Chùa Hải-Đức in Jacksonville
|
|
Quan Âm Truyền Thuyết (Tuyển Tập) Diệu Hạnh GiaoTrinh Chuyển Ngữ
Một hôm, Quan Âm Bồ Tát vân du tới bờ biển Đông hải. Sở dĩ Ngài muốn đến đấy là v́ nghe nói rằng dân chúng ở vùng biên giới xa xôi này không biết lễ nghĩa, không tin Phật Pháp Tam Bảo, ích kỷ ngu muội, hung bạo và hiếu chiến. Sau khi quan sát t́m hiểu thật lâu, Ngài thấy những ǵ tai nghe và mắt thấy đều hoàn toàn đúng. Một buổi sáng sớm nọ, Ngài biến thành một vị tăng hành cước đến cái chợ cá của thị trấn nhỏ ấy. Dân chài ở thị trấn này chủ yếu sống bằng nghề đánh cá, mỗi ngày đánh cá về đem ra chợ bán. Hôm ấy trúng ngày họp chợ, thị trấn nhỏ vô cùng náo nhiệt. Bồ Tát Quan Âm đi dọc theo con đường băng ngang qua chợ, hai bên đường quầy hàng chen chúc san sát, con đường vừa bẩn vừa loạn, chưa kể đến mùi tanh của cá. Nhưng điều đáng sợ hơn hết là dân chài thường gây lộn và đánh lộn nhau. Người bán gây lộn với người mua, các quầy hàng tranh khách, tranh chỗ cũng gây lộn với nhau, có khi c̣n dùng đến chân tay. Trong một quăng thời gian ngắn mà không biết bao nhiêu vụ gây lộn như thế đă xảy ra. Hai bên mắng chửi nhau với những lời lẽ thô tục. Chính mắt Ngài Quan Âm nh́n thấy một thanh niên vặm vỡ lực lưỡng, v́ muốn độc chiếm một chỗ tốt nên đă ngang tàng dùng tay đẩy một bạn hàng lớn tuổi một cách hung dữ. Cụ già bị đẩy ngă lăn xuống đất rồi mà c̣n bị thanh niên nọ dùng chân đá thêm mấy cái liên tiếp. Người ta đồn rằng thanh niên này tên là Mă Lang, là người rất ngang ngược, thường xưng hùm xưng bá trong thị trấn này. Nh́n thấy chuyện như thế rồi, trong tâm Ngài Quan Âm khởi lên một niềm thương cảm. Ngài thấy sở dĩ dân cư ở đây thích đánh nhau là v́ họ ích kỷ, ngu muội, tham tiền, bị "ba độc" tham sân si trói buộc. Bồ Tát quyết tâm dùng Phật Pháp cải hóa những người dân ngu muội của thị trấn này, làm cho họ phải sùng kính Tam Bảo, giải trừ ba độc. Sau khi suy nghĩ cân nhắc chín chắn, Ngài Quan Âm xếp đặt một diệu kế. Hôm sau, Bồ Tát Quan Âm hóa thành một cô gái thôn chài tuổi chừng đôi tám, tay cầm giỏ cá xuất hiện tại chợ. Cô gái dân chài này tóc bối song đào, mặc áo xanh thêu hoa, nhan sắc xinh đẹp, thân người mạnh khoẻ nở nang, đi chân đất uyển chuyển bước vào chợ, trong giỏ có vài con cá chép c̣n sống. Cô t́m đến một chỗ vắng vẻ ít người bày giỏ cá ra và bắt đầu rao: "Ai mua cá chép tươi không? Ai mua cá chép tươi không?" Tuy cô không những không chen vào những chỗ đông người nhiệt náo mà lại c̣n ẩn ḿnh dưới một chân tường kín đáo, thế mà lạ thay, chẳng mấy chốc cô được mọi người chú ư v́ những người qua lại trên đường, dầu gần dầu xa cũng đều bị nhan sắc mỹ lệ của cô lôi cuốn, nhất là những anh chàng thanh niên trẻ tuổi. Họ tranh nhau đến gần đ̣i mua cá của cô, và lập tức, chỗ ấy trở nên thật là đông đúc. Những anh chàng trẻ tuổi ấy biết rất rơ, họ viện cớ mua cá, chứ thật ra họ đến chỉ để ngắm nh́n nhan sắc mỹ miều của cô gái bán cá. Giỏ cá của cô chỉ c̣n lại có hai, ba con, mọi người tranh nhau "Bán cho tôi! Bán cho tôi!" Cô gái bán cá cười hỏi những người đứng chen nhau trước mặt: - Quư vị đừng tranh dành nữa, xin nghe tôi nói rồi sau đó hẵn mua, được không? Đầu tiên tôi xin hỏi một câu, quư vị mua cá của tôi để làm ǵ vậy? Người mua cá đáp: - C̣n phải hỏi, mua về nấu lên ăn chứ để làm ǵ? Cô gái bán cá nói: - Nếu mua về để nấu lên ăn th́ tôi không bán, v́ cá của tôi đặc biệt không giống cá khác, cá của tôi không thể dùng làm thức ăn cho người ta nuốt vào bụng. Cá này chỉ bán cho người từ thiện mua về phóng sinh mà thôi. Nếu quư vị muốn mua cá về nấu lên ăn th́ trong chợ này thiếu ǵ chỗ bán, xin mời quư vị chiếu cố những quầy hàng khác vậy. Nghe cô gái nói như thế xong, phần đông người nào nghe cũng thấy buồn cười, một thanh niên mồm loa mép giải cưởi ha hả trả lời: - Thật là chưa từng thấy người nào bán cá như cô, trong một cái chợ cá như thế này th́ mua cá về chỉ để nuốt vào bụng chứ để làm ǵ nữa, nếu mua cá về phóng sinh th́ cần chi mất công làm hai việc, cứ đem tiền vứt xuống biển th́ có phải giản dị hơn không? - Phải đấy, phải đấy, đúng là lần đầu tiên mới thấy người bán cá kiểu này, nếu cô muốn làm phước th́ đừng đi đánh cá, chợ cá này mỗi ngày bán cả ngàn, cả vạn cân cá, nếu ai cũng bảo mua cá về để phóng sinh th́ người ta lấy ǵ ăn? Mọi người cười ầm lên và từ từ tản mác. Bồ Tát Quan Âm nghe tiếng cười của những người ấy, bất giác thầm thở dài. Đến chiều, cô gái bán cá hóa thành vị tăng hành cước vào miếu tạm trú, hôm sau lại lấy h́nh dạng cô gái bán cá, đi chân không, tay xách giỏ, vẫn ở chỗ hôm qua rao hàng. Và cũng như hôm qua, tuy có rất nhiều người vây quanh mà phần đông là những chàng trai trẻ, nhưng họ chỉ đến phá phách chứ không có một người nào thật t́nh chịu bỏ tiền ra mua cá phóng sinh. Mấy ngày liên tiếp, sự việc cứ diễn tiến y như thế nhưng Bồ Tát Quan Âm vẫn kiên tŕ, ngày ngày vào chợ. Ngài lưu tâm quán sát, tuy mấy ngày qua có rất nhiều chàng trai trẻ đến vây quanh nhưng anh chàng thanh niên ngang ngược tên là Mă Lang kia th́ không hề thấy mặt. Hôm sau, Bồ Tát Quan Âm lại đúng lúc đúng thời có mặt tại chợ. Hôm ấy Mă Lang cũng đến, th́ ra anh chàng đi xa mới về, nghe mọi người kể chuyện cô gái bán cá, anh chàng cũng muốn đến xem chơi cho vui. Khi nh́n thấy cô gái, Mă Lang cũng bị nụ cười của cô hớp hồn. Có lẽ trước nhan sắc của cô gái, Mă Lang không dám để lộ ra thái độ ngang ngược của ḿnh, mà cũng chẳng cười nói phá phách như những chàng trai trẻ khác, trái lại tỏ ra rất lịch sự nho nhă. Mă Lang chỉ hiếu kỳ muốn xem cô gái bán cá với mấy con cá trong giỏ của cô, lúc ấy trong giỏ có ba con cá, tuy ở trên cạn đă lâu nhưng vẫn c̣n sống. Mă Lang cảm thấy có chi khó hiểu, tự hỏi từ đâu lại xuất hiện một cô gái như thế, thật là kỳ quái. Nhưng cô gái lại nh́n ngay Mă Lang mà hỏi: - Sao, đại ca, có muốn mua cá phóng sinh làm phước không? Bị hỏi thẳng mặt Mă Lang không biết phải trả lời thế nào, đâm ra luống cuống nên ấp úng trả lời0: - Cá tôi câu biết bao nhiêu, nếu muốn phóng sinh th́ phóng cá của ḿnh chứ mua làm ǵ… Nói xong, Mă Lang mau mau rời xa cô gái bán cá, sợ cô hỏi nữa th́ không biết phải trả lời sao cho phải. Bồ Tát Quan Âm nh́n bộ dạng lúng ta lúng túng xa dần của Mă Lang, không khỏi muốn bật cười. Mỗi ngày Bồ Tát Quan Âm vẫn đi bán cá phóng sinh, Mă Lang cùng rất nhiều chàng trai trẻ khác bị nhan sắc của cô gái bán cá làm cho mê mẩn tới hồn điên phách đảo. Ngày ngày nh́n cô gái, vài chục anh thanh niên đă phải ḷng, bèn đi t́m người mai đến cầu hôn với cô, ai cũng tranh nhau để cưới cô gái bán cá về làm vợ, và Mă Lang cũng là một trong số người ấy. Đó chính là điều mà Bồ Tát Quan Âm đă dự liệu trước, Ngài thừa biết chỉ có cách đó mới lôi kéo được những người dân chài vô tri ấy đến gần ḿnh để có thể thi hành kế hoạch, nghĩa là dần dần cải hóa cái đám thanh niên cứng đầu xấu tính ấy. Ngài bèn nói với những người đến cầu hôn rằng: - Tiểu nữ xin cám ơn quư vị đă quan tâm đến. Trai lớn phải lấy vợ, gái lớn phải lấy chồng, tiểu nữ cũng muốn t́m một người tốt để nương thân suốt đời. Nhưng thân gái chỉ có thể có một chồng, mà quư vị đến cầu hôn lại đông như thế này, làm sao một ḿnh tiểu nữ lại có thể nhận lời được cả mấy chục người đây? Những người cầu hôn đều thấy cô gái bán cá nói đúng, không ai có thể trả lời câu hỏi cô gái, phải rồi, bây giờ làm sao đây? Cô gái nói tiếp: - Tôi có biện pháp này, nhưng không biết nói ra rồi quư vị có làm theo được không? Thấy có gái bán cá chủ động đưa ra biện pháp ai cũng muốn nghe theo, nên nhao nhao trả lời: - Cô cứ nói, chúng tôi quyết y theo lời cô mà hành động. Bồ Tát Quan Âm nói: - Biện pháp của tôi rất công b́nh, nghĩa là ai muốn cầu hôn cũng phải học thuộc ḷng một cuốn sách, một cuốn kinh Phật. Quư vị chưa ai từng đọc qua kinh Phật phải không, nhưng điều ấy không quan hệ. Tôi sẽ chỉ cho quư vị tụng kinh. Đây tôi có đem theo cuốn "Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn phẩm" trong cuốn "Diệu Pháp Liên Hoa Kinh", tôi sẽ chỉ theo lối truyền khẩu cho quư vị, hôm nay quư vị học cho nhớ, để xem trong một đêm ai học thuộc ḷng được th́ tôi sẽ làm vợ người đó. Mọi người nói: - Hay, biện pháp hay, xin cô mau mau dạy! Thế là Bồ Tát Quan Âm dạy cho họ từng câu từng câu, đám thanh niên học từng câu từng câu và cũng ghi nhớ từng câu từng câu. Sau đó Bồ Tát Quan Âm nói: - Quư vị nhớ hết chưa? Bây giờ hăy về nhà, sáng mai đến đây đọc. Đám thanh niên ai cũng nhất tâm nhất chí, sợ quên mất nên ráng học thuộc ḷng cẩn thận, nhưng mỗi người trời cho một trí nhớ tốt xấu khác nhau. Do v́ muốn cưới cô gái bán cá xinh đẹp về làm vợ nên đêm ấy hầu như không ai ngủ, ai cũng đi qua đi lại trong nhà, chuyên chú đọc tụng điều đă học cho thuộc ḷng, nhưng sau một đêm, chỉ c̣n có phân nửa mới có thể đọc làu làu. Phân nửa kia ra sức đến đâu cũng không sao nhớ được, chỉ biết buồn phiền rầu rĩ than thở v́ đă đánh mất đi một cơ hội. C̣n phân nửa học được thuộc ḷng th́ vô cùng phấn khởi, người nào cũng đọc như cháo phẩm "Quan Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn" cho cô gái bán cá nghe, và người nào cũng khoe ḿnh học thuộc kỹ nhất, tụng hay nhất. Người nào cũng thấy cô gái bán cá phải về làm vợ ḿnh, tranh căi nhau loạn cả cái chợ, người nào cũng đỏ mặt tía tai, thiếu điều đánh lộn nhau. Ngài Quan Âm sợ đám thanh niên quá giận dữ mà đánh nhau thật vội nói: - Các anh đừng căi nhau nữa. Người thuộc kinh này đông như thế, không thể phân biệt cao thấp thật là khó xử, chúng ta phải t́m biện pháp giải quyết vậy. Các anh đă học thuộc được phẩm "Quan Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn", phẩm này là sơ thừa của Phật giáo, bài kinh ngắn gọn văn vẻ dễ học. Hôm nay có kinh này dài hơn, đó là kinh "Kim Cang", tôi cũng sẽ đọc lên cho mọi người ghi nhớ, cũng lấy hạn định là một đêm, trong một đêm ai học thuộc kinh này, tôi sẽ làm vợ của người đó. Chừng khoảng mười người chân chính muốn cưới cô gái bán cá xinh đẹp này về làm vợ nên không tranh căi nhau nữa, chân thành học với ngài Quan Âm một cách rất chuyên chú. Dĩ nhiên học kinh Kim Cang khó thuộc hơn, mười chàng trai trẻ ấy lại trải qua một đêm khổ ải, dốc hết tâm lực để học nhưng cuối cùng chỉ c̣n có bốn người là có thể học thuộc. Hôm sau bốn người ấy đi gặp ngài Quan Âm, họ nh́n nhau, không biết phải làm thế nào. Sau đó bốn người thương lượng với nhau để lấy một quyết định. Mă Lang là một trong bốn người ấy, đứng ra nói: - Chúng tôi c̣n có bốn người, không muốn tranh dành với nhau nữa. Cô muốn chọn người nào trong bọn chúng tôi? Cô hăy quyết định, chúng tôi sẽ theo ư của cô, tuyệt đối không có ư kiến nào khác. Ngài Quan Âm nghe xong rất vui mừng. Mới có hai đêm tụng kinh Phật mà tâm địa bọn thanh niên này đă thanh tịnh được rất nhiều, tâm ích kỷ tham lam đă giảm xuống không ít. Nhưng Ngài đến đây không phải v́ vấn đề hôn nhân mà v́ muốn t́m cách cải hóa họ thêm một tầng bậc nữa. Ngài bèn nói với bốn anh chàng thanh niên rằng: - Tôi nh́n bốn người c̣n lại cũng thấy khó xử, người nào cũng xứng đáng cả, nếu do tôi quyết định chọn lựa th́ e không được công b́nh. Tôi nghĩ tốt nhất là ḿnh tiếp tục phương pháp cũ, lại học thuộc kinh Phật một lần nữa, lần này tôi chọn một bộ kinh dài hơn, ai thuộc th́ tôi sẽ làm vợ người ấy. Bốn người không c̣n cách nào khác hơn là nghe theo. Ngài Quan Âm bèn lấy ra bộ kinh dài tới 10 vạn chữ "Diệu Pháp Liên Hoa" và nói với bốn người rằng: - Bộ kinh lớn này tên là "Diệu Pháp Liên Hoa Kinh", các vị đă học thuộc một chương trong bộ kinh này rồi, tức là phẩm "Quan Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn phẩm". Bây giờ các vị về nhà học thuộc bộ kinh lớn này, nội trong 3 ngày sau, ai học thuộc được th́ tôi nguyện làm vợ của người ấy. Bốn người đều đồng ư rằng biện pháp ấy rất công b́nh, hơn nữa chỉ c̣n lại có bốn người, người nào cũng c̣n giữ hy vọng, có ai lại không muốn cưới mỹ nhân về làm vợ? Thế là bốn người lại chăm chỉ ghi nhớ học từng chữ, từng chữ với Ngài Quan Âm. Về tới nhà, bốn người lại thêm một lần nữa gian nan khổ sở ba ngày ba đêm. Bộ kinh này rất khó thuộc, trong số ấy 3 người học không nổi v́ ḷng nóng như lửa đốt, mà càng nóng nảy th́ càng học sai, họ chỉ đành tự nhận rằng ḿnh dở, buồn bă chấp nhận sự thất bại. Có ai ngờ anh chàng Mă Lang lỗ măng ấy lại quá giỏi, đọc thuộc làu bộ kinh không sai một chữ. Nh́n Mă Lang đọc tụng bộ kinh lớn ấy làu làu, Ngài Quan Âm cũng phải thầm khen là giỏi. V́ ngay từ đầu đă giao ước rơ ràng, Bồ Tát Quan Âm cũng vui vẻ nhận lời cầu hôn và nói với Mă Lang rằng: - Tôi nói là làm, anh cứ về chuẩn bị và định ngày hôn lễ. Mă Lang thấy ḿnh sắp cưới được cô gái bán cá xinh đẹp, thôi th́ miệng cười không ngớt. Mấy ngày vừa qua Mă Lang đă thay đổi rất nhiều mà không biết, nhờ chuyên tâm đọc kinh Phật, không c̣n tranh dành gây gổ ngoài chợ nữa, nhờ thế chợ cá cũng trở nên yên tịnh. Bây giờ anh chàng lại hân hoan chuẩn bị lễ cưới, trong nhà từ già tới trẻ ai cũng vui mừng hớn hở, chờ đợi đón nàng dâu tuyệt sắc giai nhân về. Ngày hôn lễ, giăng đèn kết hoa rực rỡ, vô cùng nhiệt náo nhưng có ai ngờ khi cô gái bán cá được các cô phù dâu quây quần xúm xít đưa đến pḥng hoa chúc, khi mọi người trong làng đang vui vẻ chọc phá trước cửa pḥng th́ tân nương đột nhiên ngă xỉu xuống đất, chẳng bao lâu sau tắt thở mà chết. Đương nhiên rơ ràng chuyện xảy ra như thế là do Quan Âm Bồ Tát dùng một chút thần thông mà nên. Niềm vui của Mă Lang chưa tàn mà bi thương đă ập đến, chỉ biết đem thi thể người vợ chưa cưới đi tẩm liệm. Mă Lang thương nhớ cô gái bán cá xinh đẹp nên quyết tâm không lấy vợ khác, mỗi ngày c̣n âm thầm đọc tụng và học thuộc kinh Phật khác cho bớt buồn khổ, hơn nữa, ban đầu anh chàng học kinh một cách mù quáng nhưng bây giờ th́ bắt đă t́m hiểu nghiền ngẫm Phật Pháp, ngộ được rất nhiều đạo lư, và cuối cùng, cả con người chàng biến đổi, không c̣n hung hăn ngang ngược, không c̣n ức hiếp người làng nữa. Mấy tháng sau, Bồ Tát Quan Âm thấy Mă Lang đă tỉnh ngộ nhiều, lại hoá thành vị tăng hành cước đến thị trấn để giáo hóa thêm một bước cho Mă Lang, chỉ cho anh chàng thấy đâu là bến mê, đâu là bờ giác. Nhờ nhiều ngày tụng kinh tin Phật nên gặp vị tăng hành cước, Mă Lang cảm thấy có ǵ rất thân thiết, hai người nói chuyện với nhau rất tâm đầu ư hợp. Mă Lang bùi ngùi thương tiếc đem chuyện tụng kinh cưới vợ cho vị tăng nghe. Lúc ấy Bồ Tát Quan Âm mới nói với Mă Lang: - Cậu đừng buồn chuyện ấy nữa, cậu có biết cô gái đánh cá ấy là ai không? Chính là Quan Âm Bồ Tát ở Nam Hải Phổ Đà đấy. Ngài đă đến thôn chài này chỉ là để cảm hóa các vị mà thôi. Nếu không tin hăy quật mồ lên xem, lúc ấy sẽ rơ. Mă Lang nghe lời vị tăng, đi quật mồ lên xem và giật ḿnh thấy trong mồ không hề có thi thể của cô gái bán cá nào cả, mà chỉ có một khúc xương đ̣n bằng vàng ṛng. Bồ Tát Quan Âm lại bảo: - Sao ? Bây giờ cậu biết Pháp lực của Bồ Tát rồi chứ? Chỉ v́ dân chúng các vị ở đây không biết lễ nghĩa, không tin Phật Pháp, ngang ngược hiếu chiến, vô tri ngu muội nên Ngài mới hóa thành cô gái bán cá đến đây cảm hóa các vị. Mà chính cậu là người có pháp duyên nhiều nhất, đă được nghe và học hai bộ kinh Kim Cang và Pháp Hoa. Từ nay về sau, cậu nên theo sự chỉ dẫn của Bồ Tát mà hoằng dương Phật Pháp, hướng dẫn chúng sinh, sau này công đức viên măn, hậu vận rất tốt. Mă Lang gật đầu đồng ư, vâng dạ luôn mồm. Đang lúc nói chuyện, vị tăng đột ngột biến mất, Mă Lang hiểu rằng đây cũng chính là Bồ Tát Quan Âm về giáo hóa ḿnh, nên nh́n lên không trung bái tạ không ngừng. Từ đó trở đi, Mă Lang biến căn nhà tranh ba gian của ḿnh sửa thành cái miếu, dựa theo h́nh cô gái bán cá mà tạc bức tượng ngài Quan Âm, v́ tay Ngài cầm giỏ nên mới đặt tên là "Ngư lam Quan Âm" (Quan Âm cầm giỏ cá), lại v́ Quan Âm Bồ Tát đă từng làm hôn lễ với Mă Lang nên c̣n gọi là "Mă Lang phụ Quan Âm" (Quan Âm vợ Mă Lang).
Những năm cuối đời nhà Đường, thiên hạ rất loạn lạc. Nào Hoàng Sào, nào Lư Khắc Dụng v.v… dấy binh ở Trung Nguyên làm cho sinh linh lầm than khốn khổ, người chết, người bị thương nằm ngổn ngang la liệt, thật là một cảnh tượng thương tâm! Thời ấy, dân chúng vùng Tô Châu Hàng Châu bị nạn đao binh nhiễu hại nên lúc nào cũng sống trong phập phồng lo sợ. Ở Lâm An (Triết Giang), có một người tên là Tiền Lưu, là một người rất lương thiện chính trực, lại dũng cảm nghĩa khí, tự ḿnh luyện tập vơ công thâm hậu, nh́n thấy hoàn cảnh hỗn loạn, nh́n thấy dân chúng của cả vùng Tô Châu Hàng Châu lúc nào cũng nơm nớp lo sợ, sự an toàn không được bảo đảm, nên rất muốn khởi binh để bảo vệ họ và để bảo toàn an ninh cho toàn vùng Đông Nam, tuy nhiên ông sợ không trù bị được lương thực khí giới, lại c̣n sợ việc không thành mà c̣n bị gán cho tội phạm thượng làm loạn, v́ thế ông do dự măi không dám lấy quyết định. Một hôm bỗng nhiên ông nằm mộng thấy Quan Âm Bồ Tát nói với ông rằng: - Tiền Lưu, ông đừng lưỡng lự nữa, ông đă có ư muốn bảo toàn an ninh cho dân chúng miền Đông Nam và có tâm muốn cứu dân thoát khỏi cảnh binh lửa, th́ đó là một thiện tâm hiếm có. Trời luôn luôn phù hộ người thiện nên sẽ phù hộ cho ông trăm trận trăm thắng, ông hăy mau khởi binh đi! Tiền Lưu bèn đem nỗi lo âu của ḿnh bạch với Bồ Tát, Ngài trả lời: - Ông đừng lo những chuyện đó, đừng rụt rè nhát gan, mà phải biết rằng một người thôi mà cũng có thể có ngàn tay ngàn mắt. Không tin, ông hăy xem ta. Bồ Tát nói xong, Tiền Lưu thấy trước mặt ḿnh là một vùng ánh sáng chói ḷa, rồi lại thấy kim thân Bồ Tát ngàn tay ngàn mắt, cao một trượng sáu hiện ra trong vùng ánh sáng ấy. Ngài Quan Âm c̣n nói thêm để thuyết phục ông: - Tiền Lưu, ông phải biết, nếu v́ người khác mà có ngàn tay ngàn mắt th́ sẽ lập được sự nghiệp thiên thu. Ông đừng chần chờ nữa, cứ dũng cảm mà ra tay, tính mệnh của sinh tinh toàn vùng Đông Nam nay đă trói buộc vào chỉ một ḿnh ông mà thôi đó! Khởi binh thành công rồi, mong ông quy y tin tưởng Phật Pháp, lấy từ bi làm tôn chỉ để lợi ích cho quần sinh. Nếu được như thế th́ hai mươi năm nữa, ông hăy đến núi Thiên Trúc t́m ta. Tiền Lưu tỉnh dậy rồi th́ rất kinh ngạc, tự nghĩ rằng: - Bồ Tát đă chỉ dạy, lời Ngài nói chắc chắn không sai. Thế là ông lập kế khởi binh, chiêu tập các thanh niên tráng kiện dũng cảm trong các xóm làng. Ông c̣n bảo người vẽ cho ông một tấm tranh Quan Âm Bồ Tát ngàn tay ngàn mắt để treo trong nhà, và kể cho những thanh niên dưới trướng nghe chuyện Quan Âm Bồ Tát đă ứng mộng bảo ông khởi binh bảo vệ an ninh cho dân chúng ở miền Đông Nam. Nghe nói chính Quan Âm Bồ Tát đă chỉ dạy, có Quan Âm Bồ Tát phù hộ, người nào cũng phấn khởi và can đảm lên, tin tưởng bội phần, tham gia nườm nượp, chẳng bao lâu đă tổ chức thành một đoàn quân hùng hậu. Dưới sự chỉ huy của Tiền Lưu, quả nhiên đoàn quân hùng hậu này đánh tới đâu thắng tới đó, lập kỳ công dồn dập, bảo vệ được nửa giải giang sơn miền Đông Nam và mang lại cảnh thái b́nh an lạc cho trăm họ. Từ Thái thú Tô Châu, Tiền Lưu đă lên ngôi Ngô Việt Vương, danh tiếng truyền đến ngàn đời. Tiền Lưu vẫn khắc ghi trong ḷng lời dặn ḍ của Quan Âm Bồ Tát, tin kính Phật thuần thành, một ḷng hướng thiện, thương yêu bảo bọc dân như con ruột, biến vùng Tô Châu Hàng Châu thành một giải đất phồn hoa thịnh vượng, trăm họ an cư lạc nghiệp. Hai mươi năm sau, Tiền Lưu nhớ đến lời dặn của Bồ Tát phải lên núi Thiên Trúc t́m, bèn lên đó cố gắng t́m kiếm khắp nơi, nhưng biết Bồ Tát Quan Âm sẽ hiển thánh ở nơi nào? T́m tới t́m lui, đột nhiên ông nh́n thấy trước mắt, trên một tảng đá cao, có một vị tăng đang ngồi ngay ngắn chăm chú đọc một quyển kinh trong tay. Tin chắc rằng đây chính là Bồ Tát hóa thân, ông vội vàng đến trước mặt vị tăng nhân sụp xuống lạy, bạch rằng: - Bồ Tát trên cao, trong hai mươi năm qua đệ tử đă tuân lời giáo huấn của Bồ Tát, khởi binh dẹp loạn, tạo được công nghiệp. Nay giải đất Đông Nam đă b́nh an, cuộc thế bắt đầu ổn định. Đệ tử đă mệt mỏi với cảnh phồn hoa thế tục, quyết tâm nương cửa Phật, kính mong Bồ Tát phương tiện thâu nạp để tử. Vị tăng nhân kia vội bỏ cuốn kinh trong tay xuống, đỡ Tiền Lưu dậy, cung kính trả lễ mà rằng: - Đại vương, tôi không phải là Bồ Tát, ngài đă nhận lầm rồi. Bần tăng tên là Nhất Không, hành cước lên núi đi ngang qua đây, đă gặp được Bồ Tát tại đây, cũng chính Bồ Tát dạy tôi phải ở đây chờ đợi Đại Vương. Tiền Lưu mừng rỡ hỏi: - Bồ Tát đă đến thật rồi, vậy Bồ Tát đă dạy những ǵ? Vị tăng nhân đáp: - Hôm ấy ở đây cũng có một vị tăng nhân ngồi trên tảng đá này xem kinh. Lúc ấy tôi không biết đó là Bồ Tát, đến hỏi thăm Ngài, th́ Ngài bảo có nhân duyên với bần tăng, muốn đem kinh "Đại Bi Tâm Đà La Ni" và kinh "Đại Bi" truyền trao cho bần tăng. Ngài lại bảo hôm nay Đại vương sẽ đến nơi này, dạy bần tăng phải ở đây chờ đợi, nếu gặp Đại vương th́ phải chuyển lời của Ngài cho Đại vương như sau : Đại vương đă công thành danh toại, trăm họ tôn kính, nếu như Đại vương có thể hoằng dương Phật Pháp th́ ảnh hưởng sẽ rất lớn, mong Đại vương tạo thêm công đức từ nay. Hiện thời Bồ Tát sẽ không thâu nạp ngài v́ chưa phải là lúc Đại vương nương thân cửa Phật, trong tương lai, khi cơ duyên đầy đủ th́ Bồ Tát sẽ đến độ ngài. Lúc đó bần tăng mới biết là được gặp Bồ Tát, vội vàng khấu đầu lễ bái nhưng Bồ Tát đă ẩn thân rồi. V́ thế bần tăng vâng lời dạy của Bồ Tát, cung kính ở đây chờ Đại vương đến. Tiền Lưu nghe thế, vui mừng không bút nào kể xiết. - Bồ Tát đă quan tâm đến đệ tử như thế, lại một lần nữa chỉ bày đường đi nước bước, đệ thử thật là tri ân vô tận. Bồ Tát đă chỉ dạy rồi th́ tôi sẽ tuân mệnh của Ngài và quyết tâm hoằng dương Phật Pháp một cách sâu rộng. Nhất Không đại sư, đại sư và tôi gặp nhau nơi đây th́ đó cũng là nhân duyên giữa hai chúng ta. Để kỷ niệm Bồ Tát thị hiện trên núi này, tôi muốn lập một cái am xem kinh ở đây. Tôi muốn thỉnh đại sư trụ tŕ ở am này, không biết đại sư có đồng ư hay không? Nếu đại sư đồng ư, kính xin đại sư ở lại nơi đây. Pháp Sư Nhất Không nói: - Đại vương tuân lời chỉ dạy của Bồ Tát mà hoằng dương Phật Pháp, muốn bần tăng trụ tŕ đại nghiệp thiên thu này, thật là một vinh hạnh lớn cho bần tăng, vậy bần tăng quyết sẽ giúp sức cho đại sư. Ngô Việt Vương Tiền Lưu trở về Lâm An, không lâu sau, hạ lệnh xuất ra một khoản tiền, kêu gọi thợ đến núi Thiên Trúc xây một cái am tŕ kinh ngay chỗ mà Bồ Tát đă hiển thánh, dưới sự điều khiển của Pháp sư Nhất Không. Vài tháng sau, một cái am hùng vĩ tráng lệ được dựng lên một cách đồ sộ. Trong am có pháp tượng trang nghiêm của Quan Âm Bồ Tát ngồi xếp bằng xem kinh, ṭa sen của Ngài là lấy tảng đá trắng chỗ Ngài đă từng ngồi lên mà khắc thành. Đó là tượng "Tŕ Kinh Quan Âm", hay c̣n được gọi là "Độc kinh Quan Âm". Ngoài việc xây "am xem kinh" nói trên, Ngô Việt Vương Tiền Lưu c̣n hoằng dương Phật pháp một cách rộng răi ở vùng Tô Châu Hàng Châu, đâu đâu cũng trùng tu lại các chùa chiền lớn nhỏ, tính ra cũng hơn trăm cái. Dân chúng nhờ ông bảo bọc mà được sống cảnh an cư lạc nghiệp nên rất ủng hộ và yêu mến ông. Ngô Việt Vương tin Phật nên trăm họ ai ai cũng tin Phật, v́ thế ở vùng Tô Châu Hàng Châu tỷ số Phật tử cao hơn những chỗ khác. Phật giáo hưng thịnh ở Tô Châu Hàng Châu chính là bắt đầu từ đời Đường vậy.
18 - Hoa Đạo Với Tượng Thập Bát La Hán
Xưa thật là xưa, trên đảo Tù Tiên có một ngôi chùa tên là Linh Âm Tự, vị thầy trụ tŕ Pháp hiệu là Hoa Đạo. Khách hành hương lai văng không đông nên mức sống của chùa cũng hơi khó khăn. Một năm kia, thầy Hoa Đạo lên Phổ Đà Sơn dự lễ khai quang của Quan Âm Bồ Tát, nh́n thấy chùa Pháp Vũ có La Hán Đường, trong ấy có 18 tượng kim thân La Hán, thần thái mỗi vị mỗi khác, hấp dẫn khách hành hương đến rất đông. Thầy nghĩ : giá như Linh Âm tự cũng xây một pḥng "La Hán Đường" đắp 18 tượng La Hán th́ chắc là tiền hương hỏa sẽ khá lên rất nhiều. Nghĩ thế xong, trong trí thầy chợt loé lên một kế, thầy bèn xuất tiền mướn một vị du tăng biết vẽ, nhờ vị ấy vẽ trộm phạm tướng của 18 La Hán, đem trở về Linh Âm tự, rồi vội vội vàng vàng xây một ṭa La Hán Đường và nặn 18 tượng La Hán một cách qua loa sơ sài. Quả nhiên La Hán Đường lôi cuốn rất nhiều thiện nam tín nữ, nguyện vọng của thầy Hoa Đạo đă được thỏa măn. Không ngờ việc thầy nhờ người vẽ trộm tượng La Hán không hề thoát khỏi thần nhăn của Quan Âm Đại sĩ. Xây La Hán Đường, tạo tượng La Hán thật ra không có ǵ đáng trách nhưng động cơ của thầy Hoa Đạo khi làm việc này th́ không được chính đáng cho lắm, khiến cho Quan Âm cảm thấy khó chịu trong ḷng. Một năm sau, Quan Âm Đại sĩ bước lên đài sen bay đến gặp thầy Hoa Đạo và thăm Linh Âm Tự một phen. Hôm ấy thầy Hoa Đạo mặc tăng bào bằng lụa, trên khoác chiếc cà sa dệt bằng cỏ đay, đang vui vẻ tháp tùng một vài vị tài chủ quyền quư đi dạo trong La Hán Đường, bỗng nghe một chú sa di thưa rằng ngoài khách đ́nh có một vị xưng là Diệu Hải Thiền sư đến thăm chùa. Thầy đành cáo biệt các vị thí chủ ấy, và bước đến pḥng khách với một dáng điệu hiên ngang, cao kỳ. Ngước mắt nh́n, thầy chỉ thấy Thiền sư Diệu Hải nọ đầu đội mũ tăng cũ kỹ, chân mang giày cỏ rách mướp, thân khoác cà sa vải thô, cổ đeo chuỗi tràng hạt nhỏ rức, tuổi không ngoài 30, chỉ có tướng mạo th́ có thể nói là phi phàm. Thầy Hoa Đạo hỏi thăm qua loa, hỏi một cách lạnh lùng: - Thiền sư quang lâm chùa nghèo này là để giảng kinh, thuyết Pháp hay là... Thầy cố ư bỏ lửng cuối câu, và nh́n thẳng vào mặt Thiền sư Diệu Hải không chớp mắt. Thiền sư Diệu Hải cười nhẹ, đáp rằng: - Trên đường hóa duyên đi ngang qua đây, tôi muốn xin thầy cho tôi ở trọ quư chùa vài ngày, v́ có chút tịnh tài muốn cúng dường lên Phật. Thầy Hoa Đạo nghe "có chút tịnh tài muốn cúng dường lên Phật" mới bảo chú sa di dọn chỗ ăn chỗ ngủ cho khách, c̣n ḿnh th́ từ đó không buồn để ư đến Thiền sư Diệu Hải nữa. Thiền sư Diệu Hải thấy thầy Hoa Đạo đối với ḿnh lănh đạm như thế chỉ chỉ lắc đầu cười buồn, nhưng lại lợi dụng cơ hội ấy để được hưởng cảnh thanh nhàn tự tại, từ sáng đến tối chỉ đi dạo trong La Hán Đường. Ngài thấy tuy bên ngoài nh́n th́ rất đẹp mắt, nhưng móng nhà, khung nhà xây lại không chắc chắn chút nào, hơn nữa 18 tượng La Hán, tướng nào cũng đắp sai kiểu, nên trong ḷng có phần bất măn và lo lắng, nhưng phần bất măn th́ ba phần c̣n lo lắng th́ lên tới 7 phần! Chiều hôm sau, Thiền sư t́m thầy Hoa Đạo nói rằng: - La Hán Đường của quư chùa khung nhà th́ không vững, tượng La Hán th́ đắp sơ sài ẩu tả, móng nhà th́ lún xuống một cách nguy hiểm, nếu không mau sửa sang lại th́ 18 tượng La Hán thế nào cũng bị hủy diệt. Nghe thế thầy Hoa Đạo không chút bằng ḷng, chỉ lạnh lùng niệm một câu "A Di Đà Phật!" rồi phất tay áo bỏ đi. Thiền sư Diệu Hải nổi giận, thoạt đầu tính dùng lời nghiêm nghị quở trách, nhưng nghĩ lại, thầy Hoa Đạo hiện đang tự măn đắc ư, trách thầy không ích lợi ǵ, thôi th́ để cho sự thật dạy cho thầy bài học vậy. Sáng sớm hôm sau, Thiền sư Diệu Hải múa bút đề ba chữ lớn "Đại Bi Sơn" để lại, và lặng lẽ rời bỏ Linh Âm tự. Ba chữ Đại Bi Sơn ngụ ư "Người mượn cửa Phật để mưu cầu lợi nhuận là người rất đáng thương", mà cũng ám chỉ người viết ba chữ ấy chính là Đại từ Đại bi Cứu khổ Cứu nạn Quan Thế Âm Bồ Tát, tiếc rằng lúc ấy thầy Hoa Đạo không hề để ư. Ba năm sau, một đêm nọ sấm chớp ầm ầm, mưa gió tơi bời. Bỗng nhiên nghe tiếng "rầm, rầm!", La Hán Đường của Linh Âm tự, móng nhà lở sụt, khung nhà nghiêng đổ, 18 tướng La Hán cũng ngă lăn ngă lóc khiến thầy Hoa Đạo điếng người kinh hoàng , nhớ lại lời Thiền sư Diệu Hải, hối hận th́ không kịp nữa. Chùa Linh Âm bị tai nạn như thế, khách hành hương cũng thưa dần và lạnh nhạt đi. Thầy Hoa Đạo không c̣n mặt mũi nào giữ chức trụ tŕ ở đấy nữa, nên cũng âm thầm ra đi, vân du bốn phương. Sau đó nhiều năm, thầy đă nếm đủ mùi gian khổ, cuối cùng cũng tỉnh ngộ. Thầy bèn trở về Linh Âm Tự, kiếm lại mấy chữ mà Quan Âm Đại sĩ đă viết, đóng khung thành một tấm biển và treo trên cửa vào của chính điện, c̣n ḿnh th́ chỉ là một vị thầy tu làm việc khổ nhọc, chân thành tụng kinh niệm Phật để chuộc lỗi lầm xưa.
Ngày xưa có một người rất nghèo, nghèo rớt mồng tơi, tên là Đắc Tài, đă 30 tuổi đầu mà vẫn c̣n chưa vợ. Có một năm kia, Đắc Tài đến Phổ Đà Sơn dâng hương, nguyện cầu Bồ Tát Quan Âm gia hộ cho ḿnh sớm phát tài. Hắn lễ từ chùa trước đến chùa sau, lên Phật Đỉnh Sơn, rồi theo đoàn khách hành hương đến Phạm Âm Động lễ bái Bồ Tát Quan Thế Âm. Phạm Âm Động nằm ở mé đông của Thanh Lũy Đầu. Lúc ấy, giữa Thanh Lũy Đầu và Phổ Đà Sơn là một nhánh sông rộng, hai đầu thông với biển, lúc triều lên th́ gió to sóng lớn và nước chảy xiết, mà lúc triều xuống th́ lại trở thành một giải đất bùn lầy, khi dẫm lên th́ chân lún xuống, dính bùn chặt cứng. Những người muốn đến Phạm Âm Động chỉ đành chờ nước triều xuống rồi cởi giày, xắn quần đạp trên con đường bùn lầy ấy mà đi. Khi Đắc Tài đến chỗ ấy, nh́n thấy giải đầy bùn lầy th́ đột nhiên nghĩ ra một kế để làm tiền, bèn âm thầm suy đi tính lại : nếu tậu được con thuyền tam bản th́ có thể chèo thuyền ở chỗ này, một là làm việc thiện kiếm phước, hai là nửa phần c̣n lại của cuộc đời coi như chắc ăn. Càng nghĩ hắn càng thấy ư kiến này rất hay, nên sau khi rời Phạm Âm Động, hắn bèn đến bờ sông xây một mái nhà lá, ngày ngày quyên tiền khách hành hương qua lại để mua một chiếc thuyền nhỏ. Hương khách cũng thấy ư kiến này rất hay nên ai nấy hùn nhau mở hầu bao rốc tiền ra giúp hắn. Sau vài tháng, Đắc Tài tính lại số tiền đă quyên được th́ thấy đă dư sức mua một chiếc thuyền tam bản. Nhưng những đồng tiền bạc sáng ḷa loà, những đồng tiền đồng khua leng keng khiến hắn đổi ư: - Hề hề, đang phát tài phát lộc thế này th́ làm sao bỏ ngang cho được! Vả lại ta cũng chưa xây nhà gạch cơ mà! Đến năm thứ ba, Đắc Tài đă dùng tiền mua thuyền mà khách hành hương đă đóng góp để xây lên một căn nhà gạch ba gian trang bị đầy đủ, và c̣n cưới được một bà vợ nữa! Khi thấy những điều cơ bản mà ḿnh hằng mong muốn nay đă có đủ, Đắc Tài mới kêu người đóng cho ḿnh một chiếc thuyền tam bản, chèo đ̣ qua lại giữa Thanh Lũy Đầu và Phổ Đà Sơn. Nhưng chèo được vài ba ngày, hắn cảm thấy cách kiếm ăn này quá vất vả mệt mỏi mà tiền thâu vào lại chẳng có bao nhiêu, bèn nảy ra một ư kiến mới. Hắn đi mua một bức tượng Quan Âm nhỏ thờ ở đầu thuyền rồi đặt trước bàn thờ một vại cà muối đă rửa sạch, trên vại dán một tấm giấy đỏ với hàng chữ "thuyền từ độ khắp, vui ḷng giúp đỡ". Từ đó ngày nào hắn cũng móc từ vại ra một số tiền không nhỏ. Nếu có ngày hương khách ném quá ít tiền vào vại, hắn sẽ cố ư chèo làm sao cho thuyền giao động thật mạnh, thế là thiện nam tín nữ phải kinh sợ, không thể không quỳ trước tượng Bồ Tát khấn nguyện và ném thêm tiền đồng, tiền bạc vào vại. Hương khách rất hận nhưng không dám làm mất ḷng hắn, dầu sao họ cũng lệ thuộc vào hắn để đi đi về về trên ḍng sông ấy. Có một hôm thuyền không có khách, Đắc Tài bèn đậu thuyền ở ven bờ sông, đem bầu rượu già cùng vài khúc cá khô, ngồi dưới đuôi thuyền mà nhâm nhi hưởng nhàn. - Ông lái thuyền ơi, cho tôi qua sông nào! Đột nhiên có một giọng nói thanh tao trong trẻo từ bờ sông vọng lại. Đắc Tài ngoảnh mặt lại nh́n, ôi chao, th́ ra đấy là một cô nương xinh đẹp mỹ miều! Cô gái tay đeo làn tre nhỏ, nửa làn đựng cát vàng óng ánh. Cô mặc nguyên một bộ quần áo màu tím thật là thanh tân, trông cô không khác ǵ tiên nữ xuống trần. Đắc Tài cảm thấy ḷng rạo rực, vội vàng đặt cốc rượu xuống, đưa tay đỡ cô gái xuống thuyền. Nhưng cô gái không để ư tới hắn, nhẹ nhàng nhảy xuống thuyền một ḿnh. Đắc Tài hơi quê, bẻ mạnh mái chèo tách thuyền ra khỏi bờ sông. Thấy hai bên bờ không có một bóng người, hắn bèn chèo thuyền thật chậm răi, hai con mắt dán chặt vào người cô gái. - Cô nương à, cô tới đây cầu phúc hay cầu con vậy? Cô gái ngồi ngay ngắn trên thuyền, nhẹ cười nhạt mà đáp: - Tôi cầu thiện. - Cô cầu thuyền? Đắc Tài cười một cách nham nhở. Thuyền rồng hay thuyền tam bản cũng là thuyền, cô nương muốn thuyền th́ tại hạ chính là thuyền đây! Nói xong hắn bèn lấy chân đá vào mạn thuyền, tay trái liều lĩnh đẩy mái chèo thật mạnh, con thuyền nhỏ bèn lắc lư một cách dữ dội. Nhưng cô gái không hề tỏ vẻ hoảng sợ, chỉ mỉm cười ngồi rất an ổn, làm như thuyền càng lắc cô càng thấy thú vị. Đến khi Đắc Tài mệt lử, nằm dài trước bánh lái giả chết, cô gái mới bước đến, nắm lấy mái chèo và "két, két", con thuyền lao vun vút trên sông một cách vững chải. - Hề hề, cô nương đây cũng là tay chèo thuyền nhà nghề! Đắc Tài thừa cơ hội vừa nói vừa nắm lấy cánh tay cô gái, nhưng nào ngờ khi nh́n lại th́ thấy ḿnh đang nắm đuôi mái chèo gỗ cứng ngắc! Hắn đưa mắt t́m cô gái th́ không c̣n thấy bóng dáng của cô đâu, ngay cả chiếc làn tre cũng không c̣n nữa. Đắc Tài bất giác giật ḿnh kinh sợ. Ngay lúc hắn đang kinh hoàng bất an th́ bỗng nhiên gió lớn nổi lên, sóng cao tới trời đẩy chiếc thuyền tam bản lên cao rồi "huỵch" một tiếng, đâm xuống một tảng đá lớn vỡ thành gỗ vụn! Đắc Tài khó khăn lắm mới trèo được lên bờ, vội vàng đâm đầu chạy về nhà. Nhưng từ chân núi nh́n lên th́ cái nhà gạch ba gian đă bị cuồng phong cuốn đi rồi, bà vợ cũng biến đâu mất, thế là Đắc Tài trở lại nghèo rớt mồng tơi y hệt như ba năm trước. Th́ ra cô gái chèo thuyền kia chính là Quan Âm đại sĩ hóa thân. Khi cuồng phong lắng xuống, Ngài trở lại bổn tướng trang nghiêm của ḿnh, đứng trên bờ sông bốc một nắm cát trong làn tre rải lên mặt nước, trong phút chốc gịng sông to rộng từ từ bị cát vàng phủ kín. Gịng sông đă biến thành thung lũng, người ta gọi là đó "Phi Sa Áo" (thung lũng cát bay). Từ đấy hương khách muốn đến Phạm Âm Động không cần phải nhờ người lái đ̣ nữa!
Sau khi hiển hóa ở Trung Nguyên rồi, Bồ Tát Quan Âm bèn đi vân du ở biển Tây. Hôm ấy, vừa đúng phiên chợ ở trấn Phù Dung, một cái trấn nhỏ nằm ngay dưới chân núi Phong Hoàng. Người qua kẻ lại đông đúc náo nhiệt, chen chúc nhau trên mọi nẻo đường. Cứ dọc theo con đường lớn đi thẳng về phía trước, th́ ở góc đông bắc của chợ sẽ thấy có một tấm bảng viết bốn chữ lớn "Chữa bệnh cứu đời" đập vào mắt. Nh́n kỹ, sẽ thấy dưới tấm bảng ấy có che một tấm lều vải 6 cạnh màu xanh, và trong tấm lều có một ni cô xinh đẹp thanh tú, với vẻ mặt hiền lành dễ mến, cùng hai cô chú sa di nhỏ khiêm tốn nhă nhặn ngồi bên cạnh. Người ta làm sao biết được ba người ấy chính là Ngài Quan Âm cùng Long Nữ, Thiện Tài hóa phép biến thành? Vừa đúng lúc ấy có một cụ già tay chống gậy, đi đứng khổ sở, khập khiễng bước vào lều, quỳ xuống đất nghe "bịch" một tiếng, nước mắt tuông xuống dầm dề trên g̣ má già nua, cầu xin rằng: - Ni sư đại từ đại bi, xin cô trị giùm tôi cái chân què này, nếu không th́ mẹ già vợ yếu và con thơ khó bề sống sót, tôi van cầu ni sư… Cừ già khóc ngất, khuôn mặt tiều tụy hằn lên những nếp nhăn đau đớn sở khổ khiến ai nh́n cũng phải xót xa thương cảm. Ngài Quan Âm quan sát t́nh cảnh ấy, trong tâm tự động khởi lên ḷng từ bi, vội vàng đỡ ông lấo dậy mà hỏi một cách hoà nhă, thân thiết: - Thưa bác, chân bác sao thế? - Ôi! Ông lăo thở dài một tiếng và kể lể nguyên do với một giọng nói đẫm lệ. Số là trấn Phù Du có một ông quan lớn, ỷ có người cậu làm quan Tể Tướng trong triều nên độc ác tàn bạo, coi trời không bằng cái vung, trong chu vi một trăm dặm dưới chân núi Phong Hoàng, không ai là không biết tiếng. Hơn nữa ông có một thằng con trai, đó là một cậu công tử bụng dạ nham hiểm, chỉ biết chơi bời lêu lổng, trêu hoa ghẹo nguyệt, thật là một tên ác bá khét tiếng một vùng, trăm họ không ai là không oán hận tên nghiệt chủng này và đặt tên cho hắn là "con cọp họ Hoa". Ông lăo nói trên là một trong những người làm công trong nhà họ Hoa này. Có một buổi tối nọ, con cọp họ Hoa ṃ đến cửa pḥng cô em vợ, ông lăo ngỡ đâu là kẻ cướp vào nhà, trong cơn hoảng hốt vớ lấy b́nh hoa ném vào người hắn. Con cọp họ Hoa thẹn quá hóa khùng, bèn đánh đập ông lăo một trận chết đi sống lại, từ đó chân ông trở nên tàn phế. Ông quan cha biết con làm chuyện đồi phong bại tục, không những đă không dạy dỗ mà c̣n trách mắng ông lăo làm vỡ b́nh hoa của ḿnh, rồi không chữa trị bệnh cho ông lăo, lại chê ông đi đứng không nhanh nhẹn nữa nên đá ông ra khỏi nhà. Ngài Quan Âm nghe xong, an ủi rằng: - Thưa bác, bác đừng buồn khổ lo lắng ǵ nữa, bần ni sẽ chữa lành chân cho bác. Long Nữ, Thiện Tài vội đưa ông lăo ngồi lên cái ghế gỗ, Ngài Quan Âm dùng tay xoa chỗ bị thương rồi quan sát kỹ lưỡng bệnh t́nh, xong nắn bóp chữa trị. Không lâu sau, Ngài để cho ông đứng dậy đi thử, ông lăo đi vài bước, thấy ḿnh đi đứng dễ dàng nhanh nhẹn như xưa, không c̣n thấy đau đớn nữa, chẳng khác chi người b́nh thường. Ông lăo bất giác kêu lên: - Đúng là thần y! Chỉ có phút chốc mà ni sư đă chữa lành cho tôi cái chân tàn phế cả năm nay rồi! Nói xong, ông vội quỳ xuống đất khấu đầu lạy tạ không ngừng, bàn tay run run tḥ vào ngực móc ra một vài đồng bạc lẻ dâng lên cho Ngài Quan Âm. Nhưng Ngài đời nào chịu nhận tiền, vội đỡ ông lăo lên nói: - Bác ơi, không có chi đâu, chữa bệnh cứu đời là bổn phận của bần ni mà! Trở lại người bị đặt tên là con cọp họ Hoa, tên thật của hắn là Hoa Tuấn Phương, lúc ấy đang ở nhà, cùng phu nhân làm bộ ve văn, nói những lời cợt nhả. Hoa công tử mặt mày sáng sủa, dáng người hiên ngang chững chạc, chỉ có con mắt là để lộ ra một thứ ánh sáng tham lam, dâm đăng. Phu nhân Lâm San Trân tuy ăn mặc sang trọng, trang điểm lộng lẫy, vàng ngọc đeo sáng ḷa nhưng khuôn mặt xinh đẹp kia không dấu được nét tàn phá của thời gian, những nếp nhăn nơi đuôi mắt nói lên một cách vô t́nh rằng tuổi thanh xuân của phu nhân đă bắt đầu qua rồi. Lối trêu ghẹo cợt nhả của Hoa công tử làm cho phu nhân ghê tởm và buồn nôn. Lúc ấy, cô a hoàn Ngọc Hương mở cửa bước vào pḥng thưa rằng: - Bẩm quan, bẩm phu nhân, có tiểu thư Mỹ Nương đến chơi! Tiểu thư Mỹ Nương tên thật là Lâm San Mỹ, em ruột của phu nhân Lâm San Trân, là một cô gái nhan sắc mặn mà, da dẻ nơn nà mịn màng, ở Lâm gia phủ cách trấn Phù Dung không xa, cha mẹ đă qua đời lại không có anh em. Phu nhân San Trân mong muốn em gái ở lâu với ḿnh nhưng chuyện không hay xảy ra năm ngoái với anh rể khiến cho Mỹ Nương không bước chân đến Hoa gia từ lâu. San Trân nghe nói có em gái tới chơi, mừng rỡ vô cùng, vội vàng tiến ra cửa đón chào nhưng khi Mỹ Nương thấy chị th́ nước mắt tuôn như mưa, bi thương thống khổ, nhào vào ḷng chị mà kêu ú ớ khiến cho mọi người kinh ngạc. Hoa Tuấn Phương đứng cách đó không xa, nh́n San Mỹ rồi nh́n qua Ngọc Hương, thở dài mà nói: - Lạ ḱa, làm sao một cô gái trẻ tuổi như thế đột nhiên biến thành câm? San Trân cũng chất vấn Xảo Nhi, cô a hoàn chuyên theo bầu bạn với Mỹ Nương. Xảo Nhi quỳ xuống đất run rẩy sợ hăi mà thưa rằng: - Tội nô tỳ đáng chết! Đêm qua cô nương vừa mới thổi đèn đi nghỉ th́ bỗng nhiên có một người đàn bà mang mặt nạ xông vào pḥng, cô nương la lên một tiếng rồi bất tỉnh nhân sự. Nô tỳ ở pḥng bên cạnh nghe rất rơ, nhưng khi qua đến th́ không c̣n thấy tăm hơi người đàn bà bịt mặt kia nữa. Nô tỳ vội vàng lay tỉnh cô nương, cho cô nương uống chút nước th́ cô nương an tĩnh trở lại. Hôm nay sáng sớm, cô nương thấy đau nơi cổ họng, sau đó th́ nói không ra tiếng nữa. San Trân rất ngạc nhiên nhưng thấy em ḿnh cứ ú ớ th́ vừa đau ḷng vừa lo sợ, ôm em gái vào ḷng khóc oà lên khiến ai nấy hoảng hốt, không biết phải làm sao. Vừa đúng lúc ấy, tên gia đinh của nhà họ Hoa từ phiên chợ trở về, gọi Hoa công tử sang một bên kể lại chuyện có một ni cô xinh đẹp tuyệt trần vừa đến thị trấn của ḿnh, và nhắc đến tài trị bệnh cao siêu của ni cô. Nghe thế công tử mê mẩn, híp tít cả mắt, bèn quay trở về pḥng nói với phu nhân: - Nương tử! A Cẩu mới kể rằng ở ngoài chợ có một vị thần y có thể chữa bệnh, không bệnh nào là không chữa được. Hay là chúng ta đi mời cô ta về đây chữa bệnh cho Mỹ Nương? San Trân ngừng khóc tức th́, vội vă dục chồng mau ra phố nghênh tiếp thần y về. Hoa công tử và A Cẩu vội chạy ra chợ, thấy ở dưới tấm lều vải xanh có một thiếu nữ cốt cách thanh nhă đoan trang, má đỏ môi hồng, nước da trắng mịn, cử chỉ cao quư, vai khoác một tấm áo bào trắng tinh phủ dài xuống đất như một ḍng thác trắng. Đôi mắt cô như hồ nước mùa thu, nhưng vô cùng tinh anh, thâm thuư. Cả đời Hoa công tử chưa bao giờ thấy một cô gái xinh đẹp dường ấy nên cứ đứng chết trân ở đấy mà nh́n một cách đắm đuối. A Cẩu thấy thái độ chủ nhân như thế vội giật chéo áo của công tử, lúc ấy con cọp họ Hoa mới sực tỉnh, lập tức tiến đến chào hỏi. Ngài Quan Âm đang một mặt bóp lưng cho một bà lăo một cách chuyên chú, một mặt hỏi: - Quư công tử đến đây muốn khám bệnh chăng? - Không, không, tôi đến đây thỉnh ni sư về… Hoa gia là một gia đ́nh danh giá, đ́nh viện lầu các hoa lệ khỏi cần nói. Chỉ biết là Ngài Quan Âm được mời đến gian nhà giữa, lập tức khám xét cổ họng của Mỹ Nương, nhận định rằng bệnh của cô là do một chất thuốc gây ra. Ngài rất ngạc nhiên, ngước mắt nh́n quanh một ṿng, quan sát chị em họ Lâm và hai cô a hoàn Ngọc Hương và Xảo Nhi đứng bên cạnh, thần thái của mỗi người mỗi khác khiến Ngài hiểu được phần nào mọi sự. Ngài vỗ về cánh tay Mỹ Nương an ủi: - Tiểu thư đừng lo, bần ni có cách chữa. Nói xong Ngài lấy ra một cây kim bạc, bắt đầu châm cứu cho Mỹ Nương. Đột nhiên Mỹ Nương bật kêu lên "chị ơi!" rồi khóc lớn. Chuyện lạ xẩy ra khiến cho cả Hoa gia trên dưới đều bị kinh động, người làm công dập d́u tiến đến bái kiến vị thần y này. Hoa Tuấn Phương rất lấy làm đắc ư, xua tay quát tháo: - Bây đâu! Mau dọn tiệc rượu ra đây cho ta tạ ơn vị ni sư y thuật cao minh này một cách trọng thể! Ngài Quan Âm vội vàng lắc đầu từ chối: - Không nên phí phạm như thế, trà lạt cơm nguội đủ rồi! Rồi Ngài nói tiếp ngay: - Trời đă tối, thầy tṛ bần ni không có chỗ nghỉ đêm, xin quan lớn và phu nhân bố thí cho một chỗ nghỉ nhờ một đêm, không biết có được không? Long Nữ, Thiện Tài ngầm biết ư Ngài nên cũng lên tiếng cầu xin phụ họa. Dĩ nhiên Hoa Tuấn Phương rất đẹp ḷng, vui vẻ trả lời: - Được! Được! Đừng nói một đêm, mà chỉ cần ni sư đồng ư tới đây ở th́ ở cả đời cũng là điều vinh hạnh cho Hoa gia này! Phu nhân San Trân nghe thế lườm chồng một cách khinh ghét nhưng Ngài Quan Âm vẫn giữ nét mặt tự nhiên đáp: - A Di Đà Phật! Đa tạ thí chủ! Ăn cơm tối xong, mọi người phân tán, già trẻ lớn bé đều trở về pḥng ngủ của ḿnh. Ba thầy tṛ ngài Quan Âm về căn pḥng nằm ở gian tay phải của căn nhà mà nghỉ ngơi một lúc. Đột nhiên, Ngài Quan Âm như biết trước chuyện ǵ vội lay Long Nữ, Thiện Tài dậy, ba người bước lên một áng mây lành bay lên không trung, đứng ở phía trên sân vườn Hoa gia mà nh́n xuống, quan sát kỹ luỡng mọi động tĩnh ở phía dưới. Trong bóng đêm mênh mang, ánh trăng bàng bạc, Hoa Tuấn Phương vừa mới tỉnh cơn say rượu, rời khỏi ghế ngồi rón rén trở về pḥng. Nhờ ánh sáng trăng, thấy phu nhân đang say giấc nồng, hắn bèn lẻn ra ngoài đi thẳng tới cái chơng ở gian nhà bên phải, nơi ba thầy tṛ ngài Quan Âm nghỉ đêm. Nào ngờ cửa chỉ khép hờ, trong pḥng không một bóng người. Con cọp họ Hoa như cái bong bóng x́ hơi, tức giận v́ không ăn được quả tươi đă làm cho ḿnh thèm rơ răi cả ngày hôm nay, bèn dứt khoát phóng lao phải theo lao, thu hết can đảm ṃ đến cửa pḥng của Mỹ Nương ở gian nhà bên trái. Đúng lúc hắn đang ṃ mẫm t́m con dao nhỏ đă chuẩn bị sẵn trong người để cạy then cửa th́ nghe "vèo !" một tiếng, một bóng người mang mặt nạ phi tới như tên bắn. Hoa công tử bị đánh một chưởng ngă lăn xuống đất, đang định la lên cầu cứu th́ bị người mang mặt nạ kia đưa tay bịt miệng. - Con quỷ háo sắc, làm cho cô nương đây hết hồn! Người bịt mặt nói khẽ. Hoa Tuấn Phương nghe giọng người đàn bà rất quen thuộc, nh́n kỹ thân h́nh liền hiểu ngay cô ta là ai, bèn hung dữ nói rằng: - Mi là ǵ mà dám xen vào chuyện của ta? - Không xen th́ thôi, tôi đi gọi phu nhân dậy. Hoa Tuấn Phương biết ḿnh đuối lư, không dám làm to chuyện, chỉ đành để cho người đàn bà bịt mặt muốn làm th́ làm, ngoan ngoăn đi theo cô ta đến ngọn giả sơn ở vườn hoa sau nhà. Dưới một gốc liễu, người đàn bà nọ như không chờ đợi được nữa, ôm chầm lấy Hoa công tử, dán chặt bộ ngực đẫy đà của ḿnh vào người hắn. Gái lăng loàn gặp quỷ háo sắc, chuyện cẩu thả đương nhiên khó tránh. Hai người ôm nhau lăn xuống đất, chốc chốc có tiếng th́ thà th́ thầm, chốc chốc vang lên âm thanh dâm đăng lanh lảnh. - Cưng ơi, nàng đến pḥng Mỹ Nương làm ǵ vậy? Hoa Tuấn Phương chua chát hỏi. - Hứ! Chàng là con cọp họ Hoa, chắc bị con yêu tinh ấy hớp hồn nên chưa chịu chừa! Nói cho chàng biết, có thiếp th́ không có nó, đừng có mơ tưởng hăo huyền! Nghe thế Hoa công tử kinh dị hỏi: - Chính nàng hại Mỹ Nương thành người câm phải không? Nàng thật là độc hại! - Hí hí! Nếu chàng không hồi tỉnh mà cứ tiếp tục trêu hoa ghẹo nguyệt, không nghĩ đến t́nh vợ chồng không cưới lâu đời của đôi ta th́ đừng trách cô nương đây vô t́nh! C̣n cái cô ni cô đă mê hoặc chàng, chàng hăy đuổi hết ra khỏi cửa cho thiếp! Ngài Quan Âm nh́n thấy tất cả, nghe thấy tất cả, bèn chắp tay lại lẩm bẩm: - A Di Đà Phật! Nghiệt tội! Nghiệt tội! Như một tấm lụa xanh vô t́nh che đậy mọi tội ác, màn đêm từ từ lùi bước. Sáng hôm sau, ở sân lớn của vườn nhà Hoa gia mọi sự đều diễn tiến như mọi thường. Người làm công dậy sớm chùi rửa dọn dẹp, đột nhiên nghe từ gian nhà trái có tiếng thét lớn "A!" khiến cho không khí tĩnh mịch của sân vườn bỗng trở nên hỗn loạn. Mọi người chạy túa đến, chỉ thấy cô a hoàn Xảo Nhi mềm nhũn nằm dưới đất, mặt mày xanh mét. Nh́n lên giường th́ thấy Mỹ Nương hôn mê bất tỉnh, máu tươi từ đôi mắt tuông ra lai láng. Chính trong lúc mọi người đang luống cuống th́ vị ni cô hôm qua bước tới gần trấn tĩnh: - Đừng lo, bần ni có thuốc hay. Nói xong ni cô lấy một viên thuốc màu vàng óng ánh bỏ vào miệng Mỹ Nương, chỉ một lúc sau Mỹ Nương tỉnh dậy nhưng c̣n rất đau đớn, mở mắt ra không nh́n thấy ǵ cả. Hoa Tuấn Phương đứng một bên quát rằng: - Cô dùng phép phù thủy, yêu ma ǵ mà mới chữa bệnh câm hôm qua, hôm nay lại biến thành bệnh mù? Bây đâu, mau lôi cô ta ra phủ quan nghiêm trị! Lời nói vừa dứt, một bầy chó săn tay sai đă nhe răng giương vuốt xông tới. Long Nữ và Thiện Tài phất nhẹ bàn tay, không biết tại sao bọn tay sai lại bị đẩy lùi, loạng quạng luống cuống trông thật buồn cười. Ngài Quan Âm nói một cách ung dung, rành mạch và kiên định: - Tạm thời bần ni chưa muốn rời khỏi nơi này, c̣n cần phải chữa lành cặp mắt của tiểu thư Mỹ Nương. San Trân vội vàng quỳ xuống đất, khấu đầu nói: - Đa tạ ni sư cứu người trong cơn hiểm nạn, chị em chúng con suốt đời không bao giờ dám quên ơn sâu đức trọng của ni sư. C̣n quan nhân nhà con nói lời vô lễ, thỉnh ni sư đừng để ư. - Giải trừ đau khổ của người khác là bổn phận của bần ni. Nói xong Ngài Quan Âm bước đến bên giường, tiếp tục trị liệu cho Mỹ Nương. Chỉ thấy bàn tay Ngài cách đôi mắt bệnh khoảng ba tấc, miệng lâm râm câu ǵ, từ ḷng bàn tay phóng ra những tia sáng màu vàng rực, đưa tới đưa lui mấy lần, trong khoảnh khắc Mỹ Nương sáng mắt, thấy lại được. Những người đứng tại chỗ chứng kiến được sự việc thần kỳ như thế, không ai là không kinh dị tán thán. Hoa Tuấn Phương cũng rất lấy làm lạ, nhưng nhớ lại sự việc xảy ra hôm qua ở vườn sau và những lời nói của người đàn bà bịt mặt, bèn tiến lại gần mà nói: - Đa tạ pháp sư, nhưng xin miễn thứ cho tôi, tôi không thể giữ pháp sư ở lại được! - A Di Đà Phật, vậy th́ bần ni xin cáo từ. Ngài Quan Âm đứng dậy rồi bèn nói với chị em họ Lâm rằng: - Phu nhân, tiểu thư xin bảo trọng, chúng ta sẽ có ngày gặp lại! Nói xong cùng Long Nữ, Thiện Tài chậm răi ra đi trong niềm tri ân lưu luyến của chị em họ Lâm. Một vài ngày sau, có một gánh hát rong dọn về đến thị trấn Phù Dung. Gánh hát gồm ba cha con, họ đều biết tự đàn tự hát, âm nhạc vô cùng mỹ diệu, ai nghe cũng phải khen là tuyệt! Hôm ấy Hoa gia lại treo đèn kết hoa, mời ba cha con đến đàn hát giúp vui. Giọng ca của hai cô gái du dương thanh thúy, lời ca lại cảm động thấu tâm can, điệu vũ th́ lại nhẹ nhàng phất phới như tiên nữ, nên chủ tớ Hoa gia ai cũng bị hấp dẫn mê say. Con cọp họ Hoa lại mơ tưởng viễn vông, cặp mắt không rời khuôn mặt xinh đẹp, thân người yểu điệu của hai nàng ca nữ, trong phút mê mẩn đến hoa cả mắt, không kềm chế được hắn nhéo đùi của Mỹ Nương đang ngồi bên cạnh. San Mỹ xấu hổ đỏ cả mặt, phu nhân San Trân th́ chỉ lo thưởng thức màn kịch, không hề hay biết những ǵ đang xảy ra chung quanh. Chỉ có cô a hoàn Ngọc Hương là nh́n Hoa công tử đăm đăm, đôi mắt phóng ra những tia ghen hờn. Tối hôm ấy ba cha con hát rong nghỉ đêm lại ở mái tây. Giữa đêm mây đen cuồn cuộn, sấm chớp ngang trời, sau đó là một trận mưa trút nước. Đột nhiên, một bóng đen bước vào pḥng của Mỹ Nương, tiếp đến một bóng đen khác cũng bước sau bén gót. Khi bóng đen thứ nhất bước vào pḥng th́ Mỹ Nương đă sợ hăi mà thức giấc rồi. - Mỹ Nương, ta nhớ nàng muốn chết, đáng lẽ ta phải cưới nàng làm vợ ngay từ đầu! Nghe tiếng, Mỹ Nương đă đoán ra đây là ông anh rể bất lương. Cô vừa hận vừa xấu hổ, lấy hết sức b́nh sinh đẩy bóng đen đang xông tới nhưng sức nhi nữ làm sao đối địch lại với một người hung bạo, con cọp họ Hoa đă ôm chặt lấy San Mỹ. Đúng cái lúc chỉ treo đầu mành ấy, bóng đen thứ hai hung dữ tiến tới nắm lấy con cọp họ Hoa xô sang một bên, quát rằng: - Đi chỗ khác cho ta! Cũng ngay lúc ấy, một ánh chớp loé lên, San Mỹ nh́n thấy người mới tới bịt mặt bằng một tấm vải đen, tay cầm một con dao bén, nhắm ngay chính ḿnh mà xông tới. Cô hét lên một tiếng kinh hoàng, ngă xuống bất tỉnh. Hoa công tử vội vàng tiến lên ngăn cản nhưng người bịt mặt nọ sát khí đằng đằng nói rằng: - Để thiếp đâm chết con yêu tinh này cho chàng đỡ phải ngày thương đêm nhớ! Đột nhiên một trận cuồng phong nổi dậy, cuộn lấy một cái b́nh sứ đen, và "xoảng" một tiếng, b́nh sứ bể tan tành, miểng sứ bắn lên tung tóe bốn phía. Một trong |