Chùa Hải-Đức in Jacksonville

[Home] [Up] [Điểm Sách] [Sutras] [Dharma Talks] [GĐPT] [Sinh Hoạt] [Our Activities] [Kinh] [Pháp Thoại audio mp3] [Tin Tức Phật Giáo] [Thuyết Pháp] [Ngoại Điển] [Phật Học] [Tụng Kinh] [Nghi Lễ - Rituals]


Sắn Dây Núi Yoshino

Yoshino Kuzu

Nguyên Tác: Tanizaki Jun.ichirô

Dịch: Nguyễn Nam Trân

 

 

Lời Người Dịch:

Sắn Dây Núi Yoshino (1930) được xem như một truyện của Tanizaki mà độc giả ngoại quốc khó ḷng tiếp thu và làm khổ tâm người dịch không ít v́ nó đầy dẫy chi tiết lịch sử, dă sử truyền thuyết dân gian và tuồng kịch mà ngay dân bản xứ có khi c̣n không nắm vững. Dầu vậy, theo gương can đảm của Anthony H. Chambers, người đă chuyển ngữ nó sang tiếng Anh (Arrowroot, 1983, Secker & Warburg, UK), chúng tôi cũng xin táo bạo làm việc giới thiệu Sắn Dây Núi Yoshino đến bạn đọc Việt Nam, một tác phẩm quan trọng hàng đầu trong văn nghiệp của Tanizaki. Đây cũng là một trong những tác phẩm mà ông đắc ư đắc ư nhất.

Sắn Dây Núi Yoshino giống dây mơ rễ má, cái nhau núm ruột nối liền một cá nhân với quê hương và kỷ niệm luyến tiếc nhưng cũng là sợi dây dẫn đường cho cuộc hành tŕnh đi vào chiều sâu tâm hồn con người Nhật Bản như một tập đoàn. Nó c̣n đánh dấu điểm khởi hành của giai đoạn thứ hai (1930-1965) trong đời sáng tác phong phú của Tanizaki, khi ông từ bỏ lối thuật truyện khách quan hầu hết dựa trên đối thoại, để sử dụng một cách viết mới, hầu như độc thoại, tinh tế và chủ quan hơn. Nhiều người bàn đến ở đây ảnh hưởng cách hành văn của "tiểu thuyết tùy bút" hay "tùy bút tiểu thuyết" kiểu Stendhal trong tác phẩm L'Abbesse de Castro ( trong tập Chroniques Italiennes) mà Tanizaki đă có cơ hội dịch sang Nhật ngữ.

Trong Sắn Dây Núi Yoshino, Tanizaki vẫn đeo đuổi việc đi t́m h́nh ảnh Người Đàn Bà Lư Tưởng và Nước Nhật Truyền Thống. Người đàn bà lư tưởng, vừa là người t́nh và người mẹ, đă bàng bạc khắp các tác phẩm của ông, nhất là trong Nhớ về mẹ thương (Hahawo kouru no ki ), Mộng phù kiều (Yume no ukihashi) và Người mẹ của Tướng Shigemoto (Shôshô Shigemoto no Haha ). C̣n về h́nh ảnh của nước Nhật truyền thống, th́ trong hồi kư viết năm 1964, ông có đưa ra một ví dụ: "Nếu chỉ nhấp trà, ăn bánh ngọt, khoai nướng và trứng luộc, uống sake Masamune mà ngắm hoa anh đào sau mành trúc ở giữa Tôkyo!...Ta không thể nào hiểu được cái đẹp của hoa khi không biết ǵ về sự tích danh tướng Yoshitsune, Wakaba-no-Naishi, phu nhân Shizuka, Tadanobu, con chồn Genkurô [i], cái trống Hatsune và bộ áo giáp Hiodoshi...Anh đào ở Tôkyo không có ǵ huyền ảo. Khi tôi đi ngắm hoa ở các nơi danh thắng miền Tây, đă có lúc tưởng gặp lại được hồn ma của Wakaba-no-Naishi, phu nhân Shizuka [ii] ... và thấy ḿnh biến thành con chồn hay thành anh chàng Gonta để mà mê man đuổi theo sau tiếng trống, hồi c̣i".

H́nh ảnh con chồn trong Sắn Dây Núi Yoshino cũng là một biểu tượng thần bí thường thấy trong văn học truyền thống Trung Quốc, Nhật Bản và chỉ riêng trong văn, kịch... của Tanizaki, ta đă có thể gặp nó nhiều lần.Thần Inari là thần lúa gạo, đem đến tài lộc, đă được đội lốt chồn. Chồn là con vật thông minh, tinh quái và rất gần gũi với con người. Đặc biệt con chồn trắng hoá thân làm người con gái tên là Kuzu no Ha (Lá Sắn Dây) thấy trong tuồng Nô và tuồng múa rối jôruri cùng nhan đề, đă bỏ chồng con để đi biệt tích khi gốc gác bại lộ (lúc Kuzu no Ha thật xuất hiện). Con chồn Genkurô cũng đă giả dạng Tadanobu [iii], người hầu cận trung thành của danh tướng Yoshitsune [iv] trong vở tuồng Yoshitsune Senbonzakura (Ngh́n cội anh đào Yoshitsune), để được gần gũi mẹ nó mà bộ da đă bị người ta lột để căng làm tang trống.

Rặng núi Yoshino với ngọn Yoshino (cao độ 858m) có thể xem như thánh địa của dân tộc Nhật. Tên tuổi của nó đă được chép lại từ thời Cổ Sự Kư (Kojiki) và Nhật Bản Thư Kư (Nihon Shoki), hai cuốn sử thư tối cổ. Mảnh đất nầy từng chứng kiến việc thiên hoàng Tenmu (?-686) lẩn lút trong vùng lúc mưu đồ đoạt ngôi của cháu, mối t́nh tuyệt vọng đưa đến tự sát của hai vợ chồng trên núi Imose, cuộc đời lưu lạc của danh tướng Yoshitsune (1159-1189), phu nhân Shizuka, ái thiếp của ông, cùng những dũng sĩ tùy tùng, sự tồn vong của triều đ́nh phương Nam do thiên hoàng Go-Daigo (1288-1339) lập ra. Yoshino c̣n là sân khấu của sự tích con chồn trắng phải chia tay với chồng con đă nói ở trên, giống như cuộc chia ly của bà vú Shigenoi với chàng Sankichi [v] khi bị giằng co giữa t́nh mẹ con và bổn phận, thấy trong các vở tuồng kabukijôruri.

Qua Sắn Dây Núi Yoshino, ta thấy lịch sử không phải là những chi tiết cứng nhắc do các sử quan chép lại theo lối biên niên. Có một loại sử khác mà dân gian đă sáng chế theo cảm tính, sự tưởng tượng và cả những lầm lẫn, dựa theo tuồng hát nhiều hơn là sự thật. Nó đầy tính hoang đường, hư cấu nhưng cũng giàu chất thơ biết bao nhiêu.

Người đọc cũng có thể nhận ra dễ dàng ảnh hưởng sâu sắc của Truyện Genji đến phong cách viết văn của Tanizaki, người rất mê và đă dịch (2 lần) tác phẩm nầy sang kim văn. Tsumura, anh bạn của Tanizaki trong Sắn Dây Núi Yoshino đă cưới người vợ mang h́nh ảnh của mẹ ḿnh, như thể đem những mảnh vỡ của quá khứ để chắp thành hiện tại. Trong Truyện Genji, tác giả Murasaki Shikibu cũng khéo léo sử dụng yếu tố thời gian để dẫn dắt câu chuyện như khi đem cái bóng quá khứ trùm lên cuộc sống hiện tại các nhân vật. Hoàng đế Kiritsubo yêu Fujitsubo v́ nàng giống người vợ mệnh yểu của ḿnh, Genji cũng yêu nàng v́ nàng giống mẹ chàng. Genji bị Murasakino Ue thu hút v́ nàng là h́nh ảnh của Fujitsubo. Chàng ta lại tiến gần đến với Tamazakura v́ nàng là hiện thân của Yuugao, mẹ nàng và người yêu cũ của Genji. Kaoru yêu Uji no Ôgimi nên đến khi gặp cô em khác mẹ Ukifune của nàng th́ lại yêu luôn....Những mối t́nh vượt không gian, thời gian và thông qua các " đại diện " như thế cho ta thấy quá khứ, hiện tại và tương lai như giao thoa với nhau làm cho câu chuyện được tiếp nối một cách sinh động.

Nguyên tác được sử dụng trích từ tuyển tập văn khổ bỏ túi Sắn Dây Núi Yoshino. Truyện Lăo Mù (Yoshino Kuzu - Mômoku Monogatari), do Shinchô Bunko xuất bản lần thứ 23 năm 1971. Người dịch có tham khảo bản dịch sang Anh ngữ đă nói ở trên của Anthony H.Chambers cũng như bản dịch sang Pháp văn của René de Ceccaty và Nakamura Ryôji (Le lierre de Yoshino, trong La vie secrète du seigneur de Musashi, Gallimard, NRF, Paris, 1987).

 

Phần Một: Vua Nhà Trời

            Thời tôi rong chơi vùng núi sâu Yoshino trong đất Yamato dễ chừng đă hai mươi năm về trước, khoảng cuối đời Meiji hay đầu Taishô (1912), lúc giao thông c̣n khó khăn chứ chưa được như bây giờ.Tại sao nổi hứng đi làm chi vào chốn rừng sâu núi thẳm, cái xứ mà gần đây người ta hay gọi là rặng Alpes của Yamato? Th́ câu chuyện này xin được bắt đầu bằng việc tŕnh bày duyên may nào đă run rủi bước chân tôi.

 

            Bạn đọc có lẽ nhiều người đă biết, từ ngày xưa ở vùng đất này, nghĩa là chung quanh ḍng Totsugawa, rặng Kitayama và làng Kawakami, dân cư sở tại c̣n truyền tụng sự tích về một người thuộc ḍng dơi các hoàng đế Nam Triều mà họ gọi là Ngài Nam Triều hay Đức Vua Nhà Trời. Người mang tên Vua Nhà Trời, có thể chắt chít ǵ của thiên hoàng Go-Kameyama [vi], chính là hoàng tử Kitayama. Ngài không phải là nhân vật trong truyền thuyết mà hoàn toàn có thật, các sử gia nghiên cứu về thời đó đều nh́n nhận. Nếu nói sơ qua cho dễ nắm th́ theo các sách giáo khoa trường cấp hai, trong năm Genchuu thứ 9 của Nam Triều [vii] (tức năm Meitoku thứ 3 Bắc Triều, 1392) đời Tướng QuânYoshimitsu, hai bên Nam Bắc đă ḥa nghị để đi đến thống nhất, chấm dứt sự tồn tại của triều đ́nh miền Nam đóng ở Yoshino hơn nửa thế kỷ sau ngày nó được thiên hoàng Go-Daigo thành lập vào năm Engen nguyên niên (1336). Tuy vậy, giữa đêm 23 tháng 9 năm Kakitsu thứ 3 (1443), đă xảy ra việc kẻ tên Kusunoki Jirô Masahide [viii] pḥ hoàng tử Manjuuji, bất chợt tấn công cung điện Tsuchimikado và trộm lấy ba báu vật truyền quốc đem về cố thủ trên ngọn núi Eizan. Lúc ấy, họ bị quân truy kích lùng bắt, hoàng tử phải tự sát. Trong số ba quốc bảo [ix] th́ kiếm báu và gương thiêng đă bị thu hồi nhưng ngọc tỉ vẫn c̣n nằm trong tay người Nam Triều. Bọn hào tộc họ Kusu và Ochi lại pḥ hai con của hoàng tử, thu thập nghĩa binh, trốn chạy từ đất Izu sang Kii, từ Kii sang Yamato, rốt cuộc rút vào vùng núi sâu Oku-Yoshino là nơi ở ngoài tầm tay quân Bắc. Họ tôn vương tử thứ nhất làm Jiten.ô (Tự Thiên Vương) tức Vua Nhà Trời, vương tử thứ hai làm Seii Daishôgun tức Tướng Quân, đổi niên hiệu thành Tensei (Thiên Tĩnh), giữ được ngọc tỉ hơn 60 năm trời trong vùng hẻm núi mà quân địch không dễ ǵ ḍm ngó. Chỉ v́ sự man trá của dư đảng nhà Akamatsu [x] mà hai vị vương tử phải bỏ ḿnh, rốt cục ḍng dơi chi Daikakuji (của thiên hoàng Go-Kameyama) mới bị diệt vong vào tháng 12 năm Chôroku nguyên niên (1457). Nếu tính cho đến thời điểm đó th́ từ năm Engen nguyên niên cho đến năm Genchuu thứ 9 đă là 57 năm, đến tháng 12 năm Chôroku nguyên niên thêm 65 năm nữa, thực ra tất cả trong khoảng 122 năm ấy, những ḥn máu rơi của Nam Triều đă náu ḿnh trong xứ Yoshino để chống cự lại lực lượng ở kinh sư.

            Từ đời cha ông, dân t́nh Yoshino vẫn một ḷng một dạ với Nam Triều nên mới giữ truyền thống đó mà tính toán là Nam Triều đă được tiếp nối đến tận thời của Vua Nhà Trời. Việc khăng khăng chủ trương "không phải chỉ có trên sáu mươi năm mà cả hơn trăm năm kia!" thành ra chẳng có ǵ vô lư. Về phần tôi, nhờ cái duyên may thích đọc Thái B́nh Kư (Taiheiki) [xi]hồi c̣n bé nên có hứng thú t́m hiểu những chuyện bí mật về Nam Triều, và từ lâu vẫn ôm ấp hoài băo viết một quyển tiểu thuyết lịch sử đóng khung sự tích nhân vật chính của nó là Vua Nhà Trời.

            Theo một tập sách ghi chép lời truyền tụng của người làng Kawakami, có một thời, các di thần Nam Triều v́ lo sợ sự tập kích bất ngờ của quân Bắc đă dời căn cứ của họ từ Shionoha dưới chân ngọn Ôdaigahara vào hẻm Ôsugi gần biên giới xứ Ise, một vùng thật sâu trong núi ít khi có dấu chân người. Ở một nơi do ba thung lũng nhỏ hợp lại gọi là Sannoko, họ xây cung điện cho nhà vua và giấu ngọc tỉ truyền quốc trong một cái hang. Ngoài ra, theo như điều ghi chép lại trong các tập truyện kư Thượng Nguyệt Kư (Kôtsuki-ki), Xích Tùng Kư (Akamatsu-ki) th́ bọn ba mươi tên tàn đảng Akamatsu do Majima Hikotarô dẫn đầu đă trá hàng Vua Nhà Trời, rồi vào ngày thứ 2 tháng chạp năm Chôroku (1457), lợi dụng trời mưa tuyết lớn, bất đồ khởi sự, một cánh đánh vào cung Ôkôchi của ngài, một cánh tấn công dinh Tướng Quân đóng ở thung lũng Kônotani. Nhà vua rút đại đao ra chiến đấu nhưng cuối cùng phải chết dưới bàn tay nghịch tặc. Giặc cắt đầu vua, cắp cả ngọc tỉ lẫn thủ cấp bỏ chạy, giữa chừng bị tuyết nghẽn đường, đến đèo Obagamine th́ trời đă tối. Chúng mới vùi thủ cấp của ngài trong tuyết và qua đêm ở đó. Sáng hôm sau, lư trưởng cùng hương dơng của 18 làng vùng Yoshino truy kích đến nơi và giữa khi đang giao tranh kịch liệt, từ thủ cấp của nhà vua đang vùi trong tuyết, một luồng máu bỗng phun lên, nhờ đó mà họ đă đoạt lại nó mang về.

         Tùy theo sách vở, những chi tiết kể trên có khác nhau đôi chút nhưng câu chuyện đều đă được ghi lại trong Nam Sơn Tuần Thú Lục (Nanzan Junshu-roku), Nam Phương Kỷ Truyền (Nannpô Kiden), Anh Vân Kư (Ôun-ki), Thập Tân Xuyên Kư (Totsugawa-no-ki)  vv... Đặc biệt hai cuốn Kôtsuki-kiAkamatsu-ki vốn do những người tham dự vào biến cố đó lúc về già chép để lại hay là kư sự do con cháu của họ soạn ra nên không có ǵ để hồ nghi nữa. Một quyển cho biết lúc đó nhà vua mới mười tám tuổi, c̣n ḍng họ Akamatsu, tiêu vong một lần từ vụ nội loạn năm Kakitsu, có hưng thịnh trở lại cũng nhờ được báo đền cái công lao sát hại hai vị vương tử Nam Triều và mang quả ấn truyền quốc về kinh đô.

Chính v́ vùng núi sâu từ Yoshino cho đến Kumano giao thông tắc nghẽn như thế, việc những truyền thuyết xa xưa tồn tại lâu dài và những gia đ́nh cố cựu c̣n giữ được gốc gác, không phải là chuyện lạ lùng ǵ. Ví như chuyện nói về dinh cơ của họ Hori ở Anofu, nơi có lần thiên hoàng Go-Daigo chọn làm hành tại. Không những một phần ngôi nhà ngày nay hăy đứng nguyên mà người ta c̣n bảo con cháu tộc nầy bây giờ vẫn cư ngụ tại đó. Cả chuyện ḍng dơi một nhân vật tên Takehara Hachirô vốn được nhắc đến trong Thái B́nh Kư (Taiheiki)[xi], ở chương thuật lại cuộc bôn tẩu của hoàng tử Daitô [xii] (Đại Tháp) xuống vùng Kumano. Hoàng tử từng ở tạm nhà họ ít lâu, và có với con gái của gia đ́nh ấy một đứa con trai cho nên nhà Takehara nhờ đó cũng được hiển vinh. Ngoài ra c̣n có một tục lệ xưa hơn nữa ở một làng tên gọi Gokitsugu trong vùng núi non Ôdaigahara : người chung quanh vùng đó cho rằng dân làng nầy là con cháu của quỷ sứ nên không bao giờ chịu gả bán với họ mà người làng Gokitsugu cũng không màng đến việc cưới hỏi dân thiên hạ. Họ c̣n tự xưng ḿnh là ḍng dơi của bọn quỉ sứ đă mở đường cho En-no-Gyôja (ông tổ của các thầy tăng du hành trên núi) nữa! V́ phong thổ của vùng nầy như thế cho nên trong dân chúng không thiếu ǵ những gia đ́nh cố cựu, gọi là "gia đ́nh ḍng dơi", tự cho trong người ḿnh có ḍng máu của lớp hào tộc địa phương ngày xưa đă từng phục vụ các quan Nam Triều. Hiện nay, vùng chung quanh Kashiwagi, hàng năm đến ngày mồng 5 tháng 2, bao giờ cũng có cúng tế "Ngài Nam Triều", c̣n ở chùa Kim Cương Tự (Kongô) ở Kônotani, nơi có dấu vết dinh Tướng Quân xưa, người ta cũng cử hành lễ triều bái năm mới một cách trang nghiêm.Vào dịp đó, hơn vài chục gia đ́nh gọi là con nhà ḍng dơi, được đặc biệt cho phép mặc lễ phục có hoa văn bông cúc mười sáu cánh và được ngồi lên trên trước cả đại diện của quan đầu tỉnh hay đầu quận.

Việc được làm quen với vô số những tài liệu như thế chỉ nung nấu trong tôi ư nghĩ sẵn có là lập kế hoạch viết một cuốn tiểu thuyết lịch sử về đề tài này. NamTriều - Yoshino vào mùa anh đào nở - vẻ thần bí chốn thâm sơn - ông Vua Nhà Trời mới mười tám tuổi - nhân vật Kusunoki Jirô Masahide - cái ấn truyền quốc dấu trong hang núi - thủ cấp nhà vua phun bắn máu trong đám tuyết vv...chỉ cần thử nêu ra chừng ấy thôi, thiết tưởng không đề tài nào c̣n có thể đặc sắc hơn.Ngoài ra, bối cảnh câu chuyện lại tuyệt vời. Sân khấu của nó đủ cả khe suối, ghềnh đá, cung điện, lều tranh, anh đào mùa xuân, lá đỏ mùa thu, đem tom góp những cái đó và làm sống lại nó là có thể thành h́nh rồi. Hơn thế, người viết không chỉ dựa vào tưởng tượng v́ ngoài chính sử là cái dĩ nhiên, không nói cũng biết đă có sẵn biết bao nhiêu truyện kư hoặc văn thư cổ. Cho dầu tác giả có sử dụng sự thực lịch sử một cách tùy tiện thôi đi nữa, th́ cũng đủ soạn ra một quyển sách thú vị. Nếu chịu khó nhuận sắc một chút, trộn lẫn vào đó ít truyền thuyết và lời đồn đại trong dân, tô điểm bằng những nét độc đáo của địa phương, dùng những chi tiết như ḍng dơi quỷ sứ, tăng nhân tu hành trên ngọn Ômine, khách đi hành hương vùng Kumano vv...rồi dựng nên một nhân vật nữ chính qua h́nh ảnh người con gái đẹp kết duyên với nhà vua, hay một nàng công chúa nào đó vốn là con cháu hoàng tử Daitô, chẳng hạn. Nếu biết sáng tạo như thế, có lẽ câu chuyện lại hào hứng hơn. Tôi lấy làm lạ là không hiểu v́ cớ ǵ măi đến ngày nay chừng ấy chi tiết chưa lọt được vào mắt của một ông văn sĩ nào.Nhất là trong một cuốn như Hiệp Khách Truyện (Kyôkakuden) [xiii] , nghe nói là tiểu thuyết viết dở dang của Bakin [xiv] mà tôi chưa được đọc, có một nhân vật tưởng tượng là tiểu thư Koma-hime, con gái ḍng dơi họ Kusunoki nhưng xem ra h́nh như không dính dáng ǵ đến sự tích Vua Nhà Trời. Ngoài ra, những tác phẩm viết về nhà vua trên núi Yoshino th́ vào thời Tokugawa có một hay hai cuốn nhưng không hiểu trong đó, người viết lấy được mấy phần sự thực lịch sử để làm chuẩn. Nói tóm lại, đảo mắt một ṿng xem qua thôi th́ người đời, kể từ lănh vực tiểu thuyết đại chúng bước sang sân khấu múa rối cho đến kịch tuồng, không thấy ai lưu tâm đến sự tích nầy.V́ lư do đó, trong khi chưa có kẻ mó tay vào, tôi muốn thế nào cũng phải sử dụng ngay những tư liệu ấy.

Lúc ấy may mắn có người đem đến cơ hội không ngờ để t́m hiểu về địa lư và phong tục vùng núi sâu, đó là cái anh chàng Tsumura, bạn của tôi hồi Dự Bị Đại Học [xv]. Tsumura vốn dân Ôsaka, nhưng thân thích lại sinh sống ở Kuzu thuộc vùng Yoshino nên nếu nhờ được Tsumura giúp hỏi thăm về địa điểm đó qua bọn họ th́ thật tiện.

Ven bờ sôngYoshino, có hai làng mang tên Kuzu.Về phía hạ lưu, tên cái làng gọi là Kuzu được viết bằng chữ Cát (sắn dây ) [xvi]. Phía thượng lưu (quê Tsumura) th́ tên Kuzu lại viết là Quốc Thê (Chổ Nhà Nước Tạm Trú). Cái lớp tuồng Nô nổi tiếng Kuzu, liên quan đến sự tích thiên hoàng Tenmu [xvii], tức vị thiên hoàng đă lên ngôi ở cung Kiyomihara tự thời Asuka (cuối thế kỷ thứ 6 đến đầu thế kỷ thứ 7), là tên của địa điểm thứ hai. Thế nhưng cả Kuzu (Cát) lẫn Kuzu (Quốc Thê) không chỗ nào sản xuất ra kuzuko tức bột sắn giây, thổ sản tên tuổi của vùng Yoshino. Dân Kuzu (Cát) th́ không biết thế nào chứ người Kuzu (Quốc Thê) chuyên sống bằng nghề làm giấy. Cho đến bây giờ người ta vẫn theo phương pháp cổ truyền, lấy sợi kôzo, một loại lá dâu núi, tẩy nó bằng nước sông để chế tạo giấy lối thủ công. Thế rồi, h́nh như làng Kuzu này lại có rất nhiều người mang cùng một họ kỳ cục gọi là họ Konbu. Bà con của Tsumura cũng họ Konbu, lại sống bằng nghề làm giấy và được xem như một gia đ́nh đông đúc nhất ở đấy. Theo lời Tsumura, họ Konbu cũng là một gia đ́nh cố cựu và nhất định có mang không ít thời nhiều ḍng máu của các di thần Nam Triều.Từ khi có dịp hỏi thăm gia đ́nh nầy, tôi mới biết cách đọc chính xác tên các địa danh, ví dụ như Nhập Ba th́ phải đọc là Shionoha, Tam Công là Sannoko...Và cũng nhờ người họ Konbu cho biết, muốn đi từ Kuzu (Quốc Thê) tới Shionoha th́ sau khi vượt qua ngọn Đèo Gosha ( Ngũ Xă) hiểm trở rồi, phải đi hơn năm dặm nữa; muốn tới Sannoko th́ phải đi hai dặm mới tới ngơ vào hẻm núi, c̣n như muốn vào tận chỗ sâu nhất nơi ngày xưa Vua Nhà Trời ngự lại mất thêm bốn dặm. Những chuyện như thế chăng nữa đều là điều nghe kể cho thôi v́ dân Kuzu (Quốc Thê) có mấy ai đă lên chỗ măi đầu nguồn!. Chẳng qua, theo những người sống bằng nghề thả bè trên sông học lại, phía sâu trong hẻm núi, ở vùng đất bằng gọi là Hachimandaira có một làng gồm năm bảy gia đ́nh làm nghề đốt than sinh sống và nếu đi thêm ba bốn dặm, sẽ tới chỗ ẩn tít trong cùng gọi là Kakushidaira, mới thực sự là nơi có dấu vết cung điện của Vua Nhà Trời cũng như hang động ngày xưa cất dấu ngọc tỉ. Từ cửa ngơ hẻm núi đi vào bốn dặm th́ đường đất thật chẳng ra đường, chỉ có vách đá dựng lên liên tiếp đến nỗi những nhà sư du hành tu trên ngọn Ômine cũng không dễ ǵ vào tận đó.Thường người chung quanh vùng Kashiwagi đi tắm suối nước nóng dọc bờ sông Shionoha, chỉ đến đây là cùng.Thực ra, nếu đi vào sâu thêm trong hẻm núi th́ hăy c̣n có rất nhiều suối nước nóng phun ra tự trong ḷng khe và có nhiều thác nước từ sườn núi cao đổ ào xuống như thác Myôjin chẳng hạn nhưng chỉ có dân mạn ngược hay bọn đốt than mới biết được phong cảnh tuyệt vời như vậy.

Câu chuyện của mấy tay thả bè kể lại đă góp phần làm cho thế giới tiểu thuyết của tôi phong phú thêm một bậc, và h́nh ảnh suối nước nóng phun ra từ trong ḷng khe là một chi tiết ăn tiền để đem vào câu chuyện. Tuy nhiên bấy giờ tôi đă tiến hành điều tra để có tất cả tin tức cần thiết trong khả năng của một người ở xa nên nếu không có lời mời của Tsumura th́ tôi cũng chả hơi đâu vào măi tận chốn thâm sơn cùng cốc ấy. Thu thập chừng nầy tư liệu rồi th́ không đến tận chỗ mà chỉ cần huy động trí tưởng tượng thôi cũng đủ để viết. Xử lư kiểu này không phải là không có cái hay của nó. Thế nhưng, lời nhắn tin của Tsumura: "Mấy khi có cơ hội, rán vào trong nầy chơi cho biết!" đă đến nơi tôi ở khoảng cuối tháng mười hay đầu tháng mười một năm đó th́ phải. Vừa vặn đúng dịp Tsumura có việc phải gặp mấy người thân quyến ở Kuzu (từ đây xin hiểu là Quốc Thê), và anh ta nói đại khái: "Tuy có lẽ không đi nổi đến tận Sannoko, nhưng nếu cậu đánh bộ một ṿng quanh khu vực phụ cận Kuzu th́ nội việc khảo sát sơ sơ địa lư và phong tục trong vùng cũng đă có ích rồi. Không riêng lịch sử Nam Triều thôi đâu. Vào tận địa phương như thế nầy làm ǵ cậu chả đào thêm được một số chi tiết khác cũng hấp dẫn không kém để có thể viết thêm một lô hai ba tác phẩm nữa. Không bỏ công đâu, vả lại cậu cũng phải chứng tỏ ḿnh là người có lương tâm nhà nghề một chút chứ! Lúc nầy thời tiết vừa đẹp, thuận lợi cho việc đi đường. Thăm viếng Yoshino đă đành phải đợi đúng dịp anh đào nở, nhưng mùa thu cũng nên thơ không kém đâu, cậu ơi!".

Tôi nhập đề có hơi dài ḍng nhưng quả là tôi đă bất chợt lên đường trong những t́nh huống như trên. Một phần v́ cái lư do mà Tsumura gọi là "lương tâm nhà nghề" nhưng thực tâm mà nói, chính cái viễn tượng được rong chơi đây đó mới là điều đă thuyết phục tôi ra đi .

Phần Hai: Núi Vợ Chồng

V́ Tsumura cho biết đến ngày hẹn anh ta sẽ lên đường từ Ôsaka, tới Nara th́ trọ ở lữ quán Musashino dưới chân núi Wakakusa...nên phần ḿnh, tôi cũng đáp tàu đêm từ Tôkyô và sau một đêm ngủ trọ ở Kyôto, sáng hôm sau đă đặt chân lên Nara. Lữ quán Musashino bây giờ hăy c̣n nhưng chủ th́ h́nh như không phải là người cũ thời đó. Hai mươi năm về trước, lữ quán đă cũ kỹ rồi nhưng tôi nhớ nó có vẻ thanh nhă. Sau đó ít lâu Tổng Cục Đường Sắt mới xây khách sạn của họ chứ thời đó th́ những nhà trọ như Musashino và Kikusui đă là sang nhất đám. Phần v́ Tsumura có vẻ nôn nóng không muốn nán lại thêm, phần v́ tôi đă đi chơi ở đây hoài, không c̣n lạ ǵ cảnh vật của Nara, nên trong khi trời c̣n đang tốt, hai chúng tôi chỉ ngồi trong pḥng trọ một hai tiếng đồng hồ đủ ngắm ngọn Wakakusa, xong là lên đường.

Đổi xe ở Yoshinoguchi, chúng tôi đáp chuyến tàu xọc xạch trên tuyến đường phụ đến ga Yoshino rồi từ đó bắt đầu đi bộ trên đường cái dọc theo ḍng sông Yoshino. Gần Vũng Sáu Khoanh Ruộng (Mutsuda no Yodo) và Bến Đ̣ Liễu (Yanagi no Watashi), hai địa danh được nhắc đến trong tập thơ cổ Vạn Diệp Tập (Manyô-shuu), con đường rẽ làm hai. Nhánh bên hữu đưa về ngọn núi Yoshino, nổi tiếng v́ hoa anh đào. Qua khỏi cầu đă đến thẳng được Ngh́n Cội Đào Dưới Núi ( Shimo no Senbon) , rồi rặng đào Sekiya, đền Zaô Gongen, đền Yoshimizu, Ngh́n Cội Đào Lưng Núi (Naka no Senbon), những nơi mà mỗi mùa xuân khách thưởng hoa dạo chơi đông đảo. Thật ra tôi đă đến Yoshino xem hoa hai lần rồi, một lần hồi nhỏ theo mẹ đi thăm Kyôto, và lần thứ hai lúc đang học cấp ba. Tôi nhớ mấy lần trước đều cùng đám đông leo lên núi bằng con đường bên tay mặt, nhưng đấy là lần đầu, tôi đi thử con đường tay trái.

Dạo sau nầy, v́ xe hơi và đường dây cáp có thể lên tới Ngh́n Cội Đào Lưng Núi (Naka no Senbon) nên nơi đây không c̣n những người lững thững tản bộ xem hoa chứ hồi xưa, khách thưởng ngoạn khi lấy con đường rẽ tay mặt để lên núi, thường dừng chân trên cầu quăng Mutsuda no Yodo để ngắm cảnh sắc cánh đồng ven sông Yoshino.

"Xem ḱa! Xem đằng kia ḱa !  Núi Vợ Chồng (Imoseyama) đấy nhé !. Bên trái là ngọn  Ḥn Vợ (Imoyama), bên phái là  Ḥn Chồng (Seyama) "

Anh phu xe kéo dẫn đường từ trên lan can thành cầu đưa tay chỉ về phía thượng nguồn, làm người lữ khách ngừng cây gậy trúc. Ngày xưa, mẹ tôi cũng thường bảo ngừng xe ở giữa cầu, ôm tôi, lúc đó c̣n chửa biết ǵ, vào ḷng :

" Nầy, c̣n nhớ tuồng hát Núi Vợ Chồng không hở con ? Đây là Núi Vợ Chồng thật đấy , con ạ ! "

Mẹ thỏ thẻ bên tai tôi như thế. Lúc đó tôi c̣n bé quá nên không giữ lại ấn tượng nào rơ rệt, chỉ c̣n nhớ lại cái lạnh se da giữa tháng tư c̣n phủ lên vùng núi non, trong một buổi chiều mà ṿm hoa giăng giăng trông giống những đám mây dưới một khung trời sương dâng nḥa nhạt. Ḍng sông Yoshino mà mặt nước ở trên đường gió lướt, lăn tăn gợn sóng trông như tấm vóc, đang từ hẻm xa nơi núi xếp nếp mấy từng, trăng trắng trôi về phía chúng tôi. Trong vùng núi non trùng điệp mờ ảo bỗng thấy hai quả núi nhỏ, đúng hơn là hai ngọn đồi dễ thương, hiện ra trong sương chiều .Tôi không nhận ra có một ḍng sông xen giữa hai quả núi v́ thấy chúng nó như đâu mặt với nhau nhưng theo vở tuồng tôi biết th́ chúng bị ngăn cách bởi một con sông. Trên sân khấu kabuki, chàng Koganosuke, con trai quan Chánh Án Kiyozumi và người vợ hứa hôn của chàng là tiểu thư Hinadori, hai người sống trên hai cái điện cao nh́n xuống thung lũng, một người bên Seyama, Ḥn Chồng, một người bên Imoyama, Ḥn Vợ. Trong cả vở tuồng Imoseyama, cảnh tượng đó đối với tôi là đậm đà màu sắc thần tiên hơn cả nên nó đă ghi dấu hết sức sâu đậm trong bộ óc non nớt của tôi. Khi nghe mẹ nói, tôi nghỉ thầm " Ra thế , ngọn Imoseyama đấy à ! " và mơ tưởng nếu bây giờ đi tới ngay núi đó th́ tôi có thể gặp Koganosuke và người đẹp của chàng. Kể từ ngày ấy, tôi không bao giờ quên cảnh vật được nh́n từ trên cầu và nhiều khi bất chợt nghĩ về nó với niềm luyến tiếc. Thế rồi mùa xuân năm hăm mốt hăm hai tuổi, khi về thăm Yoshino lần thứ hai, tôi lại có lần tựa thành cầu, vừa ôn kỷ niệm về người mẹ đă quá cố vừa nh́n đăm đăm phía nguồn sông. Con sông Yoshino từ chỗ dưới chân ḥn núi cùng tên bắt đầu nới rộng ra rồi vào đến b́nh nguyên cho nên nước không c̣n chảy xiết mà có dáng dấp thoải mái của " ḍng nước trôi giữa đồng bằng ". Phía tả ngạn thượng nguồn, tôi có thể thấy những cái mái thấp và dăy tường lốm đốm trắng của khóm nhà đơn sơ, cổ kính. Đó là thị trấn  Chợ Trên (Kamiichi), dính làm một với đường cái quan, lưng đâu vào sườn núi và mặt nh́n xuống ḍng sông.

Lần nầy, qua khỏi chân cầu Mutsuda và khi đến ngă ba th́ tôi chọn con đường bên trái, lấy hướng Núi Vợ Chồng (Imoseyama), nơi mà tôi đă đứng ngắm từ phía hạ lưu. Đường cái quan viền theo bờ sông và chạy thẳng tới trước, mới nh́n th́ tưởng là bằng phẳng, dễ đi, nhưng tôi nghe nói khỏi Kamiichi, đến khúc ngang qua Miyataki, Kuzu, Ôtaki, Sako, Kashiwagi, nó sẽ dần dần chui vào vùng núi non thâm sâu của Yoshino, sau đó lên tới nguồn sông Yoshino, vượt qua ngọn núi làm ranh giới giữa hai vùng Yamato và Kii rồi cuối cùng thoát ra ngoài băi biển Kumano.

Chúng tôi khởi hành từ Nara sớm sủa nên vừa quá ngọ chút xíu đă vào thị trấn Kamiichi. Như ấn tượng tôi đă có khi nh́n từ trên cầu, những ngôi nhà ở Kamiichi cất hai bên đường cái quan có vẻ thô sơ, cổ kính.Về phía bờ sông, dăy nhà đôi khi có chỗ bị cắt quăng thành ra chỉ c̣n một bên phố nhưng nói chung, khu nhà vẫn đủ ngáng tầm mắt không cho thấy ḍng nước. Hai bên đường, những căn nhà với những chấn song ám khói và gác thấp sát dưới mái, trông như chụm lại bên nhau.Vừa bước đi vừa chơ mắt nh́n vào nhà qua các chấn song, tôi thấy chúng được cất theo kiểu thông thường của các nhà dân, nghĩa là có lối đi thông trên nền ra đến cửa bên kia. Phần nhiều trên cửa vào của những lối đi này có treo một tấm rèm màu xanh thẫm, có tên cửa hiệu hay tên ḍng họ, kẻ bằng màu trắng. Không riêng các cửa hiệu, dường như nhà thường dân cũng có tục lệ treo rèm kẻ tên. Mái hiên nhà nào cũng thấp xuống, trông thiếu điều mặt tiền sắp sập tới nơi. Cửa vào hẹp nhưng ở đằng sau rèm, thấp thoáng bóng cây cối trong sân giữa và cả những căn nhà phụ nữa. Nhà cửa ở vùng nầy xem ra cất đă trên năm mươi năm, có cái từ một trăm, ngay cả hai trăm năm trước. Tuy nhà cửa th́ cũ thật nhưng giấy hồ phết cửa nom hăy c̣n mới, không bị vết ố như thể vừa mới thay. Ngay dăm vết rách tí tẹo cũng được che cẩn thận bằng những tờ giấy h́nh cánh hoa dán đè lên. Cái màu của giấy dán cửa, trong bầu không khí trong ngăn ngắt của ngày thu càng trắng đến lạnh lùng. Một phần v́ ở đây không bụi bặm nên mới giữ được thanh khiết như thế, một phần v́ dân cư không lắp cửa kính nên họ thường lưu tâm giữ ǵn sự sạch sẽ của cửa giấy hơn người thành phố. Nếu có thêm một lớp cửa kính bên ngoài như nhà ở Tôkyô th́ không nói làm ǵ chứ nếu chỉ có độc một lớp giấy và không chịu ngó ngàng tới, lúc giấy bẩn đi, nhà sẽ tối, c̣n khi giấy bị thủng, gió sẽ lùa vào. Cửa giấy mới toanh như thế th́ cho dù chấn song hàng hiên và đồ vật trong nhà có đen điu, vẫn thấy thanh cảnh ngăn nắp, chẳng khác nàng con gái đẹp, tuy nghèo nhưng biết trau chuốt dáng dấp của ḿnh. Khi nh́n màu nắng chiều le lói trên cánh cửa giấy, tôi mới cảm thấy thấm thía cái hương vị của mùa thu.

Thực ra, tuy trời tạnh và trong vắt nhưng những tia nắng phản chiếu chỉ làm cảnh vật sáng sủa ra và giúp cho cái đẹp thấm nhẹ vào châu thân chứ không đến nỗi chóa mắt. Mặt trời đang chiếu trên mặt nước sông, ánh lên tận những tấm giấy phết trên cửa của dăy nhà nằm phía tay mặt. Những quả hồng bày trước tiệm hoa quả trông đẹp một cách lạ lùng, nào là hồng chín cây, hồng tiến, hồng vùng Mino, tất cả những loại hồng nầy khoe trước hiên lớp vỏ màu san hô già láng bóng của quả chín đang bắt lấy ánh nắng và nhấp nháy như những con ngươi. Ngay cả những lọn bánh canh bột ḿ udon để trong hộp kính trước cửa tiệm bán udon cũng có vẽ tươi hơn. Trên đường, trước hiên nhà, người ta trải chiếu rơm và đặt những cái nia để phơi tro. Đâu đây vẳng lại tiếng đập sắt ở ḷ rèn và tiếng sàn sạt của máy xay lúa.

Chúng tôi đi bộ ra măi b́a thị trấn, đến một cái quán bán thức ăn cất ở ven sông và ăn trưa.Khi nh́n từ phía cầu, tôi có cảm tưởng Inoseyama phải nằm tít măi phía thượng nguồn nhưng đến đây mới thấy hai quả đồi đó đă hiện ra trước mắt. Con sông tách chúng ra, phía bờ bên nầy là Imoyama, Ḥn Vợ, c̣n bờ bên kia mới là Seyama, Ḥn Chồng. Tác giả của vở tuồng Đem Sự Tích Núi Vợ Chồng Dạy Đàn Bà ( Imoseyama Onna Teikin)[xviii]  có lẽ nhân đến viếng vùng này mà cấu tứ viết nên vở đó chăng? Tuy nhiên, bề ngang của ḍng sông nơi đây có vẽ rộng răi hơn và không đến nổi chảy xiết như trong vở kịch. Cho dầu lâu đài của Koganosuke và Hinadori trên hai ngọn đồi có thực đi nữa, hai bên không thể nào gọi nhau để nói chuyện như trên sân khấu được. Ḥn Chồng dính liền với một giồng đất ở phía sau nó nên h́nh thù không được cân đối nhưng Ḥn Vợ là một quả đồi tṛn trịa, đứng một ḿnh, bao phủ cây cối xanh um và thị trấn Kamiichi kéo dài tận đến dưới chân nó. Nếu từ phía sông mà quét một cái nh́n th́ sẽ thấy đằng sau lưng mỗi ngôi nhà như có thêm một tầng gác.Nhà trệt thành ra hai tầng, hai tầng th́ xem như ba. Trong số đó, nhiều nhà có bắt đường dây cáp từ tầng gác xuống tận mặt sông. Người ta mắc một cái thùng gỗ vào đó và tḥng nó xuống sông để lấy nước.

- Nầy cậu! Hết Imoseyama hăy c̣n có Ngh́n Cội Đào Yoshitsune (Yoshitsune Senbonzakura ) đấy nhé!

Tsumura bất đồ quay sang nói với tôi như thế.

- Ngh́n Cội Đào th́ phải xuống Chợ Dưới ( Shimoichi) chứ nhỉ! Tôi nghe ở đó có cửa hiệu tên là Tsurubezushi [xix] cơ mà.

Quan tướng Koremori [xx] hồi chạy loạn, để tránh địch lùng bắt, có lần làm con nuôi nhà bán cơm nắm cá giấm (tsurubezushi). Đó là lời chi tiết người ta bày vẽ ra trong tuồng múa rối jôruri, thế mà ở Shimoichi, có những kẻ dựa vào chuyện đó để tự xưng là con cháu của ngài. Tôi chưa t́m hiểu việc ấy bao giờ nhưng có nghe lời người ta đồn đại. Họ bảo nhà Tsurubezushi không có một ai mang tên Igami no Gonta [xxi] như anh con trai lêu lổng ngày xưa, nhưng con gái họ hăy c̣n được gọi là Osato giống sự tích trong tuồng hát và vẫn bán cơm nắm cá giấm bày trong hộp gỗ h́nh chiếc gàu múc nước. Khi đề cập đến tên vở tuồng, Tsumura không có ư định nhắc đến hồi này mà chỉ muốn nói về đoạn có cái trống Tiếng Đầu Tiên (Hatsune[xxii] của phu nhân Shizuka [xxiii] mà thôi. Ở Hái Rau (Natsumi ), một ngôi làng phía thượng lưu ḍng sông, nghe nói có một gia đ́nh c̣n giữ lại chiếc trống đó làm vật gia bảo nên Tsumura đề nghị tôi ghé lại đó kiếm xem.

Tôi nghĩ làng Natsumi phải nằm trên bờ sông Natsumi như nói đến trong vở tuồng Nô nhan đề Hai Nàng Shizuka ( Futari Shizuka[xxiv]. "Có nàng con gái hay thơ thẩn . Đến bên ḍng sông Natsumi.." và sau tiếng hát đó, hồn ma của phu nhân Shizuka sẽ hiện ra: "Để ḷng ta vơi bao tội lỗi. Người chép trang kinh giùm ta đi ", và sau đó kèm theo điệu vũ với lời ca như thế này nữa:

"Thân mang nhiều tủi thẹn
Chuyện xưa nào dám quên...
Giữa đồng Yoshino
Người ơi, ta đâu chỉ
Là cô gái hái rau
Trên sông Natsumi"

Những điều đó giúp suy ra rằng đất Natsumi phải có duyên nợ ǵ với phu nhân Shizuka và truyền thuyết về người không phải là điều bịa đặt thôi đâu. Trong sách Yamato Meisho Zue minh họa những thắng cảnh của đất Yamato c̣n chú thích: "Làng Natsumi có nước ngon nổi tiếng , gọi là Hoa Lung Thủy hay Nước Trong Lồng Hoa, lại có dấu tích phủ đệ mà phu nhân Shizuka tá túc một thời gian". Nh́n đó khắc biết những chuyện người ta c̣n truyền tụng có lẽ đă bắt nguồn từ lâu rồi.Gia đ́nh c̣n giữ chiếc trống đó bây giờ mang họ Ôtani nhưng ngày xưa gốc gác là trại chủ trang trại Murakuni. Theo lời thuật lại của những nhà cố cựu, trong năm Bunji (1185-1190) khi tướng Yoshitsune và người ái thiếp Shizuka lưu lạc xuống vùng Yoshino, có ở lại làng ấy. Khu vực phụ cận hăy c̣n mang các địa danh nổi tiếng như Lạch Voi (Kisano Ogawa), Cầu Chợp Mắt (Utatane no Hashi), Cầu Củi (Shibahashi) . Khách văng cảnh có nhiều người muốn t́m xem cái trống Hatsune nhưng nhà chủ coi như là vật gia bảo nên hễ không có kẻ giới thiệu cho trước vài hôm th́ không bao giờ bạ ai cũng cho xem. Tsumura đă pḥng sẳn chuyện đó nên đă cậy thân quyến ở Kuzu nói lót trước rồi. Có lẽ hôm nay họ đang đợi chúng tôi.

- Thế có phải đó là cái trống căng bằng da chồn mẹ mà mỗi lần bà ái thiếp Shizuka vỗ kêu cái boong th́ chồn con giả làm Tadanobu lại hiện ra đấy phỏng?

- Ừ, đúng rồi. Trong tuồng hát th́ như thế đấy!

- Có gia đ́nh giữ được trống ấy à?

- Thiên hạ bảo thế!

- Căng da chồn làm trống thực sao?

- Tớ chưa thấy tận mắt cái trống nên không dám nói liều.Tuy nhiên, chuyện gia đ́nh đó có gốc gác lâu đời là sự thật.

- Tớ chỉ e chuyện này lại giống như chuyện tiệm bán cơm nắm cá giấm bày trong gàu gỗ. Chắc có bố nào tinh nghịch đi xem tuồng Futari Shizuka về nghiễn ra thôi!

- Có thể lắm! Nhưng tớ lại có chút lư do muốn xem cái trống đó một chút. Thế nào ḿnh cũng nên t́m đến thăm gia đ́nh Ôtani để được nh́n cái trống Hatsune. Tớ đă định bụng như vậy từ lâu và cũng v́ mục đích đó mà tớ cất công đi chuyến nầy.

Nghe Tsumura bảo thế tôi nghĩ chắc có duyên do ǵ rồi nhưng chỉ nghe anh ta nói vỏn vẹn: "Rồi tôi sẽ cho cậu biết sau!"

Phần Ba : Cái Trống Hatsune

Để đi từ Kamiichi đến Miyataki, chúng tôi vẫn tiến bước dọc bờ bên phải của con sông Yoshino. Càng đi vào sâu trong núi, vẻ thu dường như tăng thêm. Đôi khi chúng tôi đi vào giữa những lùm cây sồi, bước trên lá khô nghe xào xạc. Chung quanh chốn này, cây phong tương đối ít, và hơn nữa, chúng không mọc tụ vào một chỗ. Tuy vậy, lá cây đă đỏ ối: nào là trường xuân, thù du, sơn...điểm xuyết đó đây trong rặng tuyết tùng bao trùm đỉnh núi, khoe những đám lá màu đỏ đậm đến màu vàng nhạt. Tuy cùng gọi là lá đỏ nhưng ngắm cảnh ở đây mới thấy dù vàng, đỏ hay nâu, màu sắc có đủ loại và hết sức phức tạp. Cùng là lá vàng mà có đến mươi thứ màu vàng khác nhau. Người ta bảo khi mùa thu đến, người trong vùng Shiohara thuộc Shimotsuke (tỉnh Tochigi gần Tôkyô) mặt ai cũng đỏ. Nếu phong cảnh trông đẹp ra khi có lá đỏ bao trùm khắp nơi nhưng nếu chỉ lác đác như ở chỗ này th́ cũng chẳng kém chi. Những kiểu nói "đua khoe sắc thắm " hay "muôn hồng ngh́n tía" là để tả cảnh hoa nở trên cánh đồng xuân nhưng ở đây nào khác, có chăng là màu vàng mới là màu cơ bản. Sự biến hóa của màu sắc cũng phong phú chẳng kém vào mùa xuân. Ngoài ra, lá vàng rơi xen giữa mấy kẽ núi xuống khe suối trong ánh nắng ngập tràn đôi khi lấp lánh không khác chi lớp bụi vàng trên mặt nước.

Ly cung của thiên hoàng Tenmu ở Yoshino trong câu thơ "Thiên hoàng ngự đến Cung Yoshino", cái dinh thự mà thi nhân Kasano Kanamura [xxv] gọi là "ngự sở lớn xây bên bờ thác Miyoshino", cánh đồng Akizu thấy trong thơ Hitomaru [xxvi] , cũng như ngọn núi Mifune...được tập cổ thi Man.yôshuu nhắc đến, tất cả những nơi đó nghe nói đều nằm gần làng Thác Cung Điện (Miyataki) ngày nay. Chưa vào sâu trong làng, chúng tôi đă rời con đường cái mà vượt qua bờ bên kia. Ở đây, hẻm núi hẹp dần, bờ đá dựng đứng, nước trên cao đập mạnh xuống những tảng đá lớn nằm lót dưới ḷng sông hay đổngập đầy những vực thẳm xanh ngắt. Cầu Utatane bắt ngang qua một cái vực, nơi mà ḍng suối từ trong lùm cây cối rậm rạp của trũng Kisatani chảy ŕ rầm rồi đổ vào lạch Kisa. Chuyện tướng Yoshitsune ngủ đỡ giấc trên cầu có lẽ bắt nguồn từ trí tưởng tượng của người đời sau. Cái cầu mong manh đến sợ, bắc qua ḍng nước suối trong hầu như ẩn dưới những cḥm lá xanh um, có một mái che tựa mái thuyền, nom dễ thương, không phải để che mưa mà chắc là để che lá rụng. Nếu không như thế th́ vào mùa thu lá rụng như bây giờ, chẳng mấy lúc cầu bị lá cây lấp cả. Cạnh bên cầu, có hai túp nhà nông dân. Ở dưới mái cầu, hết phân nửa diện tích dường như bị họ dùng để chứa đồ như nhà ḿnh V́ họ chất đầy củi nên trên cầu chỉ c̣n đủ chỗ cho một người đi qua. Chỗ này tên gọi  Cửa Thông Nước (Higuchi). Từ đây con đường chẻ ra hai nhánh, một dọc theo bờ sông đi xuống làng Natsumi, c̣n đường kia th́ sau khi vượt khỏi cầu Utatane, đi ngang qua đền Sakuragi và làng Kisatani, lên đến Ngh́n Cội Đào Trên Cao (Kami no Sempon) hướng về Nước Trong Bám Rêu (Kokeno Shimizu) và thảo am của nhà thơ Saigyô [xxvii] . Nghe nói cái người "đạp tuyết trắng rẽ sườn non " [xxviii] thấy trong thơ của phu nhân Shizuka đă qua chiếc cầu này để đi từ vùng thâm sơn Yoshino xuống thung lũng Nakano In.

Khi chúng tôi nhận ra nó th́ ngọn núi không biết tự lúc nào đă đến sát bên và cao sừng sững trên đường đi.Khung trời thu hẹp lại, tưởng chừng cả ḍng sông Yoshino lẫn nhà cửa cũng như con đường đều như phải nghẽn lại ở hẻm núi nầy. Thế nhưng làng mạc là thứ mà hể có kẻ hở xen vào được th́ nó sẽ vươn ra măi bất cứ đến đâu. Ba bên bị núi bao vây chỉ c̣n một chỗ trũng giống như cái đảy, bên bờ một con sông ứ nước, đă thấy những mảnh đất h́nh bậc thang người ta càn ra, trên ấy có nhà tranh và ruộng rẫy. Chính là làng Natsumi. Thế ra chốn có nước chảy, núi giăng, là địa h́nh nơi người sa cơ đến "ở tạm".

Chúng tôi hỏi thăm nhà của gia đ́nh Ôtani th́ được biết ngay. Nó nằm ngoài bờ sông, trong một băi dâu, cách lối vào làng chừng một cây số.Đó là một ngôi nhà có mái thật đẹp. Thân cây dâu đă lên khá cao nên từ xa nh́n tới, cái mái tranh của căn nhà chính ra vẻ nhà xưa và mái căn nhà phụ với hàng hiên lợp ngói, nổi lên trên những rặng dâu như đảo nằm giữa biển và có vẻ mời mọc khách. Tuy nhiên, được mỗi cái mái chứ ngôi nhà chỉ là một cái nhà nông dân b́nh thường, có cất thêm hai căn pḥng nh́n ra đám ruộng dâu. Cửa giấy mở toang ra phía trước, và trong gian tiếp giáp với pḥng khách, một người đàn ông trạc bốn mươi, tướng như chủ nhà đang ngồi. Khi thấy bóng chúng tôi, chưa kịp tự giới thiệu th́ ông đă ra chào đón. Mặt ông rám nắng, xương xẩu, mắt hiền lành nhưng mệt mỏi, bờ vai rộng, hoàn toàn là h́nh ảnh của một nông dân đơn sơ, chất phác.

- Nghe ông Konbu trên Kuzu nói chuyện hai ông nên từ năy giờ tôi có ư mong.

Ông ta chào hỏi với một giọng địa phương quê mùa khó hiểu và để trả lời câu hỏi thăm của chúng tôi, ông ta cũng chẳng nói chi cho được rơ ràng mà chỉ biết lễ phép cúi đầu. Tôi nghĩ đây là một gia đ́nh đă sa sút, không c̣n giữ được tư thế của ngày xưa nhưng những người như ông ta có vẻ dễ tiếp xúc hơn.

- Chúng tôi xin lỗi đă quấy quả trong lúc ông bận rộn và biết rằng chẳng mấy khi ông để vật gia bảo quí giá lọt vào mắt người ngoài nhưng chúng tôi cũng mạo muội lặn lội đến xin phép ông cho xem.

- Không, đâu phải chúng tôi muốn dấu diếm ǵ....

Ông tỏ ra thẹn thùng và hơi bối rối cho biết tổ tiên căn dặn phải chay tịnh một tuần trước khi đem báu vật ra nhưng gia đ́nh ông cũng không giữ được qui tắc phiền hà ấy. Ông nói sẳn sàng đưa cho những ai ngơ ư muốn xem nhưng ngày ngày c̣n bận chuyện đồng áng nên không có thời giờ đón tiếp người đến thăm bất chợt.Nhất là gần đây v́ vụ tằm mùa thu chưa xong xuôi nên chiếu lót nhà hăy c̣n bị gỡ lên, khách lạ tới cũng chẳng có pḥng khách để tiếp.Chính v́ lẽ đó nên có thông báo trước th́ mới thu xếp để được rảnh rỗi.Ông ta vừa đặt hai bàn tay móng đen cáu ghét lên đùi, vừa trả lời một cách ngượng ngập.

Như thế mới biết rơ ràng là v́ hai đưa tôi mà ông đặc biệt cho lót chiếu hai gian buồng trở lại và ngồi đợi. Từ trong pḥng nh́n qua khe cửa ra phía nhà kho c̣n trơ sàn ván, tôi thấy nông cụ hăy c̣n bày ra ngỗn ngang như có ai mới vội vă dọn vào tạm.Phút chốc, nhà chủ đă đem bảo vật bày ra trên bệ, cung kính đặt từng thứ một trước mặt chúng tôi.

Một cuộn sách nhan đề "Gốc tích thôn Natsumi", vài thanh đoản đao và trường kiếm bái lĩnh từ ngài Yoshitsune, danh sách những vật ấy cũng như các thứ ổ kiếm, bao kiếm, ấm chén bằng sứ, và rồi cái trống Hatsune do lệnh bà Shizuka ban cho. Ở cuối cuốn sách mang tên "Gốc tích thôn Natsumi" trong số mấy món đồ đó, có chép:

"Vào dịp ngài Naitô Mokuzaemon là chức quan trông coi việc hành chính của Gojô [xxix] đến viếng, Ôtani Genbei, lúc đó 76 tuổi, có cơ hội được đón tiếp, đă ghi lại trên mặt giấy y nguyên những điều sau đây mà ông ta được nghe, để truyền lại con cháu trong nhà" với ngày tháng "Mùa hè năm Ansei thứ hai, Ất Măo".

Tương truyền chính năm Ansei thứ hai (1855) đó, khi quan hành chính địa phương Naitô Mokuzaemon đến làng này, th́ cụ tổ mấy đời của chủ nhà, ông lăo Ôtani Genbei, đă dập đầu xuống đất để thưa chuyện nhưng khi viên quan đọc được những điều ghi chép trong sách đă phải nhường cụ ta chỗ chiếu trên mà qú dưới đất. Có cái là cuốn sách này có chỗ đă cháy sém thành than, đen điu bẩn thỉu, đọc được cũng bở hơi tai cho nên sách có đính kèm một bản sao chép. Chả hiểu nguyên bản nói những ǵ nhưng bản chép lại đầy lỗi chính tả, không tài nào phân biệt chữ nọ với chữ kia, khó ḷng tin rằng người lảnh nhiệm vụ chép lại là kẻ ăn học đàng hoàng. Tuy nhiên, nếu tin vào văn bản th́ tổ tiên gia đ́nh nầy đă từng sinh sống tại đây từ trước thời Nara (710-794), trong cuộc biến loạn năm Nhâm Thân (672), chủ trang trại Murakuni là Oyori đă theo pḥ thiên hoàng Tenmu để chống lại hoàng tử Ôtomo (tức thiên hoàng Kôbun). Lúc ấy, đất đai họ quản lĩnh kéo dài từ làng nầy măi đến tận Kamiichi, dài những năm cây số và cái tên "sông Natsumi" đă được đem đặt cho năm cây số của khúc sông Yoshino. Đoạn chép về ngài Yoshitsune như sau:

"Lại nói sau khi ngài Yoshitsune đă ăn tết Đoan Ngọ ở vùng núi Shiroya trên thượng nguồn xong mới xuống và trú chân khoảng ba bốn mươi hôm trong trang trại Murakuni này. Khi đi xem cầu Shibahashi ở Miyataki, ngài có vịnh hai bài thơ" và hai bài waka ấy c̣n được ghi trong sách".

Cho đến nay tôi chưa hề nghe nói Yoshitsune làm thơ bao giờ và hai bài thơ c̣n chép lại, dù là dưới mắt một tay mơ, cũng không thấy chút giai điệu nào có hơi hướm của giai đoạn cuối thời văn chương cung đ́nh, lời lẽ c̣n có vẻ quê mùa nữa. Sau đó đến phần nói về lệnh bà Shizuka:

"Lúc ấy, phu nhân Shizuka, thiếp yêu của ngài Yoshitsune, có tạm trú trong nhà trang chủ Murakuni, nhân v́ ngài Yoshitsune thất thế phải trốn lên Mutsu trên miền Bắc, bà cô thân tuyệt vọng đành gieo ḿnh xuống giếng. Giếng ấy mang tên Giếng Shizuka". Theo cuốn sách, lệnh bà đă chết ở đó. Sách c̣n chép thêm: "Tuy nhiên, ḷng quá đau thương v́ phải chia ly với ngài Yoshitsune mà từ đó suốt ba trăm năm, hồn của phu nhân đêm đêm vẫn hiện ra từ miệng giếng dưới dạng một quả cầu lửa ma trơi. Cho đến khi vị cao tăng Rennyo (Liên Như) đi qua làng Iigai để cứu độ mọi người, dân sở tại đă van xin nhà sư ra tay cứu độ cả cho vong hồn của phu nhân. Nhà sư không chút do dự đă tiếp dẫn linh hồn phu nhân và ông đă thảo lên ống tay áo bà Shizuka một bài thơ mà nay gia đ́nh Ôtani vẫn c̣n cất giữ chu đáo".

Bài thơ cũng có ghi trong sách.

Trong khi chúng tôi đang đọc cuốn sách, chủ nhà ngồi một bên im lặng, không chen vào một lời giải thích nào cả. Thế nhưng qua nét mặt, thấy ông ta có vẻ chắc mẫm về nội dung tổ tiên ghi lại mà không cần đặt vấn đề. Khi chúng tôi hỏi : "Thế th́ ống tay áo ngài Rennyo chép bài thơ lên bây giờ ra sao rồi?" th́ ông cho biết từ đời tổ tiên, để cầu siêu cho vong linh phu nhân, họ đă tiến cúng nó vào chùa Saijô trong làng nhưng nay không biết nó đă vào tay ai v́ không thấy trên chùa nữa.Chúng tôi thử nhấc trường kiếm, ổ kiếm và vỏ kiếm lên xem th́ thấy nó quả là đồ cổ, nhất là vỏ kiếm đă bục rách nhưng không có chi tiết nào giúp chúng tôi đánh giá được. C̣n cái trống Hatsune đáng chú ư kia th́ chẳng có da bọc mà chỉ c̣n mỗi thân trống được giữ lại trong cái hộp bằng gỗ ngô đồng. Vật này cũng chẳng biết thế nào, chỉ thấy lớp sơn mài c̣n khá mới, không có tranh trang trí bên trên; nh́n chung, nó chỉ là cái thân trống màu đen chẳng có ǵ đặc biệt. Gỗ của nó có vẻ cũ và chắc v́ thế, vào một thời điểm nào đó, người ta đă đem nó đi sơn lại. "Th́ chắc là thế!". Chủ nhà trả lời một cách dửng dưng..

Ngoài ra c̣n hai tấm bài vị uy nghiêm, có kèm cả cả mái và cửa.Trên cánh cửa một tấm có trổ hoa văn hoa qú, trong đó khắc hàng chữ " Chính Nhất Vị Đại Tướng Quốc Chi Linh Vị ", c̣n trên cửa tâm kia có hoa văn hoa mơ, ở giửa khắc " Quy Y Trinh Ngọc Tín Nữ Linh Vị ", bên mặt đề " Niên hiệu Genbun thứ hai [xxxi] , năm Tỵ ", bên trái " Ngày 10 tháng 11, Nhâm ".Thế nhưng đối với hai tấm bài vị này, chủ nhà h́nh như cũng chẳng biết điều ǵ về chúng cả. Chỉ nghe nói lại nó có liên quan đến các bậc chủ quân của gia đ́nh Ôtani và mỗi năm đến ngày mồng một tháng giêng, họ có lệ đem hai tấm bài vị ấy ra cúng tế. C̣n về tấm bài vị có ghi niên hiệu Genbun th́ chủ nhà nghiêm trang bảo rằng nó chắc là của phu nhân Shizuka.

Nh́n cặp mắt hiền lành nhút nhát và pha chút mệt mỏi của ông, chúng tôi không biết phải nói ǵ bây giờ. Chẳng lẽ lại giải thích niên hiệu Genbun thuộc vào thời nào hay dẫn ra những chi tiết về cuộc đời của phu nhân Shizuka như thấy chép trong bộ sử truyện Azuma kagami hay Truyện Heike. Tóm lại, ông chủ nhà nầy thành thực tin tưởng vào điều ḿnh nói và vị phu nhân trong trí tưởng tượng của ông không cần phải đúng là nàng Shizuka đă múa trước mặt Yoritomo ở đền Tsurugaoka.Đối với ông, đó chỉ là một người đàn bà cao quí tượng trưng cho cái quá khứ xa xưa khi tổ tiên ông ta c̣n sống mà ông ta hăy c̣n tiếc nuối. H́nh ảnh mông lung của người đàn bà quí tộc có cái tên là phu nhân Shizuka cô đọng lại tất cả t́nh cảm tôn thờ và tận tụy của ông đối với tổ tiên, đối với quân vương và quá khứ cổ kính Không cần phải đặt câu hỏi xem người đàn bà tôn quí ấy có thật t́m chổ trọ và sống những ngày cô đơn dưới mái nhà nầy hay không. Nếu ông đă tin như thế th́ tốt nhất hăy để ông ta sống yên vui với niềm tin đó. C̣n như muốn đồng t́nh với ông th́ có thể giải thích là đă có một sự kiện giông giống như thế xăy ra vào thời toàn thịnh của gia đ́nh ông ta. Dù người đàn bà tôn quí đó chẳng phải chính phu nhân Shizuka th́ cũng có thể là một cô công chúa Nam Triều đến đây lánh nạn đao binh vào thời  Chiến Quốc (Sengoku, 1467-1568) và câu chuyện nầy đă ḥa quyện làm một với sự tích của lệnh bà Shizuka.

Giữa lúc chúng tôi chực kiếu từ th́ chủ nhà bảo:

- Nhà chẳng có chi, các ông dùng tí zukushi lấy thảo!

Ông ta châm trà rồi đem ra một mâm quả hồng và một cái gạt tàn thuốc lá sạch, không có tí tàn.

Có lẽ zukushi mà ông nói có nghĩa là jukushi tức quả hồng chín. Cái gạt tàn ông ta đem ra không phải là để gạt tàn thuốc lá vào đó mà để chúng tôi dùng làm đĩa ăn thứ hồng chín nhũn nầy .Thấy ông mời mọc chí t́nh, tôi e dè lấy một quả tưởng chừng sắp vỡ đến nơi đặt trên ḷng bàn tay. Quả hồng to, h́nh viên trụ, đáy nhọn, chín rục, đỏ tươi và hơi trong, ph́nh ra như một cái bong bóng nhựa, trông đẹp như ḥn ngọc khi đưa ra trước ánh sáng. Những quả hồng ngâm rượu thấy bán ngoài chợ không thể nào đạt được cái màu tuyệt đẹp như thế và chưa chín tới độ này th́ đă vữa ra cả.Theo lời ông chủ nhà, muốn làm mứt hồng kiểu nầy, chỉ được dùng loại hồng vùng Mino vỏ thật dày. Hái lúc nó hăy c̣n xanh và chua, rồi bỏ vào trong hộp hay lồng ủ ở một nơi không có gió. Không cần làm ǵ cả, mười hôm sau, bên trong ruột sẽ tự động nhăo ra và ngọt như mật. Các loại hồng khác sẽ hóa lỏng chứ không keo lại như giống hồng Mino. Cách ăn th́ giống như ăn trứng luộc nửa chín nửa sống, nghĩa là gỡ cái cuống bên trên rồi cho th́a vào lỗ hổng mà múc. Có thể theo một cách khác là bỏ vào đĩa, bóc vỏ ra cầm lên mà ăn. Tuy có bẩn tay nhưng ăn kiểu này ngon hơn.Vừa vặn khoảng mười hôm th́ nh́n vừa đẹp, ăn lại ngon. Quá thời hạn đó, ruột hồng dễ thành nước.

Đang khi nghe lời giải thích, tôi đăm đăm quả hồng như ḥn ngọc bằng sương trời nằm trong ḷng bàn tay ḿnh. Tôi có cảm tưởng tất cả khí thiêng của núi rừng và ánh nắng như thể đang ngưng đọng lại trong một ḷng bàn tay. Nghe nói ngày xưa người nhà quê mỗi khi lên kinh đô thường bọc đất trên đó trong giấy đem về nhà làm quà kỹ niệm, riêng phần tôi, nếu có ai hỏi màu sắc mùa thu ở Yoshino như thế nào th́ tôi sẽ gói cẩn thận mấy quả hồng nầy để đưa cho họ thấy.

Rốt cuộc, cái gây ấn tượng cho tôi nhiều hơn cả lúc ghé nhà ông Ôtani không phải là cái trống, cũng không phải mớ văn thư cũ mà chỉ là mấy quả mứt hồng. Tsumura và tôi, mỗi đứa tham lam ngốn ngáo hai quả hồng zukushi, sung sướng để cho chất keo ngọt ngào mát mát đi từ răng lợi ngấm vào tận con t́ con vị. Miệng tôi, cổ họng tôi căng phồng, đầy ắp mùa thu Yoshino. Ngay cả những quả xoài tên gọi Anmoraka được nhắc đến trong kinh Phật có lẽ cũng chẳng ngon bằng.

Phần Bốn : Tiếng Chồn Tru

- Cậu nầy, đọc sự tích của làng th́ có nói chiếc trống Hatsune là do phu nhân Shizuka tặng nhưng không thấy chép về tấm da chồn?

- Ừ. Do đó, theo tớ nghĩ th́ chiếc trống đó đă có trước bản tuồng. Nếu bản tuồng ra đời trước th́ trống phải được chế sao cho ăn khớp với t́nh tiết vở tuồng. Cũng như soạn giả vở Imoseyama phải nh́n thấy quang cảnh hai ḥn núi trước đă và soạn giả Ngh́n Cội Anh Đào phải có lần đến hỏi thăm gia đ́nh Ôtani hay nghe theo lời đồn đại rồi lấy cảm hứng dựng vở tuồng từ đó. Có cái, người viết Ngh́n Cội Anh Đào là Takeda Izumo[xxxi] (1691-1756) nên vấn đề được đặt ra là vở tuồng phải được soạn ra trước niên hiệu Hôreki (1751-1764) thế mà cuốn sách chỉ mới được viết vào năm Ansei thứ hai (1855). Tuy thế, sự tích có lẽ c̣n bắt nguồn xa hơn nữa trong quá khứ v́ theo quyển sách, nó được chép bởi ông lăo Ôtani Genbei, năm 76 tuổi và cụ này lại nghe những chuyện truyền lại từ xưa nữa. Cho dù cái trống chỉ là đồ giả, tớ nghĩ rằng nó phải có trước năm Ansei thứ hai th́ mới hợp lư. Cậu đồng ư chứ?

- Thế nhưng cái trống ấy trông mới quá!

- Không đâu! Cái trống ấy mới thật nhưng nó có thể được sơn đi sửa lại hai ba lần rồi ấy chứ. Trước khi cái trống ấy ra đời , tớ nghĩ cũng có thể đă có những cái trống khác nằm trong hộp gỗ ngô đồng kia.

Từ làng Natsumi trở về Miyataki phía bờ bên kia, phải đi ngang qua cái cầu Shibahashi, một trong những thắng cảnh của vùng.Hai đưa tôi ngồi lên trên mỏm đá bên cầu, nói chuyện như thế một đổi.

Kaibara Ekiken trong Ḥa Châu Tuần Lễ Kư (Washuu Junrei-ki[xxxii] viết :

"Ở vùng Thác Cung Điện (Mitataki) không có cái thác nào, hai bên chỉ là vách đá sừng sửng và sông Yoshino chảy len chính giữa. Ghềnh đá ấy cao khoảng 5 ken [xxxiii], đứng chắn như một tấm b́nh phong. Chỗ sông chảy qua rộng độ 3 ken. Cầu bắt qua nơi hẹp nhất. Bởi v́ ḍng sông thu hẹp lại ở chỗ này nên nước rất sâu và cảnh trí tuyệt đẹp".

Nơi mô tả trong sách vừa vặn đúng ngay ở chỗ chúng tôi đang ngồi tṛ chuyện.

"Trong làng có người làm nghề iwatobi (nhảy ghềnh) nghĩa là nhảy từ ghềnh đá xuống đáy sông, bơi theo gịng rồi lại trồi lên phía hạ lưu. Họ kiếm tiền bằng cách diễn tṛ đó.Lúc buông người xuống, họ chụm tay chân sát bên thân, đến một độ sâu cở một jô (3 mét), nếu dang tay ra th́ sẽ nổi lê ".

Trong sách Tranh Vẽ Các Thắng Cảnh (Meisho Zue) có một bức họa về cảnh iwatobi. H́nh thế hai bên bờ và ḍng nước của con sông thấy không khác ǵ trong bức họa đó. Khi con sông đển chỗ này, nó uốn khúc rất gắt rồi tung bọt đổ xuống giữa những ghềnh đá hiểm trở. Ông chủ gia đ́nh Ôtani cho chúng tôi biết rằng hàng năm, không hiếm chi những chiệc bè đă lâm nạn khi đụng vào những phiến đá đó.

Những người làng làm nghề " nhảy ghềnh " ngày thường đi câu hay cày bừa dọc bờ sông, khi nào gặp du khách đi qua th́ mới nhanh chân tới mời mọc họ xem ḿnh biểu diễn ngón nghề. Nếu nhảy ùm xuống từ ghềnh đá thâm thấp ở phía bờ đối diện th́ họ lấy một trăm tiền, c̣n nhảy từ ghềnh cao phía bờ bên nầy, họ lấy gấp đôi, cho nên cái ghềnh bên kia được gọi là Hyakumon-iwa (Ghềnh Trăm Tiền), c̣n ghềnh bên này được gọi là Ghềnh Hai Trăm Tiền (Nihyakumon-iwa ), đến nổi cho đến nay hai cái tên đó hăy c̣n. Ông chủ gia đ́nh Ôtani thời trẻ cũng có dịp đi xem nhưng dạo sau này du khách không mấy ai muốn xem diễn tṛ nữa, cho nên nghề đó cũng trở thành tàn lụi không biết tự hồi nào.

- Nầy, ngày xưa đi thưởng hoa ở Yoshino làm ǵ đă có đường sá mở mang như bây giờ. V́ phải đi ṿng từ huyện Uda mà lên, cho nên khách mượn con đường nầy đông lắm đấy. Hồi ngài Yoshitsune từ kinh đô bôn tẩu, chắc cũng theo cùng tuyến đường thôi nhỉ ? Cho nên soạn giả Takeda Izumo bắt buộc phải đi ngang qua vùng và nhờ đó đă xem được cái trống Hatsune.

Tsumura ngồi trên mỏm đá đó và không hiểu v́ cớ ǵ lại nhắc nhở về cái trống. Anh chàng không phải là con chồn Tadanobu nhưng tấm ḷng tưởng nhớ đến tiếng trống Hatsune của anh th́ chú chồn kia cũng không sánh kịp. Tsumura thổ lộ rằng không hiểu v́ sao mà khi nh́n cái trống, anh đă tưởng như gặp gỡ mẹ ḿnh.

Đến đoạn này th́ tôi phải thưa với bạn đọc thêm một vài điều về chàng thanh niên tên gọi Tsumura. Thực t́nh cho đến lúc ngồi trên mỏm đá và được nghe tâm sự, tôi cũng chẳng biết chi nhiều về anh. Như đă nói, chúng tôi là bạn đồng song trường Dự Bị ở Tôkyô, hồi đó là chỗ thân t́nh, nhưng lúc vào Đại Học, v́ gia cảnh, anh ta phải trở về quê ḿnh là thành phố Ôsaka và bỏ ngang việc học. Tôi chỉ nghe nói gia đ́nh anh đă nhiều đời làm nghề cầm đồ trong khu Shimano.uchi, ngoài ra, anh có hai chị em gái nhưng cha mẹ đều mất sớm, ba người đều được bà nội một tay nuôi dạy. Cô chị lấy chồng dă lâu c̣n cô em gái cũng sắp làm dâu nhà người ta. Bà nội cảm thấy đơn chiếc và cũng mong có người nối nghiệp nhà mới gọi thằng cháu về nên anh mới đột ngột bỏ học. Tôi có lần thử khuyên " Thế th́ vào Đại Học Kyôto vậy ! " thế nhưng hồi đó, Tsumura không muốn tiếp tục học mà thích viết lách. Trong