Chùa Hải-Đức in Jacksonville

[Home] [Up] [Điểm Sách] [Sutras] [Dharma Talks] [GĐPT] [Sinh Hoạt] [Our Activities] [Kinh] [Pháp Thoại audio mp3] [Tin Tức Phật Giáo] [Thuyết Pháp] [Thơ Văn] [Ngoại Điển] [Phật Học] [Tụng Kinh] [Nghi Lễ - Rituals]

Quan Âm Truyền Thuyết

(Tuyển Tập)

Diệu Hạnh GiaoTrinh Chuyển Ngữ

 

26 - Thủy Nguyệt Quan Âm  

 

Quan Âm Bồ Tát đến Cô Tô th́ gặp ngay lúc thành phố này đang bị nạn đao binh hoành hành, dân chúng thành Cô Tô bị lính người Kim tàn sát chết cả hơn mười vạn người, oan hồn vất vưởng các nơi đồng hoang mông quạnh thật là khổ sở. Bồ Tát thấy thế khởi ḷng lân mẫn, phát tâm từ bi sâu rộng, nên thi thố pháp lực để cứu vớt những oan hồn ấy thoát khỏi mọi khổ ách. 

Bồ Tát hóa thành một ni cô ở tuổi trung niên, tay cầm tịnh b́nh dương liễu, đến nơi có nhiều oan hồn tụ tập mà chồng đá xây một cái đài cao vài trượng, lên đài ngồi kết già phu và tụng những bộ kinh phá địa ngục chướng như "Thiên Thủ Thiên Nhăn Quan Thế Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên Măn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni Kinh" hoặc là "Đại Bi Chú Kinh", mỗi lần một ngàn biến. Xong một ngàn biến th́ Ngài lấy nhánh dương liễu chấm vài giọt nước cam lồ trong tịnh b́nh, nh́n lên không trung mà rắc khắp một ṿng, sau đó cắm lại nhánh dương liễu vào tịnh b́nh đâu đó cẩn thận rồi mới tụng kinh tiếp. 

Sự Quan Âm Bồ Tát lập đài tụng kinh để siêu độ oan hồn của những người đă bị giết hại trong chiến tranh làm cho những người đương thời rất ngạc nhiên. Họ không hiểu ư nghĩa hành động này, mà chỉ thấy một người thiếu phụ xinh đẹp đến xây một cái đài rồi lên đó ngồi tụng kinh, họ cho là kỳ quái nên ùn ùn kéo nhau đến nh́n rồi nhao nhao bàn tán với nhau, mỗi người một ư, không ai đồng ư với ai. Người thiếu phụ nói để chấm dứt sự nghi ngờ của mọi người: 

- Ở đây người vô tội đă bất hạnh chết dưới tay người Kim rất nhiều, số người chết oan như thế lên tới cả chục ngàn sinh linh, thật là thê thảm. Những oan hồn ấy không ở trong ba giới cũng không vào sáu nẻo, mà cứ lưu lạc bơ vơ vất vưởng ở bên ngoài. Hôm nay bần ni có nhân duyên đến chỗ này, vâng theo tôn chỉ từ bi của đức Phật làm sao cho họ được siêu độ, v́ thế nên mới xây đài phát nguyện tụng kinh trong 49 ngày, dùng nhành dương liễu rảy nước cam lồ khắp nơi, để họ thoát mọi khổ ách và văng sinh nước Cực Lạc. Mọi người không nên nghi ngờ, bần ni không hóa duyên cũng chẳng khất thực, chỉ muốn hoàn thành bổn nguyện của ḿnh, thế thôi. 

Mọi người nghe vậy th́ lục tục kéo nhau bỏ về. 

Thấm thoát ngày thứ 49 đă đến, chiều hôm ấy là ngày cuối, hết hạn tụng kinh của người thiếu phụ. Mọi người đúng kỳ hạn lại kéo nhau đến, yên lặng nghe Bồ Tát thuyết pháp. Quan Âm Bồ Tát nói: 

- Các vị hăy nghe tôi nói, tôi tụng kinh này tên là "Thiên Thủ Thiên Nhăn Quan Thế Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên Măn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni Kinh" có thể phá các chướng trong địa ngục, siêu độ tất cả mọi khổ cách trong thế giới u minh, tụng xong được một tạng th́ tất cả mọi tai họa đều được tiêu trừ hết.  

Tiếp theo Bồ Tát đưa tịnh b́nh lên rồi lại nói: 

- Nước trong b́nh này của tôi gọi là cam lồ công đức thủy, rảy khắp mười phương chỉ cần một giọt thôi là đă có thể văng sinh Cực Lạc quốc. Coi như bần ni có nhân duyên với chỗ này nên không tính trước mà lại đến, bần ni đă làm xong trách nhiệm của ḿnh, tức là lập cách siêu độ giải trừ khổ ách cho hằng vạn sinh linh chết oan. Bây giờ công đức đă viên măn, bần ni cũng phải đi nơi khác. 

Mọi người nghe nói vị ni sư này đă làm công đức như thế chỉ v́ để siêu độ cho người bị nạn mà không đ̣i ǵ để đền bù nên cảm kích vô cùng. Trong đám những người ấy có một vị đột nhiên đại ngộ, nghĩ rằng việc làm và lời nói của vị ni sư này không b́nh phàm chút nào, chắc chắn người thiếu phụ này phải là Quan Thế Âm Bồ Tát hóa thân. Nếu thỉnh được Bồ Tát hiển hiện bảo tướng th́ một đời hạnh phúc biết bao nhiêu! Nghĩ thế rồi, ông chạy lên phía trước nói với người thiếu phụ rằng: 

- Nghe nói rằng Quan Âm Bồ Tát vân du trong nhân gian, hiện bảo tướng ở bất kỳ chỗ nào, không biết chúng tôi có thể có may mắn thấy được Bồ Tát một lần không? 

Người thiếu phụ đáp: 

- Tâm tức là Phật, Phật tức là tâm, nếu thành tâm muốn gặp Bồ Tát th́ trong tâm đă có Bồ Tát, nghĩa là đă là thấy Bồ Tát rồi! 

Sau đó, thiếu phụ chỉ về hướng bờ sông nói: 

- Không phải Bồ Tát đấy sao? 

Mọi người nh́n theo hướng ngón tay của thiếu phụ, quả nhiên nh́n thấy trên mặt nước có bóng mặt trăng sáng cực kỳ, và họ thấy Bồ Tát chầm chậm bước vào trong bóng trăng ấy. Lúc ấy bóng trăng lung linh trên mặt nước gợn sóng, bảo tướng trang nghiêm và từ bi của Bồ Tát ảnh hiện giữa trời và nước, ánh sáng chiếu khắp tứ phía. 

Mọi người thấy thế bèn ùn ùn quỳ xuống lễ. Lễ xong đứng dậy, trên đài đá không c̣n bóng người thiếu phụ nữa. Người đă lên tiếng vừa rồi thấy điều ḿnh nghi là đúng nên rất sung sướng, những người ở tại chỗ cũng chợt hiểu ra rằng người thiếu phụ chính là Quan Âm Bồ Tát hóa thân. Thế là thiện nam tín nữ trong thành Cô Tô ai nấy đều đồng ḷng quyên góp tiền bạc để xây một ngôi Quan Âm miếu ngay tại chỗ mà Bồ Tát xây đài tụng kinh và tạc tượng Quan Âm Bồ Tát tụng kinh, rảy nước. 

Bức tượng này được dân gian đặt tên là "Quan Âm rảy nước" (Sái Thủy Quan Âm) hay là "giọt nước Quan Âm" (Trích Thủy Quan Âm). 

Trong số những người đă nh́n thấy Bồ Tát hiện thân, có nhà họa sĩ Khưu Tử Thanh, là một họa sĩ có nét vẽ tuyệt vời. Người này tin Phật một cách thuần thành, có đầy đủ huệ nhăn, muốn cho người đời đồng chiêm bái bảo tướng Bồ Tát và đồng thấm nhuần pháp vũ, bèn vẽ lại bảo tướng Bồ Tát thị hiện trong bóng trăng trên  nước. Trong bức họa này, ánh trăng lồng trong ánh nước, bảo tướng trang nghiêm của Đại sĩ lấp lánh phóng ánh sáng trong mặt nguyệt lung linh, nét bút tinh xảo và xuất thần, ai thấy cũng phải tấm tắc là tuyệt. Thế nhân gọi bức tranh này là "Thuỷ Nguyệt Quan Âm". 

Một khi bức tranh Bồ Tát này được vẽ ra rồi là dân chúng thành Cô Tô nối đuôi nhau trước nhà Khưu Tử Thanh xin ông vẽ cho ḿnh một bức. Khưu Tử Thanh muốn tuyên dương công đức của Bồ Tát nên ai xin cũng đều nhận lời, v́ thế nên Phật tử đương thời ở đấy, ngoài bức "Sái Thủy Quan Âm" ra, phần đông cũng đều thờ bức "Thủy Nguyệt Quan Âm", cứ thế cha truyền con nối cho đến ngày nay. Hiện thời ở Tô Châu Hàng Châu, rất nhiều nhà riêng hăy c̣n thờ phụng bức tranh Thủy Nguyệt Quan Âm.   

 

27 - Ao Quan Âm 

 

Xưa thật là xưa, dưới chân núi Hổ Phong phía đông huyện Bích Sơn, tỉnh Tứ Xuyên, có một người nhà giàu họ Hoàng. Tiểu thư nhà này đem ḷng yêu thương một người thợ làm công trong nhà, ông nhà giàu biết được bèn sai gia nhân tống cổ người thợ ra khỏi cửa. Tin này đến tai cô tiểu thư, cô bèn lén bỏ nhà đi theo tiếng gọi của ái t́nh. 

Hai người đi hoài đi măi, đi đến một khe núi nọ, người thợ mới nghĩ rằng: 

- Ta nghèo khổ đến nỗi một cái nồi nấu cơm cũng không có, nên ở độc thân là hơn, tại sao lại kéo tiểu thư vào cái cảnh sống cơ cực này? Chi bằng lập kế bắt nàng phải trở về! 

Nghĩ ngợi kỹ lưỡng rồi bèn ngắt một bó lá, nói rằng: 

- Nàng ở đây chờ một chút, tôi ra đằng kia đi cầu rồi trở lại. 

Nhưng người thợ một đi là không trở lại. Tiểu thư chờ đợi mỏi ṃn, đi khắp các đường đèo dốc núi, vừa đi t́m vừa gọi tên, gọi tới rát khan cả cổ mà vẫn không thấy bóng người t́nh, cô tuyệt vọng quá đến một gốc cây treo cổ tự tử. 

49 ngày sau, người thợ kia đi ngang qua khe núi bữa trước, tới chỗ chia tay với cô tiểu thư ngày nào th́ bất chợt thấy nàng đang ngồi ở đấy. Anh chàng vội vàng tiến đến hỏi: 

- Tại sao nàng lại ngồi ở đây? 

Hoàng tiểu thư đáp: 

- Sau khi chàng bỏ rơi thiếp, cha thiếp không đoái hoài tới thiếp nữa nên ngày nào thiếp cũng đến đây ngồi đợi chàng. 

Người thợ thấy tiểu thư đối với ḿnh chung t́nh và chân thành như thế, cảm thấy quá ăn năn hối hận, nói với nàng rằng: 

- Không phải tôi muốn bỏ nàng, thật ra chỉ v́ tôi quá nghèo khổ, không nỡ thấy nàng v́ tôi mà phải sống cảnh bần cùng cơ cực nên mới hành động như thế khiến cho nàng phải đau ḷng, có trời chứng kiến cho ḷng thành của tôi! 

- Thôi được, đừng nói đến nữa. Nhưng chàng phải hứa với thiếp là từ nay về sau chàng sẽ không bao giờ bỏ rơi thiếp nữa. 

- Không bao giờ nữa đâu! Lần này là v́ muốn cho nàng sung sướng nên mới làm như thế, nếu về sau c̣n làm thế nữa th́ ra tôi táng tận lương tâm quá! 

Thế là hai người đến phía Nam huyện Bích Sơn, t́m một cửa tiệm có mặt tiền hướng ra ngoài đường mà mở tiệm bánh hấp để sinh sống. Tiệm bánh hấp mở không bao lâu đă phát đạt vô cùng. 

Một hôm, có một lăo ḥa thượng từ trên núi Hổ Phong xuống, thấy ở tiệm nọ có rất nhiều người đang tranh nhau mua bánh hấp, ngài cũng đến mua một cái. 

Mới đến ngài ngửi thấy có cái ǵ không ổn, dường như có yêu khí đâu đây! Nh́n kỹ lại, ngài phát giác rằng yêu khí đó là từ người của bà chủ tiệm toát ra. Ngài đứng đợi một chút, thấy ông chủ tiệm bước ra đường, bèn gọi ông lại mời ông cùng đi dạo với ḿnh một ṿng. Ông chủ tiệm nào phải ai xa lạ, chính là anh chàng thợ làm công xưa kia. Lăo ḥa thượng nói một cách thẳng thừng : 

- Vợ ông là yêu tinh đó! 

Người chồng nghe thế giật ḿnh hoảng hồn, nhưng cũng hơi giận nên đáp rằng: 

- Thầy dựa vào đâu mà nói vợ tôi là yêu tinh? Vợ tôi là một người đàn bà hiền lành đức độ, lại c̣n siêng năng giỏi giang, làm sao là yêu tinh được? 

Lăo ḥa thượng hỏi hai người cưới nhau lúc nào, th́ người chồng không dấu giếm ǵ cả, đem hết sự thật kể cho ngài nghe. Lăo ḥa thượng lại nói: 

- Buổi sáng, hai ông bà ai là người ra khỏi giường trước? 

- Vợ tôi luôn luôn dậy trước hấp bánh đâu đó xong xuôi rồi mới gọi tôi dậy, ai cũng nói tôi là "chuột sa chỉn nếp"! 

Lăo ḥa thượng nói: 

- Thế được rồi, sáng mai ông chờ bà ấy dậy, lén theo dơi xem bà ấy làm ǵ nhé. 

Nói xong ngài bỏ đi ngay. Người chồng tuy nói là không tin nhưng cũng muốn làm cho hai năm rơ mười nên làm theo lời ḥa thượng. 

Sáng sớm hôm sau, người chồng thấy vợ ra khỏi giường rồi bèn mở mắt theo dơi. Trước hết, ông thấy vợ ra đứng trước gương chải đầu, chải đầu xong th́ xuống bếp. Ông rón rén dậy theo, núp sau cánh cửa mà nh́n qua khe th́ thấy vợ lấy gạo bỏ vào một cái vại lớn, chế nước vào rồi kê miệng thổi một hơi, gạo liền biến thành bột đă quậy nước rồi. Tiếp theo, ông thấy từng cái, từng cái lồng hấp bay vào nồi chồng lên nhau, không có lửa mà từ mấy cái lồng hấp ấy lại có khói bay lên mù mịt, c̣n cái vại bột gạo ban năy th́ không c̣n thấy nữa. Nh́n đến đây, ông tính trở về giường nhưng chợt thấy vợ biến thành một làn khói xanh bay xuyên qua khe cửa sổ mà ra khỏi nhà. Ông sợ quá, vội vàng trèo lên giường lấy mền che đầu kín mít. Một chốc sau b́nh tĩnh trở lại, ông suy nghĩ rằng: 

- Yêu tinh cũng có người tốt kẻ xấu, từ khi cưới nhau nàng đối với ta rất tốt, chắc nàng sẽ không bao giờ hại ta đâu. Hơn nữa, may mà nàng có pháp thuật nên cửa tiệm bánh mới phát đạt như thế! Có ǵ đâu mà lo, yêu tinh th́ yêu tinh, rồi đă sao nào? 

Vợ ông trở về rồi bèn gọi ông dậy và hai người lại lo chuyện buôn bán như b́nh thường. 

Không lâu sau, lăo ḥa thượng lại đến mua bánh nữa. Chờ vắng khách ngài lại gọi người chồng ra hỏi: 

- Sao, ông thấy cả rồi phải không? 

- Thấy th́ thấy, nhưng vợ tôi không hại ai th́ có sao đâu? 

- Ông cứ cố chấp không chịu tỉnh ngộ! Bây giờ bà ấy không hại ai, c̣n về sau th́ sao? Tại v́ hồi đó ông bỏ rơi bà nên bà mới treo cổ tự tử, tại sao bà ấy chưa ăn sống ông tôi cũng lấy làm lạ! Nhưng thôi, chuyện đó không nói, nhưng trong thành c̣n có dân chúng có thể bị vạ lây, v́ ông mà mang họa. Ta không thể thấy vậy mà để yên. 

Nghe lăo ḥa thượng nói thế, người chồng cảm thấy đuối lư. Lăo ḥa thượng vội vàng vẽ 21 lá bùa, đưa cho ông dặn rằng: 

- Ngày mai, đợi vợ ông ra khỏi nhà rồi th́ lấy mấy lá bùa này dán lên phía trên cửa vào và cửa sổ, dán xong, thủ trong ḿnh 21 quả trứng gà và lên núi Hổ Phong tới cái miếu bên cạnh ao Quan Âm t́m ta. Vợ ông sẽ theo đuổi ông, khi nào ông thấy bà ấy sắp bắt kịp th́ ném một quả trứng gà lên người bà. Gần đến miếu, ta sẽ có cách thu phục bà ấy. 

Người chồng tiếp lấy bùa, lại nghĩ thầm rằng: 

- Chính ra, vợ ta mà trở thành yêu tinh là lỗi tại ta. Nếu quả thật sau này bị hại, có chết cũng cam tâm nhưng ngộ nhỡ để cho người khác bị vạ lây rồi có bề ǵ th́ tội ta rất lớn. Dầu sao đi nữa, xong vụ này ta phải xuất gia tu hành để độ cho oan hồn nàng được siêu sinh, có thế mới không uổng t́nh vợ chồng từ bao năm nay! 

Nghĩ thế xong, ông trở về nhà và làm như không có chuyện ǵ xẩy ra. Hôm sau trời chưa sáng, vợ ông ra ngoài rồi, ông lấy mấy là bùa dán lên phía trên cửa ra vào và cửa sổ như lời lăo ḥa thượng chỉ bày, rồi lấy trứng gà đem theo ḿnh, hướng phía núi Hổ Phong lên đường. 

Vợ ông về nhà, thấy trên cửa và cửa sổ dán đầy bùa, nhớ lại lăo ḥa thượng hôm qua đến t́m chồng ḿnh, bèn nghĩ rằng: 

- Chắc chắn lăo ḥa thượng này đến phá thối chứ không ai vào đây cả! 

Nghĩ xong bà quay đầu đuổi theo chồng, vừa chạy vừa kêu: 

- Phu quân ơi, sao lại bỏ thiếp vậy? Thiếp một ḷng một dạ với chàng mà! 

Người chồng nghe tiếng vợ kêu như vậy, ḷng đau như cắt, đôi chân mềm nhũn. Nhưng khi thấy vợ sắp đuổi kịp, biết ḿnh không thể quay về được nữa, bèn nhớ lại lời dặn của lăo hoà thượng, lấy một quả trứng gà cắn răng ném vào người vợ.  

Vợ ông bị ném trúng quả trứng gà th́ lập tức lùi lại mấy bước, kêu lên một cách thảm thiết: 

- Chàng đừng ném trứng gà lên người thiếp nữa! Thiếp không bao giờ hại ai cả mà! 

Người chồng thừa cơ ấy đứng lại nói với vợ rằng: 

- Nàng đừng đuổi theo tôi nữa, tôi không cố ư bỏ nàng đâu. Tôi biết là tôi không xứng đáng với nàng, nhưng tôi đă quyết tâm xuất gia tu hành. Làm thầy tu rồi, biết đâu tôi có thể độ cho nàng được siêu sinh! 

Nói xong ông quay đi, hướng vế phía núi Hổ Phong mà chạy. Vợ ông cũng chạy theo đằng sau, chạy một lúc th́ gần bắt kịp, ông lại phải ném một quả trứng gà khác. Cứ thế mà ném hết 21 quả trứng gà th́ cửa miếu cũng vừa hiện ra trước mắt. Người chồng bủn rủn chân tay, ngă nhào xuống đất. 

Lăo ḥa thượng đă đứng trước cửa miếu từ bao giờ, mở xoạc một cánh quạt ra quạt một cái, trong ánh sáng chói ḷa bắn ra, có thể thấy một làn khói xanh từ từ chui vào ao Quan Âm. Sau đó, giọng người vợ vang lên, vừa khóc vừa nói: 

- Trời ơi, sao số của tôi khổ thế này! 

Lăo ḥa thượng lại quạt thêm một cái nữa, bỗng có hai cái chuông sắt bay lên liên tiếp, một cái rơi trên cành cây mọc bên cạnh bờ ao treo lủng lẳng, một cái nữa th́ rơi vào trong ao Quan Âm. 

Từ đó không nghe tiếng kêu khóc của người vợ nữa. Về sau có người nói rằng người chồng quả thật đă xuất gia làm thầy tu. 

 

28 - Chuông thần 

 

Xưa thật là xưa, chùa Pháp Vũ hăy c̣n là một cái am nhỏ, tên là am Hải Triều. Vị tổ thứ nhất của am Hải Triều tên là Đại Trí, đă dày công đúc một cái Đại Hồng Chung bằng đồng đen nặng hơn bảy ngàn cân treo tại lầu chuông, mỗi ngày sáng và chiều thỉnh chuông hai lần. 

Tiếng chuông trong trẻo rền vang, dư âm tới cuối ngày vẫn chưa dứt, cho đến Long Vương ở Thủy Tinh cung biển Đông Hải cũng nghe thấy, suốt ngày đứng ngồi không yên, chỉ muốn dẫn một đạo binh tướng cá, tướng rùa đến ngoài băi cát Thiên Bộ Sa bái kiến Ngài Quan Âm. 

Về sau có bọn cướp Hồng Mao xâm nhập Phổ Đà Sơn, đi đến đâu là cướp bóc tài vật của dân chúng đến đó. Nghe nói chuông đồng của am Hải Triều là một bảo vật, nên tên đầu sỏ của bọn Hồng Mao phái khoảng mười tên cướp lực lưỡng, hấp tấp khiêng chuông đồng lên tàu đang đậu ngoài khơi, chở về nước của chúng. 

Tàu cướp về đến nước Hồng Mao, bọn giặc phải ra sức bằng hai cọp chín trâu mới khiêng chuông lên bờ. Nhưng vừa đến cửa thành th́ chúng làm cách nào cũng không nhấc nổi chuông đồng, cả bọn nhốn nháo cả lên, viện binh thêm cả một đoàn người đến góp sức, làm gẫy mấy cây đ̣n bẫy mà chuông vẫn không xê xích một tơ một hào nào. 

Việc này làm chấn động toàn quốc. Vua nước Hồng Mao cũng cảm thấy lạ kỳ, bèn đích thân ra khỏi thành để nh́n tận mắt, nhưng khi ông vừa bước chân đến cửa thành th́ chiếc chuông đồng bèn kêu "loong coong" một tiếng và lún xuống đất, chẳng bao lâu bị đất bùn lấp kín. 

Nhà vua bất măn kêu người đào chuông lên, đào ngày đào đêm, không những không đào được chuông mà chuông càng ngày càng lún sâu xuống. Vua hoàn toàn cụt hứng, chỉ biết bỏ cuộc và ra lệnh từ đấy không c̣n ai được đào chuông nữa. 

Thoáng một cái mà hơn 10 năm trôi qua, nước Hồng Mao có một vị quốc vương khác lên ngôi. Có một hôm, chỗ cái chuông bị chôn đột nhiên vang lên tiếng "đinh! đong!" ngày đêm không ngừng, khiến cho người Hồng Mao sợ hăi hoảng hốt. Vị quốc vương mới đứng ngồi không yên, vội vàng hạ lệnh đào chuông thần lên. 

- Phải đào chuông thần lên! 

Người Hồng Mao đổ về từ bốn phương tám hướng. Cửa thành trở nên chật ních, người đông như kiến. Già trẻ lớn bé đều một ḷng cầu nguyện thượng đế bảo hộ cho họ b́nh an, một mặt nguyền rủa bọn cướp biển đă cướp chuông thần về. 

Cuối cùng, chuông lớn được đào lên rồi, trên mặt chuông có khắc rơ ràng bảy chữ "Nam Hải Phổ Đà am Hải Triều". Vị quốc vương mới đă mời đến vài chục người tu đạo của họ, ngày đêm thay phiên nhau khấn vái, nhưng tiếng chuông rền vang trong trẻo vẫn không chịu ngừng. Vị quốc vương này mới nghĩ rằng nếu giữ chuông trong nước măi th́ cả nước sẽ phỉ nhổ ông, v́ thế quyết định trả chuông về xứ sở. Nhưng cái chuông ngàn cân như thế, làm sao chở về nổi? Quốc vương và quần thần trong triều ai cũng lo âu phiền năo. 

Có một nhà buôn người Phúc Kiến, đúng lúc ấy đang ở nước Hồng Mao buôn bán. Khi biết được tin này, ông vội vàng xin yết kiến quốc vương, và tŕnh bày ư nguyện phụ trách việc chở chuông thần về cố hương. Quốc vương rất vui mừng, lập tức gọi một vị đại thần đưa ông đi đến chỗ chuông thần. Ra tới ngoài cửa thành, nhà buôn Phúc Kiến chạy đến xem th́ quả nhiên thấy đây là thần khí nhà Phật của nước ḿnh, lập tức quỳ xuống, thành tâm khấu đầu đảnh lễ ba lần, đầu đập xuống đất thật kêu. Tiếng chuông thần quả nhiên ngừng bặt, người Hồng Mao đứng nh́n xung quanh reo ḥ hoan hô từng đợt. 

Các vị thầy của am Hải Triều nghe nói đă t́m được chuông thần về, vội vàng xuất công xây một lầu chuông mới. Nhà buôn Phúc Kiến hộ tống chuông thần, vượt trăm sông ngàn núi mới về tới Phổ Đà Sơn. 

Ngày chuông thần về tới là ngày lầu chuông cũng vừa xây xong, tất cả các thầy của am Hải Triều đều ra sức, người kéo kẻ khiêng, treo chuông thần lên lầu chuông mới. 

Tiếng chuông trong trẻo của am Hải Triều lại vang rền trở lại trong khắp đảo từ đấy. 

 

29 - Đoản cô đạo đầu 

 

Xưa thật là xưa có hai người chị dâu em chồng sống chung với nhau. Hai chị em ăn tiêu rất cần kiệm ṛng ră suốt mười năm trời, khó khăn lắm họ mới dành dụm được một số tiền. Thế là hai chị em chuẩn bị một cái giỏ hương đèn hoa quả, cùng nhau lấy thuyền đến Phổ Đà Sơn dâng hương và lễ bái Bồ Tát Quan Âm. 

Lúc ấy Phổ Đà Sơn chưa có bến đ̣, thuyền bè cứ thế mà đậu dọc theo một băi cạn đầu phía tây của Nam Thiên Môn, và lấy dây thừng cột thuyền lại ở đấy. 

Thuyền đến Phổ Đà Sơn đúng lúc thủy triều xuống, khách hành hương vội xuống thuyền đi mất, chỉ có cô em chồng là c̣n ngồi đó ôm bụng, yên lặng cúi đầu không nhúc nhích. Người chị dâu gấp đi nên thúc dục cô, cô bèn lí nhí nói với chị rằng ḿnh đang có kinh nguyệt, thân không thanh tịnh nên không dám bước chân lên đất thánh. Người chị dâu nghe thế, dậm chân th́nh thịch trách rằng: 

- Cô lớn đầu như thế mà tới ngày kinh nguyệt cũng tính không ra. Bây giờ lên không lên, xuống không xuống, ái dà! Đó chính là nghiệp tội của cô đó thôi! 

Người chị dâu khiển trách cô em chồng một trận xong, chỉ đành tự xách giỏ lên bờ đi dâng hương một ḿnh.

Ông lăo lái đ̣ cũng lên bờ uống rượu rồi, trong khoang thuyền chỉ c̣n lại mỗi một ḿnh cô gái nhỏ. Nghĩ đi nghĩ lại thân phận ḿnh, muốn dâng hương mà không dâng được c̣n bị chị dâu chê trách cho một trận, cô tủi thân chỉ biết khóc, nước mắt tuông thành ḍng, vừa ân hận mà cũng vừa sợ hăi. Bốn giờ đă trôi qua, nước triều lại dâng lên cao. Nước triều phủ cả băi cát, con thuyền theo sóng mà lắc tới lắc lui,cô gái ngồi một ḿnh trên thuyền vừa đói vừa khát, nghĩ lại thật là đau ḷng! 

Ngay lúc ấy, từ rừng trúc tím có một bà lăo bước ra, một tay chống gậy, một tay xách giỏ tre, bước những bước chân run rẩy đến chỗ chiếc thuyền. Bà c̣ng lưng xuống nhặt một vốc đá nhỏ, và vừa đi vừa ném từng viên đá xuống nước biển nghe "bơm, bơm". Viên đá vừa ch́m xuống đáy biển th́ lập tức biến thành một tảng đá ngầm trồi lên khỏi mặt nước. Bà lăo đi đến đâu ném đá đến đó, và trên băi cạn một hàng đá ngầm mọc lên ngay ngắn, thẳng đến chỗ chiếc thuyền, giống như một cái bến đ̣ vậy.  

Bà lăo lên thuyền, cười tủm tỉm nói với cô gái: 

- Cô nương, cô đói rồi phải không? 

Vừa nói bà vừa dở chiếc khăn hoa đậy giỏ tre, lấy ra một bát cơm rau thơm phưng phức đặt trước mặt cô gái. 

Cô em chồng thấy bà lăo đem thức ăn tới, kinh ngạc hỏi: 

- Thưa bà, bà làm sao biết được là cháu đang đói bụng ở nơi này? 

Bà lăo cười cười: 

- Chị dâu của cô bảo tôi đem cơm đến cho cô dùng đó, cô dùng mau đi! 

Cô em chồng đói chịu không nổi nữa, nghe nói chị dâu gởi thức ăn đến th́ bưng bát đũa lên và lấy và để . Ăn no rồi, cô mới đỏ mặt cám ơn bà lăo. Bà lăo không nói không rằng, thu dọn bát đũa, xách giỏ bỏ đi. Cô em chồng mỏi mệt, dựa vào khoang thuyền mà đánh một giấc. 

Ông lăo lái thuyền uống rượu xong trở lại, mở to cặp mắt kèm nhèm, quái lạ! Làm sao chỗ này lại biến thành một cái bến đ̣? Hay là ta đi lộn đường rồi chăng? Ông lăo dụi dụi mắt, tính toán cẩn thận, đâu có lộn! Chiếc thuyền nhỏ nhà ḿnh đây mà! 

Lúc ấy bà chị dâu cùng những người khách dâng hương cũng vừa về đủ, nghe lăo lái đ̣ nói họ cũng lấy làm lạ. Bà chị dâu bước mau vào khoang thuyền lay cô em chồng dậy, hỏi cô bến đ̣ làm sao hiện ra  Cô gái lắc đầu nói không biết. Bà chị dâu vừa lấy trong giỏ ra hai cái bánh lớn, vừa trách cô rằng: 

- Đoảng như cô là cùng! Chỉ biết ngủ chứ không biết ǵ nữa hết. Thôi, mau ăn bánh đi! 

Cô em chồng ngạc nhiên: 

- Chị cho người đem cơm về cho em rồi mà? 

Bà chị dâu cũng ngạc nhiên: 

- Ai cho người đem cơm về cho cô hồi hào? Cô nằm mơ đấy hẳn? 

Cô em chồng kể lại chuyện bà lăo đem cơm ban năy. Ông lái đ̣ nghe xong vừa kinh ngạc vừa vui mừng, vỗ đùi reo lên: 

- Người đă tạo cái bến đ̣ này và đem cơm đến cho cô, chắc chắn là Quan Thế Âm Bồ Tát! 

Những người đồng thuyền, ai cũng mừng cho cô gái v́ cô đă được chính mắt nh́n thấy Ngài Quan Âm hiện thân, lại c̣n được Bồ Tát đem thức ăn cho ăn nữa. 

Bà chị dâu hăy c̣n nghi ngờ, bèn chạy một mạch đến Đại Hùng Bảo Điện của ngôi chùa trước mặt nh́n lên tượng Ngài Quan Âm, nh́n kỹ th́ quả nhiên thấy vạt dưới của chiếc áo Ngài mặc hăy c̣n vết ướt của nước biển. Lúc ấy bà mới chịu tin lời của ông lăo lái đ̣ là đúng. 

Từ đấy, Phổ Đà Sơn mới có bến đ̣. Lại v́ có câu chuyện chị dâu chê trách em chồng ở đấy nên bến đ̣ này mới có tên Đoản Cô Đạo Đầu (Đầu đường cô bị trách).*  

* DH có lấy thuyền từ đảo Phổ Đà đi đảo Lạc Ca, th́ không thấy "bến" Đoản Cô Đạo Đầu, mà thấy một tảng đá lớn có khắc bốn chữ "Đoản Cô cổ kiều" (cầu xưa "cô bị trách") ở ngay bến tàu. 

 

 

30 - Thiên Đăng Đài 

 

Lúc ban đầu, Phật Đỉnh Sơn không có chùa chiền, chỉ có một cái đ́nh bằng đá nhỏ xíu. Trong am Duyệt Lĩnh có một chú sa di tên là Viên Huệ vừa đúng 15 tuổi. Mỗi ngày chú đều trèo lên Phật Đỉnh Sơn đốn củi. Từ sáng sớm chú đă lên tới đỉnh núi, trời tối mịt mới trở về am, trong ngày khi mệt th́ ngồi nghỉ trong cái đ́nh bằng đá, cứ thế măi không bao giờ gián đoạn. 

Có một buổi trưa nọ trời oi bức lạ thường, Viên Huệ ngồi trong đ́nh hóng mát, ngẩng đầu lên nh́n ra xa, thấy trên mặt biển mây trời sắc màu lộng lẫy thật là huy hoàng. Một đoàn chim biển từ xa bay đến, xoay tṛn trên Phật Đỉnh Sơn thật lâu như không muốn rời xa. Ngắm những cảnh tượng ấy, Viên Huệ như có ư nghĩ riêng tư ǵ, chú nghĩ : Phật Đỉnh Sơn đối diện với biển rộng, đẹp như tiên cảnh, giá như xây được mái chùa trên này th́ không những hấp dẫn được hằng vạn hằng ngàn du khách hành hương mà c̣n có thể tăng thêm phần tráng lệ cho Nam Hải Phật quốc này. 

Ư nghĩ này như mọc rễ trong tâm chú, thế là chú vội vàng thu xếp gánh củi rồi gấp rút trở về am Duyệt Lĩnh, mới vào cửa đă nói ầm lên: 

- Sư Phụ, con đă thấy ánh sáng của Phật trên Phật Đỉnh Sơn! Đó là một mảnh đất lành, phải cất ngôi chùa lớn trên ấy mới được! 

Vị hoà thượng đương gia không đồng ư, đáp rằng: 

- Tuy Phật Đỉnh Sơn quả thật là một vùng đất quư, nhưng dễ ǵ mà cất ngôi chùa lớn trên ấy? Nào ngói, nào gạch, nào gỗ, lấy ở đâu ra? 

Viên Huệ chớp chớp mắt trả lời: 

- Đệ tử đi bốn phương hoá duyên. 

Vị ḥa thượng già nh́n Viên Huệ, vừa ṭ ṃ lại vừa cảm thấy buồn cười, bèn nói bừa rằng: 

- Con mà hóa duyên xây được chùa th́ thầy nguyện sẽ nhóm lửa thổi cơm cho con làm trụ tŕ trong ba năm. 

Viên Huệ xin thầy một bộ cà sa cũ và một cái mơ, rồi rời Phổ Đà Sơn đi hóa duyên. 

Qua biển rồi, chú lênh đênh vượt suối băng ngàn, lên thác xuống ghềnh, ngày đi đêm nghỉ, đi hết 6 tháng mới đến tỉnh Phúc Kiến. Một hôm, chú đi theo con đường ṃn khúc khuỷu, băng qua một quả núi, quẹo qua một chỗ ngoặc th́ đột nhiên thấy một ngôi làng, đằng trước là biển, đằng sau là một dăy núi cao. Chú đi nghe ngóng một hồi th́ biết rằng trong làng có một ông tài chủ giàu có, mẹ ông là tín đồ Phật giáo, ăn chay niệm Phật đă lâu năm. Viên Huệ mừng rỡ, ba chân bốn cẳng chạy đến trước cửa nhà tài chủ, nhắm mắt đứng thẳng, gơ mơ không ngừng tay. Tài chủ nghe tiếng mơ bèn ra cửa xem, thấy một chú sa di vừa nhỏ con vừa nhỏ tuổi, mặc một bộ cà sa vừa dài rộng lại vừa cũ kỹ, trên lưng cơng cái mơ bằng gỗ vừa to lại vừa nặng, bộ dạng thật tiếu lâm, ai thấy cũng phải buồn cười. Ông bèn hỏi: 

- Chú tiểu ơi, chú xuất gia ở chùa nào, hóa duyên ǵ, và đọc kinh nào rồi? 

Viên Huệ chắp tay vái chào, cười đáp một cách chân thành: 

- Xuất gia ở Quan Âm miếu, miếu ở Phổ Đà Sơn, miệng tụng kinh Di Đà, xin thí chủ bố thí kết duyên lành! 

Tài chủ nghe xong, kêu người bưng ra bát cơm chay và mời: 

- Từ Phổ Đà Sơn đến đây đường xa thăm thẳm, mời chú dùng bát cơm chay này cho đỡ đói, nghỉ ngơi một chút rồi hẵn tiếp tục đi! 

Viên Huệ nh́n bát cơm chay, lắc đầu mà rằng: 

- Ngài Quan Âm hiển linh, phóng ánh sáng chiếu lên Phật Đỉnh Sơn, thí chủ có duyên xin ủng hộ chút gỗ để xây chùa!

Tài chủ nghe chuyện ủng hộ gỗ xây chùa th́ trong ḷng không vui, bèn lắc đầu bỏ đi. 

Viên Huệ đă quá hoan hỉ lúc mới đến đây hóa duyên, ngờ đâu tài chủ không cho ǵ cả nên cảm thấy trong ḷng lo lắng. Chú chớp mắt, trong đầu nghĩ ra một kế, bèn làm như thái độ của tài chủ chẳng hề làm cho chú quan tâm chút nào. Chú ngồi xuống xếp bằng, và ra sức b́nh sinh gơ mơ "cốc, cốc" vang lừng. Tiếng gơ mơ làm kinh động bà mẹ già của tài chủ. Bà lăo này chuyên ăn chay niệm Phật, đă lâu muốn đến Phổ Đà Sơn hành hương một chuyến nhưng chỉ v́ bị con trai cản trở nên chưa đi được. V́ vậy bà cứ u uất trong ḷng, sầu năo lâu ngày nên sinh căn bệnh kỳ lạ. Nay bỗng nghe tiếng mơ, liền hối a hoàn ra cửa xem đó là chuyện chi. Nghe nói đó là một chú tiểu từ Phổ Đà Sơn tới, bà lên tinh thần ngay, đứng dậy ra cửa tiếp đón. 

Viên Huệ thấy bà lăo từ trong nhà bước ra, cách ăn mặc của bà làm cho chú đoán được ngay rằng đây là mẹ của tài chủ. Chú khoan thai đứng dậy, miệng lẩm bẩm: 

- Tin Phật phải thành tâm! Thành tâm Phật mới linh! 

Nói xong, chú quày quả bỏ đi. 

Bà cụ vội vàng gọi lại: 

- Chú tiểu ơi, trở lại đây! Chú tiểu ơi, trở lại! 

Viên Huệ nghe tiếng kêu, không những không trở lại mà đi càng lúc càng mau rồi mất hút trong nháy mắt. Bà cụ lo lắng, cảm thấy lồng ngực như bị thắc nghẹn, đôi chân mềm nhũn và ngă nhào xuống đất. Tài chủ thấy vậy, vội vàng bồng mẹ già trở về pḥng, nào xoa ngực, nào đấm lưng, cứ thế thật lâu bà lăo mới từ từ hồi tỉnh lại, miệng cứ kêu lên "Phổ Đà Quan Âm! Phổ Đà Quan Âm!" 

Hôm ấy, người nhà của tài chủ ai cũng lo mời thầy, sắc thuốc, bận rộn cho đến nửa đêm. Đúng lúc bà lăo sắp chợp mắt ngủ th́ đột nhiên từ rừng cây trên núi sau nhà vọng lại âm thanh một hồi mơ ḍn tan. Bà lăo ngồi nhỏm dậy, lắng tai chăm chú nghe. Nghe một hồi lâu, bà cười khúc khích, mải cho đến khi trời tảng sáng, tiếng mơ dừng bặt th́ bệnh t́nh của bà lại tái phát. Sự kiện như thế kéo dài liên tục ba ngày ba đêm. Tài chủ hoảng hốt, chỉ đành đi kiếm Viên Huệ nhưng kiếm khắp cùng, từ trên núi xuống đến thung lũng, kiếm cũng không ra tăm tích của chú.  

Thật ra, cái hôm Viên Huệ bỏ đi rồi, chú bèn trốn trong một cái động đá trên núi, chờ tới nửa đêm mới ra khỏi động, đến khu rừng sau nhà tài chủ ngồi gơ mơ không ngừng, ngày nào cũng thế. Nay chú thấy tài chủ đưa người đi t́m ḿnh th́ cố ư lăng tránh, đi đường ṿng lẻn vào nhà tài chủ, đứng trước giường bệnh ra sức gơ mơ nữa. 

Bà lăo mở bừng đôi mắt ra nh́n, thấy chú tiểu của Phổ Đà Sơn ngày nào th́ hoan hỉ vô cùng, bệnh t́nh thuyên giảm rất nhiều. Bà nhất định cho rằng Viên Huệ là Phật Quan Âm sống, nên vừa đốt hương vừa hứa lễ tạ ơn, luôn mồm nguyện cúng gỗ xây chùa. Khi bà lăo khấn hứa như thế và cúng dường chú rồi th́ như uống được thuốc tiên, chỉ mấy ngày sau là hoàn toàn khỏi căn bệnh kỳ quặc kia. Tài chủ thấy Phổ Đà Quan Âm quả có linh nghiệm thật, cũng đồng ư ủng hộ. 

Viên Huệ bó mớ gỗ đă hóa duyên được lại thành từng bè và thuận theo ḍng nước mà chở về Phổ Đà Sơn. Tuy nhiên Phật Đỉnh Sơn trên núi cao, đường đi lại hẹp, gỗ th́ vừa thô vừa dài, làm sao đem số gỗ ấy lên núi được đây? Chính đương lúc Viên Huệ đang nh́n đống gỗ to lớn ấy một cách ưu sầu th́ bỗng nhiên gió nổi lên, mây cuồn cuộn, một lớp sương mù u ám bao phủ cả mặt biển rộng. Viên Huệ thấy thế tự bảo: 

- Thôi chết rồi, thuyền đánh cá trên biển lâm nguy rồi! 

Chú lo sợ quá, phăng phắc trèo một mạch lên Phật Đỉnh Sơn, và trên vách đá cheo leo của Bồ Tát Đỉnh, chú thu một đống củi thật lớn nhóm lửa lên. Chỉ trong chớp mắt, lửa bốc lên phừng phực trên đỉnh núi chiếu khắp bốn phương, từ xa cũng nh́n thấy, giống như một ngọn đèn trời vậy. 

Lúc ấy những chiếc thuyền chài đang lạc hướng thấy trên núi có một ngọn đèn đỏ, ai cũng nghĩ rằng đó là Quan Âm Bồ Tát treo đèn trời để dẫn đường cho đám thuyền chài trở về đúng hướng. Không bao lâu, đám thuyền chài trên biển nhắm ngọn đèn đỏ mà chèo và tất cả đều hướng về hải cảng của Phổ Đà Sơn. 

Viên Huệ thấy họ bèn la to lên: 

- Bồ Tát hiển linh, chúng ta phải xây chùa trên Phật Đỉnh Sơn! Mọi người mau lại góp một tay khiêng gỗ! Góp một tay khiêng gỗ! 

Dân chài nghe tiếng kêu gọi bèn kẻ gánh người gồng, kẻ khiêng người vác, dành nhau mà làm, chẳng bao lâu toàn bộ số gỗ ấy đều được khiêng lên Phật Đỉnh Sơn. 

Trên Phật Đỉnh Sơn, lấp ló trong màu xanh thúy ngọc của cây cỏ, một mái chùa lớn được xây lên, hiện này là Huệ Tế thiền tự vậy*. 

Ngày chùa vừa xây xong, vị đương gia ḥa thượng của Miếu Duyệt Âm mừng khấp khởi trèo lên Phật Đỉnh Sơn, t́m xuống nhà bếp tính thổi cơm ba năm, Viên Huệ can măi nhưng vị thầy già nhất định không nghe, Viên Huệ đành phải để thầy xuống bếp nhóm ba bếp lửa để đền bù lại lời nguyện của ba năm về trước. 

Về sau, Viên Huệ c̣n xây một ngôi miếu nhỏ trên Bồ Tát đỉnh và đêm nào trời phủ sương mù, chú sẽ "mở đèn trời" để hướng dẫn đám thuyền chài trở về bến an ổn. 

Từ đó, Bồ Tát Đỉnh cũng có tên là Thiên Đăng Đài (Đài đèn trời).

 

* Phật Đỉnh Sơn là điểm cao nhất của Phổ Đà Sơn.

 

Minh Quang posted July 15, 2005

 [Home] [Up] [Truyện Tích Quan Âm 1 -5] [Truyện Tích Quan Âm 6 - 10] [Truyện Tích Quan Âm 11 - 15] [Truyện Tích Quan Âm 16 - 20] [Truyện Tích Quan Âm 21 - 25] [Truyện Tích Quan Âm 26 - 30] [Truyện Tích Quan Âm 31 - 35] [Truyện Tích Quan Âm 36 - 40] [Truyện Tích Quan Âm 41 - 45] [Truyện Tích Quan Âm 46 - 50]