MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1. PHẬT GIÁO DƯỚI THỜI CÁC CHÚA
NGUYỄN
1.1 Khái quát về Phật giáo Việt Nam
1.2 Chúa Tiên Nguyễn Hoàng vào trấn thủ xứ Thuận-Quảng
1.3 Các Chúa Nguyễn và Phật giáo Đàng Trong
1.3.1 Các Chúa Nguyễn đối với Phật giáo Đàng Trong
1.3.2 Các thiền phái Phật giáo ở Đàng Trong
CHƯƠNG 2. THIỀN SƯ
MINH HẢI VÀ TỔ Đ̀NH CHÚC THÁNH
TẠI
HỘI AN - QUẢNG NAM
2.1 Vài nét về phố cổ Hội An
2.2 Cuộc đời và hành trạng của Thiền sư Minh Hải
2.3 Quá tŕnh khai sáng và trùng tu Tổ đ́nh Chúc Thánh
2.3.1 Địa thế, phong thủy ngôi Tổ đ́nh
2.3.2 Ư nghĩa tên ngôi Tổ đ́nh
2.3.3 Quá tŕnh khai sáng và trùng tu.
2.3.4 H́nh thái kiến trúc, liễn đối, bia, tháp
2.3.5 Các kinh sách đang được bảo tồn
CHƯƠNG 3.
SỰ TRUYỀN THỪA CỦA THIỀN PHÁI MINH HẢI TẠI
TỔ Đ̀NH CHÚC
THÁNH(QUẢNG NAM)VÀ TẠI B̀NH ĐỊNH
3.1 Kệ phái truyền thừa tại Tổ đ́nh Chúc Thánh và Quảng Nam.
3.1.1 Bảng liệt kê các vị Tổ sư trú tŕ Tổ
đ́nh Chúc Thánh
3.1.2 Vài nét về Chư vị Ḥa Thượng trú tŕ
3.1.3 Phổ hệ truyền thừa tại Quảng Nam
3.2 Vài nét về kệ phái truyền thừa tại B́nh Định
3.2.1 Phổ hệ truyền thừa các đời trú tŕ tại B́nh Định
3.2.2 Vài nét về chư vị Ḥa Thượng hoằng hóa tại
B́nh Định
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO

MỞ ĐẦU
1. LƯ DO
CHỌN ĐỀ TÀI.
Phật giáo du nhập Việt Nam rất sớm, từ những năm trước
Tây lịch. Hơn hai ngàn năm có mặt trên đất nước
Việt Nam, Phật giáo luôn gắn bó với dân tộc. Điều đáng chú ư là hễ
người Việt tiến đến đâu th́ Phật giáo liền có mặt tại đó, như bóng
theo h́nh. Nơi nào có Phật
giáo th́ nơi đó có chùa tháp, tự viện. V́ vậy,
trong hệ thống những di tích lịch sử văn hóa Việt Nam ngày nay th́ trong đó
các chùa tháp Phật giáo cũng đóng một vai tṛ rất quan trọng. Chùa
Chúc Thánh tại Hội An (Quảng Nam) là một
trong những ngôi cổ tự có giá trị như vậy. Nơi đây không
chỉ những là một di tích mang đậm tính văn hóa nghệ thuật mà c̣n là nơi phát
xuất riêng một chi phái Thiền Lâm Tế truyền bá Phật giáo khắp cả xứ Đàng
Trong.
Cách đây hơn ba trăm năm, thiền sư Minh Hải cùng phái đoàn từ Trung Quốc
theo thuyền buôn cập vào thương cảng Hội An. Sau khi dự đại Giới đàn tại Huế
xong, Ngài trở lại Hội An chấn tích khai sơn Tổ đ́nh Chúc Thánh và xuất kệ
truyền thừa. Từ đó về sau Tổ Tổ tương truyền và các đệ tử được xuất thân từ
bài kệ này đều được mệnh danh là con cháu " Ḍng
Môn Phái Lâm Tế Chúc Thánh".
Chùa Chúc Thánh lưu trữ rất nhiều văn bia, liễn
đối bằng chữ Hán. Các liễn đối th́ mang đậm tính văn thơ nhà Phật, chúc tụng
cho thế giới được ḥa b́nh, nhân dân an cư lạc nghiệp và nội dung những văn
bia chủ yếu ghi lại những đợt trùng tu ngôi chùa của các vị Tổ sư, các
phương danh đóng góp cúng dường xây dựng chùa. Đó cũng
là điều lư thú khi nghiên cứu về ngôi cổ tự này và cũng là cơ hội ghi chép
ra đây bằng nguyên văn các liễn đôïi và phiên âm, dịch nghĩa để sau này có
ai muốn tiếp tục nghiên cứu cũng sẽ thuận lợi hơn.
Tinh thần hành đạo
của chư Tổ cũng tựa như” Vết nhạn lưng trời “,
làm rồi lại coi như không làm, thêm vào đó là sự tàn phá của thời gian. V́
vậy, việc t́m kiếm lại hành trạng và cuộc đời của chư
Tổ là một điều hết sức bị hạn chế. Luận văn này là kết
quả của việc t́m kiếm bị hạn chế đó.
Nghiên cứu về lịch
sử Phật giáo Quảng Nam nói chung và Thiền phái Lâm Tế Chúc Thánh nói riêng
là một đề tài khá mới mẻ.
Hơn nữa, hiện nay chưa có một tập sách nào nói về ngôi
Tổø đ́nh này một cách đầy đủ. Được sự đồng ư của Hội đồng điều hành
Học Viện và giáo sư hướng dẫn Lê Cung, chúng tôi chọn “
Thiền sư Minh Hải và Tổ đ́nh Chúc Thánh" làm đề tài cho luận văn tốt
nghiệp. Ngoài ra, qua luận văn này, người viết c̣n gởi gắm một nỗi niềm hoài
vọng của một để tử đă chiûu biết bao ân đức tác thành, giáo dưỡng của Thầy
Tổ và đă để lại dưới mái hiên cổ tự này biết bao kỷ niệm buồn vui từ thuở ấu
thơ hành điệu. Luận văn này đương nhiên sẽ không tránh khỏi những vấn đề sai
sót, người viết xin chân thành tiếp thu những ư
kiến phê b́nh từ những bậc thiện tri thức để đề tài này ngày càng được hoàn
hảo hơn.
2. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ.
Trước đây đă có những công tŕnh nghiên cứu ít nhiều liên quan đến thiền sư
Minh Hải và Tổ đ́nh Chúc Thánh, cụ thể như: “Lí lịch di tích” (chùa Chúc
Thánh) của Ban quản lư di tích Hội An, số 01/ĐK - BQL; "Về niên đại chùa
Chúc Thánh" của Đỗ Bang (Những phát hiện mới về khảo cổ học, năm 1987). Viện
khảo cổ học Ủy ban khoa học xă hội Việt Nam; "Việt Nam Phật giáo sử luận"
(tập 2) của Nguyễn Lang. Nxb. Văn học HN, 1992; "Lịch sử Phật giáo Việt Nam"
của Chơn Phát (giáo tŕnh lưu hành nội bộ),1998; "Lược khảo Phật giáo sử
Việt Nam" của Vân Thanh,1984;"Việt Nam Phật giáo sử lược" của Mật Thể. Nxb.
Thuận Hóa- Huế, 1996; "Lịch sử Phật giáo Việt Nam" của Thích Minh Tuệ.
Thành hội Phật giáo TP Hồ Chí Minh ấn hành, 1993.
Các công tŕnh nghiên cứu kể trên là những tư liệu quí giá để
người viết tham khảo, so sánh, đối chiếu. Nhưng những tư
liệu ấy chỉ nói một cách khái quát, hoặc có tư liệu có đi vào chi tiết nhưng
chỉ được một mặt, hoặc Thiền sư Minh Hải hoặc Tổ đ́nh Chúc Thánh, chứ chưa
có công tŕnh nào đầy đủ cả hai. Đặc biệt trong cuốn " Lịch sử Phật giáo
Đàng Trong" của Nguyễn Hiến Đức. Nxb. TP Hồ Chí Minh th́ có đề cập đến cả
Thiền sư Minh Hải và Tổ đ́nh Chúc Thánh. Song, nó cũng
chưa phải là tư liệu đầy đủ và đáng được tin cậy.
3. PHẠM VI NGHIÊN CỨU.
Về mặt thời gian, đề tài đặt trọng tâm bắt đầu từ thập niên 70 của thế kỷ
XVII, (tức thời điểm thiền sư Minh Hải bắt đầu đặt chân đến Hội An), trong
đó tŕnh bày suốt chuỗi dài truyền thừa của Pháp phái Minh Hải, từ Lâm Tế
đời 34 đến đời 42 ngày nay.
Về mặt không gian, đề tài tập trung nghiên cứu hành trạng của thiền sư Minh
Hải tại Tổ đ́nh Chúc Thánh, sau đó tŕnh bày sự truyền thừa của Pháp phái
Minh Hải tại Hội An(Quảng Nam) và tỉnh B́nh Định.
4. NGUỒN TƯ LIỆU, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU.
Nguồn tư liệu chủ yếu tại Tổ đ́nh Chúc Thánh và những ngôi chùa khác tại Hội
An, bao gồm các sách sử có ít nhiều liên quan đến
đề tài, các chữ Hán khắc trên bia đá, trên gỗ, trên giấy và trên sự truyền
miệng.
Phương pháp nghiên cứu là sưu tầm tất cả các nguồn tư
liệu gồm tư liệu thành văn và tư liệu điền dă.
Trên cơ sở đối chiếu các nguồn tư liệu bằng vận dụng phương pháp lịch sử và
phương pháp logic, đi từ nguyên nhân, bối cảnh lịch sử đến quá tŕnh kết
quả. Ngoài ra, luận văn c̣n ghi nguyên bản chữ Hán các liễn đối
và phiên âm, dịch ra tiếng Việt.
5. ĐÓNG GÓP ĐỀ TÀI.
Một là, đề tài là một công tŕnh nghiên cứu tương đối đầy đủ về Pháp phái
Lâm Tế Chúc Thánh kể từ khi Tổ sư Minh Hải đặt chân đến xây nên Tổ đ́nh Chúc
Thánh và hoằng hóa tại đây, góp phần bổ
sung thêm những khoảng trống mỗi khi t́m hiểu về lịch sử Phật giáo Quảng
Nam.
Hai là, nhằm để có sự nhất quán về niên đại khai sơn Tổ đ́nh Chúc Thánh cũng
như hành trạng của Thiền sư Minh Hải, để tránh những nhận thức dị biệt
về ngôi Tổ đ́nh này như trước đây.
Ba là, nội dung đề tài minh họa rơ hơn về phong cảnh kiến trúc ngôi Tổ đ́nh
và dịch nghĩa rơ ràng các liễn đối Hán văn sang Việt văn để những ai muốn
đến thưởng ngoạn ngôi cổ tự này sẽ có cơ hội hiểu thêm về nó một cách ư
nghĩa, sâu sắc hơn.
6. BỐ
CỤC NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI.
Đề tài dài 47 trang, không kể tài liệu tham
khảo, phần phụ lục. Ngoài phần mở đầu (4 trang), kết
luận (2 trang) là ba chương nội dung (41 trang).
Chương 1 : Phật giáo dưới thời các Chúa Nguyễn.
Chương 2 : Thiền sư Minh Hải và Tổ
đ́nh Chúc Thánh tại Hội An (Quảng Nam).
Chương 3 : Sự truyền thừa của thiền phái
Minh Hải tại Tổ đ́nh Chúc Thánh, Quảng Nam và B́nh Định.
Chương 1
Phật
Giáo thời Chúa Nguyễn
1.1. KHÁI
QUÁT VỀ PHẬT GIÁO VIỆT NAM.
Phật giáo truyền vào Việt Nam vào những thế kỷ trước Tây lịch thông qua câu
chuyện Chử Đồng Tử học đạo với nhà sư Phật
Quang trong “Lĩnh Nam Trích Quái.“ Chuyện kể rằng: Chử
Đồng Tử (Là người Việt Nam) cùng thương nhân ra nước ngoài buôn
bán. Đang trên đường đi buôn, Chử Đồng Tử
ghé lại một am nhỏ trên núi Quỳnh Viên ( Cửa Sót) th́ gặp nhà sư Phật
Quang. Sau khi gặp nhà Sư, Chử Đồng Tử
không tiếp tục đi buôn mà ở lại học đạo và sau đó trở lại quê. V́ vậy, Chử
Đồng Tử được coi như là người Phật tử Việt Nam đầu tiên mà chúng ta biết
được tên trong lịch sử ( 7.20 ).
Nhưng Phật giáo thời
kỳ Chử Đồng Tử chắc cũng chỉ là thời kỳ ban sơ. Măi đến thế kỷ thứ
II, III sau Tây lịch, đất nước Việt Nam bước vào giai đoạn mở cửa,
tiếp đón những dân tộc khác. Chính sự mở cửa đó đă tiếp nhận các thương nhân
và thuyền buôn nước ngoài mà các thiền sư Ấn Độ truyền bá đạo Phật đă tháp
tùng theo, như Khâu Đà La, Ma Ha Kỳ Vực... Vào
những thế kỷ đầu Tây lịch này, Phật giáo Việt Nam đă hoàn chỉnh giai đoạn
đầu làm nền tảng cho sự phát triển Phật giáo Việt Nam ở những giai đoạn kế
tiếp ( 7.148, 149, 150 ).
Thời Bắc thuộc lần
thứ 3 ( 603- 939), Phật giáo lại càng phát
triển mạnh hơn. Đăc biệt là Thiền Tôn có thiền phái Tỳ
Ni Đa Lưu Chi và thiền phái Vô Ngôn Thông đă truyền bá đến.
Đất nước Việt Nam trải qua các thời Đinh, Ngô và Tiền Lê, hai thiền phái
trên vẫn cứ tiếp tục tồn tại và phát triển. Đến đời nhà Lư
( 1010- 1225 ), một thiền phái thứ ba từ
Trung Quốc truyền vào Việt Nam là thiền phái Thảo Đường. Lúc bấy giờ cả ba
thiền phái này cùng phát triển mạnh mẽ, đóng góp vào đời sống tâm linh và xă
hội, ghi đậm dấu ấn trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, kiến
trúc, mỹ thuật cho nước Việt. Nhưng thời điểm vàng son nhất của Phật giáo
Việt Nam là đời Trần ( 1225- 1400 ).
Phật giáo đời Trần là thời đại Phật giáo Nhất tôn.
Cả ba thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Đường nhập thành
một, thiền phái duy nhất đời Trần là thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, một thiền
phái Phật giáo thuần túy Việt Nam. Trong thời kỳ này, sự ảnh hưởng
rộng lớn của các vị vua - thiền sư Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông, Tuệ
Trung, Pháp Loa và Huyền Quang đă làm rực rở Phật giáo Việt Nam, tinh thần
vô ngă vị tha của Phật giáo chi phối trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là
nền văn học Việt Nam (10.267).
Từ đó trở về sau, đất nước Việt Nam qua bao thời cuộc thay vua đổi chúa, vận
mệnh đất nước có lúc thịnh lúc suy, mà Phật giáo cũng phải cùng chịu
chung một số phận. Bước sang thời hậu Lê
( 1428-1527 ), Phật giáo bị suy giảm, các vua Lê
luôn đề cao Nho giáo, t́m mọi cách hạ thấp Phật giáo. Bởi v́ học
thuyết Nho giáo mang tính tôn quân, tôi trung không thờ hai vua (trung thần
bất sự nhị quân), vua Lê Thái Tổ dùng trường Quốc Tử Giám để dạy cho
con vua cháu chúa lư thuyết Nho giáo. Năm 1442, nhà vua mở khoa thi tiến sĩ
theo tinh thần Nho giáo để chọn nhân tài giúp nước pḥ vua tại trường Quốc
Tử Giám, khoa thi cho Tăng sĩ chỉ mở tại các sảnh đường, người thi đỗ
được trực tiếp hành đạo, người thi hỏng phải hoàn tục.
Nhà vua và các Nho sĩ ra sức phỉ báng Phật giáo, coi Phật giáo như là vấn đề
cần phải dẹp bỏ. V́ vậy, Phật giáo đă dần dần
biến thái thành một tôn giáo như là tôn giáo chỉ để thờ cúng, cầu nguyện
(10.397).
Trong thời kỳ này, Phật giáo đă suy yếu thật sự, nhưng ảnh hưởng Phật giáo
trước kia vẫn c̣n đọng lại trong tâm tư và
t́nh cảm của người dân Việt. Đặc biệt, tư tưởng Phật
giáo vẫn c̣n thể hiện trong các tác phẩm của giới bác học cũng như dân gian.
Mặc dù lúc này Nho giáo chiếm địa vị ưu thế, nhưng các Nho sĩ vẫn không đủ
sức ổn định xă hội, để rồi từ đó đất nước Việt Nam bị chia rẽ Đàng Ngoài,
Đàng Trong. Đàng Ngoài có vua Lê chúa Trịnh, Đàng Trong
có chúa Nguyễn. Từ khi đất nước bị phân tranh, dân chúng khổ đau,
quân dân luôn đối đầu với cảnh vô thường của khói lửa chiến tranh, lúc bấy
giờ tinh thần vô ngă, vị tha, từ bi và trí tuệ của Phật giáo lại trở nên
những món diệu dược, xoa diệu bao nổi tan tác, biệt ly, là chổ dựa tinh thần
để vua quân giữ nước.
V́ vậy, Phật giáo khởi sắc trở lại ở cả Đàng Trong và
Đàng Ngoài. Nhưng đáng kể nhất là các chúa Nguyễn và Phật giáo Đàng
Trong ( 10. 411 ).
1.2. CHÚA TIÊN NGUYỄN HOÀNG VÀO TRẤN THỦ XỨ THUẬN - QUẢNG.
Chúa Tiên Nguyễn Hoàng là vị chúa làm nên trang sử đầu
tiên cho ḍng họ Nguyễn tại Đàng Trong.
Chúa Tiên Nguyễn Hoàng vào trấn thủ vùng Thuận Hóa vào
năm 1558. Nguyên do vào năm 1529 Bắc Triều của nhà Mạc thất trận, Lê
Huy Ninh lên ngôi khôi phục lại triều đ́nh nhà Hậu Lê qua bao tháng năm bị
nhà Mạc chiếm đoạt. Đến năm 1545, dưới trướng nhà họ Lê có Thái sư Nguyễn
Kim bị nhà Mạc phục độc qua đời, sau đó Trịnh Kiểm ( rễ của Nguyễn Kim) lên
thay thế. Đời vua Lê Anh Tông ( 1557 - 1573), con
của Nguyễn Kim là Nguyễn Uông và Nguyễn Hoàng. Nguyễn
Uông làm chức tả tướng có tài đánh giặc, lại được các tướng mến phục, thái
sư Trịnh Kiểm sợ em vợ tranh giành nên bí mật ám hại Nguyễn Uông.
Nguyễn Hoàng sợ liên lụy đến tính mạng nên xin vào trấn thủ xứ Thuận Hóa và
được vua Lê cử làm Đoan quận công tại xứ này (3.15, 16 ).
Từ khi Đoan quận công Nguyễn Hoàng trấn thủ Thuận Hóa, chăm lo dân chúng
an cư lạc nghiệp. Đến năm 1570, Nguyễn Hoàng trấn
thủ luôn Quảng Nam gọi chung là xứ Thuận -
Quảng.
1.3. CÁC CHÚA NGUYỄN VÀ PHẬT GIÁO ĐÀNG TRONG.
1.3.1 Các chúa
Nguyễn đối với Phật giáo Đàng Trong.
Từ khi Chúa Nguyễn Hoàng vào trấn thủ vùng Thuận Quảng (1558) cho đến khi
nhà Nguyễn thống nhất đất nước, suốt gần hai thế rưỡi, các Chúa Nguyễn
đều là những người sùng mộ Phật giáo, xây dựng tự viện khắp nơi, lấy Phật
giáo làm chỗ dựa tinh thần để an dân trị quốc.
Năm Tân Sửu ( 1601), một hôm Chúa Tiên Nguyễn Hoàng dạo chơi đến xă Hà
Khê ( huyện Hương Trà ) thấy giữa cánh đồng nổi lên một g̣ cao như đầu rồng
quay lại nằm bên sông Hương, Chúa hỏi người địa phương th́ họ nói g̣ này rất
thiêng. Tương truyền, xưa có người đêm thấy bà già áo đỏ quần xanh ngồi trên
đỉnh g̣, nói :" Sẽ có vị chơn Chúa đến xây
chùa, để tụ khí thiêng cho bền long mạch", nói xong, bà già ấy đâu mất.
Nhân đó người ta gọi là g̣ Thiên Mụ. Năm đó Chúa cho xây
chùa nơi này gọi là chùa Thiên Mụ.
Rằm tháng bảy năm Nhâm dần (1602), Chúa đến chùa Thiên
Mụ để làm lễ lạc thành. Khi thuyền qua xă Ân Triêm (huyện Phú Vang ),
Chúa nh́n lên bờ sông thấy có cảnh trí đẹp, nhân đó Chúa dừng thuyền lại để
thưởng ngoạn, thấy có một nền chùa cổ, Chúa cho sửa sang lại và đặt tên là
chùa Sùng Hóa. Năm Đinh Mùi(1607), Chúa lập chùa
Bửu Châu ở Trà Kiệu(Quảng Nam). Năm Kỷ Dậu(1609),
Chúa dựng chùa Kính Thiên ở xă Thuận Trạch, huyện Lệ Thủy (Quảng B́nh)
(3.22).
Năm Ất Tị ( 1665), Chúa Nguyễn Phúc Tần sắc trùng tu chùa Thiên Mụ. Năm Đinh
Mùi (1667), Chúa cho xây chùa Vĩnh Ḥa ở cửa biển Tư Dung.
Lễ khánh thành chùa mở Du Già đại hội bảy ngày đêm.
Trong thời Chúa Nguyễn Phúc Tần có Thiền sư Nguyên Thiều đem thiền phái Lâm
Tế từ Trung Quốc truyền đến và thiền phái Trúc Lâm được phục hưng
( 3.24).
Năm Mậu Th́n (1688), chúa Nghĩa - Nguyễn
Phúc Trăn cho trùng tu chùa Vĩnh Ḥa ở cửa biển Tư Dung. Chúa Nghĩa c̣n nhờ
thiền sư Nguyên Thiều về Trung Hoa thỉnh các cao Tăng, pháp tượng, pháp khí
... sang hoằng hóa xứ Đàng Trong ( 3.27).
Chúa Nguyễn Phúc Chu (1691-1725), khi mới lên ngôi một năm ông đă cho sửa
chùa Mĩ Am ở núi Mĩ Am (nay là núi túy Vân). Ông đă thọ Giới với Ḥa Thượng
Thạch Liêm tại giới đàn chùa Thiền Lâm(5.238).
Năm 1710, Chúa sắc đúc quả chuông nặng 3,285 cân đồng cúng vào chùa Thiên
Mụ, hiện nay vẫn c̣n. Sau đó Chúa cho thỉnh 3 tạng Kinh,
Luật, Luận bên Trung Quốc đem về để ở chùa (10.428).
Đời Chúa Nguyễn Phúc Khoát (1739-1765) lại trùng tu chùa Thiên Mụ thêm nguy
nga, tráng lệ và sai người sang Trung Quốc thỉnh Đại tạng kinh hơn ngàn bộ,
đem về để tại chùa(10.428).
Nói chung, các Chúa Nguyễn đa số đều là những người sùng mộ Phật giáo, xây
chùa, tạo tượng, đúc chuông, trọng đăi các thiền sư ... V́ vậy, các Danh
Tăng từ Trung Quốc sang hoằng hóa rất đông, các thiền phái, thiền lâm cũng
bắt đầu từ đây mà tạo lập. Như Ngài Nguyên Thiều dựng nên Chi Phái Thiền Lâm
Tế tại B́nh Định, Ngài Minh Hải dựng lên chi phái Lâm Tế tại Hội An
(Quảng Nam)... Ngoài ra c̣n có các cao Tăng thuộc
thiền phái Tào Động cũng đến tại xứ Đàng Trong này.
1.3.2 Các thiền phái
Phật giáo ở Đàng Trong.
Trong thời Trịnh - Nguyễn, cả hai xứ Đàng
Trong và Đàng Ngoài Phật giáo đă bắt đầu phục hưng trở lại.
Đàng Ngoài, các chúa Trịnh chủ yếu đặt nặng vấn đề xây
dựng chùa chiền, các tông phái Phật giáo vẫn như cũ không có ǵ mới lạ.
C̣n tại Đàng Trong, như trên đă nói, ngay từ khi Chúa
Nguyễn Hoàng vào Đàng Trong, ông đă nghĩ đến việc xây cất các tự viện Phật
giáo. Suốt chiều dài lịch sử, các Chúa nhà họ
Nguyễn đều lấy Phật giáo làm nơi nương tựa tinh thần cho quân dân.
Đặc biệt, bấy giờ tại Trung Hoa đang có sự chuyển tiếp
giữa hai triều đại Minh - Thanh. V́ vậy, các Cao Tăng Trung Hoa sang
Đàng Trong hoằng hóa rất đông, các Tổ đ́nh hiện nay c̣n lại đa phần do các
Thiền sư Trung Hoa khai sáng. Theo sự ghi nhận chung của các nhà nghiên cứu
lịch sử Phật giáo Việt Nam th́ trong thế kỷ XVII có các Thiền sư Trung Hoa
sang Đàng Trong khai sơn các Tổ đ́nh hoằng hóa Phật Pháp, như:
Ø
Các
Thiền sư thuộc Thiền phái Tào Động gồm có:
- Thiền sư Thạch
Liêm hoằng hóa tại chùa Thiên Mụ và sau ở chùa Thiền Lâm tại Huế.
- Thiền sư Hưng Liên
trú tŕ chùa Tam Thai tại Ngũ Hành Sơn - Non nước (Đà Nẵng).
- Thiền sư Giác
Phong khai sơn chùa Thiên Thọ tại Huế.
Ø
Các Thiền sư thuộc Thiền phái Lâm Tế gồm có:
- Thiền sư Nguyên Thiều khai sơn chùa
Thập Tháp- Di Đà tại B́nh Định, sau ra Thuận Hóa khai sơn chùa Hà Trung,
chùa Quốc Ân và xây tháp Phổ Đồng.
- Thiền sư Minh Hải
(Pháp Bảo) khai sơn chùa Chúc Thánh tại Hội An (Quảng Nam).
- Thiền sư Từ Lâm khai sơn chùa Từ
Lâm tại Huế.
- Thiền sư Minh Hoằng (Tử Dung) khai
sơn chùa Ấn Tôn ( Từ Đàm) tại Huế.
-Thiền
sư Minh Lượng (Nguyệt Ân ) khai sơn chùa Vạn Đức
tại Hội An (Quảng Nam ).
-Thiền sư Tế Viên
khai sơn chùa Hội Tôn tại Phú Yên.
Trên là các thiền sư tiêu biểu được sử sách ghi lại tương đối đầy đủ, c̣n
nhiều thiền sư khác nữa cũng từ Trung Quốc sang, có thể cùng môn phái hoặc
đệ tử các Ngài trên, nhưng v́ chiến tranh các sử liệu đă thất lạc đi rất
nhiều. Như tại chùa Chúc Thánh có tháp Ngài Thiệt Thọ, trên tháp có
ghi lại Ngài cùng quê, cùng họ với Ngài Minh Hải, nhưng không biết hành
trạng của Ngài như thế nào, hay Ngài Đại Dơng(Siêu Căn) chỉ c̣n lại tấm bia
ở chùa Chúc Thánh. Nên lịch sử hành trạng các Ngài như
thế nào th́ chúng ta khó mà biết được.
Ngoài ra, ở thế kỷ XVI, XVII, tại Đàng Trong c̣n có các thiền sư thuộc thiền
phái Trúc Lâm Yên Tử, như các Ngài Viên Cảnh ( Lục Hồ ), Viên Khoan
(Đại Thâm )... Nhưng v́ hoàn cảnh chính trị nên có Ngài ẩn tích mai danh,
lại có Ngài cùng gia nhập vào thiền phái Lâm Tế, Tào Động. Năm 1682, thiền
sư Minh Châu ( Hương Hải ) cùng với khoảng 50 đệ tử ra lại Đàng Ngoài phục
hưng lại thiền phái của ḿnh.
C̣n Thiền phái Lâm Tế, ngoài thiền sư Nguyên Thiều hoằng hóa tại B́nh Định
và Thuận Hóa ra , tại Hội An (Quảng Nam ), thiền sư Minh Hải (Pháp Bảo) lại
chấn tích khai sơn chùa Chúc Thánh, xuất kệ truyền thừa, tiếp nối ḍng Lâm
Tế đời 34. Ḍng Lâm Tế Minh Hải này có 2 nhánh; một tại
Quảng Nam và một tại B́nh Định. Hai nhánh này ngày nay đă phát triển khắp xứ
Đàng Trong và các nước trên thế giới.
Chương 2
Thiền Sư
Minh Hải và Tổ đ́nh Chúc Thánh
tại Hội An - Quảng Nam
2.1. VÀI NÉT VỀ PHỐ CỔ HỘI AN.
Một trong những địa danh nổi tiếng của Quảng Nam là phố cổ Hội
An, đă từng vang bóng một thời vào những thế thế
kỷ XVII - XVIII, mà những h́nh ảnh đó vẫn c̣n lưu lại đến ngày nay gần như
nguyên vẹn. Trong trang đầu tập " Hội An : Lịch
sử và hiện trạng" Phan Huy Lê khẳng định:" Đô thị cổ Hội An c̣n được
bảo tồn đến ngày nay là trường hợp duy nhất của Việt Nam và cũng là
trường hợp hiếm có trên thế giới"(1.4). Qua đó, chúng ta
thấy được giá trị phần nào của khu phố cổ này.
Niên đại khai sinh Hội An ngày nay vẫn chưa xác định rơ ràng. Chỉ biết vào
thế kỷ XVI, Hội An là nơi buôn bán của nhiều
người nước ngoài, đáng kể là người Hoa, người Nhật và người Bồ Đào Nha.
Trong thời điểm này, Hội An là nơi đến và định cư
của nhiều thương nhân nước ngoài. Với việc buôn bán phồn thịnh, người Hoa đă
xây dựng tại Hội An nơi tín ngưỡng của họ, như các Hội quán, chùa Ông ...,
nhân đó các thiền sư người Trung Quốc theo thuyền buôn mang thiền phái LâmTế
truyền vào Hội An, như thiền sư Minh Hải khai sơn Tổ đ́nh Chúc Thánh, Thiền
sư Minh Lượng khai sơn Tổ đ́nh Vạn Đức. Từ đó khiến Hội An trở nên phong phú
hơn về phong tục, tập quán , tín ngưỡng.
Kiến trúc Hội An ngày nay c̣n lại chủ yếu của người Hoa. Nguyên do vào năm 1636 chính phủ
Nhật ban hành lệnh cấm xuất ngoại, làm cho buôn bán quan hệ giữa Nhật Bản và
Hội An sa sút dần. Cùng lúc đó th́ người Hoa vốn có mặt ở Hội
An từ trước lại không ngừng Tăng lên. Từ giữa thế
kỷ XVII, người Hoa thay thế người Nhật chiếm ưu thế ở Hội
An và chi phối các hoạt động thương mại và xuất
nhập khẩu của thương cảng này. Các thế hệ người Hoa được
xếp vào bậc Tiền Hiền gọi là Thập Lăo, Lục Tánh và Tam Đại Gia. Họ
lập ra xă Minh Hương (quê hương Nhà Minh), xây dựng chùa miếu, nhà cửa ...V́
vậy, hai mặt kinh tế và văn hóa này quan hệ mật thiết với nhau tạo ra một
phong thái của Hội An ( 4.12).
Từ thế XVIII, XIX, thương cảng Hội An do nhiều nguyên nhân từ thiên nhiên
đến con người đă sa sút dần, để rồi từ cuối thế kỷ XIX Hội An nhường vai tṛ
lại cho Đà Nẵng ( 4.13), chỉ c̣n lại những dấu tích ngày xưa. Nhưng Hội An
hôm nay vẫn duy tŕ được nếp sống văn hóa của ḿnh, một nếp sống đă có một
quá tŕnh giao thoa qua nhiều dặm đường lịch sử, đă tạo nên một đặc sắc văn
hóa riêng mà chỉ Hội An mới có được.
Phố cổ Hội An nằm dọc theo phía Bắc hạ lưu sông Thu Bồn, cách Cửa Đại khoảng
6 km. Người dân nơi đây chủ yếu sống bằng nghề buôn bán, nghề nông, nghề hải
sản và các công nghệ thủ công khác. Khung cảnh Hội An trầm lặng yên tĩnh
cũng phần nào ảnh hưởng đến tính chất con người Hội An
trở nên lương thiện, ḥa nhă hơn.
Như đă tŕnh bày, do tính hội nhập văn hóa giữa người nước ngoài và dân bản
địa tại Hội An trước kia, tất cả đă để lại một quần thể di tích với nhiều
kiểu dáng kiến trúc mĩ thuật độc đáo chỉ riêng của Hội An, gồm các loại h́nh
như chùa, đ́nh, đền, miếu, mộ táng, giếng cổ, nhà ở, hội quán, chùa Cầu, nhà
thờ tộc ...(9). Quần thể ấy chiếm phần nhiều là
những ngôi nhà cổ được xây dựng theo kiểu h́nh ống, ở giữa có sân lộ thiên,
nằm dọc theo các đường Trần Phú, Nguyễn Thái Học, Lê Lợi, Bạch Đằng ... Chen
lẫn trong những ngôi nhà ấy là Triều Châu Hội quán, chùa Ông, đ́nh Ông Voi,
Khổng Miếu ... Đấy là những tụ điểm sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng từ tập thể
chung cho đến từng cá nhân tộc họ; Như người gốc Phước Kiến th́ sinh hoạt
tại Phước Kiến Hội quán, Trường Lễ Nghĩa là chung cho tất cả các ban ... V́
vậy, tham quan đến phố cổ Hội An, không những du khách được đắm ḿnh trong
quá khứ mà c̣n có một chiều sâu tâm linh nhuộm nhiều màu sắc tín ngưỡng.
Song song với việc ra đời của một phố cảng Hội An
ở thế kỷ XVII sầm uất, trù phú ấy, Phật giáo cũng bắt đầu chính thức bén rễ
ăn sâu vào trong từng tầng lớp nhân dân phố Hội. V́ vậy,
trong các đ́nh, hội quán ngoài cái đức tin mà họ tôn thờ ra, họ c̣n có thờ
thêm Bồ tát Quan Thế Âm. C̣n những ngôi chùa Phật giáo th́ đa số nằm
ở ngoại ô Đô thị thanh tịnh mát mẻ, như chùa Vạn Đức, chùa Phước Lâm, chùa
Long Tuyền ... mà đáng kể nhất là ngôi chùa Chúc Thánh, nơi phát xuất một
Pháp phái riêng thuộc ḍng thiền Lâm Tế do thiền sư Minh Hải (Pháp Bảo )
sáng lập nên. Ngôi chùa và pháp phái này được tŕnh bày chi tiết
tiếp tục những trang tiếp theo.
2.2. CUỘC ĐỜI VÀ
HÀNH TRẠNG CỦA THIỀN SƯ MINH HẢI.
Thiền sư Minh Hải là một trong những vị thiền sư Trung
Quốc đầu tiên mang thiền phái Lâm Tế truyền vào đất Quảng Nam. Nơi
đây, Ngài đă biệt xuất ḍng kệ tiếp nối ḍng Lâm Tế đời thứ 34 mà sau này
trở thành một chi phái riêng được mệnh danh là " Ḍng môn phái Lâm Tế Minh
Hải" hay " Ḍng môn phái Lâm Tế Chúc Thánh".
Thiền sư Minh Hải, Ngài họ Lương tên là Thế Ân.
Ngài sinh vào giờ Tuất ngày 28 tháng 6 năm Canh Tuất, tức đương triều nhà
Thanh tại Trung Quốc, niên hiệu Khang Hy thứ 8, dương lịch 1670.
Cha là Lương Đôn Hậu, mẹ là Trần Thục Thận, anh trai là
Lương Thế Bảo và em trai là Lương Thế Định, Ngài là con thứ hai trong gia
đ́nh.
Ngài sinh ra trong một gia đ́nh thuần phong Nho giáo.
Từ thuở thiếu thời, Ngài đă tỏ ra là một bậc thông minh
xuất chúng. Năm Mậu Ngọ (1678), lúc vừa lên 9 tuổi, Ngài đă được song
thân đồng ư cho đến chùa Báo Tư (Trung Quốc) xin xuất gia. Sau thời gian tu
học, Ngài đă được thọ giới với pháp danh là Minh Hải, Pháp tự
Đắc Trí tặng Pháp Bảo.
Tại Việt Nam, vào niên hiệu Cảnh Trị năm thứ 3 đời vua Lê Huyền Tôn
(Năm Ất Tị thứ 17 đời Chúa Nguyễn Phúc Tần (1665)), Ngài Nguyên Thiều
đi theo thuyền buôn qua An Nam trú ở phủ Qui Ninh ( B́nh Định) lập chùa Thập
Tháp - Di Đà bên cạnh kinh đô Vijana của vương quốc Chăm Pa rồi sau ra Thuận
Hóa lập chùa Hà Trung và Quốc Ân. Đến thời Chúa Nguyễn Phúc Trăn ( 1648 -
1681) Ngài Nguyên Thiều thuận theo lời yêu cầu của Chúa trở về Trung Quốc,
t́m mời các danh Tăng và thỉnh Pháp tượng Pháp khí (8.171), nhưng chuyến trở
lại này bất thành. Măi đến đời Chúa Nguyễn Phúc Chu (1691 - 1725), mới có
Ḥa Thượng Thạch Liêm cùng phái đoàn sang Việt Nam mở đại Giới đàn tại chùa
Thiền Lâm (Huê)ú ( có sách lại nói chùa Thiên Mụ).
Tương truyền rằng, phái đoàn Ngài Thạch Liêm theo
thuyền buôn đến Việt Nam. Lúc đi, phái đoàn chia thành 2 nhóm, bởi v́ thuyền
buôn chỉ chở người có hạn mà phái đoàn th́ lại đông (
khoảng 50 người). Cả 2 đoàn đến Việt Nam vào ngày 28 tháng giêng năm
Ất Hợi ( 1695), xuống thuyền từ bến Hoàng Phố qua bến Hội An ( Quảng Nam)
rồi sau mới ra Thuận Hóa. Ngài Thạch Liêm ra Thuận Hóa
được Chúa Nguyễn tiếp đăi nồng hậu và về trụ tại chùa Thiền Lâm. Phái
đoàn gồm có các vị Minh Hoằng (Tử Dung) ,
Minh Hải (Pháp Bảo), Minh Vật (Nhất Tri), Minh Hành (Tại Toại) ... Đến ngày
mồng 1 tháng tư cùng năm, giới đàn bắt đầu được long trọng khai mạc dưới sự
bảo hộ của Chúa Nguyễn Phúc Chu, Ḥa Thượng Thạch Liêm làm Đàn đầu và các
Ngài Minh Hoằng, Minh Hải ... ở trong Hội đồng thập sư. Giới đàn truyền các
giới Sa di, Tỳ kheo và Bồ Tát Giới.
Giới tử thọ giới gồm có 1400 người, trong đó có các công
hầu khanh tướng và Hoàng tộc. Chúa Nguyễn Phúc Chu được truyền riêng
một giới đàn và Ngài Thạch Liêm đặt pháp danh cho Chúa là Hưng
Long, biệt hiệu Thiên Túng Đạo Nhơn (6. 91).
Sau khi giới đàn xong, đến ngày 28 tháng 6 cùng năm ấy, Ḥa Thượng Thạch
Liêm cùng phái đoàn giă từ Chúa Nguyễn Phúc Chu, lên đường trở về Trung
Quốc. Trên đường về, phái đoàn phải ghé lại Hội An trú tại chùa Di Đà (sau
đổi thành Chùa Chiên Đàn) để chờ thuyền
nhân chuẩn bị lương thực ra khơi. Tại đây, Tăng chúng
lại thỉnh Ngài mở đàn truyền giới cho 300 giới tử thọ giới. Đến ngày
19 tháng 7 cùng năm, cả phái đoàn cùng thuyền buôn rời bến Hội
An để ra Cù Lao Chàm chờ gió.
Đến ngày 30 tháng 7 thuận gió, đoàn thuyền nhổ neo rời bến chưa bao xa th́
bị nghịch gió. Qua ngày sau, cả đoàn quay lại đảo
và cuối cùng trở lại Hội An. Ngài Thạch Liêm cùng phái đoàn tịnh dưỡng tại
đây khoảng 2 tháng. Đến ngày 12 tháng 10 cùng năm, Chúa Nguyễn
mời Ngài Thạch Liêm trở ra lại Huế ở tại Chùa Thiên Mụ. Trong thời gian ở
lại đây, Chúa thường hay thỉnh Ngài lập đàn tràng cúng Phật, thuyết Pháp, bố
thí và mở thêm giới đàn truyền giới. Ngày 24 tháng 6 năm Bính Tư (1696),
Ngài Thạch Liêm cùng một số trong đoàn trở lại Quảng Đông, Trung Quốc không
qua lại nữa (6. 91).
Khi Ngài Thạch Liêm về nước, Tổ Minh Hải ở lại Hội An, qua năm sau khai sơn
Tổ đ́nh Chúc Thánh tại Cẩm Phô phủ Điện Bàn ( nay
là thị xă Hội An).
Từ những ngày đầu tiên nơi mảnh đất đầy cát bụi này, Ngài Minh Hải đă lập ra
một thảo am tu hành. Sau vài năm, Ngài mở trường dạy
đạo, đào tạo Tăng Chúng. Đức độ của Ngài ảnh
hưởng đến khắp nhân dân phố Hội, dân chúng đến quy y rất đông. Sau
đó, Ngài muốn sự truyền thừa có quy cũ lâu dài nên xuất kệ lập nên môn phái
Lâm Tế Chúc Thánh; bài kệ:
PHIÊN ÂM
Minh
thật pháp toàn chương
Ấn chơn như thị đồng
Chúc Thánh thọ thiên cửu
Kỳ quốc tộ địa trường.
Đắc chánh luật vi tông
Tổ đạo giải hạnh thông
Giác hoa Bồ đề Thọ
Sung măn nhân thiên trung
DỊCH NGĨA
Pháp minh thiệt sáng tỏ
In đồng với chân như
Chúc Thánh Thượng muôn tuổi
Cầu vận nước lâu dài.
Chứng Thánh luật làm gốc
Đạo Tổ hiểu làm thông
Cây Bồ đề hoa giác
Đầy đủ cả trời người.
TT Thích Hạnh Niệm
dịch.
Bốn câu đầu dùng để
đặt Pháp danh, bốn câu sau dùng để đặt Pháp tự.
Ngoài bài kệ
truyền pháp trên, Ngài Minh Hải c̣n có xuất thêm một bài kệ nữa lưu truyền
lại B́nh Định.
PHIÊN ÂM
Minh thật pháp toàn chương
Ấn chơn như thị đồng
Vạn hữu duy nhất thể
Quán liễu tâm cảnh không.
Giới hương thành Thánh quả
Giác hải dơng liên hoa
Tín tấn sanh phước huệ
Hành trí giải viên thông.
Ảnh nguyệt thanh trung thủy
Vân phi nhật khứ lai
Đạt ngộ vi diệu tánh
Hằng khai Tổ đạo trường.
DỊCH NGHĨA
Pháp Minh thiệt sáng tỏ
In đồng với chân như
Muôn vật cùng một thể
Quán suốt tâm cảnh không.
Hương giới thành Thánh quả
Biển giác phát hoa sen
Tín tấn sinh phước huệ
Hiểu làm đều viên thông.
Bóng trăng soi đáy nước
Mây bay mặt trời đi
Ngộ được pháp vi diệu
Đạo Tổ được lâu dài.
TT Thích Hạnh Niệm dịch.
BÀI KỆ PHÁP TƯ
PHIÊN ÂM
Đắc chánh luật vi tông
Tổ đạo giải hạnh thông
Giác hoa viên cảnh trí
Sung măn lợi nhơn thiên.
Hằng sa chư pháp giới
Tế độ đẳng hàm sanh
Châu viên thể tướng dụng
Quán chiếu sát trần trung.
Khứ lai đương nhứt niệm
Năng sở khởi phi tha
Tâm cảnh thùy biên thủ
Chơn vọng tổng giai như.
DỊCH NGHĨA
Chứng Thánh luật làm gốc
Đạo Tổ hiểu làm thông
Hoa giác trí viên cảnh
Đầy khắp lợi trời người.
Hằng sa các pháp giới
Cứu độ khắp muôn loài
Trùm bao thể tướng dụng
Chiếu soi sát độ trung.
Đến đi trong một niệm
Năng sở cũng một y
Tâm cảnh gồm thâu cả
Chân vọng thảy đều như.
TT Thích Hạnh Niệm dịch.
Hai bài kệ trên cùng chung một ư nghĩa là luôn
đặt giới luật làm nền tảng cho việc tu tập giải thoát. Nhưng bài kệ tại Hội
An ư nghĩa mang nặng về phải thiết lập một thế
giới an b́nh, tịnh độ ngay cơi đời này: “Chúc Thánh thọ thiên cửu, kỳ
quốc tộ địa trường ... Giác hoa Bồ đề thọ, sung măn nhơn thiên trung”.
C̣n bài kệ thứ 2 tại B́nh Định nói lên trí tuệ Bát Nhă, trí tuệ này đầy đủ
nơi chúng sanh từ vô thỉ, nhưng v́ phiền năo vô minh che lấp nên mới hiện
các tướng sai biệt để rồi rong rủi trong sanh tử luân hồi. Ví như mặt trăng,
mặt trời thể của nó chưa từng bị lu mờ, nhưng
thấy lúc mờ lúc tỏ là v́ bị đám mây che lấp “ảnh nguyệt thanh trung thủy,
vân phi nhựt khứ lai...”
Tiếp nối sự nghiệp của Tổ đời thứ 35 như các Ngài Thiệt Dinh (Chánh Hiển),
Thiệt Diệu (Chánh Hiền) ... Từ 2 bài kệ trên tiếp nối các đời sau đă sinh ra
biết bao danh Tăng góp phần không nhỏ vào sự nghiệp ḥa b́nh cho quốc gia xă
hội và hưng thịnh đạo pháp. Như đời thứ 39 có Ḥa Thượng Vĩnh Gia làm
đàn đầu cho một Đại giới đàn mà trong đó có 2 giới tử thọ tỳ kheo sau này
trở nên 2 vị Tăng thống, đó là cố Ḥa thượng Đệ nhất Tăng thống Thích Tịnh
Khiết và Đệ nhị Tăng thống Thích Giác Nhiên. Đời thứ 42 thuộc bài kệ tại
B́nh Định đă có Bồ Tát Thích Quảng Đức với trái tim bất diệt đă làm chấn
động thế giới v́ tự do tôn giáo vào những năm 1963 ... Ngày nay các thế hệ
của Tổ đă truyền xuống đến chữ Chúc, chữ Thánh tại Hội An và chữ Vạn, chữ
Hữu tại B́nh Định, truyền bá ḍng Lâm Tế Minh Hải khắp cả xứ Đàng Trong và
các nước trên thế giới. Phổ hệ truyền thừa của Tổ sẽ
được tiếp tục tŕnh bày ở chương thứ 3.
Trải qua 49 năm kể từ ngày Tổ Minh Hải chấn tích đến
mảnh đất này, Ngài đă cực lực xiễn dương chánh pháp, hương bay ngàn nhà.
Nhưng tấm thân của Ngài cũng không sao tránh khỏi được
định luật sinh tử vô thường chi phối. Vào mùa đông năm Bính
Dần(1746), nhận thấy hóa duyên đă măn, phải đến lúc quay về cảnh giới Niết
Bàn, Ngài gọi môn đồ, đệ tử dạy bảo mọi điều và xuất kệ khai thị cuối cùng:
Phiên âm:
Nguyên phù pháp giới không
Chơn như vô tánh tướng
Nhược liễu ngộ như thử
Chúng sanh dữ Phật đồng.
Dịch nghĩa:
Pháp giới như mây nổi
Chân như không tánh tướng
Nếu hiểu được như vậy
Chúng sanh với Phật đồng.
TT Thích Hạnh Niệm dịch.
Xuất kệ xong, Ngài an nhiên thị tịch vào ngày mồng 7 tháng 11 năm Bính Dần
(1746), thọ 77 tuổi. Nhục thân Ngài được tôn trí phía
bên phải trước chùa Chúc Thánh.
Cuộc đời của Tổ là một tấm gương sáng ngời, công đức của Tổ không sao kể
hết. Là Phật tử Việt Nam, chúng ta không thể không biết đến cuộc đời của
Ngài, một cuộc đời đă để lại cho chúng ta ngày nay biết bao
ân huệ. Ngày nay về lại Chúc
Thánh, nơi tôn trí nhục thân của Ngài, chúng ta sẽ thấy cảm giác đâu đây một
bài thuyết pháp không lời âm thầm, sâu lắng. Nơi
ấy vẫn đang c̣n giữ được dáng vẻ uy nghiêm, thanh tịnh của một thiền lâm
cách đây trên 3 thế kỷ.
2.3. QUÁ TR̀NH KHAI SÁNG VÀ TRÙNG TU
TỔ Đ̀NH CHÚC THÁNH.
2.3.1.Địa thế, phong thủy ngôi Tổ đ́nh.
Từ Đà Nẵng về Hội An
theo đường Non Nước khoảng 30 km, lúc chưa đến Hội An khoảng 1km nh́n qua
phía tay trái có một con đường thẳng nằm giữa nhà hát lớn Hội An và trường
Trung học Điện, đi vào hết con đường này khoảng 300m là thấy chùa Chúc Thánh
tọa lạc ngay giữa cuối con đường. Địa thế chùa Chúc Thánh nằm quay mặt về
hướng Tây - Nam, nằm gọn trên một vùng đất cao thoáng thuộc khối Tân ḥa
phường Tân An, Hội An ( trước là phường Cẩm phô
hay làng Thanh Hà, huyện Diên Phước phủ Điện Bàn), cách trung tâm phố cổ Hội
An về hướng Bắc khoảng 1km.
Nơi đây vào những năm 1987, 1988 vẫn c̣n là nơi thanh tịnh vắng vẻ, chung
quanh ngôi chùa nh́n về xa xa chỉ thỉnh thoảng vài ngôi nhà dân, c̣n lại đa
số là những khu rừng thông, những cồn cát trắng và những ngôi mộ xưa.
Hàng rào chùa dày từ 8 đến 10m, được tạo nên bởi nhiều
loại cây xanh mát. Đứng trong khu vườn chùa, mọi người sẽ có cảm giác
như ngôi chùa đang ở giữa khu rừng nguyên sinh đầy hương
thơm cỏ lạ, chim chóc 4 mùa hội tụ. Có thể nói
đây là một môi trường sinh thái tốt, thanh tịnh, phù hợp với cảnh thiền môn.
Theo phong tục người Trung Hoa th́ họ đến đâu thường hay lập chùa, miếu để
thờ cúng cầu nguyện mưa thuận gió ḥa, nhân dân an
cư lạc nghiệp. Như đă tŕnh bày, cùng với thời điểm chùa Chúc Thánh ra đời,
Hội An là một thương cảng trù phú, những thương nhân đến từ nước ngoài chủ
yếu là người Hoa và coú một số người trong họ đă định cư ở đây. V́ vậy, Tổ
Minh Hải sau khi quyết định ở lại tại Hội An hoằng Pháp, Ngài chọn ra một
nơi để tạo lập chùa Chúc Thánh với khoảng cách lư tưởng khoảng 1km không gần
lắm cũng không xa lắm so với trung tâm phố cảng. Địa thế này nhằm 2 mục
đích: Một là, nơi yên tĩnh vắng vẻ, điều kiện tu hành thiền định thích hợp
và hai là, không xa lắm nơi dân cư, để tạo điều kiện cho những người dân ở
đây có thể bước bộ đến chùa lễ Phật tụng kinh. Cũng từ ḷng tín ngưỡng Phật
giáo mạnh của người dân Việt và Hoa kiều
tại đây mà ngôi Tổ đ́nh Chúc Thánh cũng trở nên phong phú về nhiều mặt,
phong phú từ lối kiến trúc đến cách thờ phụng, như ngoài việc thờ Phật chính
trong Chánh điện, ngoài vườn c̣n lập miếu Ông, miếu Bà để thờ các Thần Thành
Hoàng, Thổ Địa để cho những người đến cầu xin được phù hộ mua may bán đắt,
đi đến nơi về đến chốn. Đấy là những tín ngưỡng thuần
túy tính nhân gian.
Mặc dù ngày nay chung quanh bên ngoài chùa Chúc Thánh không c̣n những băi
cát, những đồi thông xanh ŕ vi vu trong gió nữa, đến chùa không c̣n phải
băng bộ qua những đoạn đường cát nữa, mà thay vào đó là những ngôi nhà đồ sộ
và con đường đất cứng v́ nhu cầu dân số và phát triển đô thị.
Nhưng bên trong vườn chùa vẫn c̣n giữ được dáng vẻ cổ
kính, hàng cây cổ thụ vẫn c̣n đó, h́nh ảnh ngôi chùa vẫn cổ kính rêu phong,
những lớp bụi thời gian không thể nào xóa nḥa đi được.
2.3.2.Ư nghĩa tên ngôi Tổ đ́nh.
Tên " Chúc Thánh" có từ lúc Tổ Minh Hải đặt chân
đến khai sơn ngôi chùa. Về mặt ư nghĩa 2 chữ Chúc Thánh
có 2 cách giải thích sau đây:
Một là, từ nữa thế
kỷ 17, các Chúa Nguyễn Đàng Trong trọng đăi Phật giáo nói chung và ngài
Minh Hải nói riêng, nên khi lập chùa, ngài Minh Hải muốn thể hiện t́nh cảm
của ḿnh đối với các chúa Nguyễn bằng cách đặt tên cho ngôi chùa là Chúc
Thánh (tức chúc cho Thánh Thượng được mọi điều tốt lành).
Hai là, lúc bấy giờ
tại Trung Quốc cũng có một ngôi chùa tên Chúc Thánh. V́ vậy, Ngài Minh Hải sau khi đến Việt Nam
khai sơn ngôi chùa đặt lại tên Chúc Thánh là để làm kỷ niệm nhớ lại quê
hương xứ sở của ḿnh.
Hai cách giải thích tên Tổ đ́nh Chúc Thánh trên, ư nghĩa nào cũng có phần
hợp lí.
Nhưng cách giải thích thứ 2 th́ chưa có cơ sở để chứng
minh được. Vậy tạm thời có thể hiểu theo cách giải thích thứ nhất là
" Chúc cho Thánh Thượng được mọi điều tốt lành"
nói gọn là " Chúc Thánh". Ư nghĩa này cũng trùng lặp câu thứ 3 trong bài kệ
của Ngài truyền tại Chúc Thánh:" Chúc Thánh thọ thiên cửu" (Chúc Thánh
Thượng muôn tuổi).
2.3.3.Quá
tŕnh khai sáng và trùng tu.
Như đă tŕnh bày, Tổ đ́nh Chúc Thánh do thiền Sư Minh Hải
( Pháp Bảo ) thuộc thiền phái Lâm Tế đời 34 từ Trung Quốc sang khai
sáng vào cuối thế kỷ XVII.
Thiền sư Minh Hải từ
Quảng Đông Trung Quốc theo phái đoàn Ngài Thạch Liêm đến Việt Nam
để dự Đại giới đàn tại Huế vào năm Ất Hợi ( 1695 ). Sau
khi giới đàn xong, Ngài Thạch Liêm cùng phái đoàn lưu lại Thuận Hóa đến năm
1696 mới trở về lại Trung Quốc.
Sau khi Ngài Thạch
Liêm về nước, Ngài Minh Hải ở lại Hội An qua năm sau (
1697 ) * khai sơn Tổ đ́nh Chúc Thánh tại xă Cẩm Phô ( nay là thị xă
Hội An) (6.91)
Tương truyền, vào
thời Ngài Minh Hải, chùa Chúc Thánh chỉ là một ngôi chùa nhỏ đơn sơ.
Tại đây, Ngài đă hoằng pháp lợi sanh, tiếng vang khắp
mọi nhà. Ngài đă biệt xuất kệ truyền thừa, tạo nên một pháp phái Lâm
Tế riêng tại Hội An. Sau này, các thế hệ truyền thừa của Ngài đă không
ngừng phát huy đạo Pháp và phát triển kiến trúc ngôi Tổ Đ́nh thật qui mô và
bề thế như ngày hôm nay ( 1.1 ).
Tổ đ́nh Chúc Thánh
sau Ngài Minh Hải hai đời ( Ngài Thiệt Diệu và Ngài Đại Dơng ), vào năm Âút
Mùi ( 1845 ), Ngài Toàn Nhâm ( Vi Ư ) khởi công đại trùng tu và chuyển
hướng ngôi chùa từ hướng Tây sang hướng Tây - Nam để phù hợp với địa thế
phong thổ. Qua 4 năm sau (1849), Ngài tiếp tục khởi công
xây thêm Tiền đường làm tăng gấp đôi diện tích trong Chánh điện. Đến
năm Nhâm Th́n (1892), Ḥa Thượng Chương Đạo hiệu Quảng Viên trùng tu
lại Tiền đường qui mô hơn. Năm Giáp Ngọ (1894), Ḥa Thượng
Chương Khoáng hiệu Chứng Đạo đời thứ 38 và phó trú tŕ hiệu Quảng Đạt
xây dựng thêm ngôi Hậu Tổ. Năm Ất Hợi(1911), Ḥa Thượng trú tŕ húy Ấn Bính
hiệu Phổ Bảo đời thứ 39 lại khởi công đại trùng tu ngôi Chánh điện,
nâng nền Tiền đường lên cao hơn và xây thêm các dăy Đông đường, Tây đường.
Những công tŕnh lần này gần như cố định và qui mô cho
đến ngày nay. Từ các năm 1954 đến 1960, Ḥa Thượng Tăng cang húy Chơn
Chứng hiệu Thiện Quả đời thứ 40 tiến hành trùng tu từng phần, khiến ngôi
chùa trở nên hoàn mỹ hơn. Năm Tân Mùi (1991), Ḥa Thượng Như Truyện hiệu Trí
Nhăn tiếp nối trú tŕ đời thứ 40 (đang trú tŕ hiện nay) trùng tu lại ngôi
tháp Tổ từ 3 tầng lên 7 tầng, góp phần tăng thêm vẻ đẹp trong khuôn viên
chùa (1.1).
2.3.4. H́nh thái kiến trúc, liễn, đối, bia, tháp.
Chùa Chúc Thánh quay mặt vế hướng Tây-Nam nằm trên một
mảnh đất thoáng mát với chiều rộng 130m và chiều sâu 96m.
Nh́n từ ngoài vào, ngôi chùa nằm lặng dưới những táng
cây cổ thụ rợp mát, tạo nên một dáng vẻ trầm hùng, thanh tịnh. Xung
quanh chùa được bao bọc bởi một dăy cây đủ loại, bốn mùa
đơm hoa kết trái, ong bướm tới lui, chim chóc làm tổ. Khung cảnh
thanh b́nh này được kết hợp giữa thiên nhiên và con người, nó đă làm lắng
đọng biết bao tâm tư phiền muộn của những con người bị thất bại trên trường
danh lợi và cũng là cái nôi đă nuôi lớn biết bao anh tài đóng góp xây dựng
đạo Pháp, dân tộc, ảnh hưởng đến ngày nay.
Vào những đêm trăng thanh gió mát, khung cảnh của chùa
lại trở nên mênh mông, quạnh hiu và cô tịch hơn. Thật đúng với câu
thơ nói về cảnh chùa miền quê đất Việt:
" Quê tôi có
gió bốn mùa
Có trăng giữa tháng, có chùa quanh năm
Chuông hôm, gió sớm, tr