Chùa Hải-Đức in Jacksonville

[Home] [Up] [Điểm Sách] [Sutras] [Dharma Talks] [GĐPT] [Sinh Hoạt] [Our Activities] [Kinh] [Pháp Thoại audio mp3] [Tin Tức Phật Giáo] [Thuyết Pháp] [Thơ Văn] [Ngoại Điển] [Phật Học] [Tụng Kinh] [Nghi Lễ - Rituals]

Quan Âm Truyền Thuyết

(Tuyển Tập)

Diệu Hạnh GiaoTrinh Chuyển Ngữ

 

46 - Quan Âm tạt nước nhận ch́m Bồng Lai 

 

Tương truyền rằng thời xưa, ở trong biển lớn phía đông của Phổ Đà Sơn có một hải đảo với phong cảnh diệu kỳ, trên bờ th́ trăm chim thi nhau ca hót, dưới biển th́ cá tôm bơi lội thành đoàn, trai th́ bắt cá, gái th́ đan lưới, tất cả đều sống một đời sống tự do tự tại nên được gọi là đảo Bồng Lai. 

Đến một năm nọ, có một ông vua tham lam hung ác lên ngôi trị v́, muốn xây hoàng cung nên nay th́ bức bách dân chúng phải lên núi đốn cây đập đá, mai th́ ức hiếp trăm họ bắt xuống biển sâu ṃ san hô, ngọc trai... Nếu có ai tỏ ư phản kháng th́ nhẹ nhất cũng bị roi đ̣n, nặng hơn th́ chém đầu. Từ đấy chim muông bay đi hết, cá tôm cũng bỏ trốn, và trăm hoa đều tàn tạ. Dân chúng không chịu đựng nổi những khổ nạn như thế nữa nên cũng rầm rộ kéo nhau đi t́m đất khác mà nương thân. 

Vua thấy như vậy th́ nổi trận lôi đ́nh, sai một đại tướng quân dẫn binh đi bắt dân chúng phải trở lại, đồng thời phải t́m chim, cá và hoa tươi mang về đảo. Đại tướng quân nọ lên tàu lênh đênh trên biển cả t́m kiếm khắp nơi nhưng chẳng kiếm được ǵ. 

Một hôm, đại tướng quân đột nhiên thấy trên mặt biển xa xa có một ḥn đảo nhỏ, bầu trời ở phía trên ḥn đảo ấy lác đác những đám mây ngũ sắc, ráng trời đủ màu chói sáng cả mắt. Ông vội vàng dương buồm, cho tàu chạy mau về nơi ấy. Lên đảo hỏi han rồi mới biết đây là Phổ Đà Sơn. 

Ông thấy trên đảo cây cao chọc trời tỏa hương ngào ngạt, trăm hoa nở rộ, từng bầy chim tung bay xoè cánh khoe mầu, tranh nhau hót líu lo. Bên cạnh biển xanh th́ cát vàng óng ánh, trúc tím thành rừng, và dưới đất th́ có những búp măng non vàng ngậy hấp dẫn. 

Đại tướng quân mừng quá chạy xồng xộc vào rừng trúc tím lắc những búp măng hấy dẫn ấy để kéo chúng lên. Nhưng lắc tới lắc lui, lắc tới mồ hôi ướt đẫm cả lưng mà búp măng không hề suy suyển, ông tức qua xoay qua nhổ trúc tím, nhổ tới nhổ lui, nhổ tới đau lưng mỏi tay mà trúc tím không hề lay động. 

Đại tướng quân tức giận quá độ, "xoẹt" một tiếng rút dao ra bổ bên phải, chém bên trái, "phập, phập, phập", chém vào măng vàng, măng vàng bắn ra những ngôi sao chói lọi, bổ vào trúc tím, trúc tím toé ra những tia sáng rực rỡ. Ông đă dùng hết sức lực mà măng vàng chém không đứt, trúc tím bổ không ngă, mệt quá bèn ngồi bệt xuống đất thở phù phù. 

Ở đầu bên kia của rừng trúc tím có một ni cô đang ngồi giặt áo. Khi cô nghe tiếng dao chém vào thân trúc th́ đứng dậy hỏi: 

- Ai chém thần trúc loạn lên vậy? 

Đại tướng quân hướng theo âm thanh tiếng nói mà nh́n th́ thấy một ni cô vô cùng xinh đẹp, bèn bước tới gần gân cổ lên hét: 

- Ta là đại tướng quân của vua đảo Bồng Lai sai đến đây t́m kỳ hoa dị thảo, phượng hoàng chim chóc đem về! 

Ni cô nói: 

- Núi này là thánh địa, là đất Phật, dẫu một nhánh cây hay một cọng cỏ cũng được tưới tẩm bằng nước cam lồ, xin ông đừng xúc phạm vào lề lối nhà Phật! 

Đại tướng quân cười gằn: 

- Lề lối nhà Phật cái ǵ? Quốc vương đă tuyền lệnh hoa nào tươi đẹp nhất, cô nương nào diễm lệ nhất cũng phải đều đem về cống hiến lên cung vua. Một cô gái đẹp như cô chắc chắn sẽ làm cho quốc vương vừa ḷng lắm đấy! 

Ni cô nào có ai khác lạ, chính là hóa thân của Quan Âm Bồ Tát. Ngài thấy ông đại tướng quân vô lễ quá, hơi bực ḿnh bèn nhổ trên đầu ḿnh một sợi tóc đen nhánh, đặt xuống một khối đá bằng phẳng và nói: 

- Nếu ông nhặt được sợi tóc này lên th́ trăm loài chim muông trong rừng này ông đều có quyền lựa, trăm loài hoa tươi trên núi ông đều có quyền hái. 

Đại tướng quân nghe thế th́ ôm bụng cười ngất: 

- Ta có sức mạnh nhấc được ngàn cân, xá ǵ một sợi tóc cỏn con như vậy! Một sợi tóc như vậy mà nhặt không lên th́ sao gọi là đại tướng quân! 

Không nói thêm lời nào, ông đưa tay ra nhặt. Nhưng bàn tay của ông thô kệch như cán xẻng, bốc tới bốc lui mà nhặt không lên khiến ông nóng nảy mồ hôi dầm dề. 

Ngài Quan Âm đứng một bên lạnh lùng nh́n, lúc ấy mới thổi nhẹ một hơi, sợi tóc nọ vờn bay lên trước mặt đại tướng quân, bay thẳng lên đầu Ngài trở lại. 

Đại tướng quân mở bành hai con mắt to như cái chén uống rượu, hoảng hốt nói: 

- Cái này không tính! Tay tôi hơi lớn mà sợi tóc th́ quá nhỏ nên tôi mới nhặt không lên! 

Ni cô cười một cách châm biếm, chỉ một bồn nước rửa chân sơn màu vàng óng ánh trên mặt đất mà nói: 

- Nếu ông có thể bưng được bồn nước này lên mà không đổ ra ngoài th́ trăm loài chim muông trong rừng này ông đều có quyền lựa, trăm loài hoa tươi trên núi ông đều có quyền hái. 

Tên đại tướng quân liếc xéo ni cô một cái rồi mừng rỡ trở lại, nghĩ bụng rằng bồn nước rửa chân bé nhỏ như thế làm ǵ mà đại tướng quân ta không bưng lên nổi! 

Ông không thèm nói lời nào, đưa tay ra bưng. 

Nào ngờ bồn nước rửa chân sơn vàng này vừa trơn vừa bóng, nếu ông quá dùng sức với tay phải th́ nước sẽ đổ xuống hết qua bên trái, c̣n nếu quá dùng sức với tay trái th́ nước sẽ đổ hết lên tảng đá. Ông t́m thế bưng tới bưng lui mà nước cứ tṛng trành một cách nguy hiểm. Ông đỏ mặt tía tai, tṛng mắt ḷi ra ngoài mà chỉ bưng bồn nước lên tới lưng bàn chân, lên cao hơn nữa th́ không nổi. 

Quan Âm Bồ Tát thấy bộ dạng lố bịch của ông ta bất giác cười ph́ một tiếng. Nghe tiếng cười, đại tướng quân ngước mặt lên nh́n, người ni cô ban năy không c̣n nữa mà đứng trước mặt ông là Quan Âm Bồ Tát, với chuỗi anh lạc đầy người, phóng ánh sáng huyền diệu. Ông sợ quá sững cả người, hai tay run bần bật, hai chân mềm nhũn, "b́nh" một tiếng, ông quỵ xuống, nguyên cái đầu ụp vô chậu nước rửa chân. V́ đại tướng quân đần độn ấy kinh hăi ú ớ muốn kêu lên nên bị uống mấy hớp nước lạnh. 

Ngài Quan Âm đưa chân ra nhẹ khều chậu nước, cả đại tướng quân cả chậu nước đều bị lật ngửa. Mà lạ thay, nước trong chậu sao chảy hoài không ngừng, càng chảy càng mạnh, chẳng mấy chốc như cả vạn thác nước đổ xuống biển đông hải. Trong chớp mắt thủy triều phồng to lên, cuồng phong đẩy những ngọn sóng lên thật cao rồi "ầm" một tiếng, đổ xuống cung điện ở đảo Bồng Lai. 

Ngay lúc ấy nhà vua đang vui hưởng ngũ dục trong một buổi yến tiệc linh đ́nh với rượu ngon thịt béo, bỗng nhiên thấy cuồng phong rồi nước biển ào ạt đổ xuống, những ngọn sóng khổng lồ cuốn sập bức tường rào xung quanh cung điện. Nhà vua sợ quá há hốc miệng, các đại thần cũng sợ quá ôm đầu chạy trốn, tạo nên một cảnh vô cùng hỗn loạn. Thủy triều mỗi lúc mỗi to, mỗi lúc một cao, thêm một tiếng động long trời lở đất, ngọn sóng thần đă nhận ch́m cả cung điện xuống đáy đại dương mênh mông. 

Ông vua tàn ác đă theo cung điện của ḿnh ch́m xuống đáy biển. Cái chậu rửa chân sơn vàng ban năy biến thành một con tàu lớn, cứu vớt dân lành đáng thương trên đảo Bồng Lai, nương theo gió rẽ sóng lướt đến gần Phổ Đà Sơn rồi thoắt biến thành một ḥn đảo. Dân chúng xây nhà đắp vườn trên ḥn đảo này, và sinh sôi nẩy nở tạo lập một cuộc sống mới.  

Bởi v́ ḥn đảo này do một con tàu biến thành nên người dân di cư đến đấy đặt tên cho nó là "Châu Đảo" (châu nghĩa là thuyền). 

 

47 - Cổ Phật Động 

 

Trên núi Phổ Đà, ở phía tây bắc của Thung Lũng Cát Bay, có một động đá gọi là Cổ Phật Động, trong đó có thờ một "nhục thân Phật". Lai lịch của Cổ Phật Động này là một câu chuyện khá thú vị. 

Xưa thật là xưa, trong động này có một vị cao tăng được mọi người gọi là Nhân Quang Sư. Nhân Quang Sư có hai người đệ tử, người lớn nhất tên là Huệ Tính, và người trẻ nhất tên là Huệ Minh. Thầy Huệ Minh tính t́nh thật thà trung hậu, trong khi thầy Huệ Tính th́ xảo quyệt khôn khéo, biết quan sát sắc mặt và lời nói của sư phụ để ch́u theo và lấy ḷng. Lúc ra ngoài đường, bao giờ thầy cũng cầm một cây chổi quét một cái rồi mới bước một bước, để tỏ ra rằng thầy là người từ bi, đến một con kiến thầy cũng không nhẫn tâm dẫm lên và giết hại. Khi hai anh em đi hái rau, thầy Huệ Minh th́ lo hái rau tươi rau tốt, c̣n thầy Huệ Tính th́ trái lại chỉ hái lá già, lá hư về nấu ăn, ra ṃi một bậc chân tu tu hành khổ hạnh. 

Tuy vậy, Nhân Quang Sư vẫn đối đăi với hai đệ tử một cách b́nh đẳng, không phân biệt thân sơ, khiến Huệ Tính rất phiền năo trong ḷng. 

Không lâu sau, tuổi già sức yếu, Nhân Quang Sư biết đă đến lúc ḿnh sắp viên tịch, trước phút lâm chung ngài căn dặn hai vị đệ tử Huệ Tính và Huệ Minh rằng: 

- Thầy ĺa trần rồi, hai con hăy lấy một cái vại và bỏ di thể của thầy ở trong ấy. Sau đúng 3 năm 6 tháng, hăy mở vại ra khám. Nếu như di thể của thầy rữa mục th́ thôi, coi như không có ǵ đáng nói, nhưng nếu chân thân không hoại th́ điều đó chứng minh thầy đă tu thành chính quả, lên cơi Cực Lạc rồi. Lúc đó các con hăy đem chân thân vào động mà thờ phụng cho người ta đến lễ cúng, hai con hăy nhớ kỹ. 

Nhân Quang Sư nói xong liền ngừng thở, Huệ Tính, Huệ Minh làm đúng theo di chúc của thầy. 

Sư phụ mất rồi, Huệ Tính mới để lộ bộ mặt thật tham lam của ḿnh. Lúc sinh tiền Nhân Quang Sư thường đeo bên ḿnh một cái hồ lô, Huệ Tính ngỡ rằng trong đó có chắc là bảo vật ǵ đây nên lấy ra xem, thấy hồ lô trống rỗng. Thầy chúc ngược nó xuống th́ thấy có ba hạt ngũ cốc rơi ra: một hạt gạo trắng, một hạt gạo đỏ và một hạt kê. Huệ Tính không t́m thấy vật ǵ đáng tiền bèn vứt hồ lô rồi bỏ đi. Huệ Minh vội nhặt lên, bỏ ba hạt ngũ cốc vào trở lại như cũ và cẩn thận giấu đi. 

Sau ba năm sáu tháng, Huệ Tính và Huệ Minh mở vại ra khám, quả nhiên thấy chân thân bất hoại của Nhân Quang Sư ngồi xếp bằng ngay ngắn trên bồ đoàn, sắc mặt, thần thái không khác ǵ lúc sinh tiền. Huệ Minh thấy thế th́ vô cùng sung sướng, vội sụp xuống lễ lạy, c̣n Huệ Tính tuy cũng miễn cưỡng lễ một lễ song trong tâm th́ bất măn: sư phụ lên cơi Cực Lạc, bỏ mặc huynh đệ chúng tôi không thèm lo đến, thật là nhỏ mọn! 

Tin đồn rằng Nhân Quang Sư đă để lại chân thân bất hoại thật là nhiệm mầu được lưu truyền khắp Phổ Đà Sơn. Thế là nào tăng nào tục, toàn dân của Phổ Đà Sơn đem bánh trái lên động cúng dường, khiến cái động đá nhỏ bé trở thành nhiệt náo hẳn lên.  

Có hai tên vô lại từ Thượng Hải lên Phổ Đà Sơn du ngoạn, nghe tin này bèn nẩy ra một ư kiến bất lương. Hai người bèn thông đồng với Huệ Tính, lén trộm "nhục thân Phật" ra khỏi động với một giá hối lộ là 500 đồng tiền, đưa trước 300 đồng, chờ mọi sự thành công tốt đẹp th́ mới đưa 200 đồng c̣n lại sau. Đương lúc nửa đêm, Huệ Tính bèn khiêng chân thân của sư phụ đi theo hai tên vô lại lên thuyền chạy về Thượng Hải. 

Hôm sau Huệ Minh tắm rửa súc miệng xong, bèn đi thắp hương cho sư phụ như mọi ngày. Nhưng thầy kinh hoàng khám phá Phật ṭa trống rỗng, "nhục thân Phật" không biết ở nơi nào. Thầy vội vàng chạy đi t́m sư huynh, sư huynh cũng biệt tăm biệt tích. Huệ Minh chạy cùng khắp Phổ Đà Sơn nhưng vẫn không t́m ra "nhục thân Phật" lẫn sư huynh, nên ngày ngày ngồi trước Phật ṭa đau khổ ứa nước mắt. 

Một hôm có một vị khách hành hương họ Vương lên tới động. Ông nh́n thấy cái hồ lô trên bàn thờ, mừng quá reo lên: 

- T́m thấy rồi! T́m thấy rồi! 

Huệ Minh ngạc nhiên hỏi: 

- Khách nhân t́m thấy ǵ ạ? 

Vị khách không trả lời mà hỏi ngược lại: 

- Có phải trong cái hồ lô này đă từng đựng một hạt gạo trắng, một hạt gạo đỏ và một hạt kê không? 

- Thưa đúng rồi ạ, hiện giờ vẫn hăy c̣n. 

Huệ Minh vừa nói vừa đổ hồ lô ra cho khách xem ba hạt ngũ cốc. Người khách đặt ba hạt ngũ cốc lên ḷng bàn tay, ngắm nghía kỹ lưỡng rồi như nghĩ ra chuyện ǵ: 

- Ái dà, th́ ra "Muộn Hàng Sư" ở nơi này... 

Huệ Minh nói: 

- Thầy chúng tôi tên là Nhân Quang Sư, h́nh như ngài đă gặp thầy chúng tôi rồi th́ phải? 

Người khách gật đầu, kể lại chuyện xưa. 

Th́ ra vị hương khách họ Vương sống gần Tô châu. Hai vợ chồng tới trung niên mới có được một cậu con trai nên cưng quư vô cùng. Nào ngờ từ khi mới lọt ḷng, thằng bé không ngừng gào khóc, bao nhiêu y sư thuốc thang đều không chút công hiệu nên hai vợ chồng vô cùng khổ năo. Vừa may Nhân Quang Sư đến Tô Châu, đi ngang cửa nhà hai vợ chồng họ Vương, thấy một cô nữ tỳ đang bồng một đứa trẻ sơ sinh và cô dỗ dành thế nào đi nữa đứa bé cũng không ngừng la khóc. Nhân Quang Sư đến gần, đưa tay ra nhè nhẹ vuốt lên đầu thằng bé, tiếng khóc của đứa bé nhỏ dần tức th́. Ngài vuốt một cái nữa, tiếng khóc ngừng bặt. Vuốt lần thứ ba, đứa bé toét miệng ra cười tuy mặt c̣n đầm đ́a nước mắt, nụ cười ngây thơ của nó khiến ai thấy cũng phải thương. 

Vợ chồng họ Vương biết được có một vị ḥa thượng chữa được bệnh khóc của con th́ vội vàng mời Nhân Quang Sư vào nhà, cảm tạ không ngớt lời. Phải chăng Nhân Quang Sư đang đi hóa duyên? Ngài hóa tiền hay hóa thức ăn? Nhân Quang Sư đáp hóa thức ăn. Vợ chồng họ Vương vội mở rộng cửa nhà kho, thỉnh Nhân Quang Sư tự tiện muốn lấy bao nhiêu lúa gạo th́ lấy. Nhân Quang Sư chỉ lấy ba hạt ngũ cốc, một hạt gạo trắng, một hạt gạo đỏ và một hạt kê, bỏ vào cái hồ lô đeo trên lưng, miệng niệm "A Di Đà Phật" rồi thong thả quay đi. Hai vợ chồng vội chạy theo hỏi: 

- Cao Tăng pháp hiệu là ǵ? Núi tiên Ngài tu ở chỗ nào? 

Nhưng họ chỉ loáng thoáng nghe ngài đáp từ xa: 

- Tôi ở Nam Hải Phổ Đà, người ta gọi tôi là Muộn Hàng sư. 

Chuyện này xảy ra đă gần mười năm rồi, bây giờ đứa con đă lớn, vị khách họ Vương vẫn không quên công đức của Nhân Quang Sư, nên đặc biệt đến Phổ Đà để t́m ngài. 

V́ đọc sai tên Nhân Quang Sư thành Muộn Hàng Sư nên ông t́m thật lâu mà t́m không ra, nay nh́n thấy cái hồ lô và ba hạt ngũ cốc mới nhận được người. 

Thầy Huệ Minh nghe khách kể lại chuyện xưa th́ cảm động vô hạn, tuông nước mắt mà nói: 

- Khách nhân không biết, sư phụ chúng tôi tạ thế đă hơn ba năm rồi. Ngài có để lại chân thân bất hoại nhưng đă bị kẻ trộm lấy đi mất rồi. 

Vị khách họ Vương nghe thế giật ḿnh: 

- Xin lỗi thầy, chân thân của Nhân Quang Sư bị cướp đi bao lâu rồi? 

- Gần một tuần rồi. 

Vị khách vỗ đầu gối nói: 

- Đúng rồi, đúng rồi, thảo nào khi tôi đi ngang Thượng Hải nghe có người nói là "Đại Thế Giới" đang triển lăm "Nhục thân Phật", người đến xem như kiến. Chắc chắn đó là chân thân của Nhân Quang Sư rồi đó. 

Huệ Minh nghe chân thân của thầy bị đem đi triển lăm như thế th́ đau ḷng khóc ̣a lên. Khách họ Vương an ủi: 

- Thầy yên tâm đi, tôi, Vương mỗ, sẽ đem chân thân của ngài Nhân Quang Sư về Phổ Đà Sơn dẫu có phải bỏ ḿnh đi nữa! Ngày mai chúng ta đi Thượng Hải. 

Nói lại về hai tên vô lại đem "nhục thân Phật" trộm được đến Thượng Hải triển lăm ở Đại Thế Giới. Nào ngờ "nhục thân Phật" này, ba ngày đầu th́ c̣n coi được, ba ngày sau th́ da và thịt từ từ tuột xuống c̣n lại có một bộ xương người chết. Khách đến xem ai cũng sợ hăi bỏ trốn, và kết tội ông chủ của Đại Thế Giới là tên bịp bợm, lừa tiền người ta, rồi c̣n đem lên cửa quan tố cáo. Ông chủ của Đại Thế Giới một mặt thâu "nhục thân Phật" về, một mặt đi t́m thầy Huệ Tính thanh toán, không những đ̣i lại số tiền 300 đồng đă đặt trước mà c̣n đánh cho thầy một trận nên thân. Thầy Huệ Tính vừa giận vừa hối hận, chiều hôm ấy hộc máu tươi, nằm liệt trên giường không dậy nổi. 

Chính lúc đó, vị khách họ Vương đưa Huệ Minh đến Thượng Hải, hai người đến cửa quan để kiện, những vị quan ở đấy sợ dư luận công chúng nên vội vàng đ̣i ông chủ của Đại Thế Giới phải đưa "nhục thân Phật" về Phổ Đà Sơn và bồi thường một số tiền tổn thất cho chùa. 

Thắng kiện rồi, Huệ Minh đến quán trọ thăm sư huynh vừa bệnh vừa sạt nghiệp, Huệ Tính khóc nức nở, xấu hổ muốn chết quách. Huệ Minh thấy sư huynh đă biết hối lỗi nên không trách móc lấy một lời, trả tiền cơm nước quán trọ và thuốc men rồi d́u thầy lên thuyền trở về Phổ Đà Sơn. 

"Nhục thân Phật" về đến động núi, người khách họ Vương bèn mời thợ giỏi, thợ khéo về điểm trang lại và giát vàng lên nhục thân, mua sắm bàn ghế, màn trướng toàn bộ mới tinh, và c̣n xây một cái am nhỏ trước cửa động để thờ phụng nhục thân của hoà thượng Nhân Quang Sư, bây giờ đă được người ta tôn xưng là "Cổ Phật". 

Từ đấy, trước cảnh sắc mới mẻ, khách hành hương trở lại đông đảo hơn trước. Mọi người tranh nhau đến chiêm ngưỡng và lễ bái "nhục thân Phật" trong Cổ Phật Động, cũng từ đó mà động đá này cũng được đặt tên là Cổ Phật Động.

 

 

48 - Quan Âm thâu Tứ Đại Kim Cang 

 

Quan Âm Bồ Tát thâu Long Nữ và Thiện Tài rồi th́ Phổ Đà Sơn, đạo tràng của Ngài trở nên càng ngày càng hưng thịnh, khách hành hương càng ngày càng đông đảo, xa gần ai cũng nghe danh và c̣n gọi đảo này là Hải Thiên Phật Quốc. 

Bốn đại Thiên Vương hộ vệ cửa Nam Thiên nghe thế, quyết định chính mắt ḿnh nh́n thấy mới tin, thế là mỗi vị cầm vũ khí của ḿnh, cưỡi mây lành hướng về Phổ Đà Sơn. 

Bốn đại Thiên Vương c̣n được gọi là bốn đại Kim Cang.  

Nhà Phật chia vũ trụ này làm ba cơi là cơi dục, cơi sắc và cơi vô sắc. Ở cơi dục có Lục Dục thiên, và tầng trời thứ nhất của Lục Dục Thiên, gần với thế gian nhất, chính là Tứ Thiên Vương Thiên, tức là nơi ngự trị của bốn vị Kim Cang này. Kinh Phật nói các vị này trụ ở lưng chừng núi Tu Di, ở đấy có ngọn Kiên Đà La, và ngọn này có bốn đỉnh tên là Tu Di Tứ Bảo Phong (bốn đỉnh báu của núi Tu Di). Nhiệm vụ của bốn đại Thiên Vương là mỗi ngài bảo hộ một phương của thế gian, v́ thế bốn Thiên Vương c̣n được gọi là hộ thế tứ Thiên Vương. 

Vị Thiên Vương ở phương đông tên là Tŕ Quốc Thiên Vương, âm phạn là Đa La Sất, thân màu trắng, mang áo giáp mũ sắt, tay cầm cây đàn t́ bà. Tŕ Quốc có nghĩa là lấy từ bi làm đầu, bảo hộ chúng sinh. Vị này là thần âm nhạc nên tay cầm cây đàn t́ bà, lấy âm nhạc để cảm hóa chúng sinh quy y Phật giáo. Thiên Vương này có tên khác là "Điều". 

Thiên Vương ở phương nam tên là Tăng Trưởng Thiên Vương, âm phạn là Tỳ Lưu Ly, thân màu xanh, mang áo giáp mũ sắt, tay nắm bảo kiếm. Vị Thiên Vương này có nhiệm vụ là làm cho chúng sinh tăng trưởng thiện căn, hộ tŕ Phật giáo nên tay cầm bảo kiếm để bảo vệ cho Phật Pháp không bị xâm phạm. Vị này c̣n có tên là "Phong". 

Thiên Vương của phương tây tên là Mục Quảng Thiên Vương, âm phạn là Tỳ Lưu Bác Xoa, thân màu đỏ, tay có quấn con rồng. Quảng Mục có nghĩa là dùng tịnh thiên nhăn để luôn luôn quán sát thế gian, hộ tŕ nhân dân. Tay cầm con rồng, hay cũng có thể coi như sợi dây thừng màu đỏ, nghĩa là dùng dây thừng trói người không tin Phật, khiến cho họ quy y Phật giáo. Vị này c̣n có tên là "Thuận". 

Thiên Vương của phương Bắc tên là Đa Văn Thiên Vương, âm phạn là Tỳ Sa Môn, thân màu đen, mang mũ giáp, tay cầm dù báu. Vị này dùng phúc đức để nghe ngóng khắp bốn phương, dù báu là để chế phục chúng ma, bảo hộ tài sản của nhân gian. Vị này c̣n có tên là "Vũ". 

Bốn vị Thiên Vương, hay c̣n gọi là bốn đại Kim Cang, hợp lại để mang lại "Phong Điều Vũ Thuận" cho nhân gian. 

Bốn vị Thiên Vương này là những vị thiên tướng lừng lẫy, người cao lớn, so với bậc thần tiên thường th́ cao lớn gấp mười lần. Bốn vị Kim Cang uy phong lẫm lẫm bước xuống băi cát Thiên Bộ Sa, lấy đường Vân Đầu, dọc theo đường Ngọc Đường vừa đi vừa ngắm cảnh núi. Họ thấy trên núi tự viện hùng tráng, chùa chiền mọc như rừng, cây cổ thụ cao chọc trời, hoa cỏ xanh ŕ rậm rạp, sóng biếc, cát vàng bủa quanh tứ bề, nên bị cảnh Hải Thiên Phật Quốc làm cho mê đắm, thật quả danh bất hư truyền, nên trong ḷng ngầm thán phục. Họ vừa đi vừa thưởng thức, vừa đi vừa say sưa nh́n ngắm nên đến giờ ăn cơm trưa lúc nào mà không hay. Họ đă ra đi lúc trời tảng sáng, đi không biết bao nhiêu là dặm đường, đến giờ là đă hơn nửa ngày trời nên bây giờ cảm thấy bụng đói cồn cào, ruột sôi sùng sục, vội lo t́m xuôi t́m ngược xem có chỗ nào bố thí cơm chay mà t́m măi không có. Trên thiên giới, bốn đại Kim Cang vốn quen muốn ǵ được ngay nấy, chưa bao giờ phải chịu cảnh đói khát như thế này nên t́m hoài mà không có ǵ ăn đâm ra cáu kỉnh, một vị Thiên Vương nổi giận la lên: 

- Đạo tràng của vị Bồ Tát này chỉ là hư danh, cái ǵ mà một bát cơm chay cũng không có chỗ nào bố thí cả! 

Bốn đại Thiên Vương bản tánh vốn nóng nảy, gặp đều không vừa ư là lửa giận bùng lên ngay, thế là cả bốn nhao nhao đả kích: 

- Đại sĩ với chẳng tiểu sĩ, thật là không biết điều chút nào, bốn đại Kim Cang chúng ta giá lâm mà tại sao lại không ra đón tiếp! 

- Đại sĩ dỏm, không biết nể mặt anh em chúng ta ǵ cả, khi nào gặp th́ thế nào cũng phải làm cho bà ta biết tay mới xong! 

Quan Âm Bồ Tát thật ra đă biết sự có mặt của bốn đại Kim Cang từ lâu, nay nghe họ càu nhàu như thế, trong ḷng không khỏi buồn cười, lập tức nảy ra một ư kiến. 

Đương lúc bốn vị Kim Cang đang lớn tiếng mạt sát, bỗng nhiên từ rừng trúc tím trước mặt bay ra một làn khói bếp. Họ bèn rảo bước về phía rừng trúc tím, t́m quanh một lúc mới thấy khói bếp ấy là từ một căn nhà bé nhỏ, bừa thấp vừa hẹp bay ra. Bốn đại Kim Cang nh́n qua khe cửa th́ thấy trong nhà có một thiếu phụ đang ngồi trước bếp nhóm lửa thổi cơm. Thiếu phụ trạc ngoài 30 tuổi, khuôn mặt thanh tú, cử chỉ an tường, trang nhă. Cơm thổi đă chín, từng cụm, từng cụm khói thơm phức bay lọt ra ngoài khiến cho bốn đại Kim Cang càng cảm thấy đói thêm, không chờ được nữa, bèn gơ cửa nói: 

- Cô nhỏ ơi, chúng tôi là bốn đại Kim Cang từ thiên giới xuống đây, xin cô bố thí cho chúng tôi nồi cơm ấy đi! 

Người thiếu phụ chẳng tỏ vẻ ǵ là kinh sợ, trả lời: 

- Mời quư vị vào nhà. Nồi cơm này là để đăi khách, đủ cho bốn vị dùng. 

Bốn đại Kim Cang muốn bước vào nhà nhưng người nào cũng cao lớn, nhà lại nhỏ hẹp cao không tới đầu gối của họ, làm sao chui vào cho lọt đây? Họ c̣n đang lúng túng, người thiếu phụ mỉm cười thúc giục: 

- Quư vị vào đi chứ, tại sao lại không vào? 

Bốn vị quá muốn ăn cơm nên đành cúi đầu uốn lưng tiến vào nhà. Kỳ lạ thay, bước vào rồi thi căn nhà bé nhỏ ấy dường như được nới rộng ra, bốn vị Kim Cang có thể cử động thư thái, không thấy nhà nhỏ hẹp nữa mà c̣n thấy rộng răi thoải mái nữa là khác. 

Người thiếu phụ mời họ ngồi xung quanh một cái bàn vuông và nói: 

- Tôi xới cơm cho quư vị dùng. 

Một vị Kim Cang nói: 

- Cô nhỏ à, chúng tôi đói ră rời rồi, anh em chúng tôi lại ăn rất khoẻ, xin cô làm ơn nấu thêm cơm chứ cái nồi bé tí thế kia sợ không đủ cho chúng tôi no. 

Ba vị c̣n lại cũng phụ họa: 

- Đúng rồi, đúng rồi, nồi cơm bé tí ăn không đủ no. 

- Xin bốn vị tướng quân yên ḷng, đừng thấy nồi nhỏ mà lo sợ, cơm trong nồi ấy đủ cho quư vị ăn no bụng. 

Người thiếu phụ nói rồi, xới cơm vào bốn cái bát đem đến bàn rồi tiếp: 

- Nồi hăy c̣n cơm, quư vị dùng xong hăy tự tiện xới thêm, tôi ra ngoài giặt quần áo một chút, không ở lại hầu chuyện với quư vị  được. Mời quư vị tự nhiên ăn cơm cho no. 

Nói xong cô bèn xách một cái giỏ bước ra khỏi nhà. Bốn đại Kim Cang vội vàng nâng bát, vừa ăn vừa canh chừng nồi, ai cũng nghĩ "cái nồi có chút xíu, cơm này th́ đủ cho ai ăn, ta nên ăn cho mau để xới trước". Cả bốn người đều nghĩ như nhau nên ai nấy đều ăn thật mau. Kết quả là vị Kim Cang mặt trắng ăn xong trước, chỉ và mấy cái là cả bát cơm đă vào bụng, thế là vị này chạy mau như bay đến trước bếp lửa mở nồi xúc cơm. Nào ngờ cái vung như thế bị gắn dính vào nồi, không cách nào dở lên. Ông bèn buông bát xuống, dùng hai tay để mở nồi, dùng hết cả sức lực mà cái vung vẫn trơ trơ bất động. 

Vị Kim Cang mặt trắng đỏ mặt tía tai, đứng ngây người ra. Vị Kim Cang mặt đen cũng vừa ăn xong bát cơm bèn qua xúc thêm, thấy vị Kim Cang mặt trắng mở vung không ra bèn cười chế nhạo và đẩy vị ấy sang một bên, tự ḿnh đến dở nồi. Ông những tưởng việc này dễ như trở bàn tay mà thử mấy lần không xong, bèn đứng dang hai chân, dồn hết sức mạnh nắm chặt vung, nhưng v́ dùng sức quá mạnh, vung đă không nhúc nhích mà nồi lại vuột ra khỏi bàn tay khiến ông ngă lăn đùng xuống đất, giận quá chửi toáng lên. Hai vị Kim Cang c̣n lại cũng đến thử và cũng thất bại, họ dùng sức đến đâu đi nữa vung vẫn dính chết vào nồi, trơ trơ bất động Cuối cùng bốn vị Kim Cang bèn đứng xếp thành hàng, vị đứng đầu cầm vung, vị đứng sau ôm bụng vị đứng trước, hễ nghe hiệu lệnh th́ cùng nhau kéo về phía sau: "dô ta! dô ta!" Họ dùng hết sức lực để "nhổ" cái vung ra khỏi nồi như người ta nhổ một củ cải ra khỏi đất nhưng cái vung vẫn không hé ra chút xíu nào, bốn vị cứ kéo tới kéo lui một hồi lâu, mệt quá nằm dài xuống đất thở ph́ pḥ, không c̣n nhúc nhích được, thật là xấu hổ! 

Bỗng có tiếng cửa mở, người thiếu phụ bước vào pḥng, thấy bốn đại Kim Cang nằm la liệt dưới đất nhăn răng méo miệng, buồn cười quá mà vẫn phải làm bộ kinh ngạc: 

- Hẳn bốn vị tướng quân ăn no rồi nên nằm xuống nghỉ ngơi chăng? 

Vị Kim Cang mặt đỏ vội vàng cải chính: 

- Không phải, không phải, chúng tôi chưa ăn xong, mới chỉ ăn được có một bát cơm mà thôi! 

Người thiếu phụ nói: 

- Tại sao quư vị không ăn cho xong? Hay là quư vị đừng chê nồi nhỏ, cơm trong nồi hăy c̣n đầy, sao quư vị không múc ăn thêm? 

Vị Kim Cang mặt đỏ đáp: 

- V́ mở vung không ra! 

Thiếu phụ nói:  

- Sao lạ vậy? Cái vung bé tí ti thế này, bốn vị tướng quân sao lại mở không ra? Bốn vị là thiên tướng lừng danh trên thiên giới, sức mạnh vô địch, làm ǵ dở không lên một cái vung? 

Bốn đại Kim Cang không trả lời được, người nào cũng cảm thấy ngượng ngùng, nh́n nhau không nói mà trong ḷng phát hoảng. 

Mọi người c̣ng đang nghĩ ngợi th́ người thiếu phụ bước đến trước bếp, đưa tay ra nhẹ nhàng nhấc vung lên và nói: 

- Vung dễ mở lắm mà, bốn vị tướng quân, xin mời dùng thêm cơm! 

Bốn đại Kim Cang sững sờ nh́n người thiếu phụ nhấc cái vung một cách ung dung nhẹ nhàng, nghĩ lại ban năy bốn anh em phí bao nhiêu là sức mà mở măi không ra, cảm thấy thật là bất khả tư ngh́! Vị Kim Cang mặt trắng cuối cùng nhanh trí nhất, trong thoáng chốc hiểu rơ ngọn nguồn, biết người thiếu phụ này không phải là người phàm, sau đó thoắt nhiên tỉnh ngộ la lên: 

- Ối! Tôi hiểu rồi! Ngài là Quan Âm đại sĩ, anh em chúng con không thấy núi Thái Sơn, xin Bồ Tát thứ lỗi! 

Ba đại Kim Cang kia cũng lớn tiếng nói: 

- Bồ Tát thứ lỗi! Xin Bồ Tát tha thứ cho bọn chúng con ngu si! 

Nói rồi, bốn đại Kim Cang quỳ xuống trước mặt người thiếu phụ dập đầu lạy liên tiếp. Quan Âm Đại sĩ mỉm cười: 

- Xin bốn đại tướng quân đứng dậy, đứng dậy đi, dùng cơm xong hăy nói chuyện. 

Ăn cơm xong, bốn đại Kim Cang nói: 

- Đa tạ Đại sĩ, hôm nay chúng con nhờ ơn từ bi của Bồ Tát, vô vàn cảm tạ, bây giờ xin phép Đại sĩ cho chúng con trở về thiên đ́nh. 

Quan Âm Đại sĩ nói: 

- Bốn đại tướng quân c̣n muốn trở về sao? Bốn vị muốn trở về th́ không có vấn đề ǵ, tuy nhiên uy danh của bốn vị bốn chấn động thiên đ́nh, hôm nay chỉ có một cái vung mà nhấc không lên, chỉ e… thiên binh thiên tướng có c̣n tôn trọng quư vị chăng? Hay là họ sẽ cười chê? Theo ta nghĩ, hay là các vị ở lại đây theo ta tu hành, các vị nghĩ sao? 

Sự thật, khi Quan Âm Bồ Tát biết có bốn đại Thiên Vương đến Phổ Đà Sơn, Ngài nghĩ rằng đất này đang thiếu thần hộ Pháp, nếu có cách nào giữ bốn đại Kim Cang này ở lại th́ thật là thích hợp! V́ thế Ngài đă lập ra một kế kích thích ngạo khí của họ để giữ họ ở lại.  

Bốn đại Kim Cang nghe Quan Âm Đại sĩ nói như thế th́ không có lời lẽ nào để trả lời, thật sự họ không c̣n mặt mũi nào mà trở về thiên đ́nh nữa.  

Trải qua chuyện này rồi họ mới được thấy uy lực của Phật Pháp và thần thông vô tỉ của Quan Âm Bồ Tát. Họ vô cùng kính phục Đại sĩ, đồng ḷng chấp thuận ở lại Phổ Đà Sơn, theo ngài Quan Âm học Phật Pháp và hộ vệ Phổ Đà Sơn. 

Từ đấy, ở hai bên trái và phải của Thiên vương điện xuất hiện ra những bức tượng uy vũ hùng tráng của bốn đại Thiên Vương. 

 

49 - Quan Âm và thổ địa

 

Ở đâu cũng có một ông thần thổ địa, giống như mỗi tỉnh phải có một ông cảnh sát trưởng vậy. Nhưng ở chân núi Hoa Oanh tỉnh Tứ Xuyên lại không có thần thổ địa, tại sao lạ thế? Ở vùng này có một câu chuyện khá thú vị được lưu truyền. 

Lúc đó, ngôi chùa ở Ngũ Lư Pha dưới chân núi Hoa Oanh đang được trùng tu. Dân chúng ở Ngũ Lư Pha là những Phật tử thuần thành, ai cũng đóng góp tiền bạc mướn vài chục người thợ gạch, thợ nề về tu sửa ngôi chùa. Nhưng chỗ xây cất cách thị trấn rất xa, trên núi lại khó kiếm thức ăn thức uống, họ bèn mời một người tới chuyên lo nấu ăn cho thợ thuyền. Nhưng điều kiện làm việc quá khổ cực, nào gánh nước, nào nấu nướng thật là nhọc nhằn, người nào tới cũng chỉ làm được vài ngày rồi cũng xin thôi v́ làm không nổi. Mời người khác đến thay thế cũng chỉ được vài ngày rồi cũng đi. 

Một hôm, có một ông lăo râu trắng đến t́m vị trưởng lăo cai quản việc sửa chữa ngôi chùa, nói rằng ḿnh tự nguyện lên núi nấu cơm cho thợ. Vị trưởng lăo nh́n ông lăo râu tóc bạc phau phau, tạng người th́ gầy c̣m, nghĩ rằng với cái tướng ấy th́ làm sao gánh nước thổi cơm nổi? Ông bèn can: 

- Thưa cụ, việc này không phải là một việc nhẹ nhàng đâu, phải gánh nước, phải thổi cơm, mà gánh nước th́ phải đi thật xa mới có nước. Chùa đă mời vài anh thanh niên trẻ tuổi về làm mà tất cả đều chỉ làm có vài hôm là xin nghỉ hết, họ than cực quá làm không nổi, vậy th́ cụ làm sao chịu được? 

Ông lăo cười ha hả, trả lời: 

- Làm nổi, ông đừng chê tôi lớn tuổi, cái bộ xương già này c̣n chịu cực được mà! Mấy ông thợ làm việc mệt nhọc như thế để xây chùa sửa miếu, nếu không cho mấy ông ấy ăn đàng hoàng th́ họ lấy sức đâu mà làm? Xin trưởng lăo an tâm, tôi cam đoan không thua ǵ bọn trai tráng khoẻ mạnh đâu, tôi không sợ mệt, dọn cơm chắc chắn không bao giờ trễ năi! 

Trưởng lăo nửa tin nửa ngờ nhưng không có lời nào để đối đáp với ông lăo, hơn nữa người có khả năng th́ lại kiếm không ra nên đành chấp thuận vậy. 

Ông lăo quả nhiên nói không ngoa, làm việc vượt hẳn bọn trai tráng. Ông đi thật xa mới tới cái suối trên núi để múc hai thùng nước thật đầy gánh về, đường đi cũng phải vài dặm, thế mà ông lăo da mồi tóc bạc này lại gánh một cách nhẹ nhàng thư thái, đi nhanh như bay, đi đi về về mấy lần là các lu nước trong chùa đă đầy ắp. 

Gánh nước xong xuôi ông lại lên đến giữa núi nhặt củi, và chẳng bao lâu lại cơng về một bó củi thật to, thong thả ung dung chồng củi ở trước cửa nhà bếp để phơi nắng cho khô. 

Khoảng một giờ trước bữa ăn, ông mới bước vào nhà bếp và thật là thần kỳ, chỉ trong một giờ mà ông đă sửa soạn xong bữa cơm cho vài chục người ăn, tất cả đều được bày biện tươm tất trên bàn, cơm thơm phưng phức, rau thơm lừng lựng, thợ thuyền ăn ngon miệng nên luôn luôn hớn hở tươi cười. 

Ông lăo là người rất tốt, gặp thợ thuyền lúc nào cũng chào hỏi chuyện tṛ vui vẻ. Thợ mà có bệnh là ông lập tức lo lắng cho, đem trà đem nước cho uống tận t́nh. Nhưng ông có một khuyết điểm lớn là hay nói, thích la cà chuyện phiếm với những người thợ trẻ tuổi, mà nói toàn là chuyện khoác lác, chuyện thần kỳ, thí dụ lúc c̣n trai trẻ ông đă một ḿnh đánh đuổi được hơn một chục tên cướp, hay là ông ăn uống rất khoẻ, có lần đánh cá với người ta ông đă tu cả chục cân rượu già một lúc. Ông lại kể đă từng đánh nhau với yêu quỷ, rất nhiều hồ ly tinh đă bị ông đánh cho chạy dài! Ngoài ra ông cũng đă gặp rất nhiều Bồ Tát, thần tiên nữa... Lúc cao hứng nói chuyện như thế ông quên cả thời gian, có một lần, gần tới giờ cơm chiều rồi mà ông hăy c̣n đứng ba hoa với những người thợ mới vừa băi việc. Một vài người thấy trời sắp tối mới nhắc rằng: 

- Ông bác ơi, ông nh́n xem mấy giờ rồi, ông mau về nấu ăn đi chứ, trời đă sắp tối, ông chưa đi th́ bao giờ mới được ăn cơm? 

Ông lăo nói: 

- Ờ phải rồi, đúng đấy, trời đă sắp tối, nhưng mấy người đừng lo, tôi về làm một tư là xong ngay! 

Quả nhiên, ông lăo về đến nhà bếp rồi, chỉ một chút xíu sau là gọi mọi người vào bàn, và trên bàn cơm rau đă dọn ra sẵn sàng. Có người thấy điều ấy lạ lùng bèn hỏi ông lăo: 

- Ông bác ơi, ông làm sao mà mau quá vậy? 

Ông lăo đáp: 

- Ậy, tại làm xong từ trước lâu rồi! 

Tuy nhiên cơm canh c̣n nóng hổi, c̣n bốc khói nghi ngút, không thể nào nói là làm xong từ trước được. Tuy nhiên cũng chẳng ai nghi ngờ ǵ cả, chỉ khen ông lăo nhanh nhẹn và ăn cơm một cách khoái chí, vui vẻ. 

Có một lần, ông lăo lên núi gánh nước, gánh nước xong liền đi nhặt củi, hôm ấy có thể nói là khó t́m hơn mọi lần nên ông lăo đi thật lâu. Khi ông vác củi trên đường về th́ đi ngang qua công trường xây chùa, đúng ngay lúc ấy có một người thợ sơ ư, bị một viên gạch từ trên nóc chùa rơi xuống trúng lỗ đầu. Ông lăo thấy thế bèn ở lại giúp mọi người săn sóc nạn nhân, nào cơng ông ta đến một túp lều gần đó, vừa xức thuốc vừa băng bó vết thương, bận bịu một lúc th́ đă đến giữa trưa, phải có người nhắc nhở: 

- Ông bác à, gần giữa trưa rồi mà ông bác vẫn chưa đi làm cơm, bây giờ làm sao cho kịp? 

Ông lăo chỉ nói: 

- Úi dà, giữa trưa rồi, tôi phải đi gấp! 

Lúc ấy thợ thuyền đă ngừng tay, cùng nhau đến pḥng ăn, th́ thấy ông lăo đi như bay vượt qua mặt họ. Mọi người nghĩ rằng ông lăo đă giúp chăm sóc người thợ bị thương quên cả làm cơm, nên chắc chắn hôm nay sẽ bị ăn trễ và phải chờ đợi. Thế nhưng, kỳ lạ thay, khi họ vừa bước tới pḥng ăn th́ thấy cơm canh nóng hổi đă dọn sẵn trên bàn, ông lăo đứng đó không lộ vẻ ǵ là cấp bách cả. Điều này làm cho mọi người phải kinh ngạc, thầm nghĩ rằng ông lăo này hẳn phải là thần tiên, ông chỉ tới trước có mấy phút mà làm xong mọi sự rồi sao? Có người lại hỏi ông, ông bèn cười ha hả: 

- Làm xong từ trước rồi! 

Tuy nhiên từ hôm đó trở đi, có một người thợ để ư theo dơi ông lăo. Theo dơi ông một lúc th́ khám phá ra rằng mỗi ngay ông lăo chỉ gánh nước nhặt củi chứ không hề làm cơm, cả ngày ông ở ngoài đường và hiếm khi đặt chân vào nhà bếp. Thế nhưng ngày nào đi làm về cơm nước cũng được nấu nướng xong xuôi chỉnh tề. Người thợ nọ không nhẫn nại được nữa, bèn hỏi thẳng ông lăo: 

- Ông bác ơi, sao mỗi ngày chỉ thấy ông bác đi gánh nước nhặt củi chứ không thấy nấu cơm, vậy th́ cơm canh này ai nấu vậy? 

Ông lăo bị hỏi bất ngờ chỉ ấp a ấp úng, không nói được câu nào. Người thợ lại hỏi: 

- Ông bác, ông nói thật đi, có sao nói vậy, ông đừng có dấu cháu. Ông bác có phải là Bồ Tát không? 

Ông lăo bị đẩy vào chân tường nên không có cách nào hơn là nói thật: 

- Tôi không phải là Bồ Tát, ôi! Thôi được, tôi nói thật cho chú nghe, cơm này không phải tôi nấu, chú muốn biết ai nấu th́ đi theo tôi. Nhưng có điều tôi cho chú xem, nhưng bằng bất cứ giá nào chú cũng không được kể lại cho người khác biết. Chú mà nói ra là chết tôi đấy! 

Nói xong ông lăo đưa người thợ len lén đến nhà bếp, từ khe cửa bên ngoài nh́n vào trong. 

Ôi, trong bếp khói bốc mịt mù, quả nhiên có một người đang bận rộn thổi cơm. Ban đầu, khói dày quá nên không nh́n rơ được người đang thổi cơm, một lúc sau khói tan bớt đi th́ mới thấy đó là một cô gái rất xinh đẹp, người quấn một cái váy thêu hoa lan, thái rau làm bếp vừa khéo léo vừa nhanh nhẹn.  

Người thợ từ bên ngoài đờ người ra, anh ta phải kiễng chân để nh́n cho rơ, quá kinh ngạc nên vô ư động phải cánh cửa khiến cánh cửa mở toang ra. Cô gái thấy có người nh́n trộm bèn chui vào ḷ lửa đỏ rực mà biến mất. Ông lăo ngây người ra một lúc rồi than rằng: 

- Ôi chao, chú nh́n trộm đủ rồi, can chi mà chú làm bật tung cánh cửa vậy? Bây giờ khổ thân tôi rồi! Quan Âm Bồ Tát bắt tội tôi, tôi phải làm sao đây? 

Th́ ra Quan Âm Bồ Tát biết chùa đang tu sửa xây cất mà thiếu người nấu cơm, vấn đề trở nên nan giải, v́ thế Ngài âm thầm đến để giúp đỡ. Ngài bàn tính trước rất kỹ với thổ thần địa phương, chia việc ra minh bạch: thần thổ địa th́ gánh nước nhặt củi đồng thời giữ bí mật cho Ngài ở trong nấu bếp. Nhưng vị này lại quá thích ba hoa nên đă để lộ bí mật. 

Khi người thợ đi khuất rồi Ngài Quan Âm mới từ ḷ lửa bước ra, trách thần thổ địa rằng: 

- Ông gánh nước th́ lo gánh nước, ta đă dặn ông không được nói rùm beng lên mà ông không nghe lời, c̣n đem người lạ đến nh́n trộm là nghĩa làm sao? 

Bồ Tát nói đến đây, bèn dùng cái phất trần đuổi muỗi quét một cái, quét thần thổ địa bay ra xa tới hơn chục dặm, không cho ông được làm việc chung với Ngài nữa. 

V́ thế, chùa được trùng tu xong, ở núi Hoa Oanh, nguyên một vùng trong ṿng hơn mười dặm không có thần thổ địa.

 

 

50 - Bảo Đỉnh Sơn Thiên Thủ Quan Âm 

 

Ở Đại Phật Loan huyện Đại Túc, tỉnh Tứ Xuyên, có một bức tượng Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhăn nổi tiếng hoàn cầu. 

Trên một bức tượng vuông vắn mỗi bề mười trượng, có khắc tượng Ngài Quan Âm ngồi, cao khoảng ba thước và sau lưng Ngài, duỗi ra một ngàn cánh tay dài ngắn không đều, không cùng góc độ, không cùng vị trí, xen lẫn với nhau không theo thứ tự nào nhưng rất hài ḥa. 

Trong mỗi một ngàn bàn tay đều có khắc một con mắt, và tay nào cũng cầm một pháp khí khác nhau, trăm h́nh vạn trạng, không tay nào giống tay nào, to lớn một cách tự nhiên. 

Toàn bộ đều màu hoàng kim và màu bích ngọc, huy hoàng chói lọi khiến ai nh́n cũng phải kinh dị tán thán, khen rằng đó là một đại kỳ quan trong lịch sử điêu khắc thế giới. 

Tượng Thiên Thủ Thiên Nhăn này làm sao mà khắc được như vậy? 

Ở huyện Đại Ấp có nhiều câu chuyện được lưu truyền, và sau đây là một trong những câu chuyện ấy. 

Tương truyền rằng lúc công trường điêu khắc tượng Phật bằng đá ở Đại Phật Loan mới hoàn thành được phân nửa th́ vị pháp sư trụ tŕ chùa Bảo Đỉnh tên là Triệu Trí Thông quyết tâm tạo một bức tượng Quan Âm Bồ Tát với đủ 1 000 cánh tay. 

Quyết định này của ngài làm cho người thợ điêu khắc Lưu Tư Cửu cảm thấy khó xử vô cùng. Lưu Tư Cửu đă từng theo anh là Lưu Bát Lang đi chu du đó đây và đă từng thấy rất nhiều tượng đá, trong đó có ít nhất là 10 tượng Thiên thủ Quan Âm nhưng những bức tượng này, ít th́ có 7 cánh tay, nhiều th́ 49, nhưng chưa hề thấy tượng nào có tới 1 000 cánh tay. V́ nói là 1000 cánh tay nhưng thông thường là chỉ cần thêm một vài cánh tay tượng trưng là đủ, chứ không ai đ̣i hỏi là phải có đúng 1000 cánh tay bao giờ. Điều mà trưởng lăo Triệu Trí Thông đ̣i hỏi thật là viễn vông và thái quá. Lưu Tư Cửu hỏi: 

- Sư phụ, bức tường chỉ cao có chừng đó, sắp xếp một ngàn cánh tay, cánh này bên cạnh cánh kia th́ sẽ không đủ chỗ. Nhiều quá th́ sẽ thấy chật, mà chật th́ sẽ thấy lộn xộn, và lộn xộn th́ không c̣n tổ chức kết cấu ǵ nữa. Theo tôi nghĩ ḿnh lấy một tượng trưng cho 10, sư phụ bằng ḷng không? 

- Không!! Quyết tâm của ngài Triệu Trí Thông chắc như bàn thạch. Phải làm đúng 1000 cánh tay và 1000 bàn tay, trong ḷng mỗi bàn tay phải có một con mắt huệ, và mỗi bàn tay phải cầm một pháp khí khác nhau, có thế mới hiển bày được pháp lực vô biên của Quan Âm Bồ Tát đại từ đại bi. 

Lưu Tư Cửu lùi lại: 

- Trừ phi Bồ Tát hiển linh, phải mời anh tôi về th́ mới làm nổi một bức tượng như thầy muốn. 

Lưu Bát Lang là một điêu khắc sư lừng danh đời nhà Tống, một đời đem tâm huyết và tài trí cống hiến cho nghệ thuật điêu khắc đá. Nhưng năm ngoái, đương lúc làm việc trên một vách núi cao, muốn làm cho kịp công việc nên ông đă phải thức thật khuya, quá mệt mỏi ông đă từ giàn tre ngă xuống chân núi và ĺa đời. 

Trưởng lăo Triệu Trí Thông có giữ một bức họa của Lưu Bát Lang. Hôm sau, ngài đưa cuộn h́nh cho Lưu Tư Cửu mà nói: 

- Tạ ơn Bồ Tát hiển linh, đưa anh Bát Lang của ông về đây! 

Lưu Tư Cửu nh́n h́nh của anh mà cảm thấy xấu hổ. Ông biết rằng nghệ thuật của ḿnh không đến nỗi dở, nhưng thiếu hẳn cái linh hồn, cái tinh thần mà người ta có thể cảm nhận được trong những tác phẩm của anh ḿnh. Ông đem bức h́nh treo trong lều chỗ tá túc trong lúc làm việc và thấy là lúc nào anh cũng có mặt để thúc dục, khuyến khích ḿnh. "Trong thiên hạ không có ǵ khó, chỉ sợ người không có tâm làm mà thôi", đó là câu mà anh ông thường nói lúc c̣n sinh tiền. 

Đêm ấy Lưu Tư Cửu không ngủ được thẳng giấc, trong lúc nửa thức nửa ngủ, ông bỗng thấy mông lung dưới ánh sáng trăng có một con công bay đến và đậu dưới cửa sổ của ḿnh, xoè rộng đôi cánh để khoe bộ lông rực rỡ của nó. Những đốm hoa trên từng chiếc lông của nó lấp lánh giao động, màu sắc chan ḥa, huyễn hoặc thay đổi bất định. Phảng phất đâu đây như có ai chỉ bày cho Lưu Tư Cửu: mỗi chiếc lông là một cánh tay, mỗi đốm màu là một con mắt trong ḷng bàn tay, cao thấp không đồng, xen lẫn hài ḥa, tạo nên h́nh cái quạt bầu dục, khéo léo như một nữ thần diễm lệ với 1 000 cánh tay. 

Lưu Tư Cửu giật ḿnh thức giấc, chợt hiểu ra rằng chính Bồ Tát Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhăn đến ứng mộng cho ḿnh! Dưới ánh trăng, ông ngước mắt nh́n lên h́nh của Bát Lang, và dường như anh của ông cũng đang mỉm cười nh́n lại. 

Hôm sau, Lưu Tư Cửu bắt đầu vẽ sơ đồ của công tŕnh, làm việc ngày đêm v́ công tŕnh này đ̣i hỏi rất nhiều công phu. Bản phác này không đẹp th́ ông làm ngay một bản khác, lần thứ chín thất bại th́ ông vẽ lại lần thứ mười. Sau 7 ngày 7 đêm khổ công vùi đầu không ăn không nghỉ như thế, cuối cùng ông cũng thành công, đưa ra một mô h́nh của Ngài Thiên Thủ Thiên Nhăn Quan Âm rất hoàn mỹ, cấu trúc chặt chẽ, trưởng lăo Triệu Trí Thông cũng rất vừa ư. 

Vẽ sơ đồ không dễ, mà khắc tượng lại c̣n khó hơn. Tường đá cứng chắc không phải là bùn, một bức tượng bằng bùn mà thất bại th́ có thể phá đi khắc lại, c̣n tường đá mà hư th́ rất khó mà có thể sửa đổi. 

Lưu Tư Cửu cùng ba người đệ tử tâm phúc ra công điêu khắc, thể theo các chiều dài ngắn mà đẽo mà đục, dùng chùy dùng búa mà chẳng khác ǵ dùng kim thêu lên đá ... và như thế ṛng ră suốt 9 xuân hạ thu đông, một bức tượng Quan Âm chưa hề có trên thế gian xuất hiện: Đó là một bức tượng ngồi với đầy đủ 1000 cánh tay và 1000 bàn tay. 

Hăy nh́n xem một ngàn cánh tay của Bồ Tát: những cánh tay ấy hoặc duỗi ra, hoặc cong lại; hoặc ngay, hoặc nghiêng; hoặc đưa lên, hoặc buông xuống; hoặc dơ cao, hoặc đưa ngang; hoặc ṿng, hoặc rũ; hoặc thẳng, hoặc uốn... thật là cả trăm cả ngàn tư thế khác nhau mà tư thế nào cũng hoàn mỹ và vi diệu. Trên mỗi ḷng bàn tay có một con mắt huệ sáng ngời, và tay nào cũng có một pháp khí như cung tên, gương báu, ŕu, kiếm, nhạc khí v.v..., muôn h́nh muôn vẻ, sắc màu tươi thắm, đặc biệt là sau khi được tô màu và giát vàng rồi th́ hai màu vàng ṛng cùng màu ngọc bích làm cho bức tượng thêm huy hoàng rực rỡ, tăng vẻ đoan trang và từ bi, pháp lực vô cùng của Bồ Tát, lôi kéo cả vạn hương khách đến triều bái dâng hương, c̣n du khách th́ bị nhiếp phục và chấn động, trở nên thành tâm và tin kính. 

Tương truyền rằng khi tượng của kim thân Thiên Thủ Quan Âm ở lầu Đại Bi, Đại Phật Loan, Bảo Đỉnh Sơn được h́nh thành th́ có chúng tăng vân tập về rất đông để dự lễ khai quang. Thiện nam tín nữ cũng đông như kiến, hương khói mịt mù, chuông trống vang trời, thật là linh đ́nh nhiệt náo. Đêm ấy vừa vặn rơi đúng rằm tháng bảy, tức là hội Ô Thước, cầu được bắc ngang sông Ngân Hà để Ngưu Lang Chức Nữ có thể gặp nhau. Bẩy tiên cô có phận sự hộ tống Chức Nữ cũng nhân dịp đó xuống trần, thấy lễ lớn cũng chen vào tham dự. 

Đứng trước tượng Thiên Thủ Quan Âm xán lạn hùng vĩ, bảy vị tiên cô kinh ngạc tán thán không ngừng. Vị tiên cô lớn nhất nói: 

- Thật là tuyệt vời! Đúng là một kiệt tác! Dư một cánh tay không được mà thiếu một cánh tay cũng không xong! 

Cô út Thất tiên nữ phụng phịu không đồng ư: 

- Nhưng em cứ muốn thêm một cánh tay nữa cơ! 

Nói xong cô chọn vị trí, và thêm một cánh tay bằng vàng ṛng một cách tinh xảo. Sáu tiên cô c̣n lại ngắm nghía và công nhận rằng bức tượng không những đă không bị hư hoại mà c̣n tăng thêm vẻ đẹp. Thế là sáu cô tiên chị cũng muốn mỗi người thêm một cánh tay vào kiệt tác ấy. Thật là vi diệu, mỗi cô thêm một cánh tay một cách quá khéo léo nên bức tượng càng thêm tuyệt mỹ, thần quang của những cánh tay bằng vàng ṛng khiến bức tượng như tỏa ánh sáng vạn dặm, chói lọi rực rỡ. 

Truyền rằng tượng Thiên Thủ Quan Âm của Đại Phật Loan, Bảo Đỉnh Sơn được tạo thành như thế, tổng cộng là có 1007 cánh tay, trong số đó có 7 cánh tay bằng vàng ṛng. Nếu không tin, mời quư vị đến đấy đếm thử. 

Nếu ai đếm được và phân biệt được 7 cánh tay bằng vàng ṛng ấy, th́ người đó phải là người thông minh nhất và may mắn nhất trần gian này!

 

Minh Quang posted July 17, 2005

 [Home] [Up] [Truyện Tích Quan Âm 1 -5] [Truyện Tích Quan Âm 6 - 10] [Truyện Tích Quan Âm 11 - 15] [Truyện Tích Quan Âm 16 - 20] [Truyện Tích Quan Âm 21 - 25] [Truyện Tích Quan Âm 26 - 30] [Truyện Tích Quan Âm 31 - 35] [Truyện Tích Quan Âm 36 - 40] [Truyện Tích Quan Âm 41 - 45] [Truyện Tích Quan Âm 46 - 50]