Chùa Hải-Đức in Jacksonville

[Home] [Up] [Điểm Sách] [Sutras] [Dharma Talks] [GĐPT] [Sinh Hoạt] [Our Activities] [Kinh] [Pháp Thoại audio mp3] [Tin Tức Phật Giáo] [Thuyết Pháp] [Thơ Văn] [Ngoại Điển] [Phật Học] [Tụng Kinh] [Nghi Lễ - Rituals]

Quan Âm Truyền Thuyết

(Tuyển Tập)

Diệu Hạnh GiaoTrinh Chuyển Ngữ

 

11- Thánh Quan Âm

 

 

Nhắc lại Ngài Quan Âm gặp vị tăng Tây Tạng ở Cửu Hoa Sơn, vị này đă tâm sự với Ngài rằng v́ ḿnh không nói được tiếng Trung hoa nên không giáo hóa được chúng sinh ở Trung độ, được Bồ Tát hóa hiện tướng "bảo mă" để khuyến khích ngài đi chu du bốn biển đồng thời học tiếng Trung hoa. Vị tăng đă nói: 

- Ở Trung độ nạn đao binh không ngừng hoành hành, nhưng tâm người th́ lại hiểm ác, đệ tử thuyết Pháp cho họ, họ không nghe th́ thôi, c̣n cho là đệ tử thuộc hạng tà môn ngoại đạo nên cười chê chỉ trích và đâu đâu cũng đệ tử cũng bị đối xử một cách khinh bỉ. Đệ tử hoàn toàn có thể nhẫn nhục chịu đựng hết những điều đó, song chỉ thương cho những chúng sinh ấy, phải đương đầu với ma nạn, sống trong biển khổ mà không thấy đó là nguy hiểm, vẫn cố chấp mê muội không chịu tỉnh ngộ.

 Quan Âm Bồ Tát vốn có tôn chỉ là "tầm thanh cứu khổ", v́ thế trong khi chờ đợi vị tăng Tây Tạng nói được tiếng Trung hoa để hoằng dương Phật Pháp, Ngài quyết định vân du ở Trung độ để dẫn dắt cho chúng sinh hướng thiện và thoát khổ.

 Ngài bèn dặn ḍ Long Nữ và Thiện Tài ở lại coi sóc Phổ Đà Sơn, c̣n ḿnh th́ hóa thành một bà lăo, một ḿnh xuống vùng Trung Nguyên. Trên đường bà vừa đi vừa xin ăn, thấy rằng ở chốn ấy người lương thiện th́ rất hiếm, c̣n người ngu ác th́ lại đầy dẫy. Người ta không tin vào quả báo, ham tiền ham lợi, chiếm đoạt giết chóc lẫn nhau, chỉ chú ư tới chuyện trước mắt mà không cần biết tới hậu quả về sau. Nhất là dân chúng thuộc hạ tầng cơ sở th́ lại càng ngu muội tối tăm, gặp đủ thứ khổ nạn thảm cảnh mà không chịu thức tỉnh. V́ thế Ngài Quan Âm quyết định giảng Pháp cho những người này trước.

 Một hôm, Ngài Quan Âm đến vùng Trung Châu, chọn một động đá trên núi Thái Thất làm nơi hiển hóa. Đêm ấy, Ngài ứng mộng cho dân chúng các vùng lân cận, nói với họ rằng: 

- Vài ngày nữa Quán Thế Âm Bồ Tát sẽ đi ngang chỗ này để điểm hóa cho những người có nhân duyên, cứu họ thoát tất cả mọi khổ ách. Các vị hăy lưu tâm chờ đợi, đừng bỏ lỡ cơ hội, Bồ Tát đứng trước mặt mà không thấy. Nhưng thấy hay không là tùy nơi ḷng thành tâm của mỗi người, chỉ cần có ḷng thành là thế nào cũng gặp.

 Nói xong, Ngài hiện ra bảo tướng trang nghiêm, một lúc sau, bảo tướng từ từ biến mất. Hôm sau mọi người gặp nhau, ai cũng bàn tán về giấc mộng đêm qua, th́ ra ai cũng thấy đồng một giấc mộng, v́ thế mọi người đều kinh ngạc, và ai cũng mong muốn, chờ đợi Bồ Tát giáng lâm. Nhưng họ không biết Bồ Tát sẽ hóa thân là người như thế nào để điểm hóa, cho nên người này nh́n người kia bèn nghi là Bồ Tát hóa thân, tạo ra những ngộ nhận khá khôi hài. Mấy ngày trôi qua rồi mà chưa ai phác giác ra Bồ Tát đă hóa thân ở đâu.

 Thật ra, Quan Âm Bồ Tát hóa thân làm bà lăo ăn xin, đă đến đây từ mấy ngày nay rồi. Lúc ấy đương gặp nạn hạn hán, thật lâu rồi trời không mưa, lúa mạ trong ruộng hầu như đă cháy khô, mùa màng không gặt hái được ǵ, trước mắt dường như thiên tai sắp giáng xuống, dân chúng làng trên xóm dưới ai nấy đều hốt hoảng. Khi họ thấy bà lăo ăn xin th́ họ bảo năm nay mất mùa, gặp cảnh thiên tai, chính ḿnh c̣n đang buồn sầu v́ cơm không có mà ăn, lấy đâu dư cơm cho người ăn xin!

 Bà lăo chần chừ nấn ná trước những cửa nhà như thế thật lâu mà rồi cũng không xin được một miếng ăn nào. Cuối cùng bà không khỏi thở dài, tự nói cho ḿnh nghe:

- Ôi thật đang tiếc, hạn hán tuy là một thiên tai nhưng cũng là do con người tự chiêu cảm lấy mà thôi! Giá như dân chúng ở đây biết kính trọng trời đất, biết làm việc thiện một chút, bớt việc giết chóc, quy y cửa Phật th́ trời đâu có giáng tai họa xuống cho họ như thế này! Thật đáng thương cho tôi, một bà già đói khổ, tới đây xin ăn khắp cả mười nhà rồi mà không xin được lấy một hạt thóc hay nửa hạt gạo! Ở đây thiên hạ thật là không biết hướng thiện. Người mà không biết hướng thiện th́ tránh làm sao được tai họa?

 Lúc ấy có một ông lăo tên là Lưu Thế Hiển, nghe được những lời than thở của bà lăo cảm thấy có ǵ kỳ lạ, hơn nữa cũng thấy những lời bà nói thật là có lư. Bất giác ông nghe tâm động, tự nghĩ:  "Có khi nào chính bà cụ này là hóa thân của Quán Thế Âm Bồ Tát chăng?" Mấy hôm nay thiên hạ xôn xao t́m kiếm, nhưng không hề có lấy một người chú ư tới người đàn bà già yếu đến từ phương xa này, chỉ v́ ai cũng có tâm bợ đỡ người quyền thế! 

Ông bèn đến chào bà lăo: 

- Thưa cụ, những ǵ cụ nói tôi đă nghe thấy, lời cụ nói rất là có lư. Đúng như cụ nói, ở đất này người ta không biết hướng thiện nên mới chiêu cảm thiên tai, nhưng không biết thiên tai này có tránh được không? Nói cách khác, nếu ai cũng chịu hối lỗi và cải thiện, chẳng biết có cứu văn được t́nh thế hay không? 

Quan Âm Bồ Tát đáp: 

- Ḷng trời vốn rất nhân từ, tâm phúc thiện mạnh gấp ba tâm muốn trừng phạt kẻ ác. Chỉ cần người ta thật sự chịu thành tâm hối lỗi th́ làm ǵ mà trời không dung tha, tai họa trước mắt có ǵ đâu mà không cứu được? 

Lưu Thế Hiển nghe những lời ấy rồi, đoán chắc rằng bà cụ già này là Quan Âm Bồ Tát bèn quỳ xuống đất lễ lạy và nói: 

- Bồ Tát trên cao, tạ ơn Bồ Tát hiển hóa thị hiện, đệ tử phàm phu mắt thịt không biết được từ dung, suưt nữa không thấy được Thái Sơn trước mắt! May nghe được những lời giáo huấn của Bồ Tát, tâm trí được mở mang, nay con quỳ xin Bồ Tát dùng chút pháp lực giáng xuống một cơn mưa lớn để cứu đất này khỏi nạn hạn hán. Đệ tử nguyện tạo chùa, cúng dường Bồ Tát và khuyến khích ngu dân một ḷng hướng thiện, quy y Phật Pháp, con van xin Bồ Tát từ bi ban ơn!

Nói xong, ông dập đầu lạy không ngừng.

Quan Âm Bồ Tát nghe Lưu Thế Hiển nói th́ rất hoan hỉ, trả lời rằng:

 - C̣n có người có ḷng như ông, biết chí thành cầu nguyện mà không v́ lợi riêng, thật là hiếm có! Chỉ v́ dân chúng ở đất này thật sự quá cứng đầu khó đổi, bị tai họa đâu có ǵ là lạ! Thôi th́ để ta làm cho họ mắt thấy tai nghe cũng được. Ngày mai giờ ngọ ba khắc, ta quyết định hiển hóa ở trên núi Thái Thất, thi triển pháp lực làm một cơn mưa để cứu đất này khỏi nạn hạn hán, nhờ ông đi nói với tất cả mọi người ở đây, bảo họ đến xem, cho họ mắt thấy Phật Pháp vô biên th́ ḷng tin của họ mới chắc chắn, sau này ông có lấy lời thiện mà khuyến dụ th́ cũng dễ cảm hóa họ hơn.

Lưu Thế Hiển lại cúi xuống bái tạ, nhưng Bồ Tát đă biến mất rồi.

Lưu Thế Hiển thuật lại cho mọi người nghe những lời nói của Quan Âm Bồ Tát, nhưng ai cũng nửa tin nửa ngờ: 

- Giữa thanh thiên bạch nhật Bồ Tát xuất hiện, sao không ai thấy mà chỉ ḿnh ông thấy? 

Lưu Thế Hiển đáp: 

- Cái bà già ôm bát đi xin ăn hồi năy chính là hóa thân của Bồ Tát đó! 

Mọi người nghe nói bà già ôm bát xin ăn ban năy chính là Quán Thế Âm Bồ Tát th́ lấy làm kinh dị, họ tự giận ḿnh có mắt cũng như mù không nhận ra mặt Phật, cơ duyên ngay trước mắt mà lại bỏ lỡ. Lại có người tự trách sao đă không chịu bố thí lại c̣n bất kính đối với Bồ Tát nên ăn năn hối hận vô cùng. Lưu Thế Hiển an ủi:

- Bồ Tát có tôn chỉ là dùng từ bi để cứu khổ, Ngài sẽ không bắt tội các vị những chuyện lặt vặt như thế đâu, chỉ cần về sau các vị phát ḷng tin chân thành là đủ. Ngày mai giờ ngọ ba khắc Bồ Tát sẽ hiện chân thân bảo tướng của Ngài, thi triển pháp lực làm một trận mưa, lúc ấy tất cả đều có thể thấy được từ nhan của Ngài.

Nghe thế mọi người lộ vẻ vui mừng, lập tức đi truyền bá tin này khắp nơi và chỉ trong khoảnh khắc, toàn thành đều biết. Một truyền mười, mười truyền trăm, rồi th́ những làng mạc thành thị xung quanh cũng được nghe tin này luôn. Nghe nói Quan Âm Bồ Tát sắp đến đất này giáng mưa, ai nấy đều đổi buồn làm vui, chờ đợi Bồ Tát hiển linh.

Sáng sớm tinh sương ngày hôm sau, dân chúng toàn vùng, nông dân ngừng cày ruộng, phụ nữ ngừng dệt vải, cửa tiệm  ngừng bán hàng, ai cũng đốt nến thắp hương, chân thành đảnh lễ, chờ đợi giờ ngọ ba khắc Quán Thế Âm Bồ Tát thị hiện Pháp thân. Nam nữ lăo ấu ai cũng nghễnh cổ nh́n lên trời, đến chớp mắt cũng không dám chớp lấy một lần! 

Gần đúng chính ngọ, họ thấy trên đỉnh núi Thái Thất có một áng mây trắng nhẹ nhàng bay lên, rồi từ từ, chầm chậm tỏa rộng ra, càng lúc càng rộng. Đột nhiên giữa áng mây trắng có  một con đường thông thẳng lên tới đỉnh núi Thái Thất và kim thân  Quan Âm Bồ Tát cao một trượng sáu xuất hiện trên đầu núi. Đầu Ngài đội khăn, thân khoác cà sa, tay cầm một cái b́nh bằng ngọc màu trắng như mỡ dê, trong b́nh đựng cam lồ và cắm một nhành dương liễu. Ngài đi chân không, đứng trên một tảng đá bằng ánh sáng. Mọi người nh́n thấy Ngài bèn quỳ xuống lễ lạy, niệm lớn "Đại từ đại bi Quán Thế Âm Bồ Tát".

 Quan Âm Bồ Tát cầm nhánh liễu chấm vào nước cam lồ, hướng về các thủa ruộng ở bốn phương đông tây nam bắc phất tay rảy nước. Lạ thay, mây mù tụ họp trong không trung, một cơn mưa lớn như xối đổ xuống không ngừng trong cả tiếng đồng hồ, sau đó mây mới tan và mưa mới ngừng, hơi nước bốc lên mù mịt. Trong cơn mưa rào ấy, h́nh ảnh Bồ Tát từ từ ẩn mất.

 Nhờ cơn mưa rào trừ được nạn hạn hán cứu trăm họ trong một vùng đất rất lớn khỏi cảnh thiên tai, nên h́nh ảnh Quan Âm Bồ Tát từ bi đă khắc sâu trong tâm những người dân ở đấy. Quả nhiên sau đó họ trở thành những người chân thành tin kính Phật Pháp. Lưu Thế Hiển bèn quyên tiền xây một ngôi miếu ngay tại chỗ mà đức Quan Âm đă hiện thân trên đỉnh núi Thái Thất, trong miếu có  tạc tượng Quan Âm Đại Sĩ, ngày ngày dâng cúng hương hoa. C̣n động đá nơi hóa thân Bồ Tát đă dừng chân nay cũng đổi tên là Quan Âm động, hăy c̣n lưu lại cho đến bây giờ.

 Đây là lần thứ nhất Bồ Tát Quan Âm hiện thân ở Trung độ dưới Đại Bi tướng, đó chính là Thánh Quán Tự Tại Bồ Tát vậy.

Quan Âm Bồ Tát hiển hóa lần thứ nhất tay cầm tịnh b́nh dương liễu cho nên thế gian c̣n gọi lần hiển hóa ấy là "Dương Liễu Quan Âm". Đây là h́nh ảnh Quan Âm Bồ Tát được lưu hành nhiều nhất nên đă trở thành tiêu chuẩn, dân chúng c̣n gọi là "Thánh Quan Âm".

 

12 - Đa Bảo Quan Âm

 

Tượng Đa Bảo Quan Âm có 18 cánh tay, và trong mỗi bàn tay có nắm một viên ngọc quư. Nh́n bức tượng này th́ thấy dường như Ngài có vô số bảo vật, thật ra Ngài đă có lần hiển hóa ở vùng Giang Nam để khuyến cáo thế gian đừng nên tham lam bảo vật của cải.

Ngày xưa, dân chúng ở giải đất Giang Nam quen thói bạc bẽo, trục lợi, tham lam, lừa bịp, gian dâm, cướp bóc và giết chóc, không biết lễ nghĩa, chỉ tôn trọng kẻ có tiền tài và quyền thế mà thôi. Quan Âm Bồ Tát thấy họ bất lương như thế, nên đau ḷng mà t́m cách hóa độ cho họ.

Ngài bèn biến thành một thầy tu mập mạp phốp pháp, lưng đeo một cái bị lớn, tay cầm rất nhiều vàng bạc châu báu, đi nghênh ngang giữa chợ cho mọi người để ư đến ḿnh. Một ông thầy tu xuất hiện như thế trên các nẻo đường thành thị, dĩ nhiên lập tức lôi cuốn một bọn côn đồ vô lại. Đấy là một bọn lưu manh gian hiểm, chỉ biết lêu lổng chơi bời, khi thấy trên tay vị thầy tu có rất nhiều ṿng vàng châu báu th́ chúng chỉ muốn cướp lấy ngay. Thế là chúng chận đường ông thầy t́m cách gây hấn. Một tên trong bọn đầu đội nón lệch sang một bên, nói một cách đe dọa: 

- Ông sư hổ mang này, dám cả gan đến đất của ta nghênh ngang lừa bịp! Ông là người xuất gia, làm sao có những vàng bạc châu báu này? Mau mau đưa hết cả đây th́ ta tha cho mà đi, bằng không th́ đừng ḥng sống sót!

Quan Âm Bồ Tát hỏi: 

- Châu báu à? Châu báu nào đâu? Ta không có châu báu, cũng không biết thế gian gọi cái ǵ là châu báu. Chỉ có tu tâm, học thiện mới đáng gọi là châu báu mà thôi. 

Bọn vô lại nghe thế làm sao chịu được, bèn nhao nhao la hét: 

- Cái ông sư gian xảo này nói sàm ǵ vậy? Trên lưng, trên tay ông toàn là ngọc ngà vàng bạc, đó không phải là châu báu chứ là cái ǵ? Đừng có giở tṛ, mau đưa hết đây!

Quan Âm Bồ Tát nói:

- Các vị muốn mấy cái đồ quỷ này hả? Bần tăng thấy mấy thứ này như phân như đất, bần tăng đang bực bội v́ mấy thứ lôi thôi phiền phức này đây!

Nói xong Ngài bèn bỏ xuống đất tất cả những châu báu mà Ngài đang mang trên lưng, trên tay rồi nói: 

- Đây, toàn bộ cả đây, muốn lấy ǵ th́ lấy đi! 

Thế là bọn vô lại ba chân bốn cẳng ùa lại, chí choé tranh đoạt lẫn nhau những thứ đáng tiền, trong nháy mắt chúng cướp đi hết, chỉ có một xâu chuỗi tràng bằng hột Bà-la là chúng không thèm đếm xỉa tới nên bỏ lại dưới đất.

Ông thầy mập nhặt xâu chuỗi lên, cảm thán mà nói: 

- Đáng thương cho thế gian không biết phân biệt thật giả, cái đồ vô dụng th́ lấy đem đi hết, c̣n xâu chuỗi quư giúp cho ḿnh tu tâm dưỡng tính th́ lại chê, thế mới biết dân ở đây không có thiện căn! 

Bọn vô lại đâu có nghe những lời của ông thầy mập, thiện căn với chẳng thiện căn, chúng chỉ nghĩ làm sao đem số châu báu mới cướp được đi bán lấy tiền cho mau. 

Đến giữa trưa, bọn vô lại đi cả rồi, ông thầy mập bèn đến chùa Từ Vân ở gần đấy xin tá túc, và xin luôn bữa ăn trưa.

Chùa Từ Vân là ngôi chùa nổi danh nhất vùng đất ấy, tăng chúng trong chùa lên đến đâu khoảng mười người. Các vị ấy hết ḷng lo việc hoằng dương Phật Pháp, nhưng v́ dân chúng ở đất này thiếu thiện căn, người quy y lương thiện không nhiều nên tiền cúng dường chùa cũng rất ít. Ông thầy mập nói chuyện với chư tăng, mọi người đều than thở buồn rầu, không biết làm sao hóa độ cho cái dân chợ búa ấy, và làm sao cho họ tin Phật đây? 

Lúc ông thầy mập thọ ngọ trai ở chùa Từ Vân vừa xong th́ bọn vô lại ban sáng hùng hùng hổ hổ kéo nhau đến chùa t́m ông. Th́ ra khi chúng mới ra chợ tính bán các vật trân quư mới cướp được th́ phát giác ra ḿnh đang cầm trong tay toàn là bụi đất, bụi đất theo gió mà bay đi hết chứ chẳng có châu báu nào cả. Chúng hết sức ngạc nhiên, không biết giải thích điều này làm sao, cuối cùng bèn quyết định đi t́m ông thầy mập hỏi cho ra lẽ, v́ thế mới kéo nhau đến chùa Từ Vân.

Ông thầy mập đă biết trước rằng chúng sẽ đến nên không chờ chúng mở miệng, đă mỉm cười hỏi trước: 

- Các vị tới đây có chuyện ǵ? Bần tăng có ǵ các vị đă lấy đi hết rồi, chỉ c̣n có xâu chuỗi cùng cái bát khất thực này thôi, vậy th́ các vị c̣n muốn ǵ nữa mà đến t́m bần tăng?

Bọn vô lại quát: 

- Cái ông thầy chùa dễ ghét! Châu báu ban sáng bọn ta lấy xong, chỉ trong giây lát đă trở thành cát bụi, đúng là mi muốn giỡn mặt với bọn ta mà, bọn ta đến đấy t́m mi hỏi cho ra lẽ, muốn sống th́ mau đem châu báu thật ra đây, nếu không đừng trách bọn ta vô lễ! 

Ông thầy mập vẫn thản nhiên đáp: 

- Th́ ra là vậy! Ủa mà hồi sáng tôi đă nói trước với các vị rồi mà, mấy thứ đó chỉ là phân, là đất, các vị không tin cứ nói đó là trân bảo rồi tranh nhau đoạt lấy đem đi. Bây giờ rơ ràng lời tôi nói là đúng, tại sao các vị trách tôi giỡn mặt với các vị? Để tôi nói cho các vị một điều, ở đời giàu nghèo đều có mệnh trời, không thể cưỡng đoạt mà có. Tiền tài là những thứ bên ngoài thân, tranh tới đoạt lui có ích ǵ? Tôi khuyên các vị nên tỉnh ngộ là hơn. 

Bọn vô lại nghe những lời này làm sao lọt vào tai, đó là một bọn ngu si khó dạy lại cứng đầu, chúng mắng chửi ông thầy mập hết lời: 

- Đồ thầy chùa gian xảo, không cho mi một trận th́ mi không đưa châu báu ra phải không! 

Thế là chúng vung tay múa chân ập vào đánh. Ông thầy mập vừa cao vừa to, nh́n th́ thấy lù khù chậm chạp, ai ngờ thầy lại nhanh nhẹn khác thường, cả bọn xông lại thế mà không đứa nào đến gần ông được. Bọn lưu manh giận quá điên tiết lên, vừa chửi rủa vừa đánh đấm không ngừng. Ông thầy mập nghĩ rằng nếu không để cho bọn này đánh trúng ḿnh th́ câu chuyện sẽ c̣n dằn dai không dứt, thôi th́ cho chúng nó đánh khúc gỗ vậy. 

Ở giữa chùa Từ Vân có dựng một khúc thân cây lê, các thầy ở chùa đang chuẩn bị dùng gỗ ấy để khắc tượng Phật.

Quan Âm Bồ Tát tức thời thị hiện chút thần thông, khúc gỗ cây lê liền biến thành ông thầy mập, bị bọn vô lại vây kín đánh đấm cho đến trầy tay xướt chân, mệt mỏi ră rời mới chịu ngừng. Khi chúng nghĩ rằng một trận đánh như thế đă đủ cho chúng trả hận rồi, định thần nh́n lại th́ thấy ông thầy mập mà ḿnh vừa đánh đấm nào có phải là ông thầy mập, mà là một khúc gỗ đang nằm dưới đất. Bọn lưu manh giật ḿnh kinh hăi, há hốc mồm nh́n sững khúc gỗ rồi quay lại nh́n nhau. Có đứa biết chữ, nh́n thấy thân cây lê có khắc sáu chữ "Đa Bảo Quan Âm Bồ Tát".

Lúc ấy tất cả mọi người có mặt mới biết ông thầy mập ấy chính là hóa thân Quan Âm Bồ Tát. Đứa nào cũng đấm ngực dậm chân, ăn năn hối hận. Có đứa im lặng nhớ lại sự việc đă qua cùng những lời khuyên răn của ông thầy mập, biết rằng đó là Bồ Tát Quan Âm có ư muốn hóa độ ḿnh, cảm thấy xúc động mạnh, vừa hối hận vừa tri ân, bèn lẳng lặng bỏ đi. Quả nhiên sau đó có rất nhiều người bỏ ác hướng thiện, thay đổi hẳn cuộc sống, bỏ thói tham lam trục lợi lúc trước.

Hóa thân Quan Âm Bồ Tát đấu với bọn vô lại ra sao, chúng tăng chùa Từ Vân đă nh́n thấy rơ ràng. Ban đầu họ lo sợ cho ông thầy mập, sợ ông bị bọn vô lại đánh gục nên tính chạy vô can gián, nào ngờ ông thầy mập lại có công lực phi phàm! Sau đó, lúc tất cả đều xông vào đánh ông, họ cũng định ra tay ngăn cản th́ thấy chỉ có khúc gỗ cây lê là bị đánh nên ai cũng khâm phục trí huệ và pháp lực của Quan Âm Bồ Tát. 

Chúng tăng bèn quỳ trước thân cây lê khấu đầu lễ bái. Sau đó, họ đem khúc gỗ bị đánh ấy khắc thành tượng Đa Bảo Quan Âm.

  

 13 - Tống tử Quan Âm

  

 Chùa Từ Vân nhờ có thờ tượng Đa Bảo Quan Âm nên khách dâng hương lễ bái kéo đến nườm nượp, tiền cúng dường vô cùng hậu hĩ. Tuy nhiên, người dâng hương lễ bái không phải bất cứ người nào cũng là hạng người mà Bồ Tát kỳ vọng, nghĩa là những người có tâm hướng thiện. Có rất nhiều người đến lễ bái Quan Âm với tâm ích kỷ, với ư đồ riêng tư.  

Lúc ban đầu, đại đa số đến chỉ để cầu tiền cầu phúc, muốn bất cứ việc nhỏ việc lớn nào cũng đến trước tượng Bồ Tát mà cầu khẩn. Về sau nữa th́ thậm chí kỹ nữ,  tú bà cũng đến thắp hương quỳ lạy, cầu xin Bồ Tát gia hộ cho việc làm ăn của ḿnh được phát đạt, dân trộm cắp xin cho đường sinh nhai của ḿnh được hanh thông, kẻ si t́nh người thất chí th́ xin được thành duyên gia thất. Người đến dâng hương lễ bái hạng nào cũng có, làm cho ngôi chùa Từ Vân đang trang nghiêm trở thành rối ren đen tối. 

Một hôm, có một tên cướp tên là Hồ Thất cũng đến chùa Từ Vân dâng hương. Tên cướp này vốn có tà tâm nên cứ lảng vảng đứng ngắm bức tượng Đa Bảo Quan Âm. Bảo tượng Quan Âm này được khắc bằng tinh lơi của cây lê lúc Bồ Tát hiển thân dùng cây lê thế thân chịu đ̣n cho ḿnh ngày xưa. Bên trên có che trướng bằng hạt châu, tràng phan bằng đá quư. Tên cướp trở về tụ họp bọn đồng lơa lại bàn thảo, chuẩn bị ra tay. Tối hôm ấy, Hồ Thất một ḿnh leo tường đột nhập vào chùa Từ Vân cơng tượng Quan Âm ra, kéo đến một chỗ hẻo lánh và cùng đồng lơa lột hết các bảo vật trên 18 cánh tay của tượng chia đều với nhau, xong đem tượng liệng xuống sông cho tượng theo ḍng nước trôi đi chỗ khác.

Khi bọn cướp vứt tượng Đa Bảo Quan Âm xuống sông th́ Ngài Quan Âm cũng vừa qua sông để đến thành Kim Lăng. Đôi mắt từ bi của Bồ Tát nh́n thấy bọn cướp trộm tượng lột bảo vật nên Ngài không vui ḷng chút nào. Thấy bức tượng đang trôi về phía Kim Lăng Ngài chợt nghe tâm động, quyết định chọn một người thiện lành và có duyên với Phật Pháp để nhờ người ấy ra tay giúp đỡ. 

Người này họ Phan tên Ḥa, là một người làm nghề bán gạo ở Kim Lăng, có một cửa hàng bán lương thực nên cảnh nhà cũng khá giả. Đây là một Phật tử thuần thành, thích bố thí làm việc thiện, xa gần ai cũng khen ông là người tốt. Tuy là người chí thành thờ Phật và làm việc thiện nhưng Phan Ḥa vẫn có điểm ưu phiền, đó là tuy đă quá nửa đời người rồi mà trong nhà chỉ có một cô con gái chứ không có con trai nối dơi. Ông mong muốn con trai tha thiết mà không được như ư, đành t́m nơi xứng đáng kén rể quư rồi bắt rể coi như con trai. Nhưng v́ ông quá kén chọn, cao không tới thấp không thông nên cứ dùng dằng măi cho đến ngày nay, cửa nhà vẫn cứ trống trải.  

Bồ Tát Quan Âm biết rằng người này có thiện căn nên mới chọn ông ta. Một hôm Phan Ḥa nằm mộng thấy một người đàn bà đầu đội khăn, toàn thân áo trắng, nói với ông rằng: 

- Ông Phan, ngày mai ông hăy ra cửa sông đứng chờ, khoảng giữa giờ tư và giờ ngọ sẽ có một bức tượng Quan Âm bốn mặt và 18 cánh tay trôi vào. Ông hăy cẩn thận vớt tượng lên rồi sau đó đem tượng lên chùa Kê Ô ở trên núi Thanh Lương tu sửa lại để thờ phụng. Chỗ đó có một tảng đá h́nh như cái lá sen, vừa khéo có thể dùng làm đài sen. Ông làm được việc này th́ công đức vô lượng, muốn điều chi cũng có. 

Phan Hoà đáp rằng: 

- Tôi xin tuân theo lời dạy của bà làm tất cả các điều ấy, hôm nay có phúc lành xin cho tôi hỏi một chuyện, tuy đă quá nửa đời người rồi mà nhà vẫn chưa có con trai, mấy năm nay ao ước mong cầu, không biết tôi có hy vọng nào không? 

Người đàn bà áo trắng nói: 

- Điều đó dễ thôi, tôi ban cho ông một đứa con trai cũng được! 

Nói xong người đàn bà lấy một con cờ vây trắng trao cho Phan Ḥa. Ông tính hỏi thêm một câu nữa th́ người đàn bà đă biến mất, bèn giật ḿnh thức giấc. Hôm sau Phan Ḥa chạy ra cửa sông đứng đợi, quả nhiên thấy một bức tượng Quan Âm bằng gỗ từ từ trôi vào. Ông cẩn thận vớt tượng lên, lập tức đưa lên chùa Kê Ô và c̣n bỏ tiền ra mướn thợ tu sửa lại kim thân Bồ Tát, xong lấy tảng đá h́nh lá sen tạc thành một đài sen. Khi tên cướp Hồ Thất trộm tượng cơng lên lưng vượt tường ra khỏi chùa, vô ư đụng bể phần dưới của tượng nên tượng không đứng được, chỉ có thể nằm nghiêng nghiêng trên đài sen nên người đời đặt tên cho bức tượng này là "Quan Âm nằm hoa sen" (Ngọa liên Quan Âm).  

Lúc ấy Phan Ḥa bỗng nhiên ngộ ra rằng người đàn bà áo trắng đến báo mộng cho ḿnh không ai khác hơn là Quan Âm Bồ Tát, vừa ngạc nhiên vừa mừng rỡ, ông bèn mời một người thợ vẽ nổi tiếng ở Kim Lăng vẽ lại h́nh dáng người đàn bà áo trắng mà ḿnh đă mộng thấy, và với tâm mong cầu con trai tha thiết, ông c̣n nhờ người thợ vẽ thêm một cậu bé trai trong ḷng Ngài Quan Âm, đặt tên h́nh là "Tống tử Quan Âm" (Quan Âm cho con), thờ phụng tại nhà, ngày nào cũng chí thành lễ bái.

Quả nhiên không lâu sau, vợ Phan Ḥa hoài thai sinh được một quư tử trắng trẻo dễ thương. Chuyện Phan Ḥa thờ tượng Bạch Y Tống tử mà sinh được con trai được truyền đi khắp nơi, nên toàn vùng Giang Nam, nhà nào không có con trai cũng thi nhau bắt chước, về sau việc này trở thành một phong tục địa phương.

Kỳ thật, Ngài Quan Âm mà Phan Ḥa mộng thấy chỉ trao cho ông một con cờ vây trắng, trong ḷng không hề ôm đứa bé nào cả, tấm h́nh ôm con kia hoàn toàn do trí tưởng tượng của Phan Ḥa đặt ra.

Nhắc đến Hồ Thất và đồng lơa, khi chúng chia nhau xong bảo vật cướp được của Đa Bảo Quan Âm, mỗi người đi một hướng khác nhau mà trốn tránh quan quân. Hồ Thất một ḿnh chạy đến Nam Kinh, trốn lên núi Tử Kim Sơn ẩn mặt một thời gian, nghe ngóng thấy sự truy nă đă bớt gắt gao mới dám chường mặt ra giả làm một địa chủ vào thành bán bảo vật. Hắn t́m đến một tiệm vàng nói với chủ tiệm rằng muốn bán một vài bảo vật gia truyền.

Tên chủ tiệm cũng là một phường lưu manh xảo trá không kém ǵ hắn, nên tuy thừa biết những hạt minh châu của Hồ Thất rất quư giá song vẫn nói rằng đó là đồ giả. Sau hắn c̣n muốn bóp chẹt nên bảo rằng hiện tại buôn bán khó khăn, hắn chỉ có thể mua lại với một giá rẻ mạt. Hồ Thất thấy chủ tiệm bóp chẹt ḿnh mà vẫn c̣n tỏ ra vênh váo hợm hĩnh th́ lửa giận phừng phừng. 

Theo thói gian ác của hắn, hắn đă muốn cho tên chủ tiệm một bài học đích đáng nhưng biết ḿnh hiện c̣n đang bị truy nă, không muốn làm kinh động tới quan quân nên mới không ra tay. Hắn ước lượng những hạt châu ḿnh mang tới ít nhất cũng đổi được một ngàn hai trăm lượng bạc, ai ngờ tên chủ tiệm chỉ bằng ḷng đưa có hai trăm lượng. Hắn không nhẫn nhịn được nữa, bèn lấy tay quơ lại bảo châu bảo không muốn bán nữa, xong hầm hầm quay ḿnh bỏ đi.

Hắn đang giận dữ nên không nh́n thấy ai, không ngờ hắn vừa mới quay người đi th́ đụng phải một người đàn bà mới bước vào cửa tiệm. Bước đi hùng hổ dữ dằn của hắn rất mạnh bạo nên khi đụng phải người đàn bà, người này ngă xuống đất một cách nặng nề. Đây là cô tiểu thiếp của vị quan phủ đương thời, hôm nay đến tiệm vàng tính mua sắm trân châu làm vật trang sức cho mái tóc, có lính hầu đi theo. Người lính hầu thấy bà chủ bị đụng ngă lăn xuống đất la oai oái, bèn xông tới tóm lấy Hồ Thất. Khi Hồ Thất thấy đó là người của quan phủ th́ sợ hăi tính bỏ chạy, nhưng người lính túm lấy tay áo của hắn nắm cứng.

Hồ Thất nóng ruột muốn thoát thân nên rút dao ra tính đâm người lính, nhưng người này vốn là con nhà vơ, vơ công cao cường lại quen bắt giặc cướp, nên chỉ nhích thân tránh dao và bay lên đá vào tay của Hồ Thất, con dao rơi xuống đất đánh "keng!" một tiếng. Hồ Thất nào dám đánh tiếp, vừa lăn vừa ḅ lết tới cửa, ra tới ngoài rồi th́ phi thân chạy thục mạng.

Người lính  một mặt đuổi theo một mặt hô hoán lên, một vài người lính đang đi tuần tiễu ngoài đường nghe thế cũng đuổi theo Hồ Thất sát gót. Trong cơn hoảng hốt, Hồ Thất chạy bừa không kể đường xá, chạy tới bờ sông, nh́n thấy bọn lính đă đến ngay sau lưng ḿnh rồi và xung quanh không có đường nào khác thối lui, quẫn bách quá hắn đành nhảy đại xuống sông. Nhưng tên cướp này không hề biết bơi, hắn vùng vẫy một lúc trong nước và trong nháy mắt, bị sóng cuốn vào một con nước xoáy, thế là không thấy hắn nữa.

Số phận của những tên đồng lơa cũng không khá hơn ǵ. Chia tay với Hồ Thất rồi, chúng t́m được một cái miếu hoang ẩn thân. Nhưng trong một đêm sâu, đột nhiên sấm chớp dậy trời, cuồng phong giận dữ, mưa như thác nước, bọn cướp sợ quá nép vào góc tường co rúm lại quỳ xuống đất dập đầu lạy xin tha mạng.

Nhưng mưa to gió lớn vẫn không thuyên giảm, trong miếu mưa tuôn xối xả dội xuống bọn giặc cướp khiến chúng không c̣n chỗ dung thân. Đột nhiên trong ánh sáng một lằn chớp, chúng nh́n thấy một vài vị Kim Cang La Hán mắt trợn trừng giận dữ, tay cầm vũ khí giáng xuống đầu chúng dồn dập. Bọn cướp sợ quá không c̣n hồn vía, văi cả ra quần, liều mạng chạy ra ngoài t́m đường trốn. Đúng ngay lúc đó, trong một tiếng nổ long trời lở đất, một lằn sét giáng xuống và toàn bộ những tên giặc cướp ngă lăn xuống. Những bảo vật chúng đă cướp được vung văi đầy mặt đất.

Ngày hôm sau trời quang mây đăng, dân chúng làng bên đi ngang miếu hoang, thấy một vài tử thi nằm la liệt dưới đất, bên cạnh là rất nhiều bảo vật rải rác. Có một vài thiện nam tín nữ đă từng đi chùa Từ Vân và đă nh́n thấy tượng Đa Bảo Quan Âm, nay nh́n thấy bảo vật là nhận ra ngay, bèn lập tức gởi trả về chùa.

Sau việc này, dân chúng ở đây cảm nhận được uy lực vĩ đại của Quan Âm Bồ Tát, nên ḷng tin kính Tam Bảo tăng trưởng rất nhiều, một ḷng hướng về đạo. Những tên trộm vặt bắt gà trộm chó cũng do đó mà sám hối tội lỗi, bỏ dữ làm lành.

 

14 – Bia Dương Chi Quan Âm

 

Vị Ḥa thượng trụ tŕ của am Dương Chi tên là Như Quang, có giữ trong am một bức tranh do một vị họa sĩ nổi danh đời Đường tên là Diêm Lập, tức là bức "Quan Âm Đại Sĩ đồ tượng". Tranh vẽ Quan Âm Đại sĩ, đầu đội măo châu ngọc, khoác áo gấm, tay phải cầm cành dương liễu, tay trái cầm tịnh b́nh, linh động như người sống, thật là diệu tướng trang nghiêm.

Có một bức họa nổi tiếng như thế, nên am Dương Chi rất  tấp nập. Nào là những bậc học sĩ phong nhă, nào là khách hành hương đến lễ núi Phổ Đà, ai cũng muốn đến nh́n ngắm, lễ bái, ngày nào khách khứa cũng đến như nước chảy xiết không ngừng, khiến cho am Dương Chi nổi tiếng như cồn.

Có người khuyên Như Quang ḥa thượng nên đem bức tranh quư của Đức Quan Âm treo trên chánh điện nhưng ngài sợ đông người tạp nhạp, làm hư họai bức tranh nên chỉ thờ bức tranh ấy trong một thiền pḥng ở viện sau.

Một hôm, có một cụ già quắc thước, tóc bạc phơ đến am Dương Chi, đứng trước bức tranh Ngài Quan Âm ngắm nghía thật lâu, chân đi không đành. Hoà thượng Như Quang thấy thái độ cụ già như thế bèn đến chắp tay xá: 

- Thí chủ có vẻ ái mộ bức tranh này? 

Cụ già cũng vái trả đáp lễ đáp rằng: 

- Đẹp lắm! Vẽ đẹp lắm! Bút tích thật là tuyệt diệu, đáng cho trăm thế khâm phục! Tại sao Pháp sư không cho tạc bức tranh này lên đá, thờ trên chánh điện cho đại chúng lễ bái? 

Hoà Thượng Như Quang nghe thế, thật đúng tâm ư của ḿnh nên vội đáp:

 - Đúng thế, đúng thế! Ư của cụ rất hay, nhưng hiện nay t́m đâu cho ra một người thợ điêu khắc tài hoa tinh xảo? 

Cụ già nói: 

- Nếu như Pháp sư không chê, có thể để cho lăo tạc thử xem được không? 

Hoà thượng nh́n cụ già trân trân, gật đầu đồng ư. Hôm sau, cụ già cơng đến một khối đá xanh bằng phẳng, trơn tru đến pḥng thiền ở viện sau. Cụ ngồi trước bức tranh ngắm nh́n nguyên cả một ngày, cười cười rồi bỏ đi.

Hôm sau nữa, cụ già lại cơng đến đủ thứ dụng cụ khắc tượng, lại ngồi trước bức tranh ngắm nh́n nguyên cả một ngày, cười cười rồi bỏ đi.

Cụ già ngồi trước bức tranh ngắm nh́n ba ngày, rồi suy nghĩ thêm ba ngày, đến ngày thứ 7, cụ cầm cây bút tre, chuyên chú vẽ lại bức tranh trên khối đá xanh. Vẽ xong, cụ bèn dùng mũi nhọn và sắc của cái đục, vừa đục vừa tạc, bắt đầu điêu khắc. Hoà thượng Như Quang sai người đem cơm chay đến, cụ không dùng; cho người đem trà thơm lên, cụ không uống, cứ thế cho đến khuya khoắt, cứ "bong bong, bong bong" mà đục mà khắc liền tay. 

Không biết trải qua bao ngày bao đêm như thế, đột nhiên một đêm nọ, tiếng "bong, bong" ngừng bặt, hoà thượng Như Quang vội vàng mặc y áo ra khỏi giường, đến pḥng thiền ở viện sau xem xét, th́ không thấy cụ già đâu nhưng có một bia đá tạc h́nh ngài Quan Âm đă dựng ở đấy rồi, và bức tranh tạc tên đá giống bức tranh mẫu như hệt. Hoà thượng Như Quang rất hài ḷng, đem phiến đá tạc h́nh ngài Quan Âm thờ ở chính điện. Từ đó, khách đến am lễ bái lại càng đông hơn nữa.

Đến năm Vạn Lịch nhà Minh, có một đêm tối đen như mực, đưa tay ra không thấy năm ngón, am Dương Chi bị lửa cháy, lửa cao tới trời, tất cả chỉ c̣n lại đống tro tàn, bức h́nh ngài Quan Âm cũng không thoát khỏi ách nạn.

Hoà thượng Như Quang xông tới đống ngói c̣n nóng như thiêu đốt, dùng tay trần mà bới mà đào, vẫn không sao t́m thấy bia đá có tạc h́nh ngài Quan Âm. Ngài cứ quay cuồng nơi ấy, tâm lo lắng như nung như nấu. Chúng tăng trong chùa thấy hoà thượng như vậy, một mặt th́ an ủi, một mặt th́ chia nhau đi các núi, các thung lũng t́m kiếm, nhưng t́m khắp núi Phổ Đà cũng không t́m ra dấu vết.

Một buổi trưa nọ, có một chú tiểu đến trước mặt ḥa thượng nói: 

- Sư phụ ơi, đừng khóc nữa, bảo tượng Quan Âm đă trở về rồi! 

Ngài Như Quang mở đôi mắt nḥa lệ nh́n chú tiểu nói: 

- Con đừng nói lời an ủi ta, ta đau ḷng quá rồi! 

Chú tiểu thành thật nói: 

- Thật mà, sư phụ, đệ tử có bao giờ nói dối đâu! Không tin, thỉnh sư phụ tới xem! 

Hoà thượng Như Quang nửa tin nửa ngờ, theo gót chú tiểu đến cửa Nam Thiên. Thoáng nh́n, ngài thấy trên một băi cát không xa bờ biển, bia đá có khắc tượng Dương Chi Quan Âm nghiêng nghiêng tựa trên mặt một tảng đá ngầm, sáng loáng phát quang dưới ánh mặt trời, tợ như từ dưới biển trồi lên, nổi trên mặt nước mới tấp vào bờ vậy.

Hoà thượng Như Quang mừng không thể tả, lập tức bảo chúng tăng khiêng bia về am.

Tại sao bia Dương Chi Quan Âm lại từ dưới biển trồi lên? Nguyên do là đêm tối trời ấy có một tốp "giặc lùn" lén ṃ lên Phổ Đà Sơn, không ăn cắp được tranh bèn lấy trộm Quan Âm bia rồi c̣n đốt cháy am Dương Chi nữa. Có ngờ đâu khi tàu cướp vừa đến biển Liên Hoa, một trận gió dữ th́nh ĺnh nổi lên, tàu giặc mất phương hướng, bị sóng xô giạt tới cửa Nam Thiên, húc phải đá ngầm khiến tàu bị lật, bia đá Quan Âm mới dựa nghiêng trên mặt tảng đá ngầm như vậy.

T́m được bia đá rồi, trước hết, hoà thượng Như Quang đem bia tới chùa Phổ Tế thờ tạm, đợi am Dương Chi xây lại xong mới cung nghênh bia về nguyên xứ. Cho đến ngày nay, hễ đến Phổ Đà Sơn du lịch, ai cũng muốn được ngắm nh́n một lần tấm bia Quan Âm đă thoát được tai ách lớn và nghe kể lại một lần truyền thuyết của tấm bia ấy.

 

15 - Quan Âm Đấu Trí Với Chuột Tinh

 

Tương truyền rằng đời xưa, ở dưới ḷng đất có một con chuột đă thành tinh, biết rằng trên nhân gian năm nào gặt hái cũng trúng mùa, nghĩ đến cuộc đời lạnh lẽo vắng teo của ḿnh th́ bèn lén t́m đến nhân gian, hy vọng có cách nào sống một cuộc sống ăn không ngồi rồi cho nó khoẻ! 

Nhưng lên đến trần gian th́ người nào thấy nó cũng miệng la tay đánh. Tuy con chuột này có phép thần thông, nhưng nó cũng biết là nếu làm cho dân chúng ghét th́ nó sẽ bị bất lợi nhiều hơn là thắng lợi, v́ thế nó cứ phải trốn chui trốn nhủi, có khi suưt phải mất mạng. Con chuột tinh càng nghĩ càng oán hận, nên mới t́m ra một độc kế để giết chết hết loài người trên trần thế mới đă nư! 

Một hôm, con chuột tinh biến thành một thanh niên có cái mồm nhọn hoắc, đến chỗ Long Vương ở Đông Hải xin mượn đ̣n quang gánh với hai thùng nước biển để gánh đi bán trong nhân gian.

Nó có phép thần thông nên tuy nói là chỉ một có một đ̣n quang gánh mà thôi, nhưng thật ra nó đă múc phân nửa số nước biển Đông đựng trong hai thùng nước rồi, chờ khi nào bán xong nước th́ thế giới này sẽ bị đại hồng thủy làm cho ngập lụt và loài người sẽ chết hết không c̣n một ai sống sót.

Vừa khéo, Quan Âm Đại sĩ đi vân du bốn biển mới về tới, chỉ đảo mắt nh́n là Ngài thấy xuyên thấu bụng dạ tâm can của con chuột tinh. Ngài bèn bỏ ư định trở về Triều Âm Động, mà âm thầm t́m đến gặp nó.

Trở lại con chuột tinh, xiêng xiêng vẹo vẹo gánh đôi gánh nước đi từ thôn này xuyên qua làng khác, vừa đi vừa rao hàng. Gánh nặng sưng cả bả vai, rao hàng đến khàn cả tiếng mà không có một ai thèm mua nước biển của nó.

Hôm ấy nó gánh nước đến một ngă ba đường, đứng trước một mái nhà tranh đặt gánh xuống rao hàng. Trong nhà có một bà cụ đang ngồi xe chỉ dệt vải, nghe nó rao bèn vỗ vỗ áo, phủi phủi quần, gù lưng bước ra cửa nói rằng: 

- Tôi đang muốn làm dưa cải muối đây, ông bán nước biển thật là vừa khéo! Gánh tới đây, tôi mua hết cho!

Con chuột tinh mừng thầm trong bụng, hỏi: 

- Lu nước đâu? 

Bà lăo cười tươi như hoa, ch́a ra một cái b́nh nhỏ trả lời: 

- Đổ trước vào đây đầy b́nh cho tôi! 

Con chuột tinh cảm thấy buồn cười, nghĩ bụng rằng: 

- Cái bà già ăn mày này đến lạ, cái b́nh cỡ này th́ chứa được bao nhiêu giọt nước? 

Vừa nghĩ, nó vừa tiếp lấy b́nh đổ nước vào. "Ọc ọc, ọc ọc…" đổ nửa thùng nước vào b́nh rồi mà sao b́nh vẫn chưa đầy? "Ọc ọc, ọc ọc…", nửa thùng nước c̣n lại đă đổ vào nốt mà b́nh hăy c̣n trống. Con chuột kinh hoàng hỏi: 

- Cái b́nh này là b́nh ǵ vậy? 

Bà lăo chỉ cười mà không đáp. Con chuột tinh lại nghĩ: 

- B́nh ǵ th́ b́nh, trước sau ǵ bà cũng sẽ là người chết ch́m trước! 

Nó khiêng thùng nước kia đổ tiếp vào b́nh. Chỉ nghe tiếng nước róc rách mà vẫn chưa thấy nước tràn ra ngoài. Con chuột phát hoảng, đứng đực người ra.

Bà lăo cười nhạt một tiếng, nhẹ nhàng lấy b́nh về và quát: 

- Nghiệt súc! C̣n chờ ǵ mà chưa nhận tội? 

Con chuột tinh định thần nh́n kỹ, thấy người cầm tịnh b́nh đứng trước mặt nó không c̣n là bà lăo lưng gù mà lại là Quan Âm Đại sĩ! Nó sợ hăi thất sắc, vội quay đầu chạy trốn.

Chạy, chạy, chạy thôi là chạy, chạy một đỗi th́ con chuột tinh cảm thấy vừa đói vừa khát, may quá đầu đường có một quầy hàng trà bánh, đúng lúc ấy có rất nhiều người đang đứng đấy uống trà ăn bánh.

Con chuột oán hận quá gây gổ ngay: 

- Giỏi cho bọn bây! Ông th́ phải trốn chui trốn nhủi, c̣n bọn bây th́ ở đây mà tiêu dao tự tại! 

Bất cần mọi sự, nó đưa tay tính chộp lấy trà bánh nhưng cô chủ quầy không bằng ḷng bán chịu, bắt nó phải trả tiền trước rồi mới được ăn. Trong ḿnh  đă không có một đồng một xu, vừa đói lại vừa khát, con chuột thẹn quá hóa khùng, trong nháy mắt bỗng nghe "chít chít" loạn xạ, và vô số chuột không biết từ đâu chui ra ùn ùn trèo lên quầy tranh ăn. Nào ngờ cô chủ quầy phóng ra mấy chú mèo và cười ha hả: 

- Mèo bắt chuột ! Mèo bắt chuột! 

Đàn chuột sợ hăi chạy trốn tán loạn, trong chớp mắt không c̣n một con.

Con chuột tinh không chịu thua, tính trút cơn giận lên đầu cô chủ, nhưng nào ngờ mới nh́n lên th́ rơ ràng trước mặt ḿnh lại là phạm tướng của Bồ Tát Quán Thế Âm! Con chuột tinh như bị điện giật, vừa lăn vừa ḅ ra chạy trốn.

Chạy, chạy, chạy thôi là chạy, chạy một đỗi th́ con chuột tinh cảm thấy vừa mỏi vừa mệt, bèn nhủi vào một quán ăn nhỏ nghỉ chân. Ông lăo chủ quán đến hỏi nó muốn ăn ǵ, nó thấy rằng ḿ nước vừa làm cho no bụng vừa giải khát bèn gọi một tô ḿ nước. 

Làm sao nó biết được lăo chủ quán cũng chính là Quán Thế Âm Bồ Tát hóa thân! Đang lúc nó x́ xà x́ xụp húp tô ḿ nóng đến nỗi mồ hôi tuông đầy đầu, lăo chủ quán nhẹ đưa ngón tay lên quẹt mặt bàn một cái là từng sợi từng sợi ḿ biến thành từng sợi dây sắt khiến nó nghẽn họng như thể mắc xương cá,  đau quá lăn đùng xuống đất, lăn tới lăn lui mấy lần th́ hiện nguyên h́nh con chuột to màu xám, kêu chít chít loạn xạ, khẩn cầu Quan Âm tha mạng. 

Quan Âm vốn từ bi, chỉ giam nó vào trong một động đá không  đáy, khiến nó vĩnh viễn không thể ra ngoài nhiễu hại chúng sinh nữa. 

            Minh Quang posted July 14, 2005

[Home] [Up] [Truyện Tích Quan Âm 1 -5] [Truyện Tích Quan Âm 6 - 10] [Truyện Tích Quan Âm 11 - 15] [Truyện Tích Quan Âm 16 - 20] [Truyện Tích Quan Âm 21 - 25] [Truyện Tích Quan Âm 26 - 30] [Truyện Tích Quan Âm 31 - 35] [Truyện Tích Quan Âm 36 - 40] [Truyện Tích Quan Âm 41 - 45] [Truyện Tích Quan Âm 46 - 50]