĩa là phần tác dụng (Activity) của Thức Thể Alaya trong công việc tính toán so lường để xây dựng và bảo tŕ vạn pháp đúng theo giá trị luật Nhân Quả Nghiệp Báo của mỗi Pháp nên gọi là Kiến Phần Tư Lương, c̣n Thức Alaya thứ tám chính là chỉ cho Thức Thể Alaya (Thức Thể là Tâm Thức thuộc loại Dynamic-State). Thức Thể Alaya dịch là Vô Một, nghĩa là Tâm Thức này thường hay dung chứa và bảo tŕ hạt giống của tất cả sự vật không cho tiêu diệt, nên Tâm Thức này gọi là Vô Một. B.- QUY CỦ: QUY: là dụng cụ để đo h́nh tṛn. CỦ: là dụng cụ để đo h́nh vuông. QUY CỦ: nghĩa là những dụng cụ để đo h́nh tṛn và h́nh vuông của Thợ Mộc. Người Thợ Mộc, nếu không có Quy-Củ th́ không thể nào xây dựng sự vật đúng theo kiểu mẫu. Quy Củ ở đây nghĩa bóng là phương thức, là khuôn mẫu cho việc xây dựng cũng như sáng tạo các pháp và con người. C.- TỤNG: TỤNG: là những bài Tụng gồm những lời văn ngắn gọn, dễ đọc, mà khi đọc th́ có âm, có điệu dễ nghe. Nói cách khác, những bài Tụng giảng giải về tám Tâm Thức và thuyết minh hành tướng của mỗi Tâm Thức một cách rơ ràng, thiết thực, chính xác, có đường lối giống như Quy Củ, nên gọi là Bát Thức Quy Củ Tụng.
(Chương thứ nhất) TIỀN NGŨ THỨC TỤNG: Bài Tụng giảng về năm Tâm Thức ở trước.
1.- TÁNH CẢNH HIỆN LƯỢNG THÔNG TAM TÁNH: DỊCH: Cảnh là Tánh Cảnh, Lượng là Hiện Lượng, cả hai đều thông đến ba Tánh. GIẢI: CẢNH: là cảnh tượng, nghĩa là hiện tượng làm bối cảnh của năm Tâm Thức trước. Cảnh tượng này đều nương tựa nơi Thể Tánh của Duy Thức để biến hịện thành h́nh tướng trong thế gian, nên Cảnh tượng này được gọi là Tánh Cảnh. Thể Tánh của Duy Thức tức là chỉ cho Thức Thể Alaya. Thức Thể Alaya là một loại Tâm Thức đóng vai tṛ làm nền tảng cho việc sanh khởi vạn pháp, nên Thức Thể Alaya gọi là Thể Tánh của Duy Thức hoặc gọi là Tánh Duy Thức. TÁNH CẢNH: nghĩa là cảnh tượng chân thật trong thế gian và những cảnh tượng này được phát sanh từ nơi Thể Tánh của Duy Thức. Cảnh tượng chân thật nói trên tức là chỉ cho hiện tượng vạn pháp trong thế gian và những hiện tượng này luôn luôn đóng vai tṛ đối tượng (Objects) cho năm Tâm Thức phát sanh tác dụng để hiểu biết. Tánh Cảnh của một sự vật biểu hiện qua năm đối tượng khác nhau, nghĩa là một sự vật được biểu hiện qua năm Tánh Cảnh khác nhau để làm đối tượng cho năm Tâm Thức. Năm Tánh Cảnh khác nhau của một sự vật gồm có: Sắc, Thinh, Hương, Vị và Xúc. Một sự vật trong thế gian dù lớn hay nhỏ như thế nào đi chăng nữa đều gồm có năm phần đối tượng gọi là năm Tánh Cảnh vừa kể và nhờ năm phần đối tượng đó, năm Tâm Thức mới hiểu biết được sự vật qua năm khía cạnh nói trên. Năm Tánh Cảnh đối tượng của một sự vật vừa kể gọi chung là Hữu Chất Tánh Cảnh, nghĩa là những Cảnh Tượng có thể chất chân thật do Tánh Duy Thức biến hiện nên. LƯỢNG: là lượng tính, nghĩa là sự phân biệt vạn pháp của Tâm Thức có tính cách so lường, cân nhắc, tính tóan để hiểu biết chính xác nên gọi là Lượng. Lượng ở đây gồm có ba loại: Hiện Lượng, Tỷ Lượng và Phi Lượng. Bản tánh của năm Tâm Thức là hiểu biết vạn pháp không có vấn đề so sánh và phân biệt về h́nh thức như là: không có phân biệt lớn nhỏ, dài ngắn, vuông tṛn v.v... và cũng không có so sánh cái này không phải cái kia, cai kia khác hơn cái nọ v.v... Năm Tâm Thức đấy chỉ duyên với thật cảnh bên ngoài để hiểu biết sự vật mà trong lúc đó Ư Thức thứ sáu không có hợp tác phân biệt nên gọi là Hiện Lượng. Thí dụ: Anh A nh́n thấy anh B qua con mắt mà trong lúc đó anh để Ư vào, cho nên anh A không nhớ được anh B ăn mặc ǵ và anh B đang làm ǵ, mặc dù anh A vẫn biết rằng ḿnh đă thấy anh B. Đó là trạng thái Nhăn Thức anh A nh́n thấy sự vật bằng Hiện Lượng mà trong lúc đó Ư Thức thứ sáu của anh A không hợp tác phân biệt. Nói cách khác, năm Tâm Thức chỉ hiểu biết sự vật bên ngoài bằng Hiện Lượng. Năm Tâm Thức ở đây tác dụng sinh hoạt theo nghiệp lực điều khiển, nhằm mục đích giúp cho Ư Thức thứ sáu tạo thêm nghiệp báo. Cho nên năm Tâm Thức nói trên thông cả ba tánh là: Tánh Thiện, Tánh Ác và Tánh Vô Kư (Tánh Vô Kư nghĩa là tánh chất thuộc loại không phải thiện và cũng không phải ác). Nghĩa là năm Tâm Thức nói trên thường liên lạc và giao tiếp với tất cả sự việc chẳng những thuộc loại Tánh Thiện, thuộc loại Tánh Ác và cho đến những sự việc thuộc loại Tánh Vô Kư. Nói cách khác, năm Tâm Thức thường sinh hoạt quan hệ chẳng những các pháp Thiện, các pháp ác cho đến quan hệ các pháp thuộc loại vô kư và không chê bỏ một pháp nào cả. Bởi thế, nhà Duy Thức cho năm Tâm Thức này thông cả ba Tánh. 2.- NHĂN, NHĨ, THÂN TAM, NHỊ ĐỊA CƯ: DỊCH: Nơi cơi Nhị Địa (Cơi Sắc), chỉ c̣n lại ba Tâm Thức là: Nhăn Thức, Nhĩ Thức, và Thân Thức. A. DỤC GIỚI: DỤC GIỚI: là những cơi thuộc ái dục. Những cơi này được thành lập là do bởi chất ái dục cực thịnh và thô tục kết hợp nên, nghĩa là những thế giới và những chúng sanh hữu t́nh trong các cơi đó được xây dựng nên bởi chất ái dục cực thịnh và được kết hợp thành h́nh bởi vật chất trọng trược trói buộc, nên gọi là Dục Giới. Dục Giới gồm có; 1/- NGŨ THÚ TẠP CƯ ĐỊA: nghĩa là những cơi Ái Dục đều đầy đủ năm Thú (năm loại chúng sanh) ở chung lẫn lộn nhau nên gọi là Tạp Cư. Năm Thú là: Thiên, Nhân, Địa Ngục, Ngạ Quỷ và Súc Sanh. Ngoài năm Thú nói trên, A Tu La là loại không có nơi chốn nhứt định. Nguyên v́ loại A Tu La này đều có mặt ở những cơi Trời và cơi Người, cho nên chúng được gọi là Thiên A Tu La và Nhân A Tu La. Bởi lẽ đó, A Tu La không được xếp loại trong năm Thú nói trên. Các loài chúng sanh hữu t́nh trong những cơi Ái Dục (Dục Giới) được nẩy nở và lớn lên qua sự ăn uống, ngủ nghỉ, và dâm dục để tồn tại. Thế nên chúng sanh hữu t́nh ở những cơi này đều đầy đủ năm Tâm Thức. B.- SẮC GIỚI: SẮC GIỚI: là những cơi được xây dựng bởi những sắc chất rất tinh tế, rất trong suốt. Những sắc chất ở đây không ô trược, không nhơ nhớp, không giống như những thế giới thuộc Ái Dục . Những sắc chất trong những cơi này rất tinh sạch, rất trong sáng giống như chất pha lê kết hợp tạo thành thế giới và tạo thành thân thể. Chúng sanh hữu t́nh sống trong những thế giới sắc chất vừa kể trên vẫn chưa thoát khỏi sự ràng buộc của Ái Dục, mặc dù sự Ái Dục của họ không tác dụng mạnh và họ cũng chưa ĺa khỏi hẳn sự ràng buộc của vật chất, cho nên những cơi này được gọi là Sắc Giới. 1/- SƠ THIỀN LY, SANH HỶ LẠC ĐỊA: Sơ Thiền Ly, Sanh Hỷ Lạc Địa nghĩa là cơi Thiền Định thuộc về bậc thứ nhất. Chúng sanh hữu t́nh sống trong cơi đó th́ rất an ổn, rất sung sướng và vui mừng cho ḿnh đă được ĺa khỏi ṿng sinh tử lưu chuyển của Dục Giới để sống trong cơi Sắc Giới. Những chúng sanh hữu t́nh trong cơi này tuy có thân thể, nhưng họ không dâm dục thô tục. Họ được sanh ra bằng cách hóa sanh. Họ không có ăn uống (không đoạn thực), nghĩa là họ không ăn đồ ăn vào trong bụng như những chúng sanh hữu t́nh ở các cơi Dục Giới. Cho nên họ chỉ có ba Tâm Thức sinh hoạt là: Nhăn Thức, Nhĩ Thức, và Thân Thức. Họ không có Thiệt Thức và Tỷ Thức tác dụng. (Thân tam, Nhị Địa cư). 2.- NHỊ THIỀN ĐỊNH, SANH HỶ LẠC ĐỊA: Nhị Thiền Định Sanh Hỷ Lạc Địa nghĩa là cơi Thiền Định thuộc về bậc thứ hai. Chúng sanh hữu t́nh sống trong cơi đó nhờ thiền định mà ĺa được trạng thái Tầm tư, chỉ c̣n cảm giác về sự vui vẻ và an lạc trong trạng thái không chấp trước (trạng thái xả). Họ xa ĺa được trạng thái Tầm tư, nghĩa là họ tu thiền định đă được thuần thục trong sự quán chiếu, cho nên họ không cần phải chứng minh mới giác ngộ và họ cũng không cần phải dụng tâm phân tích để xét đoán mới trực diện sự kiện. Những người tu thiền định ở cơi này mỗi lần quán chiếu vấn đề nào là họ liền giác ngộ ngay và không cần phải sử dụng lư trí để xét đoán. 3.- TAM THIỀN LY HỶ, DIỆU LẠC ĐỊA: Tam Thiền Ly Hỷ, Diệu Lạc Địa nghĩa là cơi Thiền Định thuộc về bậc thứ ba. Chúng sanh hữu t́nh sống trong cơi đó nhờ thiền định xa ĺa được trạng thái hỷ và chỉ c̣n cảm giác về sự an lạc một cách mầu nhiệm trong trạng thái không chấp trước (trạng thái Xả). Người tu thiền định ở cơi này th́ luôn luôn giữ Tâm Thức được tĩnh lặng một cách tự tại, nghĩa là họ không bao giờ bị rung động trước bất cứ sự cảm xúc nào của khổ, vui trong cuộc đời và trong lúc đó chính họ đă đạt đến một sự an lạc đặc biệt mầu nhiệm không thể diễn tả của bậc Thiền Định thứ ba này là Thiền Định Ly Hỷ Diệu Lac Địa. 4.- TỨ THIỀN XẢ NIỆM THANH TỊNH ĐỊA: Tứ Thiền Xả Niệm Thanh Tịnh Địa nghĩa là cơi Thiền Định thuộc về bậc thứ tư. Chúng sanh hữu t́nh sống trong cơi đó nhờ thực tập thiền định đến mức thuần thục đă xa ĺa hẳn trạng thái an lạc và khiến cho thân tâm nên thanh tịnh trong tĩnh lặng. Lúc đó, họ chỉ c̣n lại sự cảm giác về trạng thái không chấp trước (trạng thái Xả). Người tu thiền định c̣n cảm giác về sự an lạc tức là người c̣n dụng tâm để niệm niệm phân biệt, c̣n chọn lựa những điều an lạc để hưởng thụ và c̣n phân biệt những điều không an lạc để tránh né, đào thải, thế là người chưa đạt đến Tứ Thiền Xả Niệm Thanh Tịnh Địa. Người tu thiền định thuộc thứ tư này không phải đi t́m sự an lạc từ bên ngoài mang vào, mà ở đây họ phát hiện sự an lạc từ trong Tâm khơi nguồn tuôn chảy ra. Nguồn an lạc thật sự đó chỉ có thể hiện là khi nào Tâm họ hoàn toàn thanh tịnh, trong trạng thái tĩnh lặng mà ngay lúc đó, Tâm họ không c̣n bợn chút nào ô nhiễm bởi niệm niệm phân biệt chấp trước. Người tu thiền định đạt đến mức độ nói trên tức là người đă chứng được Địa Vị Thiền Xả Niệm Thanh Tịnh một cách viên măn. C/- VÔ SẮC GIỚI: Vô Sắc Giới nghĩa là những cơi hoàn toàn thoát ly hẳn vật chất, chỉ c̣n lại tâm Thức tồn tại mà thôi. Những thế giới Vô Sắc phần nhiều là thế giới Vọng Hiện của thế giới Chân Như lưu xuất và cũng nền tảng của thế giới Nghiệp Duyên sanh khởi. Thế giới Nghiệp Duyên chính là những thế giới Sắc Giới và những thế giới này được phát sanh là do những thế giới Vọng Hiện của Vô Sắc tạo nghiệp thành h́nh, c̣n những thế giới Dục Giới cũng là loại thế giới Nghiệp Duyên và những thế giới này được phát sanh là do những thế giới Sắc Giới tạo nghiệp bằng cách cô đọng những Sắc Uẩn kết hợp thành h́nh. Thế giới Sắc Uẩn của Dục Giới là những thế giới trọng trược và ngăn ngại. Riêng Vô Sắc Giới là những thế giới hoàn toàn do Thức Ấm tạo thành, cho nên chúng nó không bị ngăn ngại bởi vật chất. Vô Sắc Giới gồm có: 5/- KHÔNG VÔ BIÊN XỨ ĐỊA: Không Vô Biên Xứ Địa nghĩa là những chúng sanh hữu t́nh ở cơi này đă xa ĺa phần sắc tướng thô trược tạp nhiễm của Nghiệp Duyên nơi các cơi Sắc Giới. Sắc Tướng Nghiệp Duyên ở đây đều là nghiệp tướng thành h́nh, nhưng Nghiệp Tướng không phải là Nghiệp Lực. Sắc Tướng Nghiệp Duyên chỉ có trong Sắc Giới và Dục Giới mà chúng nó không thể có trong Vô Sắc Giới. Những chúng sanh ở cơi Không Vô Biên Xứ Địa chỉ do sắc tướng tinh tế vọng hiện của thế giới Chân Như lưu xuất tác dụng kết thành thân thể và kết thành thế giới. Những chúng sanh hữu t́nh trong thế giới này đều là ở trạng thái không, nghĩa là chúng nó chỉ có Tướng Thể mà không có Tướng Hiện như các cơi Sắc Giới. Tướng Thể là những h́nh tướng nguyên thể chưa bị tác dụng biến dịch, c̣n Tướng Hiện là những h́nh tướng đă bị tác dụng biến thể thành h́nh dạng khác biệt, lớn nhỏ v.v... không giống nhau và chúng nó cũng không c̣n giữ trạng thái nguyên thể như xưa nữa. Thế Giới của họ cư trú là Hư Không bao la không có biên giới ngăn cách. Chúng hữu t́nh ở cơi này nhờ tu tập Thiền Quán nên giác ngộ được thể tánh của vạn pháp đều nằm trong trạng thái hư không bao la không có bờ mé. Cho nên thế giới này được gọi là Không Vô Biên Xứ Địa. 6/- THỨC VÔ BIÊN XỨ ĐỊA: Thức Vô Biên Xứ Địa nghĩa là những chúng sanh hữu t́nh ở cơi này không c̣n dùng sắc tướng tinh tế vọng hiện của thế giới ngoại cảnh làm thân thể và làm cảnh giới để an trụ giống như Không Vô Biên Xứ Địa nói trên, mặc dù sắc tướng của thế giới ngoại cảnh đều là vọng hiện của thế giới Chân Như. Ở đây, họ chỉ dùng Thức Tướng của cảnh giới nội Tâm làm thân thể và làm cảnh giới để an trụ. Nói cách khác, họ chỉ dùng Thức Thân (Thân Thể bằng Tâm Thức) trong nội Tâm làm thân thể thay v́ sử dụng từ những Ngă Tướng vọng hiện ngoại ảnh của thế giới Chân Như làm thân thể và họ chỉ dùng Thức Cảnh (Cảnh giới bằng Tâm Thức) trong nội Tâm làm cảnh giới an trụ thay v́ sử dụng từ những Pháp Tướng vọng hiện ngoại cảnh của thế giới Chân Như làm cảnh giới nương tựa giống như Không Vô Biên Xứ Địa nêu trên. Thức Cảnh của những chúng sanh hữu t́nh ở cơi này an trụ tức là Thức Thể Alaya bao la không biên giới nên gọi Cảnh Giới là Thức Vô Biên Xứ Địa. 7.- VÔ SỞ HỮU XỨ ĐỊA: Vô Sở Hữu Xứ Địa nghĩa là những chúng sanh hữu t́nh ở cơi này đă ĺa được trạng thái Không Quán, tức là họ đang sống trong thế giới Không Tánh (Thể Tánh vạn pháp đều không), cho nên họ không c̣n sử dụng Thiền Quán để nhận chân Thể Không của vạn pháp thuộc ngoại cảnh. Họ đă không c̣n sử dụng Tâm Thức để quán chiếu nữa mà ở đây, họ chỉ sử dụng Trí Tuệ để trực tiếp giác ngộ Thiền Cảnh không qua Thiền Quán. Họ cũng đă ĺa được trạng thái ràng buộc của các Tâm Sở điều khiển hỗ trợ, nghĩa là ở đây họ luôn luôn sống trong Thiền Định bằng cách trực giác mà không cần phải quán chiếu để hiểu biết nữa. Cho nên họ không bị chi phối bởi các Tâm Sở, nhứt là các Tâm Sở Biến Hành cũng như các Tâm Sở Biệt Cảnh. Họ chỉ ĺa khỏi sự ràng buộc của các Tâm Sở Biến Hành và các Tâm Sở Biệt Cảnh liên hệ, nhưng họ chưa hóa giải được những hạt giống các Tâm Sở nói trên. Những chúng sanh hữu t́nh trong cơi này th́ không c̣n chi để sử dụng (Vô Sở dụng) và cũng không cần chi để hưởng thụ (Vô Sở hữu). Chẳng những thế, họ cũng không cần đến những pháp môn để chứng đắc (Vô Sở đắc), nhưng họ c̣n vướng mắc bởi Tâm Sở Tưởng điều khiển, cho nên họ c̣n bị suy tưởng bởi vọng tưởng về tướng sai biệt không b́nh đẳng của thế giới Chân Như. Ở đây họ c̣n phải tiếp tục sử dụng Trí Tuệ quán chiếu để hóa giải tận gốc rễ Tâm Sở Tưởng, không cho nó c̣n chút nào dấu vết trong Tâm Thức nữa. Nhờ đó họ mới trực diện được thể tánh b́nh đẳng không sai biệt của thế giới Chân Như. 8/-PHI TƯỞNG PHI PHI TƯỞNG XỨ ĐỊA: Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ Địa nghĩa là thế giới hoàn toàn không c̣n trạng thái Phi Phi Tưởng. Những chúng sanh hữu t́nh ở cơi này th́ mới thật sự sống trọn vẹn trong thế giới tĩnh lặng, sau khi họ hóa giải xong dấu vết hạt giống Tâm Sở Tưởng. Họ sử dụng Thiền Định Vô Tưởng nhằm mục đích hóa giải hạt giống Tâm Sở Tưởng và nhờ đó họ đạt đến trạng thái Phi Phi Tưởng. Sau khi đạt đến trạng thái Phi Phi Tưởng, họ không c̣n sử dụng Thiền Định Vô Tưởng nữa, nguyên v́ hạt giống Tâm Sở Tưởng không c̣n dấu vết trong Tâm Thức của họ. Lúc đó họ sống hoàn toàn trọn vẹn trong thế giới tĩnh lặng của Thể Tánh chân thật. Thế giới Thể Tánh chân thật được gọi là thế giới Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ Địa. Những chúng sanh hữu t́nh ở cơi này chỉ trực diện được thế giới Chân Như, nhưng họ chưa có thể bước vào thế giới Chân Như, nguyên v́ họ c̣n bị vướng mắc bởi Vô Minh Nghiệp Tướng mà trong lúc đó họ chưa hóa giải được. Ở đây họ c̣n phải tiếp tục phát huy Trí Tuệ Diệu Quan Sát và Trí Tuệ B́nh Đẳng Tánh để hóa giải Căn Bản Vô Minh Nghiệp Tướng trong mỗi Tâm Thân của họ ra khỏi ṿng đai năng lực Tổng Thể Vô Minh Nghiệp Tướng. Đồng thời họ chuyển hóa Kiến Phần Thức Alaya nơi chính họ tách rời ra khỏi Thức Thể Alaya để biến thành Trí Tuệ Đại Viên Cảnh và Trí Tuệ Đại Viên Cảnh này lại thể nhập vào Tâm Như Lai Tạng. Thế là họ thật sự bước vào và an trụ nơi thế giới Chân Như một cách tự tại giải thoát. Đây là ư nghĩa và giá trị của ba cơi (Tam Giới) và chín Địa (Cửu Địa). Trừ Địa thứ nh́ (Nhị Địa) ra tức là trừ ra Ly Sanh Hỷ Lạc Địa, chúng sanh hữu t́nh của bảy Địa sau chỉ duyên đến và an trụ nơi Thiền Định ở bên trong nội Tâm, cho nên năm Tâm Thức ở trước không phát khởi tác dụng sinh hoạt để yểm trợ cho Ư Thức thứ sáu nhận thức. 3.- BIẾN HÀNH, BIỆT CẢNH, THIỆN THẬP NHỨT: TRUNG NHỊ, ĐẠI BÁT, THAM, SÂN, SI: DỊCH: Có năm Tâm Sở Biến Hành, năm Tâm Sở Biệt Cảnh, mười một Tâm Sở Thiện. Hai Tâm Sở Trung Tùy, tám Tâm Sở Đại Tùy và Tham, Sân, Si. GIẢI: Đây là những Tâm Lư (Tâm Sở) thường hợp tác với nhau (Tương ưng) và cùng nhau yểm trợ cho năm Tâm Thức sinh hoạt. Nguyên do năm Tâm Thức tự nó sinh hoạt không lanh lợi và cũng không mạnh mẽ như Ư Thức thứ sáu, v́ sinh hoạt không lanh lợi và không mạnh mẽ như Ư Thức thứ sáu, cho nên năm Tâm Thức tự nó không thể hợp tác toàn diện và hoạt động cùng một lúc với 51 loại Tâm Sở. Ở đây, năm Tâm Thức chỉ có khả năng kết hợp được 34 Tâm Sở là: 5 Biến Hành, 5 Biệt Cảnh, 11 Thiện, 3 Căn Bản Phiền năo, 2 Trung Tùy và 8 Đại Tùy. 1/ Trong 6 Căn Bản Phiền Năo, năm Tâm Thức không thể kết hợp với Mạn, Nghi và Ác Kiến. Tâm Sở Mạn, Nghi và Ác Kiến sỡ dĩ phát sanh tác dụng là do Ư Thức thứ sáu phân biệt, so đo, chấp trước theo quan niệm của ḿnh làm trợ duyên. Nhứt là Tâm Sở Mạn và Tâm Sở Nghi. Tâm Sở Mạn sở dĩ phát sanh tác dụng là do Ư Thức thứ sáu khởi niệm phân biệt làm trợ duyên và Tâm Sở Nghi sở dĩ phát sanh tác dụng là do Ư Thức thứ sáu khởi niệm chọn lựa làm trợ duyên. Nhưng năm Tâm Thức th́ chỉ có khả năng hiểu biết vạn pháp một cách trực tiếp không cần phải qua trung gian, nên sự hiểu biết của năm Tâm Thức được gọi là Trực Giác. Do đó, bản tánh của năm Tâm Thức hoàn toàn không có vấn đề phân biệt, so đo, chấp trước theo quan niệm của ḿnh, nghĩa là năm Tâm Thức này hiểu biết vạn pháp không có vấn đề so sánh và chọn lựa giống như Ư Thức thứ sáu. Cho nên năm Tâm Thức không thể hợp tác với các Tâm Sở Mạn, Nghi và Ác Kiến. Năm tâm Thức ở đây chỉ quan hệ với các Tâm Sở Tham, Sân, và Si Mê trong 6 Căn Bản Phiền Năo. 2/- Mười Tâm Sở Tiểu Tùy Phiền Năo thường tác dụng hiện bày hành động biểu lộ ra ngoài một cách thô tục, nông cạn và mạnh bạo. Ngược lại, năm Tâm Thức sinh hoạt hiểu biết vạn pháp một cách tinh tế và sâu sắc hơn. Cho nên năm Tâm Thức đây không thể hợp tác với 10 Tâm Sở Tiểu Tùy Phiền Năo. 3/- Bốn Tâm Sở Bất Định là Hối, Miên, Tầm và Tư. Năm Tâm Thức không thể nào hợp tác được với 4 Tâm Sở Bất Định nói trên. Nguyên do: a]- Tâm Sở Hối là trạng thái tâm lư thường ăn năn và hối tiếc những công tŕnh, những cố gắng của Ư Thức thứ sáu sinh hoạt. Tâm Sở Hối thường ghi nhớ và so sánh thiệt hơn những quá tŕnh hành động của Ư Thức thứ sáu để ăn năn hối tiếc. Năm tâm Thức hiểu biết vạn pháp một cách trực tiếp, cho nên không có vấn đề ăn năn hối tiếc Do đó, năm Tâm Thức không thể hợp tác với Tâm Sở Hối. b]- Tâm Sở Miên là trạng thái tâm lư thích ngủ nghỉ, thường hay chận đứng sáu Tâm Thức (từ Nhăn Thức cho đến Ư Thức thứ sáu) không cho sinh hoạt và khiến con người trở nên bị buồn ngủ. V́ thế năm Tâm Thức không thể hợp tác với Tâm Sở Miên. c]- Tâm Sở Tầm là trạng thái tâm lư thích t́m cầu những dữ kiện, những chứng tích chưa được đối diện hiện cảnh. Ngược lại, năm Tâm Thức chỉ hiểu biết trực tiếp vạn pháp thuộc đối diện và vạn pháp thuộc hiện cảnh. Ngoài ra năm Tâm Thức này không thể hiểu biết vạn pháp thuộc về quá khứ không đối diện và cũng như vạn pháp thuộc về tiềm năng (Memories) không hiện cảnh. Cho nên năm Tâm Thức không có vấn đề t́m cầu và do đó, không thể hợp tác với Tâm Sở Tầm. d]- Tâm Sở Tư là trạng thái tâm lư thường thích xét đoán chính chắn, phân biệt một cách tỉ mỉ về ư nghĩa, về giá trị và tính chất của những sự vật đối diện. Ngược lại, năm Tâm Thức chỉ hiểu biết sự vật bằng trực giác mà chúng không cần phải xét đoán hay phân tích. Cho nên năm Tâm Thức này không thể hợp tác với Tâm Sở Tư. 4.-NGŨ THỨC ĐỒNG Y TỊNH SẮC CĂN: DỊCH: Năm Thức đều nương nơi Tịnh Sắc Căn để khởi tác dụng hiểu biết. GIẢI: Năm Tâm Thức đều nương nơi năm Căn Tịnh Sắc để khởi tác dụng sinh hoạt hiểu biết vạn pháp. Năm Tâm Thức đều không có tên để gọi và nhà Duy Thức căn cứ nơi h́nh tướng của năm Căn Phù Trần (tức là Mắt, Tai, Mũi, Miệng, Lưỡi và Thân Thể) để đặt tên cho chúng. Căn nghĩa là giác quan. Căn có hai loại: a/- PHÙ TRẦN CĂN: nghĩa là những giác quan thô phù hiện bày ra bên ngoài như là: Mắt, Tai, Mũi, Miệng, Lưỡi và toàn bộ Thân Thể bằng xương thịt. b/- TỊNH SẮC CĂN: nghĩa là những giác quan rất tinh tế nhạy bén nằm phía bên trong thân thể con người, tức là chỉ cho những hệ thống Thần Kinh (Nervous-Systems) và thường gọi là năm giác quan tinh vi. Năm Giác Quan này là năm cơ quan dùng cho năm Tâm Thức nương tựa sinh hoạt để hiểu biết vạn pháp. Giữa Căn và Trần Cảnh có mối quan hệ lẫn nhau với Tâm Thức một cách mật thiết. Sự quan hệ giữa Căn và Trần Cảnh được giải thích như sau: 1/- Y: là nương tựa, nghĩa là Tâm Thức nương tựa nơi Căn để hiểu biết vạn pháp và Căn cũng nương tựa nơi Tâm Thức để tiếp nhận những ảnh tượng của các sự vật bên ngoài theo nhu cầu hiểu biết. 2/- PHÁT: là phát sanh, nghĩa là Căn chính là nơi chốn để cho Tâm Thức tác dụng phát sanh ra sự hiểu biết về vạn pháp và Tâm Thức cũng phát sanh tác dụng để xây dựng và bồi dưỡng cho Căn. 3/- THUỘC: là phụ thuộc, nghĩa là Tâm Thức phụ thuộc nơi Căn để thiết lập thành danh xưng (thành tên để gọi) và Căn cũng phụ thuộc nơi Tâm Thức để được tồn tại. 4/- TRỢ: là trợ giúp, nghĩa là Tâm Thức trợ giúp khiến cho Căn rung động sinh hoạt và Căn cũng trợ giúp khiến cho Tâm Thức tác dụng để hiểu biết. 5/- NHƯ: là giống như, nghĩa là Tâm Thức hiểu biết sự vật giống như Căn thâu ảnh và Căn thâu ảnh sự vật bên ngoài vào giống như Tâm Thức hiểu biết. Nói tóm lại, các giác quan của năm Tâm Thức thuộc về vật chất th́ gọi là CĂN, c̣n năng lực có thể hiểu biết được năm Uẩn (Ngũ Uẩn) th́ gọi là TÂM THỨC. Năm Uẩn gồm có: Sắc Uẩn, Thọ Uẩn, Tưởng Uẩn, Hành Uẩn và Thức Uẩn. Căn và Tâm Thức th́ khác nhau hoàn toàn về tính chất. Nguyên do, Căn được Sắc Uẩn kết hợp tạo thành và tính chất của chúng th́ thuộc về loại Hữu Phú Vô Kư, nghĩa là tính chất của năm Căn bị ngăn che, bị ô nhiễm quấy đục (Hữu Phú), nhưng chúng nó thuộc về loại không nhất định thiện hay ác (Vô Kư). Nói cách khác, năm Căn th́ không bao giờ phân biệt và cũng không bao giờ khen chê những điều thiện hoặc những điều ác. Chúng nó sẵn sàng tiếp nhận tất cả thiện ác và không chừa bỏ bất cứ những điều tốt hay những điều xấu nào. Cho nên chúng nó được gọi là Vô Kư. Nhưng năm Căn này th́ thuộc về loại Sắc Uẩn và do Sắc Uẩn tạo nên. Thế nên chúng nó đều bị ô nhiễm bởi phiền năo và bị ngăn che bởi si mê nên được gọi là Hữu Phú. Riêng năm Tâm Thức nói trên sinh hoạt đều bị lệ thuộc vào năm Căn và chịu ảnh hưởng bởi năm Căn. Cho nên năm Tâm Thức này hiểu biết vạn pháp có khi bị ô nhiễm và cũng có khi được thanh tịnh. 5.- CỬU DUYÊN THẤT BÁT HẢO TƯƠNG LÂN: DỊCH: Chín, bảy và tám Duyên quan hệ lẫn nhau rất tốt. GIẢI: Bài Tụng này tŕnh bày các Duyên rất quan trọng và rất cần thiết trong việc trợ giúp cho năm Tâm Thức phát sanh tác dụng để hiểu biết vạn pháp. Năm Tâm Thức nếu như không có các Duyên này trợ giúp th́ không thể tác dụng và cũng không thể sinh hoạt để hiểu biết vạn pháp. Trước hết, Nhăn Thức đ̣i hỏi phải hội đủ chín Duyên th́ mới có thể tác dụng hiện khởi để sinh hoạt. Chín Duyên gồm có: 1/- KHÔNG: là hư không, tức là chỉ cho khoảng cách. Nhăn Thức nếu như không có khoảng cách th́ nhất định không thể nh́n thấy được sự vật. 2/- MINH: là ánh sáng. Nhăn Thức nếu như không có ánh sáng bên ngoài chiếu soi th́ nhất định cũng không thể nh́n thấy rơ sự vật. 3/- CĂN: là Nhăn Căn, tức là chỉ cho giác quan để nh́n thấy. Nhăn Thức nếu như không có Nhăn Căn th́ nhất định không thể nh́n thấy được sự vật. 4/- TÁC Ư: là Tâm Sở mống tâm chú ư để thấy. Nhăn Thức nếu như không có Tâm Sở Tác Ư giúp đỡ th́ nhất định cũng không thể chú ư để nh́n thấy. 5/- CẢNH: là bối cảnh, tức là chỉ cho Trần Cảnh ở bên ngoài của một sự vật làm đối tượng để thấy. Nhăn Thức nếu như không có Cảnh để làm đối tượng hiểu biết th́ nhất định cũng không thể nh́n thấy. 6/- PHÂN BIỆT Y: là chỉ cho Ư Thức thứ sáu. Nhăn Thức nếu như không có Ư Thức thứ sáu hợp tác phân biệt th́ nhất định không thể thấy rơ sự vật. 7/- NHIỄM TỊNH Y: là chỉ cho Thức Mạt Na thứ bảy. Nhăn Thức nếu như không có Thức Mạt Na thứ bảy so đo chọn lựa, th́ nhất định không thể nh́n thấy đúng những ǵ muốn thấy. 8/- CĂN BẢN Y: là chỉ cho Thức Alaya thứ tám. Nhăn Thức nếu như không có Thức Alaya thứ tám làm nền tảng sanh khởi th́ nhất định không biết nương tựa vào đâu để tác dụng nh́n thấy. 9/- CHỦNG TỬ DUYÊN: là chỉ cho hạt giống của Nhăn Thức. Nhăn Thức nếu như không có Chủng Tử Duyên th́ nhất định không thể sanh khởi để nh́n thấy sự vật. Trong chín Duyên, Chủng Tử (Hạt giống) chính là Nhân Duyên, c̣n các Duyên khác th́ thuộc về Tăng Thượng Duyên. Tăng Thượng Duyên nghĩa là tám Duyên kia chỉ đóng vai tṛ hỗ trợ giúp cho Nhân Duyên thêm được nẩy nở và lớn lên. Riêng Năng Lực để tác dụng khích động và dẫn đạo khiến cho Chủng Tử (Hạt giống) được phát sanh chính là Đẳng Vô Gián Duyên. Đẳng Vô Gián Duyên nghĩa là Năng Lực các Duyên cùng nhau hỗ trợ và thúc dục khiến cho Nhân Duyên phát sanh tác dụng một cách liên tục không gián đoạn, nên gọi những Năng lực này là Đẳng Vô Gián Duyên. NHĨ THỨC th́ chỉ cần tám Duyên hỗ trợ. Nguyên v́ Tâm Thức này khi tác dụng hiểu biết vạn pháp th́ không cần đến ánh sáng bên ngoài (Minh) chiếu soi để được nghiệp. TỶ THỨC, THIỆT THỨC và THÂN THỨC th́ chỉ cần dùng bảy Duyên để hỗ trợ. Nguyên v́ ba Tâm Thức này khi tác dụng hiểu biết vạn pháp th́ không cần đến ánh sáng bên ngoài chiếu soi (Minh) và không cần có khoảng cách (Không) để được cảm giác. Phần này chỉ tŕnh bày 9 Duyên, 8 Duyên và 7 Duyên, mà ở đây chúng ta không đề cập đến Đẳng Vô Gián Duyên. Nếu như thêm vào Đẳng Vô Gián Duyên, năm Tâm Thức lại cần đến số lượng là: 10 Duyên, 9 Duyên, và 8 Duyên hỗ trợ để hiểu biết vạn pháp. Năm Tâm Thức chỉ có khả năng hiểu biết được các pháp thuộc loại hữu vi, nghĩa là các pháp đă được hiện thành h́nh tướng mang tính chất Nhân Duyên Sanh. Trái lại năm Tâm Thức không có khả năng hiểu biết được các pháp thuộc loại vô vi, nghĩa là các pháp chưa được hiện tướng, vẫn c̣n mang tính chất Chủng Tử (Hạt giống). Mỗi khi muốn hiểu biết các pháp thuộc loại hữu vi, năm Tâm Thức này cũng phải nhờ đến các Duyên nói trên hỗ trợ th́ mới có thể phát khởi tác dụng sinh hoạt. Nếu như thiếu một trong các Duyên nói trên, năm Tâm Thức đây không thể nào phát sanh tác dụng để hiểu biết vạn pháp. 6.- HIỆP TAM LY NHỊ QUÁN TRẦN THẾ: DỊCH: Ba Tâm Thức th́ hiệp với cảnh để duyên và hai Tâm Thức th́ cách xa với cảnh để duyên trong công việc quán sát trần thế. GIẢI: Nhăn Thức và Nhĩ Thức th́ phải cách xa (Ly) Trần Cảnh (Cảnh đối tượng) mới có thể hiểu biết, c̣n Tỷ Thức, Thiệt Thức và Thân Thức th́ phải trực tiếp (Hiệp) duyên thẳng nơi Trần Cảnh mới có thể hiểu biết. Nói cách khác, trong năm Tâm Thức, hai Tâm Thức là Nhăn Thức và Nhĩ Thức phải duyên cảnh bằng cách gián tiếp mới quán sát được Trần Thế. Ba Tâm Thức c̣n lại là: Tỷ Thức, Thiệt Thức và Thân Thức phải duyên thẳng nơi Trần Cảnh bằng cách trực tiếp mới quán sát được Trần Thế. 7.- NGU GIẢ NAN PHÂN THỨC DỮ CĂN: DỊCH: Kẻ ngu th́ khó phân biệt được Thức và Căn. GIẢI: Kẻ phàm phu ngu muội thường cho rằng, Căn (giác quan) duyên nơi Trần Cảnh liền sanh ra Tâm Thức (Căn duyên Trần sanh Thức). Họ không hiểu rơ bản chất của Tâm Thức vẫn hiện hữu (có mặt) một cách biệt lập và không quan hệ với Căn cũng như không quan hệ với Trần Cảnh. Trái lại, Căn và Trần Cảnh th́ rất quan hệ với những Tâm Thức này trong sự sinh hoạt hiểu biết vạn pháp. Căn th́ thuộc về vật chất và Trần Cảnh th́ cũng thuộc về vật chất, c̣n Tâm Thức th́ thuộc về tinh thần. Tánh chất của Tâm Thức không phải vật chất th́ vật chất không thể sanh ra Tâm Thức được. Thí dụ: Bóng đèn không thể sanh ra điện và điện chỉ nương nơi bóng đèn để phát sanh ra ánh sáng. Họ cũng không tin tưởng rằng chính Tâm Thức Alaya thứ tám sanh ra Căn và Trần Cảnh. Họ lầm tưởng cho rằng Căn và Trần Cảnh đều là thực thể độc lập đối với Tâm Thức Alaya thứ tám. Thật ra Căn và Trần Cảnh đều do Tâm Thức Alaya thứ tám xây dựng thành h́nh tướng và Tâm Thức Alaya thứ tám nếu như rút lui sức sống th́ Căn và Trần Cảnh sẽ bị tiêu diệt. Hơn nữa. họ lại không nhận thức được tánh Hữu Phú Vô Kư của Căn, nghĩa là bản chất của Căn th́ thường ngăn ngại và che lấp chân tánh của Tâm Thức (Hữu Phú), đồng thời Căn cũng thuộc loại không phải thiện và cũng không phải ác (Vô Kư), v́ thế Căn được gọi là Hữu Phú Vô Kư. Nguyên do họ không nhận thức được tánh Hữu Phú Vô Kư của Căn, cho nên ngộ nhận lầm tưởng cho rằng Căn và Tâm Thức cùng một loại với nhau. Trên thực tế, Căn và Tâm Thức, mỗi loại đều có công năng riêng biệt nhau và đối diện với nhau. Căn ở đây chỉ đóng vai tṛ làm Tăng Thượng Duyên (Trợ duyên chính yếu giúp cho Tâm Thức nương nơi đó tăng trưởng thêm lớn) hoặc làm nơi Sở Y (làm chỗ nương tựa cho Tâm Thức sinh hoạt) để giúp cho Tâm Thức nương nơi đó tác dụng hiểu biết vạn pháp. 8.- BIẾN TƯỚNG QUÁN KHÔNG DUY HẬU ĐẮC: DỊCH: Biến ra Tướng Phần để duyên, chỉ có Trí Hậu Đắc mới quán được Tướng đấy là không. GIẢI: Năm Tâm Thức khi chuyển thành Trí Tuệ được gọi là Trí Hậu Đắc, nhưng không phải là Trí Căn Bản và cũng không có danh nghĩa của Trí Căn Bản mặc dù chúng được chứng đắc. Trí Căn Bản nghĩa là Trí Tuệ thuộc loại nguồn gốc, có khả năng phát sanh các Trí Tuệ khác nên gọi là Trí Căn Bản, c̣n Trí Hậu Đắc nghĩa là Trí Tuệ được thành lập sau khi chứng đắc mà chính chúng cũng không phải Trí Tuệ thuộc loại nguồn gốc, nên gọi là Trí Hậu Đắc. Ngược lại, năm Tâm Thức trước khi chưa thành Trí Tuệ th́ cũng không có khả năng duyên thẳng đến Chân Như của các pháp một cách trực tiếp. Mỗi tác dụng để duyên đến chân như của các pháp, năm Tâm Thức này phải biến ra Tướng Phần Chân Như (Image of Truth) của những pháp đó để duyên. Tướng Phần Chân Như của các pháp mà năm Tâm Thức biến ra để duyên được gọi là Sanh Không Chân Như, hoặc gọi là Pháp Không Chân Như. Sanh Không Chân Như nghĩa là bản chất chân thật của các pháp từ ngàn xưa cho đến nay (Chân Như) đều do Nhân Duyên Sanh (Sanh Không) va chúng nó hoàn toàn không có thật thể nên gọi là Sanh Không Chân Như. Pháp Không Chân Như nghĩa là bản chất chân thật của những yếu tố tạo ra các pháp từ ngàn xưa cho đến nay (Chân Như) đều là tướng trạng thuộc loại tác dụng biến hiện (Pháp Không) và chúng nó hoàn toàn không có thật chất nên gọi là Pháp Không Chân Như. Hơn nữa, năm Tâm Thức mỗi khi tác dụng phải nương tựa nơi các Căn (Nervous-System) mới có thể phát sanh hiểu biết. Do đó chúng không thể duyên thẳng được Chân Như của các pháp một cách trực tiếp. Chẳng những thế, năm Tâm Thức này một khi đă chuyển thành Trí Hậu Đắc th́ cũng không thể duyên thẳng Chân Như của các pháp. Trí Hậu Đắc chỉ có thể trực nhận được hiện tượng phản chiếu của các pháp Chân Như. Hiện tượng phản chiếu là những h́nh ảnh được phát xuất từ nơi các pháp Chân Như qua Huệ Nhăn chiếu soi, nhưng Trí Hậu Đắc th́ nhất định không thể duyên thẳng được Chân Như của các pháp. Tại sao Trí Hậu Đắc không thể duyên thẳng được Chân Như của các pháp? Trí Hậu Đắc là một loại Trí Tuệ Sai Biệt được chuyển hóa từ nơi năm Tâm Thức sai biệt. Năm Tâm Thức sai biệt tức là chỉ cho năm Tâm Thức ở trước (Nhăn Thức, Nhĩ Thức, Tỷ Thức, Thiệt Thức và Thân Thức). Trí Hậu Đắc sở dĩ được gọi Trí Sai Biệt là nguyên do vạn pháp trong vũ trụ đều có tướng sai biệt làm đối tượng. Cũng bởi vạn pháp đều có tướng sai biệt làm đối tượng, cho nên Tâm Thức nhất định phải có Trí Sai Biệt (Trí Hậu Đắc) để nhận thức các tướng sai biệt của vạn pháp. Đây là tŕnh bày lối tu tập của các bậc Bồ Tát, c̣n các vị mới phát tâm hành tŕ th́ phải nương nơi Tướng của Duy Thức (Duy Thức Tướng) mà quán chiếu để t́m ra Tánh của Duy Thức (Duy Thức Tánh). Đă là nương nơi Tướng của Duy Thức để quán chiếu Tánh của Duy Thức, các vị mới phát tâm hành tŕ đây thật sự chưa được an trụ nơi Tánh của Duy Thức, mặc dù Tánh của Duy Thức đă hiện bày trước mặt. Họ sở dĩ chưa được an trụ nơi Tánh của Duy Thức là do họ tu tập chưa được thuần thục. Đây chỉ là chỗ Sở Đắc (Chỗ đă đạt được) của các vị mới phát tâm (Sơ Phát Tâm) tu tập. 9.- QUẢ TRUNG DU TỰ BẤT THIÊN CHÂN: DỊCH: chính trong bậc Thánh Quả c̣n không gọi là Chân Như. GIẢI: Câu này chỉ rơ năm Tâm Thức chẳng những trong cơi người không thể duyên thẳng được Chân Như của các pháp một cách trực tiếp. Cho đến trong quả Thánh (trong quả Phật), năm Tâm Thức này sau khi được chuyển thành Trí Hậu Đắc cũng không thể duyên thẳng được Chân Như của các pháp một cách trực tiếp. Nguyên do, năm Tâm Thức đây chỉ có khả năng duyên với Hữu Chất Tánh Cảnh (Hữu Chất Tánh Cảnh nghĩa là những cảnh tượng có tánh chất thật sự hiện bày). Vạn pháp thuộc Hữu Chất Tánh Cảnh đều phát sanh từ nơi vạn pháp thuộc Vô Chất Tánh Cảnh (Memories) nằm trong Tâm Thức, nhưng năm Tâm Thức này không thể hiểu biết trực tiếp được vạn pháp thuộc Vô Chất Tánh Cảnh của thế giới có tánh cách Tiềm Năng (thế giới có tính cách Memories). Do đó, năm Tâm Thức quyết định không thể duyên thẳng được Chân Như của các pháp. Riêng các vị Bồ Tát sau khi chứng được chân lư đều có khả năng duyên thẳng đến Chân Như của các pháp một cách trực tiếp để an trụ trong những thế giới đó. Đồng thời các Ngài c̣n có khả năng hiện thân để hóa độ chúng sanh. Trong lúc thực hành hạnh độ sanh, các vị Bồ Tát tùy theo duyên liền nương tựa nơí Trí Căn Bản (Dynamic-State) để thể hiện nhiều loại Pháp Thân nơi các cơi nhằm mục đích hóa độ chúng sanh. Mặc dù thể hiện nhiều loại Pháp Thân tùy theo duyên để hóa độ chúng sanh, các vị Bồ Tát vẫn không rời Chân Như của các pháp. Tuy các vị Bồ Tát đă an trụ trong thế giới Chân Như, nhưng Trí Hậu Đắc của các Ngài cũng không thể trực tiếp duyên thẳng được Chân Như. Cho đến địa vị Phật, Trí Hậu Đắc của các Ngài cũng không thể trực tiếp duyên thẳng được Chân Như. Nguyên do, Trí Hậu Đắc (của năm Tâm Thức) đều được phát sanh từ nơi Trí Căn Bản và mang tính chất phân biệt so sánh, cho nên Trí Hậu Đắc được gọi là Trí Sai Biệt. Trí Hậu Đắc của các vị Bồ Tát đă là Trí Sai Biệt th́ không thể trực tiếp duyên thẳng được trí Vô Phân Biệt nơi thế giới Chân Như. Bởi thế, năm Tâm Thức nói trên dù cho với bất cứ h́nh thức nào th́ nhất định cũng không thể trực tiếp duyên thẳng được Chân Như của các pháp. 10.-VIÊN MINH SƠ PHÁT THÀNH VÔ LẬU, TAM LOẠI PHÂN THÂN TỨC KHỔ LUÂN: DỊCH: Viên Minh vừa mới phát hiện liền thành vô lậu, ba loại Phân Thân diệt hết khổ sinh tử luân hồi cho chúng sanh. GIẢI: Ư nghĩa hai câu này là: Tâm Thức Alaya thứ tám khi vừa được chuyển thành Trí Tuệ Đại Viên Cảnh (Viên Minh Sơ Phát) th́ năm Tâm Thức cũng liền trở thành vô lậu. Vô lậu nghĩa là không c̣n bị sa rớt trong ṿng sinh tử luân hồi trong ba cơi nữa. Lúc bấy giờ năm Tâm Thức nói trên có công dụng hiện ra ba loại Thân để hóa độ và dứt trừ các khổ sanh tử luân hồi cho chúng sanh. Ba loại Thân như là: 1/- HIỆN ĐẠI HÓA THÂN: cũng gọi là Thắng Ứng Thân. Hiện Đại Hóa Thân là một loại Thân được hóa hiện vô cùng to lớn nhằm mục đích dùng để hóa độ chúng sanh. Thắng Ứng Thân là một loại Thân ứng hiện rất thù thắng và ngoài Thân này ra không có Thân nào thù thắng hơn. Hiện Đại Hóa Thân th́ cao đến 1,000 trượng (Một ngàn trượng là mười thước ta). Thân này th́ dùng để hóa độ hàng Đại Thừa Bồ Tát. 2/- TIỂU HÓA THÂN: cũng gọi là Liệt Ứng Thân. Tiểu Hóa Thân là một loại Thân được hóa hiện nhỏ hơn so với Hiện Đại Hóa Thân. Liệt Ứng Thân là một loại Thân được ứng hiện có phần yếu kém hơn so với Hiện Đại Hóa Thân. Tiểu Hóa Thân th́ chỉ cao một trượng sáu thước, dùng để hóa độ hàng Tam Hiền Bồ Tát, hàng Nhị Thừa và hàng Phàm Phu chúng sanh. 3/- TUỲ LOẠI HÓA THÂN: nghĩa là thân này tùy theo chủng loại chúng sanh được hóa hiện ra nhiều h́nh tướng khác nhau nhằm mục đích dùng để cứu độ họ, Thân này có khi là h́nh tướng con người, có khi là h́nh tướng súc sanh v.v... tùy theo cơ duyên muôn loài hiện ra để hóa độ.
(Chương thứ hai) ĐỆ LỤC THỨC TỤNG DỊCH: Bài Tụng giảng về Tâm Thức thứ sáu. 11.- TAM TÁNH, TAM LƯỢNG THÔNG TAM CẢNH: DỊCH: Đầy đủ ba Tánh, ba Lượng và thông cả ba Cảnh. GIẢI: A.- BA TÁNH: là thiện tánh, ác tánh và vô kư tánh. 1.- THIỆN TÁNH: nghĩa là bản tánh hoàn toàn lương thiện và không có một chút nào xấu ác cả. Nói cách khác, những sự việc đều hoàn toàn mang tính chất thuần nhất theo nguyên lư chân chánh, có lợi ích cho mọi người và cho mọi loài chúng sanh ở hiện tại cũng như tương lai, nên gọi là Thiện. 2.- ÁC TÁNH: nghĩa là những sự việc đều mang tính chất hoàn toàn xấu ác và không có chút nào Thiện cả. Nói cách khác, những sự việc đều ngược lại tính chất Thiện đă được nêu trên, nên gọi là Ác. 3.- VÔ KƯ TÁNH: là những sự việc mang tính chất không phải Thiện và cũng không phải Ác, nghĩa là những sự việc không thể cho là Thiện và cũng không thể cho là Ác, nên gọi là Vô Kư. B.- BA LƯỢNG: là hiện tượng, tỷ lượng và phi lượng. 1.- HIỆN LƯỢNG: nghĩa là sự hiểu biết trực tiếp đầu tiên những h́nh ảnh của các cảnh vật hiện bày ra trước mặt mà trong đó không có suy luận và diễn dịch. Đây là sự hiểu biết của năm Tâm Thức trước. Năm Tâm Thức ấy trước khi hiểu biết trực tiếp những cảnh vật bằng hiện lượng là khi nào không có Ư Thức thứ sáu hợp tác. Sự hiểu biết năm Trần Cảnh bên ngoài của năm Tâm Thức, khi không có Ư Thức thứ sáu hợp táp chính là sự hiểu biết trung thực, trong đó không có tính chất phân biệt. Sự hiểu biết này của năm Tâm Thức trước được gọi là Hiện Lượng. Thí dụ: Anh A trong lúc đọc sách không để ư vào, nghĩa là anh đọc sách bằng Nhăn Thức mà trong lúc đó không có Ư Thức thứ sáu hợp tác để nhận định. Anh đọc chữ vẫn trúng và đọc không sai một chữ nào trong sách. Đây là hiện tượng anh A đọc sách bằng Hiện Lượng. 2.- TỶ LƯỢNG: nghĩa là sự hiểu biết của Tâm Thức có sự so sánh phân biệt trong đó. Đây là sự hiểu biết của Ư Thức thứ sáu. Ư Thức thứ sáu hiểu biết những sự vật bằng cách xét đoán, tính toán theo sự so sánh đúng sai, cân nhắc lợi hại, phân biệt phải quấy, hơn kém v.v... Sự hiểu biết này của Ư Thức thứ sáu được gọi là Tỷ lượng. 3.- PHI LƯỢNG: nghĩa là sự xét đoán của Tỷ Lượng nói trên bị sai lầm và không đúng với sự thật, nên gọi là Phi Lượng. Đây là sự hiểu biết của Thích Mạt Na thứ bảy Thức Mạt Na thứ bảy hiểu biết sự vật bằng cách tưởng tượng và mang tính chất so đo chấp trước. Nói cách khác, Thức Mạt Na thứ bảy căn cứ theo những dữ kiện của Ư Thức thứ sáu xét đoán so lường, liền đặt lên quan niệm thương ghét, khen chê, tốt xấu, phải quấy v.v... của ḿnh để suy luận. Sự suy luận này của Thức Mạt Na thứ bảy đều hoàn toàn sai lầm và không đúng chân giá trị của thực tại, nên gọi là Phi Lượng. C.- BA CẢNH: là những cảnh giới đối diện của Căn và đối tượng của Tâm Thức. Căn ở đây chỉ cho những giác quan gồm có: Nhăn Căn, Nhĩ Căn, Tỷ Căn, Thiệt Căn, Thân Căn và Ư Căn, c̣n Tâm Thức th́ gồm có tám Thức Tâm Vương. Cảnh ở đây th́ gồm có ba loại: Tánh Cảnh, Đới Chất Cảnh và Độc Ảnh Cảnh. |