Chùa Hải-Đức in Jacksonville
|
Lục Niệm Tu Pháp
Phần này nói về pháp tu Bát Quan Trai Giới. Thông thường thọ bất cứ giới ǵ, mọi người cũng chỉ tiêu cực không làm điều này, tránh gây điều kia là đủ, nhưng đệ tử Phật c̣n có cách tu tŕ các giới. Bát Trai Giới của chư Phật chỉ vỏn vẹn một ngày một đêm, nên ngoài thời gian tác pháp thọ giới nên lợi dụng tối đa thời gian c̣n lại vào việc tu tŕ giới pháp, không để một sát na nào trôi qua luống không. Có vậy mới không uổng một ngày thọ giới, gieo duyên trọn vẹn với Phật pháp, mới chơn chánh thọ dụng được Phật pháp. Trong Bát Quan Trai Giới hội này, chúng ta đă có nghi quỹ tu tŕ, ngoài hai thời công phu sớm chiều, c̣n tụng niệm kinh Kim Cang, xưng niệm hồng danh đức Phật. Tôi cùng các vị bàn luận các vấn đề về Bát Quan Trai Giới để mong sao các vị đạt đến tŕnh độ hành giải tương ưng. Trong kinh, đức Phật dạy trong ngày thọ Bát Trai Giới phải nên tu tập nghĩ niệm, đó là niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm Giới, niệm Thiên. Kinh A Hàm thêm niệm Thí, thành ra sáu niệm, có ư nghĩa như sau: - Thứ nhất niệm Phật: Phật là bậc Thánh ở thế gian, bậc Chánh Giác viên măn, rơ được Thật Tướng của chúng sanh. “Chánh Giác của Thế Tôn từ ḿnh lan đến người, rồi trải khắp thế gian, triệt ngộ tự thân và cho người, Trung Đạo giữa tâm và vật. Do trí huệ quán chiếu khởi tâm từ bi đến mọi loài”. Cho nên bậc Chánh Giác chẳng những đạt được cứu cánh giải thoát ngay tại thế gian này, c̣n cứu vớt được hết thảy chúng sanh khiến đều được Chánh Giác như Ngài không khác. Như vậy, đủ thấy đức Phật có công đức thanh tịnh bất khả tư ngh́. Niệm Phật không như người ta hay nghĩ là dùng miệng xưng niệm thánh hiệu mà phải tư niệm công đức vô tận của đức Phật, như niệm tướng hảo của Phật trừ được tánh nóng giận, niệm Thật Tướng của chư Phật chứng được diệt được mọi ác niệm, niệm các pháp môn của Phật trừ được sự ngu si, niệm mười danh hiệu Phật vừa tăng tiến công đức cho ḿnh, vừa giúp người nghe diệt được tâm khinh mạn, sanh tâm kính ngưỡng chư Phật, không dám khởi niệm ác. Lại phải biết đức Phật là bậc đầy đủ trí huệ, chúng ta nếu thành tâm niệm Phật, ắt dẫn khởi được trí huệ sẵn có của ta, lúc đó tự nhiên sẽ khuynh hướng về chân lư mà chư Phật đă thể hiện. Trí huệ không những là điều cần thiết để thể ngộ chân lư, c̣n là búa sắc để chặt mọi dây rợ phiền năo. Niệm Phật có thể khai mở trí huệ, dễ như vậy sao? Niệm Phật là một pháp môn trọng yếu, chẳng những các vị chuyên tông như Tịnh Độ khuyên người niệm Phật, ngay đến bên Nguyên Thủy cũng có pháp Niệm Phật. Song đức Phật ban đầu chỉ bày cho người niệm Phật là muốn họ niệm công đức thanh tịnh của chư Phật, không phải chỉ xưng danh xuông. - Thứ hai, niệm Pháp: Pháp là những lời dạy của chư Phật, Pháp của Phật không nói bằng trí tưởng tượng mà nói theo sự thật chứng. Pháp thật chứng này không ǵ khác hơn chân lư vũ trụ nhân sanh, cũng là quy luật của đạo. Phải tuân theo quy luật của đạo, thể ngộ được chân lư của vũ trụ nhân sanh mới thành Phật được. Đức Phật giác ngộ được chân lư, không như thế hay giấu diếm mà lập tức chỉ bày cho đại chúng, giúp mọi người hiểu đâu là lẽ thật của các pháp, đâu là quy luật của đạo, tiến đến cung điện của chân lư. Pháp trên lập trường tu học vô cùng trọng yếu, đừng nói chúng ta không y Pháp, không sao thể ngộ được chân lư, đến chư Phật nếu không có Pháp cũng không thể thành Chánh Giác. Vậy đạo cứu cánh là ǵ? Ư chỉ đức hạnh Trung Đạo, sự thực tiễn hành tŕ của thân tâm, đó là hướng thượng, hướng thiện, hướng giải thoát, nói đúng hơn đó chính là Bát Chánh Đạo mà mọi người đều biết. Người hướng thượng khéo hành Bát Chánh Đạo, ắt “có tri kiến chính xác, tất đạt được mục đích”. Song trong thực tiễn, hành Bát Chánh Đạo chính là chánh hạnh, không tà, không lệch. Như vậy “chánh hạnh hướng thượng, hướng giải thoát, đạt được cứu cánh vô thượng”, thực hiện được mục đích cứu cánh này cũng gọi là Pháp. Trong kinh gọi là Vô Thượng Pháp, Cứu Cánh Pháp, cũng gọi là Thắng Nghĩa Pháp. Nói theo chỗ chứng là Duyên Khởi Chánh Pháp. Duyên Khởi Chánh Pháp thấu suốt trong ngoài, biến khắp mọi nơi không đâu không có, người nào chứng được nó, ắt thể ngộ được chân lư, thành bậc Tự Giác, tự chứng giải thoát tự tại. V́ vậy, đức Phật muốn chúng ta thường tư niệm Pháp, để thân tâm thường hành theo chân lư của Pháp, ngơ hầu sớm được tự tại giải thoát. - Thứ ba, niệm Tăng: Tăng là một trong Tam Bảo, cũng là nhân vật chủ yếu của Trụ Tŕ Tam Bảo, có địa vị đặc thù trong Phật pháp. Trong Luật tuy nói nhiều thứ Tăng khác nhau, nhưng niệm Tăng ở đây có nghĩa niệm Chơn Thật Tăng, hay niệm Thanh Tịnh Tăng. Sao gọi là Thanh Tịnh Tăng? Ư chỉ các vị Thánh Tăng hoặc các phàm phu Tăng tŕ giới. Các vị Tăng này ở thế gian thực khó kiếm, nơi thân tâm họ có đầy đủ các món công đức, có thể nhiếp hóa thế gian, làm phúc điền cho chúng sanh. Chúng ta nếu thường tư duy quán sát theo các vị này, hoặc lễ bái cúng dường, ắt được đủ phúc đức. Sao gọi là Chơn Thật Tăng? Đó là các vị Thánh Tăng chứng được Tứ Hướng, Tứ Quả (9). Họ đầy đủ Trí Đức và Đoạn Đức (10), đủ tư cách để gọi là “đại trượng phu” như xưa nay vẫn nói. Tứ Hướng và ba quả đầu đă phần nào chứng Ngũ Phần Pháp Thân. Ngũ Phần Pháp Thân là Giới, Định, Huệ, Giải Thoát và Giải Thoát Tri Kiến. Đến địa vị quả Thánh, bất luận tánh giới (11) hay già giới (12), những giới họ đă thủ đều thọ đều thủ tŕ rất thanh tịnh, giới thể của họ không sao hoại được, nên thành tựu được Giới Thân. Đồng thời không c̣n hoặc loạn khi tu học Bát Giải Thoát hoặc (13) Cửu Thứ Đệ Định (14), nên thành tựu Định Thân. Do trí huệ vô lậu thấy suốt được chân lư Tứ Đế nên thành tựu Huệ Thân. Đạt được sự giải thoát nơi cách hành hữu vi nên thành tựu Giải Thoát Thân. Lại đối với sự phân biệt nhân quả, giải thoát, không c̣n mảy may thác ngộ nên thành tựu Giải Thoát Tri Kiến Thân. Chơn Thật Tăng thành tựu công đức Ngũ Phần Pháp Thân này, nếu chúng ta vận dụng tam nghiệp tinh cần lễ bái, cúng dường, tự niệm các món công đức của họ ắt cũng sẽ tăng trưởng công đức của ḿnh. Đó là niệm Tăng đúng pháp. - Thứ tư, niệm Giới: Giới là quy luật của đạo đức. Là đệ tử Phật, tất phải hành động, suy nghĩ đều trong khuôn khổ của đạo đức. Hễ thấy hợp với quy luật đạo đức th́ mới làm. Có vậy thân tâm mới thanh tịnh. Đệ tử Phật do thân phận bất đồng nên giới thọ cũng khác. Như hai chúng tại gia thọ năm giới, xuất gia tăng ni thọ Cụ Túc Giới, sa di, sa di ni thọ mười giới. Thức xoa ma na thọ sáu pháp giới. Các giới tuy thọ có khác, nhưng thọ tŕ theo pháp th́ không khác. Thọ tŕ cấm giới của Như Lai đă được công đức thù thắng, lại thêm hành động được quy củ. Theo Tỳ Ni Nghĩa Sao: Tại gia nhị chúng Tam Quy, Ngũ Giới, nghe Phật thuyết pháp có thể chứng được tam và tứ quả. Các vị hiện tại thọ Bát Trai Giới tuy chỉ có một ngày đêm, nhưng công đức rất ư thù thắng. Ngẫu Ích Đại Sư từng nói: “Chỉ cần nhân duyên một ngày đêm Bát Quan Trai tất được đầy đủ kho báu hết thảy hằng hà sa số vô lượng công đức của Phật Pháp. Trai Giới là pháp giới, nhất thiết pháp đều hướng đến Trai Giới ắt hướng đến sự không tạo lỗi lầm, đó gọi là Niệm Giới”. Trai Giới chỉ một ngày đêm c̣n được công đức thù thắng như vậy, huống hồ là các giới như Ngũ Giới, Thập Giới, Cụ Túc Giới thọ suốt đời. Hay như Tam Tụ Tịnh Giới đến tận vị lai các kiếp th́ công đức không sao tính kể được. Kinh Hoa Nghiêm nói: “Thọ tŕ đầy đủ các oai nghi giới pháp, khiến hạt giống Tam Bảo không bao giờ dứt”. Tịnh hạnh liên quan đến sự tồn tại của Tam Bảo nên chớ coi thường Giới Luật. Như thường tư niệm công đức của Giới Hạnh, ắt không sao vi phạm tịnh giới. - Thứ năm là niệm Thiên: Đệ tử Phật tư duy công đức của Tam Bảo, đó là lẽ tự nhiên, nhưng v́ sao lại phải niệm Thiên? Thông thường đối với Phật pháp, không nên cầu sanh Thiên. Sanh Thiên không phải là cứu cánh của Phật tử, vậy niệm Thiên c̣n có ư nghĩa nào khác? Quả thực, chư Thiên không phải là cứu cánh, đức Phật vẫn căn dặn: Sanh Thiên không phải mục đích của học Phật. Nhưng khi chưa giải thoát, hăy c̣n trôi lăn trong lục thú th́ phúc lạc ở cơi trời vẫn hơn xa cơi người, nên vẫn là chỗ mong cầu của con người. Song không phải cứ muốn sanh Thiên là sanh, cũng phải có đủ nhân duyên sanh thiên, hoặc công đức sanh thiên. Nói đúng hơn, niệm Thiên không có nghĩa cầu phúc lạc ở cơi Thiên, mà chính là niệm công đức của chư Thiên, rồi so sánh tự thân xem ḿnh có đủ các công đức này không? Trải qua sự tư niệm như vậy, mới thấy ḿnh có công đức tin Tam Bảo, công đức tŕ tịnh giới, công đức nghe Phật pháp, công đức thí cho kẻ nghèo, công đức có trí huệ phân biệt, chính nhờ ḿnh có đủ các món công đức như vậy, mà tin rằng không những ḿnh có đủ công đức sanh Thiên hưởng phúc lạc, mà từ từ sẽ đến được thành Niết Bàn. Có được sức tự tin như vậy, càng dơng mănh hành thiện pháp, không c̣n có thể đọa lạc được nữa. Đó là niệm Thiên của Phật pháp. Lại nữa, pháp môn niệm Thiên này trong A Hàm và Trai Kinh nói là niệm Lục Thiên ở Dục Giới v́ niệm giới được sanh Thiên. Hoa Nghiêm kinh nói niệm Thiên là công đức của hàng Đại Sĩ Nhất Sanh Bổ Xứ ở cung trời Đâu Suất. Niết Bàn kinh nói niệm Thiên là niệm Đệ Nhất Nghĩa Thiên, đó là nói sâu hơn. C̣n niệm Thiên theo chúng ta ở đây là niệm công đức Lục Thiên như kinh A Hàm. - Thứ sáu, niệm Thí: Trong kinh Phật Thuyết Trai không đề cập đến niệm Thí. Song các kinh khác đều nói đến Lục Niệm, niệm cuối cùng là Niệm Thí. Ngẫu Ích Đại Sư nói Niệm Thí có thể được nhiếp trong Niệm Thiên bởi lẽ Thí là một điều kiện để sanh Thiên. Trong Lục Niệm pháp môn có nói đến Niệm Thí. Bố Thí là pháp thiện lợi tha, v́ tại thế giới này, nhất là Ấn Độ từ xưa đến nay, người bần cùng luôn luôn đa số. Đức Phật xuất hiện tại Ấn, cũng có thể bảo là do v́ muốn cứu tế kẻ bần cùng, cho nên trong kinh điển, đều luôn nhấn mạnh đến công đức bố thí. V́ thế, các đệ tử tại gia giàu có của Phật thường hay bố thí rộng lớn; như trưởng giả Lê Tư Đạt Đa được đức Phật cảm hóa, nên thường làm: “Từ nay về sau, cửa không khép chặt, cũng không xua đuổi chống lại các tỳ kheo, tỳ kheo ni, ưu bà tắc, ưu bà di cho đến người lỡ đường”. Lại c̣n có thể: “Bố thí khắp bốn cửa thành, bố thí cho người nghèo khổ ở thành lớn”. Cứu tế người bần cùng, xả thí vật sở hữu, công đức này rất lớn. Mỗi người nên tùy khả năng mà bố thí, không những giúp người thiếu ăn thiếu mặc được no đủ, c̣n giúp cho ḿnh vun trồng thêm công đức thù thắng. Đệ tử Phật, nhất là hàng tại gia, nên dùng tiền của có dư vào việc trợ giúp cho người nghèo khổ được cùng hưởng phúc lợi, như vậy tất được quả báo thù thắng. Người ta sở dĩ không chịu bố thí, v́ không biết bố thí có công đức lớn, nếu thường niệm Thí ắt thích hành thí. Lục Niệm pháp môn theo kinh A Hàm, chủ yếu nói cho hàng học Phật tại gia. “Đó là bởi v́ lư trí của tín chúng bạc nhược, không thể dùng trí chế ngự t́nh cảm, bị các cảnh sanh tử biệt ly, cô quạnh lạnh lẽo năo loạn cho nên dạy họ niệm - quán tưởng - công đức Tam Bảo, niệm công đức tŕ giới và bố thí, niệm tất sẽ sanh Thiên và được an lạc”. Trong Trai Kinh cũng nói: “Phụng tŕ Bát Giới, tập ngũ tư niệm, đó là Phật Pháp Trai, quán công đức Thiên, diệt trừ ác nghiệp, hưng khởi thiện pháp, sau được sanh Thiên, cuối cùng được Niết Bàn”. Như thế, lục niệm pháp môn tuy nói cho tín chúng tại gia và cho người phát tâm thọ Bát Giới tu tŕ, nhưng thật ra người học Phật nào cũng cần tu sáu pháp này, nhất là pháp môn Niệm Phật, nhờ Niệm Phật nhiếp tâm mà được nhất tâm bất loạn. Các vị phát tâm thọ Bát Trai Giới lại khéo tu tŕ lục niệm pháp môn, phải biết chỗ thọ dụng không thể hạn lượng. Bởi v́ Trai Giới và lục niệm như ngọc Như Ư thường sanh ra các món bảo khác, y phục, ẩm thực, kim, ngân, thất bảo tùy ư mà được. Nên nếu thường tập niệm, chẳng những sanh Thiên không thành vấn đề, cho đến thiện căn xuất thế của tam thừa cũng dư sức tăng tiến. Chỉ có điều y theo Phật pháp, dù thọ giới hay tu pháp môn nào đi nữa, căn bản vẫn là thanh tịnh nội tâm. Nội tâm có thanh tịnh th́ tu pháp môn nào cũng thành tựu, nếu nội tâm bất tịnh có tu cũng thành ma nghiệp. Chúng ta cần phải lưu ư điều này. Muốn nội tâm thanh tịnh, phải kiểm thúc thân tâm bằng giới hạnh, tam nghiệp thanh tịnh đương nhiên sẽ được tự tại giải thoát. Kết Luận Thọ Giới là bước đầu nhập đạo, phàm là đệ tử Phật tức phải thọ giới, và hễ thọ th́ phải chuyên tâm nhất ư phụng tŕ, dù trong hoàn cảnh nào hay ở đâu đi nữa, cũng phải thường ghi nhớ giới đă thọ. Thậm chí ngay đến các việc thường nhật như ăn cơm, mặc áo, đi, đứng, nằm, ngồi, nói năng, động tĩnh cũng không một giây xao lăng thủ tŕ giới pháp. Nếu không ức niệm ắt lúc nào cũng có thể phạm giới. Như vậy thọ giới mà không cố giữ th́ vừa không có lợi ích, lại c̣n thêm nhiều tội. Điều này trong kinh, luật vẫn thường nhắc nhở chúng ta. Bất luận thọ Ngũ Giới hay Bát Giới, đều phải thủ tŕ đến độ có thể hy sinh mạng sống để bảo vệ giới thanh tịnh. Trong Niết Bàn kinh kể: “Quá khứ có vị Bồ Tát dùng chiếc ván trôi qua biển. Trôi đến giữa biển xuất hiện một La Sát đ̣i chiếc ván của Bồ Tát. Bồ Tát bảo La Sát: ‘Nhà ngươi muốn ǵ cũng được, trừ tấm ván này, đừng nói cả tấm, một miếng nhỏ cũng không được!”. Tấm ván này như Giới của chúng ta, nếu thiếu một mảnh cũng đủ hại mất huệ mạng. V́ vậy, các vị nên cố giữ ǵn giới hạnh như giữ mạng sống. Dịch xong tháng Giêng năm Kỷ Tỵ.
_________________ (9) Tứ hướng tứ quả: a. Tu Đà Hoàn dịch là Nhập Lưu, có nghĩa vào ḍng Thánh Nhân. Vị này cần phải đoạn hết 88 món sử kiến hoặc ở Tam Giới mới đắc được. Khi chưa đoạn được hết gọi là Hướng, đoạn hết gọi là Quả. b. Tư Đà Hàm dịch là Nhất Lai, c̣n phải sanh vào Dục Giới một lần nữa. Vị này cần trừ hết kiến hoặc ở Tam Giới, và đoạn sáu phẩm đầu của Tư Hoặc ở Dục Giới mới đắc được. Khi đoạn được từ một đến năm phẩm Tư Hoặc gọi là Tư Đà Hàm Hướng, đoạn hết sáu phẩm gọi là Tư Đà Hàm Quả. c. A Na Hàm dịch là Bất Lai, không c̣n sanh tử ở Dục Giới nữa. Vị này đoạn hết Kiến Hoặc ở Tam Giới, c̣n phải đoạn cửu phẩm Tư Hoặc ở Dục Giới nữa mới đắc được. Khi đoạn được từ bảy đến tám phẩm Tư Hoặc gọi là Hướng, đoạn hết chín phẩm gọi là Quả. d. A La Hán dịch là Vô Sanh, vĩnh nhập Niết Bàn, không c̣n chịu phần đoạn sanh tử. Vị này ngoài các kiết sử ở tam giới, Tư Hoặc ở Dục Giới, c̣n phải đoạn Bát Địa 72 phẩm Tư Hoặc ở Sắc và Vô Sắc Giới mới đắc được. Chưa đoạn được hết 72 phẩm của Sắc và Vô Sắc Giới gọi là Hướng, đoạn hết gọi là Quả. (10) Nhị đức: Chúng sanh vốn sẵn đủ hai đức: a. Trí đức: Soi chiếu hết thảy sự lư (liễu nhân) b. Đoạn đức: đoạn sạch hết mọi vọng hoặc (duyên nhân). Trí đức tức Bồ Đề, Đoạn đức tức Niết Bàn. (11) Tánh giới: Bốn giới trọng Sát, Đạo, Dâm, Vọng tự tánh đă là giới, không đợi Phật chế, hễ giữ được ắt có phúc, hễ phạm tất chịu họa, nên gọi là tánh giới. (12) Già giới: các giới như Ẩm Tửu gọi là già giới. Bởi lẽ nếu phạm các giới này tất có thể phát sanh hủy phạm các giới khác, nên đức Phật ngăn cấm không cho ẩm tửu. Ẩm tửu tự nó vốn chẳng phải tội vậy. (13) Bát Giải Thoát: C̣n gọi là Bát Bối Xả, tám loại Thiền Định diệt trừ hết mọi trói buộc của phiền năo ở tam giới. a. Nội hữu sắc tưởng, quán ngoại sắc giải thoát: Có nghĩa nếu nội tâm nghĩ tưởng đến Sắc (vật chất) (nội hữu sắc tướng) tất sẽ dẫn khởi tham tâm. V́ vậy, quán tưởng các pháp bên ngoài đầy dẫy bất tịnh, để tham tâm không thể phát sanh, nên gọi là giải thoát (quán ngoại sắc giải thoát). Giải thoát này nương định Sơ Thiền phát khởi, duyên với Sắc của Dục Giới. b. Nội vô sắc tưởng, quán ngoại sắc giải thoát: Tức tuy nội tâm không nghĩ tưởng đến Sắc (nội vô sắc tưởng), song muốn cho tâm không tham thêm kiên cố nên vẫn hằng quán tưởng các ngoại pháp đầy bất tịnh, để tham tâm vĩnh viễn không sanh khởi, nên gọi là giải thoát (quán ngoại sắc giải thoát). Nương Nhị Thiền phát khởi, duyên với Sắc của Sơ Thiền. c. Tịnh giải thoát thân tác chứng cụ túc trụ: Nhất tâm quán tưởng các sắc quang minh, thanh tịnh, kỳ diệu gọi là tịnh giải thoát. Khi quán tưởng tịnh sắc này, khiến tham tâm không thể sanh khởi, chứng minh tâm tánh này đă giải thoát nơi thân nên gọi là Thân Tác Chứng. Lại sức quán tưởng này đă hoàn toàn viên măn, đủ an trụ nơi định này nên gọi là Cụ Túc Trụ. Giải thoát này nương Tứ Thiền sanh khởi, duyên với Sắc của Dục Giới. d. Không vô biên xứ giải thoát e. Thức vô biên xứ giải thoát. f. Vô sở hữu xứ giải thoát. g. Phi tưởng phi phi tưởng xứ giải thoát: Bốn thứ giải thoát (từ không vô biên đến phi phi tưởng) này nương vô sắc định sinh khởi, nơi định đắc được quán tưởng Khổ, Không, Vô Thường, Vô Ngă, khiến tâm xả bỏ hết thảy, nên gọi là Giải Thoát. h. Diệt thọ tưởng định thân tác chứng cụ túc trụ giải thoát: Diệt thọ tưởng định c̣n gọi là Diệt Tận định. Đă có năm căn: nhăn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, tất phải lănh thọ năm trần: sắc, thanh, hương, vị, xúc. Do vậy, phát sanh đủ mọi vọng tưởng. Nếu đủ sức định diệt trừ được thọ tưởng, tất sẽ diệt trừ được hết mọi vọng tưởng, cho nên là Diệt Tận định. Cửu thứ đệ định: từ Sơ Thiền Thứ Đệ Định cho đến Tứ Thiền Thứ Đệ Định (trở lên gọi là Sắc Giới Tứ Thiền Thiên Căn Bản Định). Không Xứ, Thức Xứ, Vô Sở Hữu Xứ và Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ Thứ Đệ Định (trở lên là Vô Sắc Giới Căn Bản Định Cư Tứ Xứ) cùng Diệt Thọ Tưởng Định, tất cả gọi chung là Cửu Thứ Đệ Định. Trí Độ Luận giải: “Thế nào là Cửu Thứ Đệ Định? Đáp: Người tu thứ lớp vào Sơ Thiền, Nhị Thiền, Tam Thiền, Tứ Thiền, Không Vô Biên Xứ Định, Thức Vô Biên Xứ Định, Vô Sở Hữu Xứ Định, Phi Tưởng Phi Vô Tưởng Xứ Định dẫn đến Diệt Thọ Tưởng Định mà không để cho các tạp tâm xâm nhiễm. Tu lớp lang như vậy gọi là Cửu Thứ Đệ Định.
Phụng khuyến Tăng Tục Nam Nữ Phổ Tŕ Bát Quan Trai Giới Văn Từ Hàng lăo pháp sư duyệt cải Hưng Từ lăo pháp sư giám định Việt dịch: Thượng Tọa Thích Thiện Huệ
A. Thuyết minh ư nghĩa và mục thứ khuyến tŕ Trai Giới. Bát Quan Trai Giới là cầu qua bờ sanh tử, là đèn soi sáng bóng đêm vô minh. Trong kinh Bồ Tát Xử Thai xưng tán Bát Quan Trai Giới là “mẹ sanh chư Phật”. V́ vậy, bất luận Tăng, tục, nam, nữ đều nên thọ tŕ, ưu bà tắc, ưu bà di tại gia cùng các thiện nam, tín nữ đều nên thọ tŕ giới này để làm bậc thang xuất thế. Năm chúng xuất gia cũng nên thọ tŕ, bởi lẽ giới tướng của Bát Quan Trai Giới tuy sẵn đủ trong Sa Di và Cụ Túc Giới, song v́ để tăng trưởng công đức (lư do tăng trưởng công đức xem câu vấn đáp thứ năm ở phần sau), chẳng ngại ǵ tái thọ giới này. Bản văn này trước hết hiển bày công ích thọ tŕ Bát Giới, theo thứ tự phân làm mười hai điều, mỗi điều đều trích dẫn kinh để chứng minh về nhân quả tŕ giới, mục đích giúp người đọc phát khởi tín tâm và vui thích hành theo. Sau đó, chú thích danh nghĩa, tŕ bày thọ pháp, phân tích các điểm dị đồng trong phép Khai – Già. Lập ra sáu cân vấn đáp để thuyết minh những điều dễ hoài nghi nơi sự thọ tŕ Bát Giới, hầu giúp mọi người đều như pháp thọ tŕ, để hiểu được giới quan hệ thế nào đến bản thân, và có thể hành tŕ theo đúng sự hiểu biết, hầu không c̣n thối tâm nữa! Sau cùng trích lời Phật dạy về mối họa hoạn của người xuất gia do v́ không tŕ Bát Giới để cảnh sách họ. Chỉ thẹn học thức thiển lậu, giới luật chưa được thấu đáo, không khỏi sai lầm, nhiều điều chưa biết, ngưỡng mong Đại Đức các nơi chỉ dạy thêm cho, thực là bỏ đá thêm ngọc, được nhiều thực lợi, c̣n mong ǵ hơn. B. Công ích dẫn chứng Công ích thọ tŕ Trai Giới chỉ Phật trí mới biết rơ, do lời Phật mới tin nổi. Nay phân làm mười hai việc, dẫn kinh Phật minh chứng. 1. Thoát ly bệnh khổ: Phàm muốn giữ ǵn thân thể luôn được mạnh khỏe, hoặc chán sợ bệnh khổ, muốn cầu mau thoát không thể không tŕ. Theo kinh Cửu Hoạnh, Phật dạy chín nguyên nhân đưa đến hoạnh tử. Bốn thứ đầu đều do ăn uống bừa băi, thứ năm do đường tiêu hóa không tốt, đủ thấy vấn đề ăn uống liên quan mật thiết đến sức khỏe. Nếu y theo Phật dạy, sau ngọ không ăn, tất trong không túc thực (gây bội thực), ngoài không hạ phong, thân được an ổn không tật bệnh, tâm được dễ định lại ít hôn trầm (Kinh nói: “Sau ngọ không ăn được năm phúc: Ít dâm, ít ngủ, được nhất tâm, không hạ phong, thân được an ổn, hoặc giả không họa túc thực”). Kinh Dược Sư nói: “Nếu có người bệnh muốn thoát bệnh khổ hăy v́ người này mà thọ tŕ Bát Trai Giới trong bảy ngày đêm”. 2. Tiêu diệt tội chướng: Phàm muốn sám hối tội chướng, không thể không tŕ. Kinh Ưu Bà Tắc Giới nói: “Thọ tŕ Bát Giới ngoài năm tội nghịch, tất cả các tội khác đều được tiêu trừ”. Kinh Niết Bàn nói: “Phật dạy xứ Ba La Nại có đồ tể tên Quảng Ngạch, mỗi ngày sát hại rất nhiều dê. Gặp được Xá Lợi Phất, thọ Bát Giới một ngày đêm, do nhân duyên này, mạng chung sanh làm thiên vương Tỳ Sa Môn ở Bắc phương”. Nghiệp sát nặng như đồ phu c̣n trượng thừa công đức thọ tŕ Trai Giới một ngày một đêm mà diệt trừ được, huống chi các tội khác nhẹ hơn. 3. Miễn trừ hoạnh họa: Nếu muốn gia đ́nh và thân thể được yên ổn, không bị các thứ tai họa bất ngờ, không thể không tŕ. Kinh Tứ Thiên Vương nói: “Chỗ nào mà có người tŕ giới này quỷ dữ phải lánh xa, trụ xứ ở đó nhờ vậy yên lành. V́ vậy, trong sáu ngày trai thọ tŕ Trai Giới được phúc rất nhiều”. Lại kinh Pháp Cú Thí Như nói: “Phu nhân vua Ưu Điền vào ngày thọ trai, vua vời không đến, gọi đến ba lần, v́ đang tŕ trai nên không tới. Vua liền nổi giận, sai người lôi ra, khiến bắn cho chết, nhưng tên bay ngược lại vua, lần nào cũng vậy, khiến vua đâm sợ, hỏi phu nhân có pháp thuật ǵ mà khiến được như vậy? Phu nhân đáp rằng: ‘Do nơi phụng kính Như Lai, quy mạng Tam Tôn, phụng tŕ trai pháp, quá ngọ chẳng ăn, cùng hành tám giới, tất được Thế Tôn hộ tŕ như vậy’. Vua liền nghe theo phu nhân, đến Phật nghe pháp, tâm được tỏ ngộ”. 4. Viễn ly ác thú: Nếu có người hạnh kiểm không tốt, sợ bị đọa ác đạo, không thể không tŕ. Kinh Thập Thiện Giới nói: “Người tŕ Bát Quan Trai, thứ nhất không đọa địa ngục; thứ hai không đọa súc sanh; thứ ba không đọa ngạ quỷ; thứ tư không đọa a tu la nên Bát Giới được gọi là Bát Thắng Pháp”. 5. Phúc báo ưu hậu: Nếu có người sợ đời loạn lạc khan hiếm gạo thóc, chịu khổ đói khát, không thể không tŕ. Phật thuyết Hộ Tịnh kinh nói: “Một ngày tŕ trai được sáu mươi vạn đời dư ăn”. Luận Tát Bà Đa dẫn kinh nói: “Vua cơi Diêm phù Đề được làm chủ hết thảy báu vật không bằng một phần mười sáu công đức Bát Trai Giới”. Kinh c̣n nói: “Phật dạy vua Ba Tư Nặc: - Phước của Trai Giới tỏa rộng lan xa, thí như các món trân bảo đầy cả mười sáu nước, đem bố thí không bằng một ngày đêm thọ tŕ Phật trai pháp. Nếu so sánh phúc đức hai việc này khác nào Tu Di với hạt đậu”. 6. Mau chóng thành tựu Như người tuổi cao sức kém, sợ không c̣n ở thế bao lâu, hoặc thân bị giam nơi lao ngục, tánh mạng khó toàn, muốn thành tựu hạnh thù thắng trong một thời gian cực ngắn, không thể không tŕ. Bát Quan Trai tŕ pháp kỳ hạn trong một ngày một đêm, thời gian cực ngắn song công đức rất thù thắng. Kinh kể: “Phu nhân vua Ưu Đà Tư, tử tướng hiện bày, mạng sống chỉ trong bảy ngày, nên muốn cầu xuất gia. Vua v́ nặng t́nh măi đến ngày thứ sáu mới thuận. Phu nhân liền xuất gia thọ Bát Trai Giới, đến ngày thứ bảy mạng chung được sanh cơi Thiên”. Hay như trong kinh Phật Thuyết Quán Vô Lượng Thọ nói: “Vua Tần Bà Sa La bị thái tử A Xà Thế giam trong bảy lớp ngục thất, từ xa hướng về Thế Tôn, lễ lạy cầu được Mục Kiền Liên truyền cho Bát Giới”. Phàm lúc sanh tử nguy cấp, thọ tŕ Bát Giới, do nhờ công đức của giới này dễ được thành tựu. 7. Đời sau được tôn quư Nếu muốn cầu đời sau làm vua trong thiên hạ, không thể không tŕ. Phật thuyết Phổ Đạt Vương kinh nói: “Khi tiên vương tại thế, có đứa trẻ để chỏm, trai giới theo tiên vương một ngày đêm, phụng hành chánh pháp, giữ ư thanh tịnh, sau này mạng chung, thác sanh làm vương tử, nay được tôn quư, đều do nhân đời trước thọ tŕ Trai Giới”. Kiền Đà Quốc Vương kinh nói: “Phật dạy: - Thời Phật Câu Na Hàm Mâu Ni, vua và Ngưu là hai anh em, cùng làm ưu bà tắc tŕ Trai Giới một ngày một đêm, vua do tinh tiến giữ pháp, không dám lười mỏi, nay sanh làm quốc vương”. Bách Dụ kinh nói: “Phật dạy: - Thời Ca Diếp Phật, có hai bà la môn cùng thọ trai pháp, một người cầu sanh thiên, một người cầu làm vua. Thọ lănh giới xong trở về trụ xứ, các bà la môn nài mời cùng ăn. Người cầu sanh thiên, do phá trai, không thành ước nguyện. Người kia không ăn, được thành quốc vương”. 8. Được sanh thiên thượng Nếu muốn cầu đời sau sanh Thiên, không thể không tŕ. Kinh kể có một thiên nữ, dung mạo đoan nghi, vượt hơn mọi kẻ khác, chư Thiên hễ thấy đều sanh tâm hy hữu. Thích Đề Hoàn Nhân hỏi do tạo nghiệp ǵ đời trước mà được phúc báo như vậy. Thiên nữ dùng kệ đáp: “Xưa nơi Ca Diếp Phật, thọ tŕ Bát Trai Giới, nay được sanh thiên thượng, được phúc báo đoan chánh”. Phật tại Xá Vệ quốc, có năm trăm thiên tử, quang minh biến chiếu Kỳ Hoàn Lâm, cùng đến lễ Phật. A Nan thưa hỏi nhân duyên của chư thiên tử. Phật kể xưa có năm trăm long tử, phụng tu trai pháp, sau khi mạng chung sanh Đao Lợi thiên. Năm trăm long tử nay là năm trăm thiên tử. 9. Trợ duyên văng sanh Như muốn cầu sanh Tịnh Độ, không thể không tŕ. Kinh nói: “Trung phẩm thượng sanh là nếu có chúng sanh, thọ tŕ năm giới hoặc Bát Trai Giới, tu các thiện giới, không tạo Ngũ Nghịch, không làm các lỗi, dùng thiện căn này hồi hướng nguyện cầu sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới”. Lại nói: “Trung phẩm trung sanh là nếu có chúng sanh hoặc một ngày đêm tŕ Bát Trai Giới hoặc một ngày đêm tŕ Sa Di Giới, hoặc một ngày đêm tŕ Cụ Túc Giới, oai nghi không khuyết, do công đức này hồi hướng, nguyện sanh Cực Lạc thế giới”. Như kinh dẫn chứng, đủ biết muốn cầu văng sanh Cực Lạc thế giới không thể không tŕ Trai Giới. Nên Viên Trung Lang nói: “Điều cấp bách phải phát sanh Giới, khuyên người niệm Phật cùng tôi ghi nhớ lời này”. 10. Lâm chung hoan lạc Nếu công phu niệm Phật chưa đạt mức nhất tâm bất loạn sợ sau khi mạng chung không chắc được văng sanh, không thể không tŕ. Kinh Dược Sư: “Nếu có thể thọ tŕ bát phần Trai Giới, hoặc một năm, hoặc ba tháng, do thiện căn này, cầu sanh Tịnh Độ, nhưng chưa nắm chắc được, nếu nghe thấy danh hiệu Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, lúc mạng chung, có tám vị Bồ Tát: Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Quán Thế Âm Bồ Tát, Đắc Đại Thế Chí Bồ Tát, Vô Tận Ư Bồ Tát, Bảo Đàn Hoa Bồ Tát, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát và Di Lặc Bồ Tát, dùng thần thông đến, hướng dẫn chỉ bày, được hóa sanh nơi thế giới Vô Lượng Tạp Sắc Chúng Bảo Hoa”. V́ vậy, người thường hay nghiêm tŕ Trai Giới, dù công phu niệm Phật hăy c̣n khiếm khuyết, khi mạng chung chưa thấy được Phật A Di Đà tiếp đón, song nhờ công đức tŕ trai, có tám vị Đại Bồ Tát dẫn đạo văng sanh Cực Lạc. Phật không luống dối, quyết chẳng gạt người. Hành giả tín nhiệm vững chắc lời này, ắt không bối rối, không sợ sệt lúc quỷ vô thường hiện đến. Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai mở bày phương tiện này, không ngoài mục đích giúp người niệm Phật vào giờ phút nguy biến của sanh tử, được bảo đảm văng sanh. Nên Pháp Hải Quán Lan nói: “Nếu khi mạng chung gân cốt đau nhức, bao nhiêu quyến thuộc sắp phải chia ĺa. Hăy nhớ rằng ta có thanh tịnh giới, giúp cho thân tâm an lạc không c̣n sợ lo”. Nguyện người niệm Phật cùng tôi nghiêm tịnh Trai Giới, để nắm chắc được hoan lạc trong giây phút cuối cùng. 11. Được thân đủ tướng hảo Nếu thấy Phật tướng hảo, tâm sanh hoan hỷ, muốn trong đời sau tu được thân này, không thể không tŕ. Kinh Trường Trảo Phạm Chí Thỉnh Vấn nói: “Có bà la môn hỏi Phật tạo nghiệp ǵ đời trước được thân đủ mọi tướng hảo. Phật mỗi mỗi đáp do nghiệp lực ǵ đời trước, được quả như vậy”. Lược kể như sau: Hỏi: Làm sao được thân Kim Cang bất hoại? Đáp: Do đời trước xa ĺa nghiệp sát hại hữu t́nh. Hỏi: Làm sao được tướng có màng mỏng giữa các ngón tay? Đáp: Do đời trước xa ĺa nghiệp trộm cắp của người. Hỏi: Làm sao đạt được đầy đủ sắc lực, các căn viên măn? Đáp: Do đời trước xa ĺa dục nhiễm nam nữ. Hỏi: Làm sao đạt được tướng lưỡi dài rộng che hết mặt? Đáp: Do đời trước xa ĺa lời dối trá gạt người. Hỏi: Làm sao được tướng oai nghi từ tường như sư tử đi? Đáp: Do đời trước xa ĺa các chỗ rượu chè buông lung. Hỏi: Làm sao đạt được vi diệu tướng hảo trang nghiêm thân này? Đáp: Do đời trước xa ĺa các thứ ca múa phô sắc. Hỏi: Làm sao đạt được hương thơm thượng diệu tỏa nơi thân? Đáp: Do đời trước xa ĺa các món trang sức, hương, hoa, anh lạc. Hỏi: Làm sao đạt được ṭa kim cang thắng diệu? Đáp: Do đời trước xa ĺa các thứ giường kiêu xa, cao rộng. Hỏi: Làm sao đạt được tướng bốn mươi răng trắng sạch đều đặn? Đáp: Do đời trước xa ĺa các bữa ăn phi thời. Hỏi: Làm sao đạt được nhục kế viên măn trên đỉnh? Đáp: Do đời trước nơi chốn đáng cung kính, năm vóc sát đất, không chút mạn tâm, chí thành đỉnh lễ. Bấy giờ, bà la môn thấy Phật nói nhân quả không sai dối, liền bạch rằng: “Phúc này gọi là ǵ? Làm sao để thọ tŕ?” Phật đáp: “Đây gọi là bát chi tịnh giới. Nếu có thể một ngày một đêm hoặc thường theo chư Tăng thọ tŕ, được quả như vậy”. 12. Duyên thành Phật đạo Nếu muốn mau thành Phật đạo, không thể không tŕ. Kinh A Hàm nói: “Tŕ Bát Trai được hết lậu hoặc, vào thành Niết Bàn”. Lại nói: “Muốn thành Thanh Văn, Duyên Giác, Phật thừa đều được như nguyện”. Long Vương Kệ Duyên trong kinh Tạp Bảo Tạng nói: “Phật tại Vương Xá thành, Đề Bà Đạt Đa đến chỗ Phật, dùng lời ác hủy báng. A Nan nghe thấy, sanh tâm giận dữ, đuổi Đề Bà Đạt Đa đi. Phật kể lại nhân duyên đời trước: - Xưa tại Ca Thi Quốc, có hai anh em long vương, tên Đại Đạt và Ưu Bà Đại Đạt thường thọ tŕ Bát Trai Giới vào các ngày trai, do quốc vương hay phạm giới sát, khuyên măi không thay đổi, nên bỏ đi nơi khác, gặp ác tiểu long. Tiểu long biết ḿnh không bằng, sanh ḷng ghen ghét, mắng nhiếc. Ưu Bà Đạt Đại muốn diệt tiểu long, Đại Đạt khuyên ngăn, trở về chốn cũ. Tam long đó chính là Như Lai, A Nan và Đề Bà Đạt Đa”. C. Lược thích danh nghĩa Bát Quan Trai Giới trong các kinh hoặc gọi là Bát Phần Trai Giới, hoặc Bát Giới Trai, hoặc Bát Chi Tịnh Giới, hoặc Bát Chi Trai Pháp, hoặc gọi tắt Bát Giới. Tên tuy có khác, nhưng thực đồng là một. Theo Câu Xá Luận, một là sát sanh; hai không cho mà lấy; ba phi phạm hạnh (khác với tà dâm trong Ngũ Giới); bốn là hư dối; năm là uống rượu; sáu là trang sức hương hoa, đờn ca, múa hát, cố ư xem nghe; bảy là nằm ngồi giường cao rộng kiêu xỉ; tám là ăn phi thời. Ĺa tám phi pháp này gọi là Bát Giới. Giới thứ tám “phi thời thực” là trai pháp nên gọi chung là Bát Trai Pháp. Theo Tát Bà Đa, Thành Thật Luận, Trí Độ Luận phân “thoa xức hương hoa” và “múa hát xem nghe” làm hai giới, tổng cộng chín giới. Tám thứ đầu là giới, thứ cuối là trai, gọi chung là Bát Trai Giới. Nếu phân giải nghĩa của Trai và Giới th́ trong sạch tâm ô nhiễm là Trai (Trai là “ngay ngắn”, ngay lại tâm này, hoặc nói là “trong sạch”, tĩnh nhiếp ư nghĩ. Nhàn thất ở ngoài đời cũng gọi là Trai). Cấm ngăn các lỗi của thân là Giới. Quan có nghĩa do phụng tŕ Trai Giới này đóng được cửa tam ác đạo. Thực (ăn) trong Luật chia làm Thời và Phi Thời. Từ minh tướng xuất hiện cho đến nhật trung (đúng ngọ, mặt trời đứng bóng) là Thời. Từ nhật trung cho đến minh tướng (b́nh minh) xuất hiện là Phi Thời. Thời nên ăn, Phi Thời không nên ăn. Trai chỉ cho thời thực. Thời và Phi Thời nghĩa như thế nào? Luận Tát Bà Đa nói: “Từ sáng sớm đến nhật trung, thế nhân làm việc buôn bán, ăn uống, nên gọi là Thời. Từ ngọ đến giữa đêm, tiệc tùng vui chơi, t́m thú hưởng lạc, tỳ kheo du hành ắt có chỗ phạm, nên gọi Phi Thời”. Lại v́ Phật muốn chúng sanh đoạn trừ nhân lục thú, nên dạy chúng sanh ăn như chư Phật. Sáng sớm là giờ chư Phật ăn, mặt trời hướng Tây là giờ súc sanh ăn, mặt trời lặn là giờ quỷ thần ăn. Tỳ kheo học Phật, ăn lúc nhật trung, đó là nghĩa của Thời. D. Phương pháp thọ tŕ: Nếu thọ từ chư Tăng, ắt có nghi quỹ, nên văn này lược bớt (nghi đó). Như trước mắt không có Tăng, trong Luật Nam Sơn cho phép được tự thệ thọ giới trước Phật. C̣n như thọ dài hay ngắn, hoặc một ngày đêm, hoặc mỗi tháng sáu ngày trai, hoặc mỗi năm ba tháng, hoặc một năm, hoặc tận h́nh thọ, tùy theo chí nguyện hoặc sức mỗi người mà tự quyết định. Thời gian thọ giới nên vào sáng sớm hoặc vào mỗi ngày trai nhật, thọ trước Phật tượng, cho dù tận h́nh thọ cũng chỉ cần thọ một lần, tùy theo ư ḿnh. Một ngày một đêm là do v́ tŕ pháp của giới này từ nhật trung đến sáng sớm minh tướng xuất hiện là viên măn (Nguyên văn: “Tự nhật trung chí lập thần minh tướng xuất hiện, tức vi viên măn”). Nếu trời chưa sáng, đốt đuốc lên ăn, kể như phá trai, phải chú ư điều này. Mỗi tháng sáu ngày trai, Trí Độ Luận nói: “Ngày tám thiên vương sứ giả hạ thế, mười bốn thái tử hạ thế, mười lăm thiên vương tự hạ, quan sát thiện ác chúng sanh. Hai mươi ba, hai mươi chín, ba mươi cũng vậy. Tháng thiếu th́ vào ngày hai mươi tám, hai mươi chín”. Ba tháng trai là tháng Giêng, tháng Năm và tháng Chín, gương nghiệp ở minh giới quay chiếu Nam Châu. Mọi việc thiện ác đều hiện nơi gương, v́ vậy cần phải tu thiện. Theo Dược Sư Kinh, thọ tŕ một năm cho đến tận h́nh thọ là bổn phận của người xuất gia nên làm. E. Khai Già Dị Đồng Đồng một sự việc, hoặc Khai hoặc Già, hoặc khoan, hoặc nghiêm tùy theo mỗi luật. Về vấn đề “thực” trong luật văn sao trích sau đây, phân làm ba loại. Thứ nhất tŕ pháp tối nghiêm, thứ hai ít nghiêm hơn, thứ ba ít nghiêm hơn nữa để giúp người tŕ trai ai cũng có thể hành theo sức kham năng của ḿnh. C̣n như bảy giới kia, pháp Khai Già nên nghiên cứu theo Luật, nơi văn này lược bớt không đề cập đến. 1) Khai già thứ nhất: Tăng Kỳ Luật: “Nơi chánh trung (chánh ngọ) gọi là thời phi thời, nếu ăn cũng bị tội nhẹ. Thời quá trong một nháy mắt, một cọng tóc, ăn là chánh phạm”. Chánh trung c̣n phạm, v́ vậy phải ăn trước nhật trung. Thực thời trong kinh thường là Th́n - Tỵ. Cổ đức giữ Măo trai. Giữ trai như vậy là điều cấp bách, đó gọi là “thời thực”. Như Sự Sao đối với các thứ đậu, cốc, lạc (bơ), bánh, quả, cơm, rau, hay nước gạo (cơm), nước bột, Thánh Giáo cho phép dùng nên gọi là “thời thực”, vào phi thời không được dùng bừa. C̣n như nước trong của hoa trái cùng mật, và các vị thuốc mặn, đắng, cay, ngọt không phải thức ăn, như hồ thục, hoàng kỳ, ba loại này không phải thời thực. Nếu có bệnh ḥa với nước, phi thời phải tác pháp mới được dùng. Nội Pháp Truyện nói: “Trong răng c̣n dính đồ ăn, nơi lưỡi c̣n vị nồng, không dùng nước trong súc miệng, nếu nước bọt tiết ra phải nhổ đi, để quá thời là phạm phi thời”. 2) Khai già thứ nh́: Tỳ Ni Quan Yếu nói: “Nếu có người bệnh nôn thuốc trở ra, khi cháo nấu chín đă quá nhật trung, nên nấu lúa tẻ không cho vỡ vỏ, lấy nước mà uống. Nếu ợ ra nơi cổ, nuốt lại không phạm”. Sự Sao nói: “Tăng Kỳ cho dùng nước các thứ cốc, đậu, gạo, không được cho vỡ đầu”. Tư Tŕ Thích giải: “Các loại đậu đầu không vỡ. Nếu vỡ, phi thời không được uống”. 3) Khai già thứ ba: Ngũ Phần ghi: “Khi làm thạch mật giă gạo bỏ vỏ. Bản Thảo nói xứ Tây Qua dùng nước sữa ḅ, bột gạo ḥa với đường rang luyện làm thành thạch mật. Phật dạy thạch mật được phép dùng phi thời, tác pháp nên vậy”. Căn Bản Yết Ma nói: “Tây Quốc làm đường đều để mạt gạo, như làm thạch mật để sữa và dầu. Phật cho phép phi thời được nhai ăn, song phải pḥng thô tướng để trưởng đạo tư thân”. Lời tựa Tỳ Ni ghi: “Bệnh dùng thuốc, sau giờ Ngọ tâm muộn, Phật khiến uống nước bông lúa rang, song vẫn không bớt. Phật cho dùng nước măng, bệnh vẫn không dứt. Bệnh nếu không khỏi, Phật cho đến chỗ kín đáo dùng cháo”. Căn Bản Ni Đà Na dạy: “Bí Sô có bệnh được dùng nước ḥa bột ăn phi thời để trị bệnh”. Lại Phật dạy: Người bệnh cho uống bột hoặc đặc hoặc viên, tùy ư mà uống, nhưng cần phải tác pháp. 4) Khai già kết luận: Phật ngôn: “Phàm có việc cần, ta cho bệnh nhân được phép phi thời. Nếu bệnh khỏi rồi, không được dùng nữa” (xem Căn Bản Ni Đà Na). Như Thích ghi: “Những việc này đều do Phật đại bi, thương xót đệ tử bệnh nặng, tùy bệnh cho thuốc, cho phép được dùng, nên nếu chẳng phải bệnh chí mạng, quyết không nên nhân chút bệnh hoạn, lợi thánh ư, như vậy không khỏi đă phạm lỗi phi thời, lại thêm tội dối Phật trái phép”. Xem như Đông Lâm Huệ Viễn Đại Sư ở Lô Sơn, bệnh ngủ mới dậy, đệ tử dâng bát mật lên, Ngài cản lại, bảo xem Luật có cho phép không? Bởi ngoại trừ bệnh ra, đều không được phép dùng. Ngài quả là mô phạm cho hàng hậu nhân tŕ giới. F. Giải đáp nghi vấn: Việc thọ tŕ Bát Quan Trai Giới như trên đă thuật, c̣n như lư do tất yếu phải thọ tŕ, nếu không hiểu biết rơ ràng, vẫn dễ bị ngoại duyên lôi kéo, nên sau khi thọ tŕ khó giữ được tâm không lui sụt. V́ vậy, nơi các điểm dễ sanh hoài nghi, phương tiện lập nên sáu điều vấn đáp để giải thích cho rơ. 1. Nghi vấn một: Hỏi: Tất cả luật văn đều do Phật dạy, vậy sao đồng một sự việc, hoặc Khai hoặc Già, mỗi luật có khác? Chỉ e trải qua nhiều đời, sự truyền thọ từ người này qua người khác, chư Tăng khó tránh được thiên ư nên chưa chắc đă hoàn toàn phù hợp Phật ư! Đáp: Từ kim khẩu tuyên thuyết, Ưu Ba Ly tụng lời dạy của Như Lai vừa đủ 80 lời, gọi là Bát Thập Tụng Luật, từ Ca Diếp đảnh thọ truyền đến Ưu Bà Quật Đa khoảng hơn trăm mười năm, chưa từng khác nghĩa. Đến vua A Dục hội Tăng kiết tập, người nào cũng dẫn lời thầy của họ, có khác, có đồng, nên phân làm hai bộ Tăng Kỳ và Thượng Tọa. Sau đó, khoảng hai trăm năm, lại chia ra làm mười tám bộ, nhưng chỉ có bốn bộ truyền vào xứ Chấn Đán (Trung Quốc). Trong đó, khinh, trọng, khai, già tuy có bất đồng, nhưng đều từ Phật nói ra. Phật cũng từng tuyên đoán bằng bài kệ: “Mười tám cùng nhị bổn, tất từ Đại Thừa ra, không thị cũng không phi, nơi vị lai phát sanh”. Kệ này làm chứng không c̣n hoài nghi ǵ nữa. Do căn tánh chúng sanh thích dục, mỗi người mỗi khác, Như Lai tùy nghi thuyết pháp, phổ ứng quần cơ, giúp cho ai cũng thọ tŕ được, và thấm nhuần pháp ích. Như thầy thuốc theo bệnh cho thuốc, há lại có thể chỉ dùng một phương thôi sao? Người sau ai theo thầy nấy do thấy biết không rộng. Mỗi người chấp theo một lời, song chắc chắn vô nghi đều do từ kim khẩu Phật tuyên thuyết. 2. Nghi vấn hai: Hỏi: Công đức tŕ trai chắc chắn như vậy, song chỉ một ngày một đêm mà đạt được đủ mọi sự phúc báo như trên đă nói, thật ngoài sức tưởng tượng của tâm lượng kẻ phàm phu, nên thật khó sanh tín tâm. Đáp: Kinh nói: “Chúng sanh nghiệp lực không thể nghĩ bàn, quả báo cũng không thể nghĩ bàn”. Chúng ta đương nhiên chỉ có thể từ tín mới vào được thâm nghĩa này. Trí phần của chúng ta không thể hiểu được, nhưng theo công dụng giới mà nói, khi thọ giới đem thiện pháp này nạp vào thân tâm, do tâm nghiệp lực kết thành giới thể, khởi đại công dụng dẫn thành hậu tập. Nơi các điều lỗi có thể nhớ giới, có thể tŕ nên có thể pḥng được. Tâm vô biên nên giới cũng vô biên. Tâm vô tận nên giới cũng vô tận. Như thọ một giới bất dâm, liền nơi tận hư không, biến pháp giới, hiện tại, vị lai, hết thảy nam nữ sanh tâm không xâm phạm cùng sanh công đức giới. Thọ giới bất sát liền nơi tận hư không, biến pháp giới, quá hiện vị lai hết thảy thánh phàm, sanh tâm không năo hại cùng sanh công đức giới. Các giới khác cũng vậy. Mỗi một giới lượng như pháp giới, nên tŕ một giới phúc đồng hư không. Kinh nói: “Tŕ giới một ngày đêm công đức không cùng tận”. Do nhân như vậy được quả như vậy. Sự đă phải đến vậy, lư tất đương nhiên, suy rộng ra, một ngày đêm rồi lại một ngày đêm, ắt một tức một của nhiều. Vậy trí giả phải cố gắng. 3. Nghi vấn ba: Hỏi: Bảy giới đầu trong Bát Giới không có ǵ để thắc mắc, chỉ có giới thứ tám “không ăn quá ngọ”. Ngày nay sắc lực chúng sanh không như cổ nhân, nếu không suy xét cẩn thận, vội vă hành động, chỉ e chưa kịp được phúc, thân đă bị hại. Hơn nữa, Phật quở ngoại đạo nhịn ăn, sao riêng giới này lại không bị chê? Đáp: Kinh Bảo Tích nói: “Bồ Tát nếu tư duy như vầy: pháp này sâu xa, pháp kia không sâu, pháp này là tịnh, pháp kia không tịnh, pháp này nên làm, pháp kia không nên, gọi đó là Tăng Thượng Mạn”. Chúng sanh do ăn mà sống, bị ăn uống làm phiền, không sao rời được, nên đến lui trong lục đạo. Ngă Phật thương xót người si mê, dạy họ huân tu bằng trai pháp, dần dà thú hướng đến giải thoát, ước định quá ngọ không ăn. Đó chính là Phật xử Trung Đạo, không rơi vào Nhị Biên, chẳng giống phàm phu chịu khổ bởi ḷng tham ăn uống vô độ, cũng khác ngoại đạo do mê muội chịu đói vô ích. Kinh Tăng Nhất A Hàm nói: “Ăn uống không tiết chế gây nhiều khổ hoạn, ăn uống thiếu kém không đủ khí lực suy. Nay dùng pháp ăn thời thực, như cán cân không cao thấp”. Phúc duyên nào chúng ta gặp được thắng pháp này, nên phải khởi tâm khó được mà phấn chấn hành tŕ, sao lại khởi tâm cao ngạo, phát sanh tà kiến, phạm vào điều chê trách của Bảo Tích Kinh, gây mối tự hại tự nghi như vậy! Lại từng thấy nhiều Phật tử mỗi khi được người khác khuyên tu tŕ Bát Trai Giới là tự cho ḿnh sức khỏe yếu kém, sợ giảm ăn uống, dinh dưỡng không đủ, lại sợ nửa đêm bụng đói khó chịu đựng nổi, đủ thứ suy tưởng, tự gây nhân duyên chướng đạo! Nào hay ăn chiều chỉ là một thói quen, cứ đến giờ là muốn ăn, chẳng phải đói thật. Nếu đói thật, ắt nửa đêm phải đói gắt gao hơn vào lúc ăn chiều, cho đến sáng hôm sau ắt phải chịu hết nổi. Nhưng sự thật lại chẳng phải vậy. Ban sơ mới tập ăn ngọ, thói quen bụng đói vào giờ ăn chiều vẫn xảy ra. Sau đó, cho đến sáng không c̣n thấy đói. Đủ thấy cái đói chiều qua chỉ là tác dụng của tâm ư, thử tập vài lần sẽ thấy quả đúng như vậy. C̣n sợ dinh dưỡng không đủ, là v́ bảo trọng thân này quá đáng mà tưởng như vậy. Phải biết tham ăn không chán là lư do chính yếu đưa tới bệnh hoạn. Nếu bảo do không ăn chiều mà bệnh, nhất định không phải. Phật là bậc Nhất Thiết Trí, giáo pháp của Ngài để bảo hộ chúng sanh, ĺa khổ được vui và c̣n hơn nữa, tuyệt đối có lợi, vô hại. Phật là bậc đại từ đại bi, coi chúng sanh như con cái, nên thương xót, chăm lo không hở mảy may. Hễ có bệnh đều khai mở cho phép như đă tŕnh bày, há lại không chu đáo bằng chúng ta đang lo sao? Nếu thường nghĩ như vậy là tăng thượng mạn như trong kinh Bảo Tích đă chê trách. Nguyện cùng mọi người, nơi lời Phật sanh tín, không c̣n hoài nghi! 4. Nghi vấn bốn: Hỏi: Bát Giới vốn chế cho người tại gia, chẳng qua thông với giới của Tăng chúng xuất gia, đâu phải hết thảy mọi người đều phải thọ tŕ. Nay chư Tăng phần đông không thọ giới này, lại khuyên người phổ tŕ, nghĩa đó thế nào? Đáp: Kiên Lao La Hán có bài kệ: “Sanh tử không đoạn tuyệt, do ưa nếm các vị, nuôi oán vào mộ phần, phải chịu bao tân khổ”. Đủ thấy ăn uống, kiêu xỉ, phóng dật là nhân trói buộc sanh tử. Phật chế tŕ trai pháp có công năng “tiềm di mặc hóa” (đổi ngầm thay dần), tự ĺa được khổ tham thực dục hồi nào không hay. Chúng sanh vốn đồng một bệnh nên cần cùng uống thuốc này. Đó là ư khuyên nên phụng tŕ giới này. C̣n như hiện thời chư Tăng hoặc cũng có người không để tâm đến điều này, đó chỉ là do nơi mỗi người hoặc xét về nhân, hoặc xét về trí mà đặt nặng các pháp khác nhau. Ngă Phật khi c̣n tại thế, hàng đại đệ tử đă chứng A La Hán, mỗi người c̣n có riêng mỗi túc tập, huống hồ phàm phu Tăng ngày nay làm sao hành tŕ nhất chí được. Tŕ trai là pháp của ba đời chư Phật cùng hành. Nguyện người trí giả giữ lời giáo huấn, y pháp bất y nhân, mà nỗ lực phụng hành. 5. Nghi vấn năm: Hỏi: Người xuất gia tŕ Sa Di Giới và Cụ Túc Giới tất bao quát Bát Giới bên trong, lẽ ra đă được hết mọi công đức có được của Bát Trai Giới, cớ sao lại phải tái thọ, há chẳng phải là làm chuyện “giường nặng thêm ván” sao? Nay lại bảo tái thọ để công đức tăng trưởng, nghĩa đó thế nào? Đáp: Điều này phân làm ba bậc: - Thứ nhất: Theo nghĩa tác pháp thọ giới, khi nạp thiện pháp này vào trong Tạng Thức người thọ, khiến kết thành giới thể, song mỗi người tâm có sáng tỏ, mê mờ, học có tinh, thô, chưa hẳn một lần có thể thâm nhập được trọn vẹn. V́ vậy, Phật cho phép tái thọ. Tư Tŕ nói: “Thọ lại có ư giúp hành giả thẩm xét lại giới đă thọ, để cầu tăng trưởng và thù thắng”. Đó là ư nghĩa tái thọ. Người xuất gia tuy đă hành tŕ giới tướng của Bát Giới nhưng trước kia nếu chưa chính thọ th́ không ngại ǵ tái thọ để được thêm một phen cảnh sách, chuyển thành thượng phẩm (Kinh nói: “Giới là duyên cảnh ư”). Chi Phạm nói: “Thọ lần đầu chỉ phát trung hay hạ phẩm, Phật cho phép thọ lại để tăng trưởng, chuyển thành thượng phẩm”. Đó là ư nghĩa tăng thượng công đức. - Thứ hai: Người xuất gia nếu tái thọ Bát Giới theo kinh Dược Sư dạy, chỉ cần một năm hoặc ba tháng, trong khoảng thời gian ngắn này được đại lợi ích. Đó là nghĩa tăng thượng công đức. - Thứ ba: Nếu không đúng pháp thọ Bát Giới, quyết không được các công ích của Bát Trai Giới như trong kinh nói, cho dẫu tŕ Cụ Túc Giới, luận theo công đức tŕ giới cũng chỉ đủ đời sau sanh Thiên. Nếu y pháp tái thọ, ắt được lợi ích có đại Bồ Tát tiếp dẫn văng sanh. Đây là ư nghĩa tăng trưởng công đức. 6. Nghi vấn sáu: Hỏi: Ba giới sau cùng của Bát Giới chỉ là việc nhỏ, không làm hại người, cần ǵ Phật phải răn cấm? Cho dù không phạm các điều đó, cũng chỉ là thiện nhỏ nhặt, đâu thể xếp cùng giới Sát, Đạo, Dâm? Đáp: Ba giới sau có thể nhiếp năm trần (Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc), sự tuy nhỏ nhưng đủ ngũ dục. Cái hại của ngũ dục ban đầu nhỏ sau thành to, như chỉ đốm lửa nhỏ đốt sạch cánh đồng, nước từng giọt không ngừng đủ thành sông lớn. Lửa sân khuể và nước tham ái cũng vậy, trị chúng phải ngay từ lúc ban sơ c̣n yếu, ắt dụng công ít mà dễ được hiệu quả. Nếu đợi lửa, nước đă thịnh, tất không c̣n kịp. Cổ đức nói: “Không làm cái nhỏ, ắt tổn sức lớn”. Phật v́ pḥng trừ cái nhỏ, ngăn cái dần dà (“pḥng vi đỗ tiệm”), nên xếp những thứ này vào Giới. Thế nên người chân thật biện đạo ngay những việc nhỏ trong đời sống hằng ngày đều dụng công khắc trị. Tuy phạm ác nhỏ cũng vẫn sợ sệt, phải chặn đứng nguồn ác thô trọng. Nếu ngay đến ác nhỏ c̣n không chặn được, nói ǵ đến sự lớn lao. Nếu nói suông chỉ là hư luận, lượm lặt cái thừa của người. Phải biết tŕ hay phạm, công hay lỗi đều do nơi tự tâm, nào phải do sự tướng lớn nhỏ mà luận được sao? Phật dạy: “Một chút thiện nhỏ, tuy là hữu vi, song trợ Bồ Đề, cho đến thành Phật không dám hủy hoại”. Lại Bảo Vũ Kinh nói: “Uống nhiều độc dược, uống ít độc dược, cả hai cũng đều làm người chết. Nếu hay phạm tội, hoặc phạm tội nhỏ cũng đều sinh ác thú”. Thế Nho cũng có câu: “Đừng cho thiện nhỏ mà không làm, đừng ngỡ ác nhỏ mà cứ làm”. Phật chế ba giới này, v́ chê trách ngũ dục, để chặn nguồn ác. Ư chỉ thâm sâu, không ngờ ǵ nữa! G. Phật chỉ bày nỗi họa hoạn của người xuất gia không tŕ Bát Giới Kinh Xá Lợi Phất Vấn nói: “Phật dạy: - Người ăn phi thời là người phá giới, là kẻ phạm trộm cắp. Cho phi thời cũng là phá giới, cũng phạm trộm cắp. Trộm của đàn việt, chẳng phải ư thí chủ, ắt thí chủ vô phúc v́ giống như mất của vậy”. Lại nói: “Trộm và nhận của trộm, dù một nắm, một bó, hột muối, chút dầu, chết đọa tiêu trường địa ngục (đốt ruột), nuốt ḥn sắt nóng, từ địa ngục ra, sinh làm heo chó, ăn toàn đồ dơ, lại sinh ác điểu, bị người chán ghét tiếng kêu của chúng, sau sinh ngạ quỷ lai văng nơi chốn già lam, ẩn nơi nhà xí, ăn toàn phẩn uế đến cả ngàn vạn năm, sinh trở lại làm người, nghèo nàn hạ tiện, có nói điều ǵ cũng chẳng ai tin. Trộm của một người tội hăy c̣n nhẹ, tội cắt đoạt phúc điền của nhiều người phải chịu quả đoạn xuất thế đạo”.
Tiểu sử Đại Lăo Pháp Sư Thích Diễn Bồi (theo Huệ Quang Từ Điển)
Lăo Pháp Sư người Giang Đô, tỉnh Giang Tô, họ Lư, hiệu Đế Quán. Ngài sinh năm 1912. Năm 12 tuổi xuất gia với Ḥa Thượng Thường Thiên ở am Phúc Điền, Lâm Trạch, Cao Bưu. Năm 18 tuổi, Sư thọ Cụ Túc Giới tại viện Phúc Thọ ở Bảo Ứng.
Lúc đầu, Sư đến Quán Tông Giảng Tự học Thiên Thai Giáo Quán, kế đến các viện Mân Nam, Giác Tân, Hán Tạng nghiên cứu ư chỉ hai tông Tánh, Tướng và học Trung Quán truyền từ Tây Tạng. Sư đă từng thân cận các cao tăng đương thời như Đế Nhàn, Thái Hư, Từ Hàng, Ấn Thuận, cũng từng giảng dạy tại Hoa Tây Phật Học Viện, Liên Tông Học Viện, Hạ Môn Đại Giác Giảng Xá v.v… Năm 1949, Pháp Sư đến Hương Cảng, hợp sức biên tập và ấn hành bộ Thái Hư Đại Sư Toàn Tập. Sau đó, qua Đài Loan làm công tác trứ thuật hoằng pháp, học Nhật ngữ và các học thuyết của các học giả Nhật Bản. Sư từng sang hoằng pháp ở Thái Lan, Việt Nam, Cao Miên, Lào, Tân Gia Ba, Mă Lai, Phi Luật Tân và các nước vùng Bắc Mỹ.
Sư lần lượt giữ các chức vụ Chủ Tịch Hội Phật Giáo Trung Quốc, trụ tŕ các chùa Thiện Đạo, Huyền Trang, Linh Phong Bát Nhă Đường ở Tân Gia Ba, Diệu Pháp Tinh Xá ở Việt Nam… và viện trưởng viện Thái Hư Phật Học, xử lư thường vụ Từ Hàng Trung Học. Sư có trứ tác và dịch thuật rất nhiều, trong đó phần trứ tác được đăng rải rác trong các đặc san Phật Giáo, phần dịch thuật được gom góp thành Đế Quán Toàn Tập…
Lược Truyện Từ Hàng Trưởng Lăo (1895-1954) (theo Huệ Quang Từ Điển)
Đại Lăo Luật Sư Từ Hàng người huyện Kiến Ninh, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc, họ Ngải, tự Ngạn Tài, hiệu Kế Vinh.
Ngài mồ côi cha mẹ từ thuở nhỏ. Năm 17 tuổi, xuất gia với Ḥa Thượng Tự Trung, năm sau thọ giới Cụ Túc tại chùa Năng Nhân ở Cửu Giang. Sư từng tham lễ khắp các đạo tràng như Cửu Hoa, Thiên Thai, Phổ Đà… Sư học Thiền tại chùa Thiên Ninh ở Thường Châu, chùa Cao Mân ở Dương Châu, theo học với Pháp Sư Đế Nhàn, lại học Tịnh Độ với Pháp Sư Độ Ách. Năm 1927, Sư đến Phật Học Viện Mân Nam, gần gũi Thái Hư Đại Sư, được Ngài hun đúc, từ có có chí cách tân Phật Giáo. Ngoài ra, Sư c̣n gần gũi Pháp Sư Viên Anh. Sư từng 2 lần nhập thất để đọc Đại Tạng trong sáu năm. Năm 1929, Sư chủ tŕ chùa Nghinh Giang ở An Khánh, hết ḷng với sự nghiệp hoằng pháp, đề xướng cải cách Tăng Già, chỉnh đốn Phật Giáo.
Sư cũng từng sáng lập hội Phật Học Trung Quốc tại thủ đô Rangoon của Miến Điện (Myanmar). Năm 1940 |