Chùa Hải-Đức in Jacksonville
|
|
Quan Âm Truyền Thuyết (Tuyển Tập) Diệu Hạnh GiaoTrinh Chuyển Ngữ
Ở chân núi Thiên Thai, khoảng 3,5 cây số phía bắc huyện Thiên Thai tỉnh Triết Giang, hiện nay có một ngôi chùa rất nổi tiếng tên là Quốc Thanh tự, do Kim Vương Dương Quảng đời nhà Tùy năm Khai Hoàng thứ 18 (598 DL), vâng lời Trí Giả Đại Sư mà xây nên, cũng là tổ đ́nh của Thiên Thai Tông của Phật giáo Trung Hoa. Trong giới Phật tử, ngôi chùa Thiên Thai này vẫn c̣n nổi danh trên khắp hoàn cầu. Trong Đại Hùng Bảo Điện (Chính Điện) của chùa Quốc Thanh, có một bức tượng Quan Âm "Từ Hàng Phổ Độ" ở ngay trung tâm, và ngồi dọc xếp thành hai hàng ở hai bên điện có tượng 18 La Hán khắc bằng gỗ lim, từ đời nhà Nguyên. 18 vị La Hán ban đầu chính là 18 người thợ đến làm công ở chùa này. 18 người thợ đă tỉ thí đấu với Bồ Tát Quan Âm và thua cuộc nên được Ngài thâu làm 18 La Hán. Sau khi chùa Quốc Thanh được xây lên rồi, Kim Vương Dương Quảng ban cho chùa rất nhiều ruộng đất nên ḥa thượng trụ tŕ phải mướn 18 người thợ đến cầy cấy trồng trọt. C̣n việc cơm nước trong chùa th́ có một bà lăo rất già, đầu tóc bạc phơ, một tay đảm nhiệm. Các vị tăng trong chùa nói là lúc chùa c̣n đang xây th́ đă thấy bà có mặt ở chùa rồi. Nhưng hiện nay chùa có 327 vị tăng thường trụ cùng 18 người thợ, bà vẫn hăy c̣n là người duy nhất lo chuyện bếp núc, thế mà dọn cơm chưa từng một lần trễ giờ, cơm nấu chưa bao giờ khê cũng chưa bao giờ sống. Bà lăo cũng chưa từng ngồi không, ngày ngày phải đi nhặt củi ở gần chùa rồi chất sẵn một núi to ở ngoài cửa, sau đó c̣n đi trồng rau ở trên núi trong một miếng đất của chùa. Các thầy trong chùa, từ lớn tới nhỏ ai cũng phải khen ngợi tán thán tính siêng năng cần cù của bà lăo. Sự thật bà lăo này không ai khác hơn là Quan Thế Âm Bồ Tát, v́ Kim Vương Dương Quảng muốn xây chùa Quốc Thanh nên Ngài bí mật đến giúp một tay, để biến vùng đất này thành một thánh địa nổi danh của Phật giáo . 18 người thợ là những cậu thanh niên vạm vỡ khỏe mạnh, hiếu chiến, háo thắng. Họ đến chùa này, ngày ngày ăn cơm của bà lăo nấu, vừa thơm vừa ngon, đáng lẽ phải biết mang ơn, nhưng trong đầu lại nẩy ra một ư kiến quái gở. Họ thấy bà lớn tuổi dường ấy mà làm việc lại giỏi như thế, nấu cơm cho rất nhiều người ăn mà bữa nào dọn cơm rau ra cũng đúng giờ, thật là kỳ lạ! Thế là một buổi sáng ăn sáng xong, họ ra đồng làm việc, vừa làm vừa bàn tán với nhau, hay là ḿnh t́m cách phá bà ấy chơi? Họ bàn mưu tính kế với nhau xong, thừa lúc bà lăo vắng mặt, bèn lấy nước đổ lên đống củi dùng để đốt lửa thổi cơm trước cửa khiến củi ướt sũng, rồi mới xuống núi. Họ cười thầm trong bụng rằng để xem trưa nay trở về xem bà làm sao để dọn cơm đây? Thế nào lại chẳng có dịp cười bà một phen! Nào có ngờ đâu rằng buổi trưa trở về, th́ cũng như mọi thường, cơm đă dọn ra sẵn cho mấy trăm người ăn, mười mấy mâm cơm vẫn thơm ngon như mọi bữa! 18 người thợ chạy ra ngoài cửa xem, th́ thấy đống củi bị họ tưới ướt sáng nay bây giờ lại khô rang khô ráo, nên há hốc mồm đứng thừ người ra. Nhưng họ đâu có chịu thua, họ lại bàn mưu tính kế kiếm một cách khác quỷ quái hơn. Hôm ấy, họ đem từ ngoài vào một thúng cát vàng, chờ bà lăo ra ngoài xếp củi, bèn đổ hết thúng cát vào nồi cơm rồi đắc ư cười hỉ hả xuống núi làm việc, xem lần này bà lăo sẽ đương đầu cách nào nhé? Bà lăo gánh củi về, đă biết đám thợ đă giở tṛ ǵ rồi, trong ḷng không khỏi buồn cười. Bà bèn dở nắp nồi lên, cầm một cái vớt bọt bằng đồng lớn, miệng nói "vớt cát đừng vớt gạo", khuấy vào nồi cơm như thế vài dạo th́ bao nhiêu cát bọn thợ đă đổ vào hồi sáng nay đă vớt ra hết không c̣n một hạt. Đến trưa, cơm vẫn nấu xong như thường lệ, và cũng như thường lệ không sống không khê, thơm phưng phức, ngon tuyệt vời, không hề lẫn lộn một hạt cát nào. 18 người thợ trở về ăn cơm thấy thế lại ngẩn người ra, họ vẫn chưa phá được bà lăo nên ăn mất ngon. Nhưng những cậu thanh niên hiếu chiến háo thắng ấy đời nào chịu thua, họ lại bàn với nhau kiếm một kế khác hiểm hóc hơn nữa. Gạo trong chùa vốn được giao tới mỗi tháng trong vựa lúa. Vựa lúa của chùa Quốc Thanh cách nhà bếp rất xa, đầu tháng nào cũng có mấy vị tăng gánh về đổ vào trong một cái lu lớn cho bà lăo. Hôm ấy là ngày cuối tháng, 18 người thợ ăn xong, chờ bà lăo lên núi nhặt củi rồi bèn lấy bao nhiêu gạo c̣n lại trong lu dấu mất, "không bột đố gột nên hồ", lúc nhặt củi về không có gạo để nấu cơm trưa, mà muốn đi gánh về th́ cũng không thể kịp, để xem lần này bà làm sao trở tay? Bà lăo nhặt củi về, nh́n lu gạo thấy trống trơn, biết ngay đây là mấy cậu thanh niên dở tṛ nữa, bà lại cười thầm. Chừng ấy mà có thể làm khó dễ Bồ Tát được sao? Ngài lấy thúng cát vàng mà bọn thợ đem tới hôm nọ, miệng nói "cát vàng biến thành gạo", thế là trong nháy mắt, Ngài có một thúng gạo lớn. Đến giờ ăn trưa, 18 người thợ trở về, lại thấy trên bàn cơm rau đă dọn sẵn, th́ ra bà lăo vẫn nấu cơm được như thường khiến họ một lần nữa ngẩn ṭ te. Lần này, họ dần dần cảm nhận rằng bà lăo không phải là người tầm thường, mà họ cũng không nghĩ được cách khác để phá bà, nên trong tâm đă cảm phục nhiều rồi. Một hôm, 18 người thợ đang gặt lúa trên đồng, bà lăo nhặt củi trên núi về bèn ghé đến. Nh́n họ gặt lúa nhanh như gió, Bồ Tát cũng phải công nhận họ thật là những người thợ giỏi và thầm tán thán, nghĩ rằng nếu thâu 18 anh chàng về làm La Hán bảo vệ chùa chiền th́ không phải là một điều rất tốt hay sao? Thế là Ngài nẩy ra một ư kiến, nên tiến đến chào những người làm công ấy. - Các cậu mười mấy người nghe này, tôi hỏi các cậu, có phải các cậu đă phá tôi ba lần liên tiếp không? Các cậu có sao nói vậy, phải nói thật. 18 người làm công ngượng ngùng nói: - Bà lăo ơi, đúng thế, chính chúng cháu đă tinh nghịch muốn phá bà lăo chơi nhưng nay th́ chúng cháu không dám nữa, bà lăo thật là thần thông quảng đại, chúng cháu đă khuất phục rồi, chúng cháu thật t́nh xin lỗi, mong bà lăo bỏ qua cho chúng cháu. Bồ Tát cười: - Bọn thanh niên các cậu mà biết khuất phục người khác sao, thí dụ như hôm nay tôi gặt lúa thi với các cậu xem ai gặt mau, th́ các cậu có phục hơn không? 18 người làm công nghe nói tới chuyện thi gặt lúa th́ không phục nữa mà nói: - Bà lăo ơi, nấu cơm th́ chúng cháu không phá nổi bà, chứ mà gặt lúa th́ trong ṿng 10 dặm, 100 dặm quanh đây không ai qua mặt chúng cháu được, chúng cháu là tay nghề mà, không sợ bà đâu! Bà muốn thi th́ thi, mà người thua mất ǵ, người thắng được ǵ, bà lăo quyết định đi! Bồ Tát nói: - Nếu tôi thua th́ tôi sẽ đăi các cậu một buổi tiệc 18 món, c̣n nếu các cậu thua th́ phải ở lại chùa Quốc Thanh này làm La Hán, các cậu chịu không? 18 người làm công đâu có sợ bà lăo, bèn đồng thanh trả lời: - Chịu! Sau đó bà lăo đem tới một lưỡi liềm, cùng 18 người làm công mỗi người chiếm một luống cày, bắt đầu gặt xem ai gặt mau nhất. 18 người làm công nghĩ, chúng tôi trẻ tuổi khỏe mạnh, chân tay lanh lợi, c̣n bà th́ già nua mà c̣n bị bó chân, làm sao chúng tôi thua bà được! Nghe tiếng Bồ Tát nói "bắt đầu!", thế là 19 người như ngựa phi điện chớp bắt đầu gặt lúa. Bà già tuy chân bó thật nhưng khi bắt đầu gặt th́ hoàn toàn biến dạng, bà làm thoăn thoắt như bay. 18 người làm công chuyên tâm cúi đầu làm việc, thoáng một cái là xong nửa luống, có một người ngẩng đầu lên xem bà lăo đă làm tới đâu rồi, nghĩ rằng không chừng bà đă ngă xuống đất cũng có, nào ngờ người ấy nh́n xong bỗng sững sờ, bà lăo đă gặt xong luống cày, đang đứng ở đầu bên kia mà cười! Bây giờ th́ 18 người làm công hoàn toàn phục thiện. Họ gặt xong luống của ḿnh rồi bèn nói với bà lăo: - Bà cụ ơi, chúng cháu hoàn toàn phục bà rồi. Bà không phải là người phàm, chắc bà là Bồ Tát, chúng cháu t́nh nguyện xin làm đệ tử của bà. Bấy giờ Quan Âm Bồ Tát mới hiện bảo tướng Bồ Tát, nói với 18 người làm công rằng: - Đúng rồi, ta là Quan Âm Bồ Tát, đến đây giúp Kim Vương Dương Quảng xây chùa lập thánh địa. Nếu các ông bằng ḷng theo ta, ta sẽ thâu các ông làm La Hán, cùng ta bảo hộ ngôi chùa này, các ông nghĩ sao? 18 người làm công thấy bảo tướng của Quan Âm Bồ Tát rồi liền quỳ xuống dập đầu lạy lia lịa, bạch rằng: - Bồ Tát đại từ đại bi, chúng con nguyện xin theo Bồ Tát. Từ đó 18 người làm công biến thành 18 vị La Hán, ai đi chùa Quốc Thanh cũng có thể thấy tượng của họ ngồi dọc hai bên Đại Hùng Bảo Điện.
Quan Âm Đại Sĩ ở núi Phổ Đà đọc kinh thuyết Pháp và tu luyện thành Phật rồi, bèn đi đến Tây Phương Cực Lạc tham bái Như Lai. Mới đó mà 81 ngày đằng đẳng đă trôi qua. Hôm ấy Ngài Quan Âm rời Lôi Âm Tự, bước lên đài sen, gió thổi mây bay đưa Ngài trở về đạo tràng của ḿnh. Khi Ngài ở trên không nh́n xuống biển Liên Hoa th́ thấy trên núi Phổ Đà có khí độc mịt mù, cây khô cằn, lá vàng úa, thắng cảnh Nam Hải ngày xưa tươi đẹp bao nhiêu th́ nay đă trở thành một ngọn núi trọc, bao bọc bằng một màn chướng khí dày đặc. Ban đầu Ngài không thấy rơ ràng nguyên nhân của sự thay đổi ấy, bèn đáp xuống núi Lạc Ca. Th́ ra trong thời gian 81 ngày mà Ngài Quan Âm vắng mặt để lên Tây Phương Cực Lạc tham bái Như Lai th́ ở cơi trần gian dài bằng mấy trăm năm . Trong thời gian đó, có một con rắn lửa đă thành tinh (Hồng Xà Tinh) từ động Vân Vụ (Vân = mây; Vụ = sương mù) của đảo Đông Phúc đến chiếm cứ Phổ Đà sơn, và tự xưng ḿnh là Xà vương. Hồng Xà Tinh này thân đỏ như lửa, mắt như hai ngọn đèn pha, miệng th́ như cái thúng lúa, nó chỉ ngáp một cái là toàn đảo nồng nặc chướng khí đen nghịt. Hắn c̣n thích du ngoạn đó đây trong đảo để giết hại sinh linh. Ngày hôm sau, Ngài Quan Âm đi t́m con xà tinh, th́ thấy từ xa có một người đàn ông mặt đỏ từ động Phạm Âm bước ra. Người đàn ông này tiến đến trước mặt Ngài Quan Âm, dùng giọng thô lỗ mà hỏi "Ê, ngươi đến đảo rắn để làm ǵ?" Thấy thái độ của hắn như thế, Ngài Quan Âm biết ngay đây là hóa thân của Hồng Xà Tinh, bèn nhẫn nại thi lễ và hỏi: - Ông hẳn là xà tiên rồi! Tại sao lại đến chiếm Phật môn thánh địa của ta, rồi c̣n làm hại sinh linh nữa? Xà tinh trợn mắt, gầm lên: - Ta ở trên đảo này đă hơn mấy trăm năm, sao lại dám nói ta chiếm đất Phật của ngươi? Quan Âm thấy hắn lộ tướng hung dữ, giọng điệu ngạo mạn, biết rằng không thể nói phải trái cho hắn nghe được. Ngài nghĩ: "Con xà tinh này nóng nảy lỗ măng, sao ta không dùng chút mưu kế để bắt hắn thần phục?" Nghĩ thế rồi, Ngài Quan Âm mới dùng lời nói nhă nhặn mà nói: - Nguyên quán của ông vốn ở động Vân Vụ, bây giờ lại đến Phổ Đà sơn, chiếm cứ hai nơi như thế có ích ǵ? Thôi bây giờ xin ông phương tiện cho tôi mượn Phổ Đà sơn để dựng chùa thuyết Pháp, được không? Hồng Xà tinh thấy thái độ ḥa nhă của Ngài Quan Âm, nghĩ rằng ḿnh có thể tự tung tự tác, bèn nói: - Vụ mượn núi th́ có thể điều đ́nh với nhau được, nhưng chỉ được mượn trong một thời gian ngắn thôi, không được mượn lâu. - Không mượn lâu, không mượn lâu! - Vậy th́ mượn bao giờ trả? Ngài Quan Âm cười: - Bao giờ không c̣n tiếng mơ trên núi Phổ Đà, và sóng không c̣n vỗ trên băi cát Thiên Bộ Sa th́ ta sẽ trao trả đảo lại cho ông. Con Xà Tinh nghe thế đùng đùng nổi giận, thế mà dám nói là mượn, rơ ràng là muốn chiếm đảo rắn của ta đây mà! - Không cho mượn! Không cho mượn! Ngươi hăy đi khỏi núi Lạc Ca này mau lên! Nói xong hắn quay ḿnh bỏ đi. Nhưng Ngài Quan Âm đâu chịu bỏ cuộc, Ngài vội chận Hồng Xà Tinh lại, hỏi: - Không lẽ núi Lạc Ca cũng là của ông luôn? Hồng Xà Tinh trả lời: - Th́ từ trước tới giờ Phổ Đà Lạc Ca vốn là một ngọn núi, bộ không biết sao? Ngài Quan Âm thấy Hồng Xà Tinh nổi giận, cố ư trêu tức thêm: - Ông luôn miệng nói Phổ Đà sơn là của ông, vậy ông lấy ǵ làm chứng? Hồng Xà Tinh dương dương tự đắc trả lời: - Tại v́ chân thân của ta có thể quấn đảo này đúng một ṿng. Ngài Quan Âm nắm lấy cơ hội, tiến đến một bước nói khích: - Thân ông dài chừng âư sao? Ta không tin, ông thử quấn một ṿng cho ta xem! Con Hồng Xà Tinh muốn phô trương bản lĩnh của ḿnh, không hề thấy dụng ư của Ngài Quan Âm, bèn rùng ḿnh một cái, biến thành một con rắn thật to. Trong nháy mắt, hắn dăn thân ra càng lúc càng dài, ven theo chân núi ngoằn ngoèo khúc khuỷu làm một ṿng chu vi của núi Phổ Đà, không bao lâu th́ đầu đuôi của hắn tiếp giáp với nhau. Ngài Quan Âm nhẹ nhàng dùng chân đạp xuống một cái, khiến núi Lạc Ca tách ra khỏi Phổ Đà thật xa. Từ đó Phổ Đà và Lạc Ca trở thành hai ngọn núi khác nhau. Chờ Hồng Xà Tinh dùng thân quấn xong một ṿng Phổ Đà sơn, đầu đuôi gặp nhau rồi, Ngài Quan Âm đứng trên núi Lạc Ca cất tiếng cười khanh khách, nói với Hồng Xà Tinh rằng: - Ông nói Phổ Đà và Lạc Ca chỉ là một ngọn núi, sao ông quấn một ṿng Phổ Đà mà chưa quấn tới Lạc Ca? Hồng Xà Tinh ngóc đầu lên nh́n, quả nhiên thấy núi Lạc Ca rất xa núi Phổ Đà, biết ḿnh đă bị mắc mưu, không phục mà nói: - Bỏ đi, bỏ đi, để ta quấn lại một ṿng! Ngài Quan Âm đưa ra một cái bát bằng vàng: - Không cần ông quấn một ṿng núi Phổ Đà Lạc Ca nữa. Nếu ông có thể quấn một ṿng cái bát bằng vàng này, th́ ta nhường Phổ Đà sơn cho ông đó. Hồng Xà Tinh nh́n bát vàng, nói một cách khinh miệt: - Chuyện đó có khó ǵ? Nói xong hắn lại biến thành một con rắn lửa. Chỉ thấy con rắn lăn một ṿng trên mặt đất, sột soạt một tiếng, thân hắn co nhỏ lại dần, rồi nhẹ nhàng tung người lên cuộn trên miệng bát một ṿng. Ngài Quan Âm lợi dụng thờỉ cơ lấy ngón tay khẽ búng, Hồng Xà Tinh rơi vào bát cái "bộp", rồi dùng tay đậy miệng bát lại khiến con rắn không c̣n hơi để thở, hổn hển luôn miệng kêu cứu: - Quan Âm Đại sĩ tha mạng! Đại sĩ tha mạng! Ngài Quan Âm suy nghĩ một lúc rồi nói: - Được, tha cho ngươi một con đường sống, nhưng ngươi hăy trở về động Vân Vụ. Nói xong Ngài thả Hồng Xà Tinh xuống biển. Hồng Xà Tinh lại cầu xin: - Động Vân Vụ đă không có mây lại cũng không có sương mù, lại hoang vu, một năm bốn mùa mặt trời như thiêu như đốt, thật khó cho tôi nương náu, xin Đại Sĩ cho tôi ở chỗ khác! Ngài Quan Âm thuận tay bẻ một đóa hoa sen, tung lên không trung, đóa sen biến thành một áng mây h́nh hoa sen. Ngài nói với hồng xà: - Ngươi mà biết cải tà quy chính th́ áng mây h́nh hoa sen này sẽ che nắng cho ngươi hoài. C̣n nếu làm ác trở lại, ta sẽ không dung thứ! Hồng Xà Tinh khấu đầu bái tạ, theo áng mây mà trở về động Vân Vụ. Cho đến nay, áng mây h́nh hoa sen này vẫn c̣n lăng đăng trên nền trời của động Vân Vụ! Ngài Quan Âm đuổi được con rắn lửa rồi, bèn tung người lên nhảy từ núi Lạc Ca đáp xuống núi Phổ Đà. Trên tảng đá mà Ngài đáp xuống, hiện nay c̣n lưu lại một dấu chân thật sâu đậm, mọi người gọi tảng đá đó là "Quan Âm Khiêu" (khiêu = nhảy).
Dưới chân núi Phật Đỉnh Sơn, ở bên đường Hương Vân có một tảng đá lớn nghiêng hẳn về phía trước như chực đổ xuống, trên đá có khắc bốn chữ "Hải Thiên Phật Quốc" với nét bút hùng tráng, nét khắc tinh xảo. Bốn chữ đẹp như một bức tranh thư pháp ấy không phải do một văn nhân, học sĩ nào viết, mà là bút tích của một vị tướng quân nổi danh đời nhà Minh, tên là Hầu Kế Cao, nhờ dẹp tan giặc Nụy mà sử sách đề tên. Hầu Kế Cao là một vị tướng quân văn vơ song toàn, ra trận th́ cầm binh như thần, tài ba vũ băo, mà b́nh thường th́ lại là một tín đồ Phật giáo thuần thành. Năm Vạn Lịch, ông lănh đạo quân binh diệt giặc Nụy, nhờ chiến thuật cao cường nên đánh trăm trận trăm thắng, khiến Nụy quân phải rút tàn binh ẩn náu trên đảo Lăn Cương, một ḥn đảo hiểm trở, núi đồi nhấp nhô như sóng nước. Người ta nói "Lăn Cương 3 quả núi, lên xuống thật nguy nàn" cũng không ngoa. Đảo này rất xa đất liền, giáp với biển sâu, trên biển th́ sóng to gió lớn và nhiều đá ngầm, chỉ có những con thuyền nhỏ và nhẹ mới có thể lách giữa những tảng đá ngầm ấy mà đi, người nào không biết đường đi nước bước th́ không cách ǵ đến gần bờ được. Lúc ấy, Hầu Kế Cao cùng binh lính trấn thủ trên mặt biển, mấy lần đem quân chinh phạt nhưng v́ giặc Nụy ẩn trốn rất sâu trong đảo nên mấy lần đi không lại về không. Ông khổ tâm suy nghĩ tính toán, nhưng không làm sao t́m được mưu chước nào để đánh đuổi bọn giặc này. Dầu cho việc quân sự gian khổ, nhưng đêm đêm Hầu Kế Cao vẫn ngồi trước tượng Ngài Quan Âm tĩnh tọa một lúc, một là để tịnh dưỡng tâm thần, và hai là lợi dụng những lúc an tĩnh như thế để mà mưu tính kế hoạch. Đêm hôm ấy, Hầu Kế Cao ngồi trước bàn thờ ngây người ra mà nh́n tượng Ngài Quan Âm. Đột nhiên, ông nghe hương thơm từ bàn thờ tỏa xuống, định thần lại nh́n kỹ th́ thấy tượng Ngài Quan Âm lớn dần, lớn dần, đôi mắt hơi mở to một chút, và c̣n nghe Ngài nói: - Thiên thời, địa lợi, nhân ḥa! Thiên thời, địa lợi, nhân ḥa! Hầu Kế Cao mừng quá kêu lên: - Đúng rồi! Thiên thời, địa lợi, nhân ḥa! Nhưng trong chớp mắt, tượng Ngài Quan Âm đă nhỏ lại như cũ. Lúc ấy trời đă tờ mờ sáng, nhưng Hầu Kế Cao không hề cảm thấy mệt mỏi hay buồn ngủ. Ông lên tàu chiến chạy thẳng tới đảo Câu Kỷ. Trên đảo này, một mặt ông hỏi han dân chài, một mặt ông quan sát t́nh h́nh. Lên tới chóp đỉnh của ḥn đảo nhỏ, thấy những chiếc thuyền đánh cá lấm tấm trên mặt biển ông chợt nghĩ ra một diệu kế, vội vàng trở về căn cứ và bắt đầu xếp đặt một chiến thuật khôn khéo, tinh tế. Một vài ngày sau, có bốn chiếc thuyền đánh cá giăng lưới trên mặt biển Lăn Cương. Tướng giặc Nụy nh́n thấy mừng thầm, vung đao lên hét: - Mau ! Hăy mau bắt lấy thuyền chài! Trong khoảnh khắc, từ thung lũng Lăng Cương túa ra hơn mười chiếc thuyền Nụy, đâm thẳng vào những chiếc thuyền đánh cá. Dân chài trên thuyền vội vàng cắt dây, vứt bỏ lưới mà chạy trốn. Giặc Nụy đuổi sát theo sau không nhả, thẳng tiến đến đảo Câu Kỷ. Bỗng nhiên tiếng hiệu lệnh tù và vang dậy, bốn chiếc thuyền câu nhanh nhẹn quay đầu lại đối mặt với thuyền Nụy và xông thẳng tới, những người dân đánh cá ban năy ai cũng có giáo mác, chuẩn bị hỗn chiến với giặc Nụy. Quân lính trên đảo Câu Kỷ cũng ào ạt đánh trống hỗ trợ, lên thuyền trợ chiến. Giặc Nụy thấy bị tấn công bốn bề th́ hoảng hốt mở đường máu mà chạy. Đúng cái lúc thuyền Nụy đuổi theo thuyền đánh cá, rời xa hải phận Lăng Cương th́ Hầu Kế Cao dẫn một đoàn "nam phương binh" rất giỏi về thủy chiến, lên thuyền nhỏ đi đường tắt âm thầm đến đảo Lăng Cương. Như những bóng ma, họ tiêu diệt đám Nụy binh ở lại hậu cứ thủ đồn trong chớp nhoáng và chiếm lấy đảo. Đám bại quân từ đảo Câu Kỷ chạy thoát về đến Lăng Cương th́ vội vàng bỏ thuyền lên bờ, những tưởng thu thập tàn binh tổ chức kháng chiến. Nhưng Hầu Kế Cao đă phi thân nhảy lên một tảng đá lớn, dương cung lắp tên, "phụp" một tiếng, tên tướng Nụy bị một mũi tên vào cổ chết tốt. Lính Nụy như rắn mất đầu luống cuống chạy tán loạn, Hầu Kế Cao hô "sát", thế là binh sĩ từ trên núi đổ xuống xáp la cà với binh Nụy, sau một trận đánh kịch liệt, giặc Nụy bị dồn vào ngơ bí, lớp nhảy xuống biển, lớp mổ bụng tự sát, chẳng bao lâu không c̣n một người. Nhờ chiến thuật lấy ít đánh nhiều thần diệu, Hầu Kế Cao đă toàn thắng. Trong ḷng tràn ngập niềm vui, ông bèn đến đảo Phổ Đà nào xây chùa, nào tạo tượng, và tự tay viết cuốn "Phốc Đà Sơn kư" để biểu lộ ḷng thành của ḿnh đối với Ngài Quan Âm. Trong lúc du ngoạn, ngắm thắng cảnh cùng các chùa miếu cổ xưa của đảo, nh́n quanh thấy trời và nước hỗ tương chiếu sáng cho nhau, phong cảnh quá ư tráng lệ, bất giác buộc miệng khen rằng: - Phổ Đà Sơn thật là một vương quốc giữa trời và biển! Tức th́ ông vung bút viết lên bốn chữ "Hải Thiên Phật Quốc", rồi mướn thợ khắc lên đá ngay sau đó. Từ đó, Hải Thiên Phật Quốc là một tên khác của Phổ Đà Sơn.
Ở quanh vùng Tô Châu Hàng Châu, dân chúng thường thờ phụng những bức tranh họa 8 tướng của Quan Âm Bồ Tát. Sở dĩ dân chúng rất thích 8 bức tranh này, là v́ ngay từ đầu, chính Quan Âm Bồ Tát đă hiện thân tự tay vẽ ra những bức tranh mẫu. Chuyện này có liên quan đến một vị cư sĩ tên là Vương Tích Tước. Vị cư sĩ này, biệt hiệu là Kinh Thạch, đă từng làm quan lớn trong triều đ́nh, cuối đời từ quan về vườn sống ẩn dật, dốc ḷng làm việc Phật Pháp. Suối đời ông thích làm việc thiện hay bố thí, đă làm được nhiều việc lợi ích cho dân cho nước. Ông giao du một cách thân t́nh với một vị cao tăng đương thời, tức là Thiền sư Viên Thông. Một bên là quan lớn, một bên là cao tăng, hai bên cùng hỗ tương xiển dương Phật Pháp nên lúc ấy đạo Phật rất hưng thịnh. Một hôm, Vương Kinh Thạch đang tụng bài Tâm Kinh, đọc tới câu "Quán Tự Tại Bồ Tát hành thân Bát Nhă Ba La Mật chiếu kiến ngũ uẩn giai Không, độ nhất thiết khổ ách", bèn nghĩ đến công đức của Quan Âm Bồ Tát đại từ đại bi, bỗng nhiên phát sinh ư nguyện mời một vị họa sĩ tài cao để vẽ một ngàn bức tranh, họa pháp tướng của Quan Âm Bồ Tát, và đồng thời kèm theo bài Tâm Kinh để tặng cho người ta đem về thờ. Nhờ thế, người ta sẽ càng thêm một ḷng hướng thiện, và chịu thay đổi những phong tục tập quán xấu. Quyết định như thế rồi, Vương Kinh Thạch bèn đi t́m Thiền sư Viên Thông để bàn luận. Ông bạch với Thiền sư rằng: - Bạch Thiền sư, những ngày gần đây đệ tử có một ư muốn như thế này: Quan Âm Bồ Tát v́ ḷng đại từ đại bi, tầm thanh cứu khổ, nên hiển hóa huyền ảo đủ các bảo tướng để cứu độ chúng sinh. Con đă phát nguyện mời họa sư vẽ 1000 bức họa bảo tướng của Bồ Tát tặng cho dân gian để khuyến hóa họ, đại sư nghĩ thế nào? Thiền sư Viên Thông nghe thế th́ mừng rỡ vô cùng, khen ngợi nhiệt liệt: - Ông tận tâm tận lực xiển dương Phật Pháp, phát tâm vẽ bảo tướng của Quan Âm Bồ Tát tặng cho dân gian để khuyến hóa thế tục, đó là một điều thiện, công đức vô lượng. Vương Kinh Thạch nói: - Tuy nhiên đệ tử có một điều xin thỉnh ư đại sư, đó là Bồ Tát hiển hóa đủ các bảo tướng khác nhau, vậy th́ đệ tử nên vẽ bảo tướng nào? Đại sư trí tuệ uyên thâm, xin đại sư chỉ giáo đệ tử. Viên Thông pháp sư trả lời: - Muốn biết tốt nhất nên vẽ bảo tướng nào của Bồ Tát, th́ phải chiếu theo Thiên quang nhăn Quán Tự Tại Bồ Tát Bí Mật Pháp Kinh", tất cả có tám tướng:
- một là "Kim Cương
Quán Tự Tại Bồ Tát" Đó là tám h́nh tướng của Bồ Tát, mỗi h́nh tướng diễn tả một loại thần thông khác nhau. Vậy th́ cuối cùng nên vẽ h́nh tướng nào? Bần tăng không dám chủ quan quyết định, xin mời cư sĩ hăy tự định đoạt lấy. Vương Kinh Thạch suy nghĩ một lúc rồi nói: - Lời sư phụ chỉ giáo rất đúng, đệ tử nghĩ tốt nhất là mời một vài họa sư đến, trước hết dặn họ tắm rửa trai giới thanh tịnh, xong thỉnh Bồ Tát ứng cho một điềm lành, thị hiện bảo tướng cho họ thấy. Họ thấy bảo tướng của Bồ Tát rồi th́ chiếu theo đó mà vẽ, làm như thế là đúng nhất. Viên Thông Pháp sư đáp: - Làm như thế rất tốt. Vương Kinh Thạch bèn đi mời họa công về vẽ, vừa vặn mời được 8 người, rồi bày tỏ cho họ biết điều ḿnh mơ ước. 8 vị họa công nghe lời Vương Kinh Thạch, tắm rửa trai giới thanh tịnh để cầu nguyện Quan Âm Bồ Tát ứng mộng cho ḿnh thấy bảo tướng. Nhưng liên tiếp mấy ngày mà không có ai mộng thấy điềm ǵ cả. Họ không biết bảo tướng của Bồ Tát thật sự như thế nào nên cũng không biết vẽ Ngài ra sao, v́ thế họ cảm thấy rất khó xử. Vừa khéo Quan Âm Bồ Tát đi ngang qua chỗ ấy, biết rằng Vương Kinh Thạch muốn vẽ tranh của ḿnh mà đang gặp khó khăn, nên Ngài hóa thành một anh chàng Tú Tài áo trắng đến trước cửa nhà xin gặp, nói rằng ḿnh có sở trường vẽ các loại h́nh tướng của Quan Âm Bồ Tát. Vương Kinh Thạch nghe nói có người tự giới thiệu như thế th́ mừng khấp khởi, vội mời vào gặp mặt. Nói chuyện một lúc với Tú Tài, ông rất vừa ư, nhất là khi vị này nói với ông một cách rất thành tâm: - Ngài phát nguyện lớn như thế th́ làm sao không giúp ngài được. Tại hạ đă bẩy lần mộng thấy đến đất Phật nên rất quen thuộc với với các h́nh tướng cùng khuôn mặt của Bồ Tát, ngài muốn vẽ th́ tại hạ có thể vẽ liền tức th́. Vương Kinh Thạch mừng không thể tả: - Vậy xin thỉnh tiên sinh thi thố tài năng cho, nhưng không biết tiên sinh định vẽ bảo tướng nào? Tú Tài đáp: - Pháp sư Viên Thông đă nói với ngài rằng Bồ Tát Quan Âm có 8 tướng, th́ theo thiển ư của tại hạ, ḿnh nên vẽ cả 8 tướng th́ mới hoàn mỹ và không thiếu sót. Vương Kinh Thạch gật đầu liên hồi tỏ ư tán đồng: - Thế th́ quá tốt rồi! Thế là ông gọi người xếp đặt bàn vẽ, chuẩn bị mực vàng mực bạc, bút nghiên mới tinh cùng giấy trắng thanh khiết, và mời Tú Tài vẽ. Bạch y Tú Tài tiến đến trước bàn, xắn tay áo lên, cất bút lên bắt đầu vẽ, ngọn bút bay trên giấy mau như gió thổi, cánh tay cầm bút thoăn thoắt như điện chớp, chỉ trong phút chốc là hoàn thành bức h́nh thứ nhất của Bồ Tát Quan Âm. Tú Tài tiếp tục múa bút, lại vẽ xong một bức khác. Không đầy nửa ngày, tám bức họa bảo tướng Quan Âm Bồ Tát đă vẽ xong. Tám vị họa công không ai là không tấm tắc xuưt xoa khen là đẹp tuyệt, c̣n Vương Kinh Thạch th́ mừng vui không bút mực nào tả xiết. Hăy nh́n tám bức tranh: - Bức thứ nhất "Kim Cương Quán Tự Tại Bồ Tát" là tướng phẫn nộ, mặt mũi dữ tợn, dáng vẻ giận dữ, tướng này có thể nhiếp phục ma quỷ. - Bức thứ hai "Dữ Nguyện Quán Tự Tại Bồ Tát" là tướng đại từ, tay trái cầm quyển kinh, tay phải bất ấn "dữ nguyện" (ban bố những điều mà chúng sinh cầu xin) để kết thiện duyên sâu rộng với chúng sinh. - Bức thứ ba "Sổ Châu Quán Tự Tại Bồ Tát" là tướng đại bi, Bồ Tát ngồi nhắm mắt, tay cầm xâu chuỗi như thể đang thầm niệm Phật, biểu lộ ḷng từ bi lân mẫn của Bồ Tát đối với muôn loài. - Bức thứ tư "Câu Triệu Quán Tự Tại Bồ Tát" là tướng Viên Thông, Bồ Tát ngồi kết già phu, có ba mặt, khuôn mặt chính vui vẻ, đầu đội thiên quan (mũ trời), trên mũ có hóa thân A Di Đà Phật. Khuôn mặt bên trái giận dữ đáng sợ, tóc tai dựng đứng, đầu đội nguyệt quan (mũ có h́nh mặt trăng). Khuôn mặt bên phải cau mày tức giận, răng nanh chĩa ra ngoài. Bồ Tát có sáu cánh tay, một tay cầm dây thừng, một tay cầm hoa sen, một tay cầm đinh ba, một tay cầm ŕu, một tay bắt ấn Thí Vô Úy (ấn làm cho chúng sinh không c̣n sợ hăi), một tay cầm bảo trượng Như Ư. Tướng này biểu thị Bồ Tát muốn "câu" những "con cá" trời và người đem lên bờ giác ngộ. - Bức thứ năm "Trừ Chướng Quán Tự Tại Bồ Tát" là tướng Phổ Chiếu, một đầu ba khuôn mặt, tay phải cầm gương báu, bay trái bắt ấn "Dữ Nguyện", tướng này biểu thị Bồ Tát có năng lực phá trừ ba chướng lục đạo. - Bức thứ sáu "Bảo Kiếm Quán Tự Tại Bồ Tát" là tướng Giải Thoát, trên đầu hiện hoa sen, một tay cầm kiếm báu, một tay đưa lên trước ngực, tướng này biểu thị Bồ Tát có năng lực diệt trừ lục tặc. - Bức thứ bảy "Bảo Ấn Quán Tự Tại Bồ Tát", một thân ba đầu và 6 cánh tay, là tướng Phấn Tấn (mạnh dạn tiến lên). Cả ba khuôn mặt đều hiện vẻ từ bi. Sáu cánh tay mỗi tay cầm một pháp khí là bảo ấn, chuông mơ, tràng phan, bảo kiếm và hoa sen. Tướng này biểu thị Bồ Tát đi đi lại lại trong ba giới. - Bức thứ tám "Bất Thối Chuyển Kim Luân Quán Tự Tại Bồ Tát" là tướng Như Ư, mặt ngọc mỉm cười, đầu đội mũ báu, trên mũ có hóa thân của Vô Lượng Thọ Phật, tay nâng bánh xe vàng ra dáng quay bánh xe, tướng này biểu thị Bồ Tát có năng lực diệt trừ các ác nghiệp. Vương Kinh Thạch thấy tám bức tranh bảo tướng đă vẽ xong, mừng rỡ quá sức tưởng tượng, khen ngợi không hết lời. Tú Tài nói: - Bây giờ ngài đă có 8 bức tranh bảo tướng này, có thể để làm mẫu cho các vị họa sư vẽ theo. Tại hạ không ở lâu được, xin cáo biệt. Vương Kinh Thạch nhất định giữ lại mà không được, kêu người đem bạc nén ra để trả tiền thù lao nhưng Tú Tài kiên quyết không nhận, c̣n lấy từ trong ngực áo ra một viên ǵ như hạt đậu đưa tặng Vương Kinh Thạch: - Đây là hạt Tây Phương Vô Úy tôi tặng ngài, ngài hăy thường thường đeo trong người, nó có thể giúp ngài tiêu trừ mọi tai ương, tăng trưởng trí huệ và không bao giờ bị hăm hại. Vương Kinh Thạch nhiều lần tạ ơn, thân hành tiễn bạch y Tú Tài ra tận cửa ngoài. Tiễn khách đi rồi, Vương Kinh Thạch sung sướng cầm 8 bức tranh bảo tướng Quan Âm Bồ Tát đi t́m Pháp sư Viên Thông và kể mọi sự cho ngài biết. Pháp sư nghe xong hoan hỉ nói với Vương Kinh Thạch rằng: - Mừng cho ông, Vương cư sĩ! Hôm nay ông đă được gặp Bồ Tát rồi đó! Vương Kinh Thạch không hiểu ǵ cả, nói một cách kinh ngạc: - Gặp Bồ Tát nào? Ư Đại sư muốn nói vị bạch y tú tài vẽ tranh là Quan Âm Bồ Tát chăng? Viên Thông Pháp sư cười: - Đúng thế. Vị Tú Tài áo trắng ấy chính là Quan Âm Bồ Tát, nếu không phải là Bồ Tát, người phàm nào có thể vẽ các bảo tướng được như vậy? Vả lại, nếu không phải là Bồ Tát, ai là người có thể tặng ngài hạt Tây Phương Vô Úy? Vương Kinh Thạch bừng tỉnh ngộ, vừa kinh dị vừa vui mừng vạn phần. Ông cảm thấy vinh hạnh v́ Bồ Tát đă giáng lâm đến nhà ḿnh vẽ tranh nên ḷng tin vào Phật Pháp càng kiên cố thêm, ḷng muốn làm việc thiện càng tăng mạnh thêm. Ông đem 8 bức tranh bảo tướng Bồ Tát treo trong đại đ́nh, nhờ 8 vị họa công mỗi người lấy một bức mà vẽ theo. Vẽ xong bức nào, ông tự tay chép bài Tâm Kinh kèm theo và tặng cả hai cho người ta. Vẽ như thế tṛn một năm th́ ông đă tặng hết 1000 bức. C̣n 8 bức tranh mẫu mà Ngài Quan Âm đă tự tay vẽ th́ ông giữ làm của gia bảo trong nhà, truyền từ thế hệ này tới thế hệ khác.
45 - Ḥa thượng Lịch Sơn bắt rùa
Trước cửa chùa Phổ Tế có một hồ sen, hoa sen ở đó đặc biệt tinh khiết, hương thơm đặc biệt ngào ngạt. Năm ấy có một viên khâm sai của hoàng thành đến chơi Phổ Đà Sơn, được ăn một bát chè hạt sen thơm phức, về tới triều đ́nh bèn hết ḷng tán dương khen ngợi. Nhà vua nghe được, bèn hạ thánh chỉ truyền lệnh mỗi năm Phổ Đà Sơn phải tiến cống hạt sen. Từ đó trở đi, hạt sen trong hồ bị đưa lên triều cống cho hoàng đế không chừa một hạt nào c̣n lại. Chư tăng trong chúng ai cũng căm phẫn nhưng không ai dám nói ra. Về sau, có một vị ḥa thượng đến chùa Phổ Tế cư ngụ, ngài tên là Pháp sư Lịch Sơn. Vị hoà thượng này râu trắng dài tới ngực, lông mày dài che mặt, khí phách phi phàm, được mọi người mệnh danh là "lăo tăng trăm tuổi". Hoà thượng Lịch Sơn nghe nói mỗi năm Phổ Đà Sơn phải triều cống hạt sen cho hoàng đế, trong ḷng không phục, bèn viết gởi lên triều đ́nh một bản tấu thư, tâu rằng trong hồ có một con rùa đen đă thành tinh rất ham ăn, đêm nào cũng về ăn vụng hết hạt sen trong hồ nên hạt sen vô cùng khan hiếm, thỉnh cầu hoàng đến miễn cho việc triều cống. Hoàng đế nhận bản tấu thư xong th́ giận quá, râu tóc dựng ngược cả, cặp mắt muốn lồi ra ngoài! Ông thừa biết hạt sen của Phổ Đà Sơn hằng năm phải hiến cống triều định, tất cả đều dành cho ông dùng, "rơ ràng họ muốn nhục mạ ta là con rùa đen thành tinh đây mà!" Nghĩ thế xong ông nắm lấy ngự bút, toan viết lời phê phán, song vừa mới viết xuống bốn chữ "Lịch Sơn hoà thượng" th́ ngừng lại. Tại sao vậy? Ban đầu ông tính viết là "Lịch Sơn ḥa thượng nhục mạ hoàng đế, xử tử!", nhưng nghĩ kỹ lại th́ thấy không được, trong bản tấu thư giấy trắng mực đen ghi rằng "con rùa đen thành tinh ăn vụng hạt sen", làm sao có thể bảo đó là một câu "nhục mạ hoàng đế" được! Kết tội Lịch Sơn ḥa thượng "nhục mạ hoàng đế", há chẳng phải giống như ngầm công nhận rằng hoàng đế chính là con rùa đen thành tinh ăn vụng hạt sen hay sao! Làm thế th́ tránh sao khỏi bị thiên hạ chê cười! Phải kiếm một cách khác để trừng trị Lịch Sơn ḥa thượng mới được. Một tay cầm ngự bút, một tay cầm bản tấu thư, cuối cùng ông cũng t́m ra một cách. Ông ngoáy bút một lúc rồi đổi lời phê như sau: "Lịch Sơn ḥa thượng có nhiệm vụ phải bắt con rùa đen thành tinh, nếu không bắt được, xử tử!" Sau đó ông phái vị khâm sai bữa trước trở lại Phổ Đà Sơn tuyên đọc thánh chỉ. Chư tăng của Phổ Đà Sơn nghe xong thánh chỉ, ai cũng sững sờ và kinh hoàng. Chỉ có Lịch Sơn Ḥa thượng là không chút lo âu, tiếp xong thánh chỉ bèn nói với khâm sai: - Nếu muốn bắt rùa tinh th́ thế nào ngó sen cũng bị hủy hoại, lúc ấy sẽ không c̣n hạt sen nào để hiến cống lên cho hoàng thượng, lăo tăng không dám chịu trách nhiệm ấy, xin đại nhân xét cho! Vị khâm sai nghe thế thầm nghĩ: "Ông Lịch Sơn Ḥa thượng này thật là không phải tay vừa!" rồi bèn làm bộ xuề xoà, cười nói: - Nếu bắt được rùa tinh th́ về đến kinh đô rồi lăo thần nhất định sẽ tâu lên sự thật, cầu xin hoàng thượng xá miễn cho các vị việc triều cống! Lịch Sơn Ḥa thượng nghe thế cười ha hả: - Đại nhân thật là người biết thông cảm cho phận kẻ thấp cổ bé miệng, lăo tăng rất khâm phục. Không phải như kẻ khác, ngoài th́ thơn thớt nói cười mà sau lưng lại giết người không dao bằng những lời sàm tấu, thật là đáng ghét! Vậy th́ chúng ta cùng ra hồ bắt rùa đi! Lịch Sơn Ḥa thượng dẫn đầu chư tăng của toàn chùa, mặc áo cà sa, chắp tay cúi đầu, miệng đọc kinh Phật, đến hồ sen sai người tát cạn hồ nước, rồi chọn mười vị tăng mạnh khoẻ cường tráng nhảy xuống hồ bắt rùa. Ṃ mẫm như thế liên tiếp ba ngày ba đêm, cuối cùng họ mới ṃ ra được một con rùa đen bằng đá nằm ở dưới cầu Vĩnh Thọ. Ḥa thượng Lịch Sơn bảo mấy vị tăng ấy đem dây thừng cột chặt con rùa đá rồi đem nó lên xem xét, ôi, con rùa này nặng tới ngàn, vạn cân là ít! Lịch Sơn Ḥa thượng chỉ con rùa đen nói với khâm sai rằng: - Thưa đại nhân! Con rùa đá này tu luyện thành tinh, tạo nghiệp tội trên đất Phật, may quá được thánh chỉ của hoàng thượng nên lăo tăng mới trừ được cái hại này! Khâm sai bước tới rờ đầu rồi khơ lưng con rùa, đảo mắt nh́n quanh rồi nói: - Đây là con rùa đá, làm sao có thể ăn vụng hạt sen được? Này, nói dối là bị tội khi quân chứ không phải chuyện đùa đâu! Lịch Sơn Ḥa thượng mỉm cười đáp: - Đại nhân không rơ đấy thôi! Con rùa này là do Bát Tiên đánh mất lúc họ qua sông đó mà! Lúc đầu nó chỉ là một con rùa nhỏ bằng ngọc đen, nhờ tu luyện lâu năm ở đây nên mới trở nên to lớn như thế. Ngày nó ngủ, đêm mới thức dậy lén ăn hạt sen trên đất Phật với ư nguyện mau đắc được chính quả. Mặc dầu nó đă thành tinh, nhưng không có phép để thăng thiên hay độn thổ cho nên một khi bị mặt trời chiếu vào rồi th́ bao nhiêu công phu tu hành đều mất trọn. Đại nhân có thể đem con rùa này về hoàng thành, thỉnh hoàng thượng xem qua để thấu rơ cho ḷng thành của bần tăng đi bắt rùa trừ yêu cho Phổ Đà Sơn! Vị khâm sai nọ nghe Lịch Sơn Ḥa thượng nói thế th́ bán tín bán nghi, cảm thấy thật là khó xử. Con rùa đá nặng cả ngàn cân, nếu đem về kinh thành th́ phải mất rất nhiều thời gian, rất nhiều công sức. Hơn nữa phải đi đường biển xa xôi, trên biển gió thuận th́ không nói ǵ, mà nếu gặp gió mưa băo bùng th́ thật là không thể kham nổi lao khổ! Ông bèn làm bộ thân thiết nói rằng: - Nay pháp sư đă hàng phục được yêu tinh, trừ hại cho đất Phật, lăo thần sẽ về tâu điều này lên cho Thánh thượng là được rồi. C̣n con rùa đá này, thôi th́ cho nó ở lại đây, sau này bắt nó đội bia vậy! Lịch Sơn Ḥa thượng nghe khâm sai nói th́ trong bụng mừng thầm, vội cúi đầu tạ ơn "Tuân mệnh!" Khâm sai biết bản lănh của Lịch Sơn Ḥa thượng, không dám nấn ná ở lại lâu, đành tiu nghĩu trở về kinh báo cáo kết quả nhiệm vụ cho hoàng đế. Từ đấy, Phổ Đà Sơn không c̣n phải triều cống hạt sen cho vua nữa. Về sau, có người nói chính Lịch Sơn Ḥa thượng đă ngầm sai người thả rùa đá đen này xuống hồ trước rồi. Đúng là "Sư đi nước cờ cao, khâm sai bị hàng phục!"
Minh Quang posted July 17, 2005 |
|
|