Chùa Hải-Đức in Jacksonville
|
Chuyện Phật-đản trong văn nôm xưa
Hoàng Xuân-Hăn Phiên âm từ bản nôm
Trong các bản văn nôm xưa, thể lục bát, c̣n có một bản kể chuyện Phật-đản. Chắc là dịch từ một "Phật kinh" chữ Hán. Văn-bản nay c̣n là một bản in từ ván khắc với nhan-đề: Thích-Ca Như-Lai Thập Thế Chí Truyện Chú Nghĩa Quốc Ngữ. Sách khổ to 17 x 29, chữ chân phương kiểu vuông, viết và khắc rất chính-xác. Mỗi trương mười ḍng, mỗi ḍng mười sáu chữ. Cả thảy 6O tờ, 2728 vế, gần 19010 từ. Đó là một tư-liệu nôm xưa lớn. Nội-dung kể chuyện chín đời tiền-thân Phật, và cuối là đời đức Phật Thích-ca. Nhưng đây không giống như những sách Bản sinh khác của những dân-tộc thuần-túy phật-tử. Sách nầy xuất-phát tự dân Trung-quốc hay Việt, chủ-trương Tam giáo tĩnh hành; tôn-trọng ngang hàng ba giáo: Lăo, Phật, Nho. Tác-giả "kinh" nầy có lẽ lại thiên về Lăo hơn hết; cho rằng Lăo-tử là chủ các đạo, thấy đời suy-vi, cho nên sai một đệ-tử trung-thành đi đầu-thai để mong hoá ra kẻ cứu thế, rồi sự mong không được, lại gọi về để đi đầu-thai chỗ khác. Như thế đến lần thứ mười, th́ hoá làm con vua Tĩnh-Phạn, tức thành dức Thích-ca Mầu-ni. Từ đó, y kể chuyện đức Phật Thích-Ca gần như các kinh khác. Vả chuyện Thích-ca là phần chính sách , gồm 1236 vế, gần nửa văn chuyện. Tuy không c̣n phần lạc-khoản khiến ta biết ai là tác-giả và ván khắc năm nào, nhưng so-sánh với các sách cũ khác về phương-diện giấy mực, khổ chữ, từ cổ, lối viết nôm, th́ cũng thấy rằng tác-phẩm nôm nầy ít ra cũng đă được soạn trước đây chừng ba, bốn trăm năm. Xét lời văn, thấy tác-giả, ngoài sự thuộc phái Tam-giáo, là một văn-sĩ thông chữ Hán, biết tự-sự, gắng t́m từ, t́m vần dể dặt câu lục-bát cho thông; chứ không phải là một nhà thi-sĩ, và cũng không t́m niêm và vần cho đúng. Văn nầy thuộc loại văn b́nh-dị, dân-gian, phổ-biến trong các văn nôm chuyện đời Lê. Bắt đầu văn, tác-giả viết:
Kính vâng giáo Bụt Thích-Ca Bộ Đại-tạng Chính-đức in tại Đài-loan thành hơn trăm tập (Phật-viện Trúc-lâm có) gồm mười tập lớn thuộc loại "Đồ-tượng", trong đó, tôi chưa t́m thấy nguyên-bản Hán-văn kinh "Thích-ca Mầu-ni Thập thế chí" nầy, nó có lẽ sẽ giúp ta khảo-sát văn-bản nôm một cách tiện-lợi hơn Nay nhân lễ Phật-đản, tôi sẽ tŕnh một đoạn văn nôm thuộc về đời đức Phật Thích-ca. Trong khuôn-khổ báo Hương Sen, tôi không thể viết dài về phần chú-giải và khảo-luận. Nhưng mỗi khi có từ-ngữ cổ hay tối nghĩa, tôi sẽ chú nghĩa vắn-tắt và viết trong hai dấu ngoặc đơn. Ám--hiệu " t.c." thấy trong chú-thích sẽ trỏ từ cổ hay tiếng cổ. Lăo-quân sai đệ-tử Y-Ḱ đầu-thai lần thứ chín làm thái-tử nước Chiêm-Ba (Chàmpa?), tu-hành đắc-đạo. Nhưng theo lời Lăo-quân th́ "chẳng chữa thiên hạ, chỉn xin tu ḿnh". Bèn sai Thiên-vương-tướng ủng-hộ con voi trắng mang Thái-tử đi đầu-thai vào nhà Tĩnh-phạn-vương. Đây ư muốn nói Bắc-tông Đại-thừa khác Nam-tông Tiểu-thừa bởi sự ngoài mục-đích tu ḿnh c̣n muốn cứu thiên-hạ. Nối sau đó là chuyện Phật-đản, bắt đầu từ vế (1523):
Đời Phật Thích-ca
Ngày rằm tháng bảy nhật tinh (sáng sớm) Cỡi con bạch-tượng xuống ḿnh (đầu-thai) MA-DA (1525) Ban ngày nằm ngủ trương-ṭa (lầu vua) Chiêm-bao nách hữu thấy qua vào ḷng Phu-nhân mộng giác (tỉnh) thân-trung (trong ḿnh) Từ ấy ăn uống hôi tanh đều đ́nh Ngồi th́ muốn ở một ḿnh (1530) Gẫm hay Bồ-tát giáng-sinh chẳng nhầm Sáng ngày Dục-giới (cơi người) thiên-quan Đến cùng thuyết pháp chẳng không một th́ (nghỉ một chốc) Nửa ngày Trung-giới (cơi đă thoát dục) chư v́ Quỉ thần ban tối triều-nghi (mặc lễ-phục) tới cùng (1535) Chiều hôm, trung-dạ (nửa đêm), dạ-chung (cuối đêm) Thánh, Hiền đều đến song-song ḥa luần (t.c. cùng bàn) Thuyết pháp, cứu-độ chúng-sanh Cảm động tinh-thành Đâu-suất thiên-quan Mười phương Bồ-tát hội-đồng (1540) Bẩm qua Đế-thích giáng-sanh trung-thần Bà-la (Bà-la-môn), cư-sĩ chư nhân (mọi người) Chín mươi chín ức cùng sanh ra đời *** Phu-nhân măn nguyệt hoài thai (mang thai đủ tháng) Năm hai mươi bốn đời CHU Chiêu-vương (chừng 977 trước C.L.) (1545) Tháng tư mồng tám cung trương (tức trương-ṭa: lầu vua) Khắp ḥa (t.c. cả) cung-nữ chơi vườn Trung-viên Phu-nhân khi ấy thừa-lương (hóng mát) Vin cây ưu-thụ (cây ưu-đàm nở hoa là điềm tốt) cội liền nở hoa Nhụy sen (hoa sen) cả (lớn) tày vừng xe (bánh xe) (1550) Thái-tử tức-th́ nách hữu sinh ra Thái-tử đứng trên liên-hoa Bước đi bảy bước, kêu ba tiếng hùng (mạnh) Tay tả trỏ lên hư-không (ṿm trời) Tay hữu chỉ xuống, miệng cung (t.c. trong) niệm rằng (nói nhỏ): (1555) (( Thiên thượng thiên hạ lâng-lâng (khắp cả trên trời dưới đất) (( Duy ngă độc tôn (một ḿnh ta cao-quí) giáng-sanh bây giờ )) Thiên-vương lấy lụa phúc (trùm) che Ôm Thái-tử đứng trong ca (t.c. ở nơi) b́nh (lọ) vàng Có vua Đế-thích Phạn-vương (1560) Che quạt, cầm tán (tàn), đ̣i (khắp các) phương đứng chầu Chín rồng phun nước trước sau Tẩm (tắm) cho Thái-tử nước ḥa (vừa) ôn lương (ấm mát) Bấy-giờ bốn tướng Thiên-vương Đều nâng chậu vàng quán tẩy kim khu (tắm gội ḿnh vàng) (1565) Ba mươi hai tướng tuyền no (t.c. đủ) Tám mươi thức tốt sáng ḥa (bằng) hào-quang Ba ngh́n thế-giới đ̣i phương Soi khắp Đại-thiên (thế-giới gồm 1 triệu thế-giới) bằng gương làu làu Thiên-long, Bát- bộ đâu đâu (1570) Hư-không cổ-nhạc hương-hoa dập-d́u Áo tốt, anh-lạc (cườm xâu hạt ngọc) báu yêu (ngọc quí) Kể nào có xiết thụy (điềm lành) đều ứng sinh Khắp ḥa (cả) tha (nguyên: địa) ngục, băi h́nh Bát-quốc đế-vị đều sinh hoàng-trừ (con nối ngôi vua) (1575) Mọi nhà Thích-chủng (họ Thích) gần xa Đều sinh hoàng-tử chín ngh́n năm trăm Trưởng-giả, cư-sĩ, nhân-dân Nam-tử sinh được tám ngh́n bốn muôn Ngựa sinh được năm trăm con (1580) Đều th́ cùng đẻ một đêm mọi tàu (chuồng ngựa, voi) Hễ là thương-cổ (kẻ buôn bán) đâu đâu Đều được châu báu, trước sau về rày *** Thái-tử sinh được bảy ngày Mới đặt tên rày là TRUNG-THIÊN-vương (1585) Biểu-tự (tên để thường gọi) Tất-Đạt từ-tường (điềm lành) Ba-Đồ-Ba-Đề là d́ giưỡng nuôi *** Đến nên bảy tuổi mất lời (câm) Hoàng-đế liền mời chư (các) La-môn-tiên (( Xem tướng Thái-tử cho Quan (1590) (( Biết hay lành dữ, vậy an, được mừng )) Bà-la tâu: (( Vua chưa từng! (chưa biết) (( Thái-tử tướng-mạo lạ h́nh người ta (( Chưng sau (t.c.:sau nầy) ắt đi xuất-gia (( Nhược dù (nếu) ở nhà, truyền vị Luân-vương (Pháp-chủ) )) (1595) Thầy tướng tâu dộng (t.c.:tảu) Phụ-hoàng: (( A- Ḱ tiên cả (đầu) ngơ-ngàng (giỏi) thần thông (( Ngài tu ở Hương-sơn trung (trong núi) (( Biết hay quá-khứ, thông cùng vị-lai (( Vua th́ đi rước lấy Ngài (1600) (( Đến xem được quyết (t.c. đoán, định) kẻo lời hồ-nghi )) Hoàng-đế nghe tâu tức-th́ Kết làm toà báu liên-hoa một đài Hư-không (trông lên trời) cúng-dàng nguyện lời Chúc-đảo: (( Xin Ngài gấp đến chốn nay )) (16O5) Đại-tiên khi ấy xa hay Phút giây liền đến ngồi nay trên toà Xem tướng Thái-tử, phán ra Tiên-nhân nước mắt nhỏ-sa ḍng ḍng Hoàng-đế thấy vậy lệ xong (t.c. sợ lắm) (1610) Hỏi Tiên-nhân rằng: (( Ấy sự làm sao ? )) Đại-tiên khi ấy nói tâu (( Hoàng-đế chớ có lệ-âu (t.c. lo-lắng) chi là (( Thương v́ tuổi nay đă già (( Năm trăm lại lẻ thêm ḥa (t.c. và, với) hai mươi (1615) (( Tiếc rằng chăng c̣n ở chầy (t.c. lâu) (( Được nghe Thái-tử nói nay đạo mầu (( Thái-tử tướng lạ có đâu (không đâu có) (( Ba mươi tướng tốt, tám mươi giống lành (( Trị quốc thiên-hạ thái-b́nh (1620) (( Nhược (nếu) đi tu-hành, nên Bụt Pháp-vương )) Ḷng Vua thấy thốt (t.c. nói) bội (t.c. rất) mừng Tiên-nhân lại bảo: (( Nửa mừng nửa lo (( Mừng rằng sinh làm con Vua (( Lo mười chín tuổi đi tu dụ (trèo qua) thành )) (1625) Thốt thôi hào-quang nhiễu (quấn) quanh A- Ḱ tiên cả hóa h́nh biến đi.....
(Trích từ sách Thích-ca Mầu-ni Thập thế chí truyện Chú nghĩa Quốc-ngữ)
Minh Quang posted May 19, 2006
|
|
|