Chùa Hải-Đức in Jacksonville
|
|
Truyện Tích Phật Giáo Tác giả: Phật Giáo Cố Sự Đại Toàn Dịch giả: Diệu Hạnh & Giao Trinh 95 - 104
Trong một khu rừng lớn ở Ấn Độ, có một con trâu nước không khác ǵ một vị Bồ Tát hóa thân.Con trâu nước này không giống đồng loại của nó. Với một màu da đen xanh, nó có một thái độ nghiêm túc và trang trọng, lại có bản tính nhân từ và hiền hậu, giàu ḷng thương người, biết chịu đựng và nhẫn nhục.V́ thế có những con thú nhỏ nghịch ngợm hay phá quấy nó bằng những tṛ đùa ác độc, hay ức hiếp, làm nhục nó, coi nó có chịu đựng được không.Có một con khỉ xấu tính và ngu đần, thấy con trâu nước này dễ bắt nạt nên thường hay cưỡi lưng nó nhảy múa đ ùa giỡn không một chút sợ hăi. Hơn nữa, nó c̣n kiêu mạn mắng trâu rằng:- Con trâu già xấu xí kia, ta không sợ mi đâu! Mi có khác ǵ cục đá ngu si bị vất bỏ bên bờ ao cho thiên hạ đánh đập chửi rủa, vậy mà sao cứ đứng chết tiệt, đực mặt ra đó không có phản ứng ǵ cả!Không cần biết trâu đang ăn cỏ hay đang làm việc, con khỉ càng ngày càng phóng túng, lộng hành. Có lúc nó cưỡi lên đầu, lên sừng trâu mà phóng uế, có lúc nó khoa chân múa tay trên lưng trâu, thậm chí lấy cây thọc vào tai trâu, động đậy không ngừng. Trong lúc trâu đang ngâm ḿnh trong ao tắm, th́ nó lấy hai tay bịt mắt trâu lại không cho thấy đường đi, làm đủ cách ngăn không cho trâu hưởng cái vui thú của sự tắm mát.Trâu nước nhẫn chịu mọi sự nghịch quấy của khỉ, tuy khỉ càng ngày càng lộng hành, một khắc cũng không tha nhưng trâu từ đầu chí cuối không một lần phát ra một lời oán than hay độc ác. Không hiểu bằng cách nào mà chuyện trâu nước nhẫn nhục này lại đến tai trời Đế Thích. Có một hôm, trong lúc con khỉ đang quấy phá trên lưng trâu nước, trời Đế Thích bỗng hiện ra trước mặt trâu thở d ài nói:- Trâu nước! Với sức mạnh của ngươi, ngươi chỉ búng một cái là con khỉ hung h ăng kia chết toi. Tại sao ngươi lại cứ nhẫn nhục chịu đựng cho nó bắt nạt đủ mọi bề như thế? Không lẽ ngươi không biết sức mạnh của chính ḿnh hay sao? Tại sao không dạy cho nó một bài học đích đáng?- Chính thế, tôi biết sức mạnh của của tôi có thể đập tan một con khỉ, nhưng tôi không muốn dùng sức mạnh ấy mà đối phó với một con vật nhỏ yếu. Giá như nó mạnh bằng tôi hay hơn tôi th́ tôi đ ă không nhẫn nhục với nó như thế.Trời Đế Thích lại khuyên trâu nước:- Ngươi nhẫn nhục như thế tuy rất cao thượng, nhưng ngươi lại sẽ bị cái bọn vô lại ấy ngược đăi hoài, không có ngày nào thoát được tay chúng.- Tôi đang tu thiện pháp, chỉ sợ không tu được, làm sao dám làm hại một con thú vật khác? Tôi muốn đem hạnh nhẫn nhục ấy mà đánh thức lương tâm của chúng nó. Mặc dù con khỉ này không hiểu được bài học không lời của tôi, nhưng khi nó bị người khác xử phạt đích đáng th ́ tự nhiên nó sẽ hối cải và hiểu ra.Trời Đế Thích nghe thế, rất lấy làm kính phục, lớn tiếng tán thán:- Trâu nước cao thượng kia! Thực hành nhẫn nhục với một nghị lực kiên cố chính là cái tâm của Bồ Tát dùng để hành đạo, chính loài người cũng phải tôn ngươi lên làm thầy. Nhẫn nhục được th́ không có tâm sân hận, mà không sinh tâm sân hận th́ giữ được trí tuệ, mà có trí huệ th́ không có ǵ là không làm được. Hạnh nhẫn nhục của ngươi đă làm cho Trời, người phải tôn kính.Nói xong trời Đế Thích thuận tay nắm cổ con khỉ trên lưng trâu, giận dữ mà mắng rằng:- Này con khỉ ngu si, quả báo đau khổ sẽ giáng xuống đầu mi, chưa chịu mau thông ra nữa hay sao?Nói xong trời Đế Thích rời trâu nước nhẫn nhục m à trở về thiên cung.Về sau trâu nước được hưởng hạnh phúc, và cuộc đời của con khỉ th́ vô cùng bi thảm!Dùng nhẫn nhục đối xử với người không có nghĩa là chịu thua họ, mà là chiến thắng họ một cách chân chính.Có một lần, lúc Đ ức Phật đang thuyết pháp tại thành Câu Thiểm Di, th́ trong chúng đệ tử nổi lên một vụ tranh chấp kịch liệt, không ai chịu nhường ai. Đức Phật bèn tập họp đại chúng lại, thuyết giáo như sau:- Các ông đừng tranh chấp, không thể dùng sự tranh chấp để giải quyết tranh chấp. Chỉ có nhẫn nhục mới làm cho sự tranh chấp ngừng lại được mà thôi. Ta mong các ông hăy tôn trọng công đức của nhẫn nhục. Ngày xưa nước Kiều Tát Di, vua tên là Trường Thọ, và nước Ba La Nại, vua tên là Phạm Dự, là hai nước láng giềng. Một hôm vua Phạm Dự dẫn đại binh qua xâm lấn nước Kiều Tát Di, vua Trường Thọ cũng lănh đạo một đội binh ra kháng cự. Cuối cùng vua Trường Thọ bắt sống được vua Phạm Dự, nhưng đă không những không giết mà c̣n đem phóng thích, v à nói:- Vận mệnh của ngài đang nằm trong tay tôi, tôi tha cho ngài, từ nay về sau xin ngài đừng dấy binh khởi chiến nữa.Ngay lúc ấy vua Phạm Dự hoan hỉ lạy tạ nhưng về nước ít lâu sau, ông lại khởi một đại binh trở lại báo th ù rửa hận. Vua Trường Thọ suy nghĩ như sau:- Ta tuy có thể đánh thắng y nhưng y sẽ không chịu thua tạ Ta lại đánh thắng y một lần nữa không có chi là khó, nhưng trong thâm tâm y sẽ không bao giờ chịu hàng phục, hơn nữa chiến tranh là một cái ǵ rất là tàn ác. Ta muốn thắng y, y cũng muốn thắng tạ Ta muốn hại y, y cũng sẽ muốn hại tạ Y muốn xâm lấn lănh thổ của ta khiến cho dân chúng của hai nước phải chịu nhiều khổ đau, thật là không đáng chút nào. Nếu y muốn đất nước của ta th́ ta sẽ nhường đất nước cho y, không cùng y giao chiến th́ trăm họ trong hai nước sẽ khỏi điều khổ đau chết chóc.Trường Thọ Vương suy nghĩ như thế xong, gọi đại thần đem việc nước giao cho vua Phạm Dự cai quản, c̣n ḿnh th́ đưa hoàng hậu và thái tử lên xe lánh đến một vương quốc khác ẩn thân. Vương quốc ấy không đâu khác hơn là chính đất nước của vua Phạm Dự. Vua Trường Thọ thay họ đổi tên, mặc thường phúc nghiên cứu học hỏi nghề nghiệp, đi khắp các đô thị lớn, hoà nhă hiền dịu, dùng lời ca điệu múa mang niềm vui cho dân chúng khắp nơi, v à gởi gắm thái tử cho người khác nuôi nấng.Vua Phạm Dự được t́nh báo cho biết là vua Trường Thọ đă thay họ đổi tên và trốn ngay trong thành của ḿnh, bèn lập tức hạ lệnh bắt về. Dân chúng thấy vua Trường Thọ bị bắt, ai nấy đều thương tâm khóc không ra tiếng.Thái tử, con của vua Trường Thọ tên là Trường Sinh Đồng Tử, được gởi nuôi ở một nơi khác, lớn lên thông minh lanh lợi, biết làm đủ mọi nghề, nghe tin vua cha bị bắt, b èn cải dạng làm một người tiều phu, kiếm cách lén lút gặp vua cha. Vua Trường Thọ thấy con trai của ḿnh, làm như không hề có chuyện chi xảy ra, bảo con rằng:- Nhẫn! Nhẫn! Đó mới là đạo hiếu! Đừng kết nhân quả oán thù, hành đại nguyện từ bi mới là điều quan trọng. Giữ trong tâm mầm mống của sự hung ác độc hại, kết thù gây oán là gieo trồng gốc rễ của ngàn năm tai họa, đó không phải là cách xử sự của đứa con hiếu thảo của tạ Con phải biết, tâm từ bi của chư Phật bao dung cả trời đất, các Ngài coi kẻ oán người thân b́nh đẳng như nhau. Ta t́m đạo chân thật, xả thân để cứu người mà c̣n sợ không làm tṛn đạo hiếu, nay nếu con v́ ta mà báo thù kết oán, là con đi ngược lại đường lối của ta rồi! Dầu ǵ đi nữa ta cũng không thể cho phép con giữ ư định ấy. Con phải nhớ lời ta dặn, con phải là đứa con hiếu thảo của ta.Trường Sinh Đồng Tử biết tâm ư của vua cha, nhưng không đành ḷng ngồi nh́n cha bị giết oan nên trốn vào một khu rừng sâu lánh nạn. Tất cả những thân sĩ hào tộc trong nước Ba La Nại đều thương t́nh vua Trường Thọ và đều hy vọng ông vua vô tội này sẽ được thả ra. Nhưng vua Phạm Dự biết cảm t́nh của mọi người đối với vua Trường Thọ th́ rất lấy làm lo sợ, ông nghĩ trừ họa th́ phải trừ tận gốc, nên hạ lệnh chém đầu vua Trường Thọ. Khi Trường Sinh Đồng Tử biết vua cha đă bị giết, nửa đ êm lén vào thành cướp tử thi, dùng gỗ thơm tẩm liệm và chí thành khẩn thiết cầu siêu cho cha.Vua Phạm Dự biết vua Trường Thọ có một người con trai tên là Trường Sinh Đồng Tử, ông hết sức lo sợ sẽ có ngày vị thái tử này đến báo thù cho cha nên ăn ngủ không yên, bèn ra lệnh truy nă Trường Sinh Đồng Tử một cách gắt gao.Trường Sinh Đồng Tử thay họ đổi tên, về thành Ca Thi sống, trở nên một tay nhạc sĩ lừng danh, rất được ái mộ trong giới danh gia quư tộc. Một hôm vua Phạm Dự được nghe nhạc của chàng rất lấy làm thích thú, bèn truyền lệnh cho chàng về cung làm người hầu cận gần gũi nhất, vua tín dụng chàng đến nỗi giao cả bảo đao hộ thân cho ch àng cầm giữ.Có một hôm vua Phạm Dự lên núi s ăn bắn, lạc mất đường về và mất luôn cả liên lạc với đoàn tùy tùng, bên thân ông chỉ c̣n Trường Sinh Đồng Tử. Vua t́m đường về, t́m thật lâu mà vẫn không ra, ông mệt mỏi gối đầu lên đùi của Trường Sinh Đồng Tử nhắm mắt nghỉ ngơi.Ngay lúc ấy, Trường Sinh Đồng Tử nghĩ thầm: - Tên vua ác độc này là một tên hôn quân vô đạo, hắn đă giết người cha vô tội của ta, chiếm đoạt lănh thổ của cha tạ Hiện giờ sinh mệnh của hắn đang nằm trong tay ta, đúng là một cơ hội trời cho, đây thật là cái dịp ngàn năm một thuở cho ta báo th ù rửa hận.Nghĩ đến đây, Trường Sinh Đồng Tử rút dao ra tính giết vua Phạm Dự, nhưng cũng đúng sát na ấy, chàng nhớ lại lời dặn ḍ sau cùng của phụ vương, bèn đút dao vào vỏ trở lại. Vừa lúc ấy vua Phạm Dự hoảng hốt giật ḿnh tỉnh giấc, nói với Trường Sinh Đồng Tử rằng:- Ôi chao! Thật là dễ sợ! Thật là dễ sợ! Ta vừa mộng thấy Trường Sinh Đồng Tử đến đây báo thù, cầm dao cắt đầu ta. Trường Sinh Đồng Tử nghe vua nói thế, chậm r ăi trả lời rằng:- Xin đại vương đừng lo sợ ǵ cả. Trường Sinh Đồng Tử chính là thần đây. Thú thật với đại vương, trong lúc đại vương đang ngủ, thần quả có ư định báo thù, nhưng chợt nhớ lại di huấn của cha nên thần lại đút dao vào vỏ trở lại.- Di huấn của cha ngươi như thế nào? Vua Phạm Dự hấp tấp hỏi. Trường Sinh Đồng Tử lập lại di huấn của cha "Nhẫn! Nhẫn! Đó mới là đạo hiếu! Đừng gieo nhân quả oán thù, tâm độc hại chính là gốc rễ của vạn năm tai họa".Vua Phạm Dự tỏ vẻ không hiểu ư câu nói ấy, hỏi lại Trường Sinh Đồng Tử: - Ta hiểu nghĩa chữ "nhẫn! nhẫn!" nhưng "tâm độc hại chính là gốc rễ của vạn năm tai họa" có nghĩa l à ǵ?- Thần giết đại vương, Trường Sinh Đồng Tử đáp, th́ bầy tôi của đại vương tất nhiên sẽ muốn giết thần. Rồi bầy tôi của thần cũng nhất định muốn giết bầy tôi của đại vương. T́nh trạng giết qua giết lại này sẽ luân chuyển vĩnh viễn không bao giờ ngừng. C̣n nếu thần tha cho đại vương, đại vương tha cho thần, chỉ có nhẫn mới trừ được căn nguyên của tai họa.Vua Phạm Dự nghe thế hết sức cảm động, hối hận lẩm bẩm tự nói một ḿnh:- Ta đă giết hại một vị thánh, tội của ta thật đáng chết!Ngay giờ phút đó, ông thành tâm muốn nhường toàn thể đất nước cho Trường Sinh Đồng Tử nhưng Trường Sinh Đồng Tử nói một cách khi êm tốn và trang trọng:- Đất nước của đại vương là sở hữu của đại vương, chỉ mong đại vương trả lại cho thần lănh thổ của vua cha là đủ!Vua Phạm Dự và Trường Sinh Đồng Tử cùng t́m đường trở về thành. Trên đường về, họ gặp rất nhiều vị đại thần của vua Phạm Dự. Vua Phạm Dự muốn thử l ̣ng họ, bèn hỏi:- Này các khanh, ta muốn hỏi các khanh một điều: giả sử các khanh gặp Trường Sinh Đồng Tử th́ các khanh sẽ đối phó với y ra sao?Các vị đại thần muôn người như một trả lời: - Chặt tay hắn! - Chém đầu hắn!- Giết hắn chết! Vua Phạm Dự chỉ Trường Sinh Đồng Tử nói:- Đây chính là Trường Sinh Đồng Tử. Các vị đại thần kinh hăi, họ nhất loạt rút kiếm giương cung, sửa soạn giết Trường Sinh Đồng Tử. - Không được động thủ! Vua Phạm Dự ngăn lại, rồi kể câu chuyện Trường Sinh Đồng Tử lấy đức báo oán cho các vị đại thần nghe khiến các vị này vô cùng cảm động. Vua Phạm Dự c̣n dặn ḍ là sau này, bất kỳ người nào đi nữa cũng không được có ác ư với Trường Sinh Đồng Tử. Các vị đại thần nghe thế rất khâm phục ng ài.Trở về cung rồi, vua Phạm Dự mời Trường Sinh Đồng Tử tắm bằng nước thơm, lấy y phục vương giả khoác lên người chàng, nhường cung điện cho chàng, mời chàng lên ngồi lên giường vàng của ḿnh và c̣n đem công chúa gả cho chàng nữa. Sau đó, vua phái rất nhiều quân lính, ngựa voi hộ tống chàng về nước.Chư Tỳ Kheo! Các ông nghe chuyện này rồi, không biết cảm tưởng của các ông ra sao? Vua Trường Thọ của nước Kiều Tát Di thực hành nhẫn nhục, với tâm đại từ đại bi đầy đủ thí ân huệ cho người thù của ḿnh, là một tấm gương sáng, các ông nên cố gắng noi theo. Các ông là những người có ḷng tin chân thành, rời bỏ quê nhà, cắt đứt ân ái gia đ́nh, chưa nghiên cứu sâu chân lư của vũ trụ và cầu chứng thực tướng của nhân sinh, th́ phải thực hành nhẫn nhục, tán thán nhẫn nhục, thực hành đại bi, tán thán đại bi, đem ân huệ bố thí cho tất cả chúng sinh, thực tướng trong vũ trụ đồng một thể, không nên có những tranh chấp giữa "ta" và "người".Thiện La Ni Tân nghe nói Đ ức Phật đang thuyết pháp tại Kỳ Viên Tinh xá. Ngày hôm ấy, ông thành tâm cung kính một ḿnh đến vườn Kỳ Viên mong được Đức Phật khai thị. Nhưng ông không vào thẳng trong tinh xá trang nghiêm hùng vĩ mà chỉ đứng lảng vảng ngoài khóm rừng cây do dự, từ xa nh́n vào toà Kỳ Viên tĩnh lặng u mỹ mà trong ḷng vô cùng hâm mộ.Lâu lâu ông ngóng về phía tinh xá, lẩm bẩm tự bảo: - Thế nào Đ ức Phật cũng sẽ bước ra!Từ hơn mười năm qua ông cứ măi t́m cách thoát khỏi sự đau khổ của đời người nhưng không sao t́m ra được giải pháp, và bị kẹt vào một sự mâu thuẫn khiến cho ông cứ khổ sở không một phút giây nào yên tịnh. Trong quá khứ, hễ có chuyện ǵ không vui là ông chạy đi coi bói, cầu thần linh, nhưng sau bao nhiêu năm, những v́ thần linh mà ông vẫn cung phụng đó, không vị nào thỏa măn được điều ông mong cầu. Từ từ ông sinh tâm hoài nghi: "Thần linh có giải trừ được sự đau khổ của kiếp con người, và có đem lại được hạnh phúc cho nhân thế hay không?" Thế là ông rơi vào hố sâu của sự mâu thuẫn, không thể nào thoát ra được. V́ thế ông sinh đủ thứ bệnh, tinh thần th́ đa sầu đa cảm, thân thể th ́ héo úa, bất an.Trong lúc ông đang ch́m đắm trong những suy tư ấy th́ từ bên ngoài có một vị tỳ kheo trở về tinh xá. Thiện La Ni Tân thấy vị tỳ kheo trang nghiêm, thái độ uy nghi trầm tĩnh, không cầm ḷng được bèn bước đến trước vị ấy cung kính hỏi :- Ngài có phải là một đạo sư B à la môn không?- Không, tôi là một tỳ kheo, đệ tử của Đức Phật.Thiện La Ni Tân giương to cặp mặt kinh ngạc, tỳ kheo là ǵ? Đệ tử của Đức Phật có nghĩa là sao? Ông chưa từng nghe qua những điều ấy, và mập mờ phỏng đoán rằng: - Ngài là một vị thánh đang t́m cầu chân lư của nhân sinh chăng? - Không những tôi đang t́m cầu chân lư của nhân sinh, mà c̣n là một người xuất gia đang t́m cầu giải thoát sự đau khổ của ngay cuộc đời n ày nữa!- Vậy th́ ngài có thể nói cho tôi biết làm cách nào để giải thoát sự đau khổ của đời người?- Hăy dựa vào sự cố gắng của chính ḿnh! Vị tỳ kheo trả lời một cách giản dị nhưng rất khẳng định.Như sấm sét bùng nổ giữa bầu trời quang đăng, Thiện La Ni Tân vừa nghe được tiếng chuông chân lư, đánh đổ quan niệm của ông vẫn cho rằng tất cả con người chỉ có thể nương vào lực cứu độ của thần linh mới thoát được mọi khổ đau m à thôi. Ông bàng hoàng khâm phục hỏi tiếp:- Dùng lực của chính ḿnh để tự giải trừ khổ đau, phải chăng đó là kiến giải thù thắng mà ngài tự ḿnh đặc biệt khám phá ra?- Đó là lời thầy tôi dạy, tôi chỉ nhắc lại lời của thầy tôi cho ông nghe, riêng phần tôi th́ không có kiến giải thù thắng đặc biệt n ào của riêng ḿnh.- Thầy của ngài! Thầy của ngài là ai? - Thầy tôi là bậc đă hoàn toàn giác ngộ chân lư của nhân sinh và vũ trụ, thầy tôi chính là Đức Phật!- A! Tôi nghe nói có một vị gọi là Phật, hôm nay tôi đến đây cũng chính là để t ́m gặp vị ấy.Thiện La Ni Tân nói như chợt nhớ ra tại sao ḿnh đang có mặt ở chỗ ấy.- Thế à, thế th́ ông đă gặp Đức Phật chưa? - Chưa, tôi chưa gặp Ngài. Tuy nhiên tôi thường nghe người ta tán tụng Đức Phật, phẩm cách cao quư và tinh thần cứu thế cao cả, nên tôi ngưỡng mộ đ ă Ngài từ lâu.- Ông tới đây là v́ muốn bái kiến đức Phật phải không?- Đúng vậy. Tôi muốn bái kiến Đức Phật, nhưng tôi là một người quá đỗi tầm thường, liệu Đức Phật có bằng l ̣ng cho tôi gặp mặt hay không?- Xin ông đừng do dự nữa, trong tâm từ bi quảng đại của Đức Phật, không có sự phân biệt sang hèn. Ngài thường hộ niệm tất cả chúng sinh một cách b́nh đẳng cho nên dĩ nhiên sẽ vui ḷng cho ông gặp.Thiện La Ni Tân nghe thế bèn đi theo sau vị tỳ kheo ấy tiến vào bên trong tinh xá để bái kiến Đức Phật. Lúc ấy Đức Phật đang trụ trong thiền định, Ngài mở mắt ra dùng từ nhăn nh́n Thiện La Ni Tân mà nói:- Thiện La Ni Tân! Ông đến thật đúng lúc. Ông có vấn đề chi cứ việc hỏi ta!Thiện La Ni Tân không ngờ Đức Phật lại ưu ái ḿnh như vậy, ông vội gieo năm vóc xuống đất đảnh lễ và nh́n lên khuôn mặt trang nghiêm từ ái của Đức Phật, nói: - Bạch Thế Tôn! Thân con nay đă hư hoại hết rồi! Cũng v́ cái thân gầy ṃn suy nhược và bệnh hoạn này mà con kinh nghiệm được cái khổ nạn của sinh lăo bệnh tử, và biết rơ rằng thân thể là căn nguyên của mọi sự đau khổ. V́ lư do đó mà con đă tin tưởng những ǵ Bà la môn ngoại đạo nói, và cầu xin sự gia bị của thần linh. Nhưng nghèo vẫn hoàn nghèo và bệnh vẫn hoàn bệnh, nên từ từ con bắt đầu nghi ngờ thần linh. Thế Tôn! Trong tâm con hiện nay đầy dẫy những mâu thuẫn, nên con xin thỉnh ư Ngài. Con nên hay không nên đặt hết niềm tin v ào thần linh?Đức Phật yên lặng nghe Thiện La Ni Tân nói hết rồi mới đưa tay chỉ một ngôi làng cách khu Kỳ Viên không xa lắm, nhẹ nhàng hỏi: - Thiện La Ni Tân! Ông hăy nh́n những người nông phu trong ngôi làng kia! Giả sử vào mùa xuân, khi vạn vật đang sinh trưởng, họ không lo khổ công cày ruộng gieo giống mà ngày ngày chỉ ngồi trước mặt thần linh cầu nguyện để có một mùa gặt phong phú vào mùa thu, th́ ông nghĩ sao, nếu tự họ không cầy bừa gieo hạt, thần linh có sẽ làm cho họ được mùa hay không?- Thưa không, bạch Thế Tôn! Nếu không cầy bừa gieo giống th́ có cầu nguyện mấy đi nữa, đứng trước một băi đất hoang cũng không thu hoạch được ǵ cả.- Thiện La Ni Tân, ông trả lời rất đúng. Th́ cũng thế thôi, có nhiều người không làm việc theo chính nghiệp, không chịu vận động, thân thể ngày càng suy yếu, gia cảnh ngày càng nghèo khó, giống như một thuở ruộng không được cày bừa ngày càng hoang phế, chắc chắn không phải nhờ cầu thần linh mà thân thể khoẻ mạnh, gia cảnh khá giả, và đến mùa thu th́ lại được một mùa gặt phong phú đâu!Thiện La Ni Tân im lặng gật đầu, ông cảm thấy trong ḷng từ từ trở nên thư thái, nhẹ nhàng. Đức Phật tiếp tục hỏi: - Thiện La Ni Tân! Nếu có một người nông phu, đang lúc mùa xuân vạn vật xinh tươi, khổ công cầy bừa gieo hạt, nhưng lại không cầu xin ân huệ ǵ của thần linh, th́ ông nghĩ xem, có phải do v́ người ấy không cầu xin thần linh mà không gặt hái được g ́ trong ruộng của ḿnh không- Thưa không, bạch Thế Tôn! Chỉ cần cầy bừa gieo hạt trong ruộng th́ tuy không cầu xin thần linh, đến mùa thu vẫn được mùa như thường!- Thiện La Ni Tân! Th́ cũng y như thế, nếu trong đời sống hằng ngày của chúng ta, chúng ta chịu cần kiệm, chịu vận động, th́ tự nhiên thân thể sẽ khoẻ mạnh, gia đ́nh sẽ giàu có, y hệt như việc gieo hạt trong ruộng đất kia vậy.Cho nên Bà la môn ngoại đạo cầu thần linh không phải là một phương pháp để giải thoát sự đau khổ của đời người, chỉ có từ sự hoạt động b́nh thường của thân tâm mà tinh tiến làm việc thiện, ngưng bặt làm chuyện ác, khiến thân tâm thanh tịnh, chúng ta mới giải thoát được sự đau khổ và bước vào đất thánh tịnh lạc được! Thiện La Ni Tân nghe diệu pháp của Đức Phật như được uống thuốc thánh để trị bệnh, căn bệnh mâu thuẫn trong tâm ông được chữa lành trong khoảnh khắc, ông cảm thấy chưa bao giờ hoan hỉ như thế. Ông chí thành đảnh lễ Đức Phật để cảm tạ, và c̣n quy y Đức Phật nữa !
98- Vợ chồng ông Cấp Cô Độc Trưởng giả Tu Đạt Đa là một nhà từ thiện, thích làm chuyện phước đức, thích bố thí. Ông thường cứu giúp người nghèo khó, hay đem cơm gạo, quần áo bố thí cho họ. Trong toàn khu vực thành Xá Vệ, không phân biệt nam hay nữ, già hay trẻ, cứ hễ nghèo khổ, không nơi nương tựa, một khi kêu gọi đến ông là ông vui vẻ giúp đỡ ngaỵ V́ thế mọi người đều đặt tên ông là "trưởng giả Cấp Cô Độc".Một hôm, trưởng giả Tu Đạt đến nhà ông trưởng giả Thủ La ở Vương Xá Thành để bàn bạc việc hôn nhân cho con trai út, th́ ngẫu nhiên được diện kiến với Đức Phật và được nghe pháp âm của Ngài. Ông quá đỗi vui mừng, liền phát tâm ngay tại chỗ xây một tinh xá để thỉnh Đức Phật và chư tỳ kheo đến Xá Vệ Thành giáo hóa chúng sinh ở đấy. Đức Phật hoan hỉ nhận lời, khi nào tinh xá xây dựng xong th́ Ngài sẽ đến. Trưởng giả Tu Đạt quay về Xá Vệ Thành, lập tức đi nh́n xem để t́m một địa điểm thích hợp. Ông đi t́m hỏi khắp mọi nơi, trong số các nơi ấy có vườn cây của thái tử Kỳ Đà, vô cùng rộng răi, có sông có nước, có đồi có núi, có hoa thơm cỏ lạ cảnh đẹp như tranh, thật l à một khung cảnh thanh tịnh, u mỹ.Nếu dùng chỗ này để xây dựng tinh xá, để cúng dường Đức Phật về đấy thuyết Pháp, và chư Tỳ kheo về đấy an trú th́ không có chỗ nào tốt đẹp hơn. Nhưng đây là khu vườn mà thái tử Kỳ Đà yêu thích nhất, trưởng giả Tu Đạt không biết phải làm cách nào để thái tử chịu nhường khu vườn cây này cho ông. Ông suy nghĩ nát óc và tuy biết là sẽ rất khó khăn nhưng không có cách nào hơn là đi t́m gặp thẳng thái tử Kỳ Đà để xin thái tử vui ḷng bán lại khu vườn cho ḿnh.Nói sao th́ nói, thái tử Kỳ Đà cũng không chấp thuận. Khi nghe trưởng giả Tu Đạt nài nỉ tới lần thứ ba, thái tử cảm thấy khó mà cự tuyệt măi một người danh tiếng lừng lẫy toàn quốc như ông trưởng giả này, bèn nghĩ kế đ̣i một số tiền rất lớn, khiến trưởng giả không thể nào mùa nổi. Nghĩ thế rồi, thái tử bèn nói:- Tôi thật sự không muốn nhường khu vườn này cho ông, nhưng thấy ông cứ nài nỉ măi như thế, thôi th́ thế này. Tôi bằng ḷng bán đất với điều kiện như sau : ông hăy lấy vàng trải đầy khắp mặt đất của khu vườn, số lượng vàng ấy sẽ là giá tiền ông phải trả cho tôi. Ông có khả năng làm được việc này th́ tôi nhường đất cho ông.Có ngờ đâu thái tử vừa đưa ra giá tiền xong, trưởng giả Tu Đạt vui mừng khôn xiết, lập tức trở về gọi người nhà đem hết xe này đến xe khác chở vàng đến trải đầy khắp mặt đất. Thái tử Kỳ Đà ban đầu tưởng bắt bí được trưởng giả Tu Đạt khiến ông này không mua nổi đất, bây giờ thấy tận mặt sự việc như thế, không khỏi lấy làm cảm động, nên đến hỏi trưởng giả Tu Đạt rằng: - Đất th́ coi là của ông rồi đó, nhưng cây cỏ hoa lá trong vườn th́ tôi chưa hề bán cho ông. Đức Phật là người như thế nào mà ông lại đối với ngài ta nhiệt tâm đến thế? Thôi th́ bây giờ, ông bằng ḷng cho tôi cúng dường mấy gốc cây trong vườn cho Đức Phật không? Trưởng giả Tu Đạt nghe thái tử Kỳ Đạt hỏi như thế bèn nói rơ tường tận sự tôn quư của Đức Phật cho thái tử nghe. Cả hai đều vô cùng cảm động, hết sức hân hoan v à yên tâm.Tinh xá xây xong, trưởng giả Tu Đạt lập tức nghênh thỉnh Đức Phật và chư tăng về. Bởi v́ tinh xá là do trưởng giả Cấp Cô Độc cúng vườn và thái tử Kỳ Đà cúng các gốc cây nên Đức Phật lấy tên hai người này mà đặt tên cho tinh xá, tức là "Kỳ thọ Cấp Cô Độc viên".Trưởng giả Tu Đạt vốn thích bố thí, ham làm việc thiện, lại thêm chuyện xây tinh xá khiến ông đă phải xuất vốn quá nhiều, nên ông khánh kiệt cả gia sản, tay trắng không c̣n một đồng một chữ hộ thân, đến mức sắp chết đói. Ông nhặt được trong đống rác một khúc gỗ, đây là gỗ chiên đàn vốn là một thứ gỗ vô giá, nhưng v́ không được sạch sẽ nên khi ông đem đi bán, rất ít người muốn muạ Cuối cùng có người miễn cưỡng đổi với 4 thưng gạo trắng.Trưởng giả Tu Đạt phu nhân đong một thưng gạo đem đi nấu, th́ ngay khi ấy có tôn giả Xá Lợi Phất đứng ngay trước cửa, ôm b́nh bát khất thực. Phu nhân vô cùng hoan hỉ, bà đem thưng gạo đă nấu thành cơm ấy mà cúng dường hết cho ngài Xá Lợi Phất . Sau đó bà đong một thưng gạo khác đem đi nấu, cơm vừa chín th́ có ngài Mục Kiền Liên đến khất thực. Bà cũng lại đem cơm mới nấu ra cúng dường cho ngài Mục Kiền Liên. Lần thứ ba nấu cơm, bà cúng dường cho ngài Ca Diếp. C̣n thưng gạo cuối cùng, vừa chín tới th́ Đức Phật đến. Bà nghĩ "Ḿnh chỉ c̣n một thưng gạo mới nấu chín th́ Thế Tôn lại đến, có phải chăng là quả báo xấu đă đến kỳ chấm dứt, quả báo tốt đă đến lúc sắp trổ rồi chăng?" Nghĩ thế xong, có bao nhiêu cơm trong nồi, bà cúng dường trọn lên cho Đức Phật. Đức Phật thấy vợ chồng trưởng giả Tu Đạt có ḷng như thế, nên từ kim khẩu chúc nguyện rằng: - Tội diệt phúc sinh, từ nay trở đi, phúc đức vô tận, không c̣n khốn khó.Chỉ trong ṿng một sát na, gia nhân chạy đến báo tin mừng: "Vàng bạc, tiền tài, châu báu trong nhà, cơm gạo, lụa là vải vóc trong kho không biết làm sao mà chất đầy như núi, so với lúc trước th́ bây giờ nhà ta giàu có hơn nhiều!"Trong tâm, trưởng giả Tu Đạt biết rơ đây là do Đức Phật thương xót mà ban cho, nên vội lập đàn thật lớn để cúng dường Đức Phật và chư tăng, thỉnh Thế Tôn thuyết pháp cho mọi người được nhiều pháp lạc.Đem của cải ḿnh có ra bố thí cho người, thấy th́ như mất đi nhưng như hạt giống vùi trong ḷng đất, sớm muộn ǵ cũng sẽ có ngày hái được quả ngọt.
Ngày xưa có một ông vua rất cưng ch́u con gái của ḿnh, cứ quấn quít lấy con chưa từng rời xa. Khi công chúa muốn điều chi, vua luôn luôn t́m cách để ch́u ḷng cô.Một hôm, trời mới mưa xong một trận mưa lớn, vườn hoa ngự uyển khoác một lớp áo mới mẻ, tươi mát, công chúa tản bộ đến bên hồ nước giữa vườn, ngắm nh́n mặt nước trong vắt.Đột nhiên cô nh́n thấy trên mặt nước bắn lên rất nhiều bọt bong bóng lóng la lóng lánh như trân châu, thật là đẹp mắt. Công chúa thích quá, bỗng khởi lên một ư tưởng hăo huyền, xoay qua nói với vua cha rằng: - Phụ vương! Cha hăy nh́n mặt nước hồ của vườn hoa nhà ḿnh, mấy cái bọt bong bóng đẹp quá là đẹp! Con nghĩ ḿnh phải vớt lên để kết thành ṿng châu cài tóc cho con trang sức, cha thấy có được không?- Được chứ! Được chứ! Con gái cưng của cha muốn ǵ mà lại không được? Nói xong, nhà vua bỗng sa sầm mặt xuống: - Nhưng bọt bong bóng trên mặt nước là một vật hư huyễn không thật, không cầm nắm được, làm sao mà vớt lên làm ṿng châu được- Nhưng con muốn! Con muốn là phải được! Công chúa nũng nịu nói. - Con gái cưng! Con ngốc vừa thôi chứ! Công chúa không bằng ḷng, giận dỗi trả lời: - Cái ǵ mà ngốc? Trên mặt nước bong bóng rành rành ra đó, làm sao không vớt lên được chứ?- Nhưng chúng sinh diệt trong một sát na, không tồn tại quá một sát na, làm sao vớt được? Nhà vua dùng lời ngọt ngào giải thích. - Con không tin! Không cho con ṿng châu bằng bóng nước, con không muốn sống nữa! Công chúa được cưng ch́u từ bé, muốn ḿnh đ̣i ǵ là phải được ngay cái ấy. Vua cha nghe vậy th́ lo sợ, lập tức triệu tập những tay thợ vàng khéo nhất vương quốc phán rằng:- Các ông xưa nay vốn được xưng là những tay thợ tuyệt khéo, không có ǵ là không biết. Nay ta có việc này muốn nhờ các ông.- Đại vương có ǵ dạy bảo, chúng thần đương nhiên sẽ tuân theo!Các vị thợ vàng đứng thẳng người đợi lệnh.- Các ông hăy lập tức vớt lấy bóng nước trong hồ, kết thành ṿng châu cho con gái ta. Các vị thợ vàng nghe thế th́ kinh hoàng thất sắc, tất cả đồng tâu rằng:- Dẫu chúng thần có tài khéo tới đâu đi nữa cũng không có cách ǵ vớt bóng nước làm ṿng châu được! Nhà vua lớn tiếng hạ lệnh: - Nếu các ông không làm được, ta sẽ chém đầu các ông!Các vị thợ vàng nghe vậy ai cũng run sợ, líu lưỡi, giương tṛn đôi mắt ra nh́n nhau. Vua nổi trận lôi đ ́nh, ai mà không sợ? Trong số có một lăo thợ già nghĩ ra một kế, tiến lên tâu vua rằng:- Hạ thần có cách. - Tốt quá! Ông làm thử xem, ta sẽ thưởng công cho ông hậu hĩ! Nhà vua vô cùng măn nguyện, xoay lại nói với con gái rằng: - Con có thấy ta thương con không? Ta đă không chút nề hà, t́m ra được cho con một người biết vớt bong bóng nước để kết thành ṿng châu cho con cài tóc rồi đó!- Đa tạ phụ vương! Con cũng muốn đi xem. - Th́ con hăy đi theo ông thợ m à xem.Được phụ vương cho phép, công chúa hân hoan đi theo ông thợ già ra bên bờ hồ, cô muốn nh́n tận mắt ông thợ sẽ làm cách nào. Đến ven hồ, ông thợ già cung kính, thành khẩn nói với công chúa rằng: - Công nương! Tôi già nua, mắt đă mờ không thấy đường, từ trước đến nay cũng không biết bóng nước nào đẹp, bóng nước nào xấu. Xin công nương hoan hỉ tự tay chọn lựa, để tôi kết thành ṿng châu cho công nương, được không?- Được! Để tôi đi chọn! Công chúa vua vẻ nói, cuộn tay áo lại, nhúng tay vào nước mở ḷng bàn tay ra để vớt lấy bong bóng, nhưng tay vừa nhúng xuống nước th́ bong bóng đă vỡ, cô làm cách nào cũng không có kết quả. Cần cù thật lâu chẳng vớt được một bong bóng n ào, cô mệt mỏi chán nản, bèn bỏ ư muốn vớt bóng nước làm ṿng châu, quay trở về cung.Lúc ấy công chúa dường như thức tỉnh, nói với vua cha: - Bọt nước sinh diệt vô thường, là cái thứ mà ta không giữ lâu được, con không muốn một ṿng châu như thế nữa.Nhà vua nghe thế vui mừng mỉm cười hỏi: - Thế th́ con muốn một ṿng châu như thế nào? - Con muốn một ṿng châu bàng ngọc tím để cài lên tóc, ngày đêm ǵ cũng không khô héo tàn tạ, như thế tốt hơn nhiều!- Đúng! Đó mới là một vật chân thật, không hư huyễn, ta nhất định sẽ tặng cho con!Công chúa rất vui ḷng, lễ phụ vương mà lui đi. Đức Phật đă nói: "Đời người mong manh, thế gian vô thường, của cải như bọt nước, sinh diệt trong sát na, không giữ lâu được, không thể nương tựa được!"
Lúc Đ ức Phật thuyết pháp ở thành Tỳ Gia Lê, có một người tên là Ca La Việt, được nh́n thấy tôn nhan của Thế Tôn hân hoan vô hạn, bèn thỉnh đức Phật đến nhà cho ḿnh có dịp thành tâm cúng dường. Khi Đức Phật đến và từ bi chú nguyện cho ông, Ca La Việt trân trọng đứng lên cung thỉnh Thế Tôn thuyết giảng ư nghĩa chân thật của Phật Pháp. Đức Phật mỉm cười, từ miệng Ngài phóng ra một luồng ánh sáng năm mầu rực rỡ, luồng ánh sáng này lập tức nhiễu quanh Ngài ba ṿng rồi mới ẩn vào đỉnh đầu của Ngài mà biến mất.Ngài A Nan thấy thế, vội sửa y phục đến trước mặt Đức Phật mà bạch rằng:- Thế Tôn! Phật không khi nào cười mà không có nguyên do. Hôm nay Thế Tôn cười, chắc là có điều ǵ muốn khai thị cho chúng con. Chúng con vô cùng ngưỡng mong được nghe Thế Tôn từ bi thuyết pháp.Đức Phật lại cười mà đáp: - Được rồi, A Nan! Ta biết ông lúc nào cũng vô cùng ngưỡng mong v́ chúng sinh mà vạch một con đường đưa đến giải thoát, cho nên bây giờ ta sẽ v́ ông mà thuyết giảng.Cách đây rất lâu, tại một vương quốc nọ, có 500 người lái buôn chuyên đi đào quật các mỏ vàng ngọc châu báu. Có một hôm, họ vào biển sâu t́m kho tàng. T́m được kho tàng rồi, trên đường về, họ sợ gặp sóng dữ nguy hiểm nên mới bỏ thuyền mà đi trên đất liền. Ngày hôm ấy họ băng qua một ngọn núi cao, khi mặt trời đă ngả về Tây, mọi người nằm ngay xuống đất mà ngủ, hẹn nhau rằng hôm sau khi trời vừa hừng sáng th́ phải lập tức lên đường.Quả nhiên, sáng sớm ngày hôm sau, 499 người thức dậy đúng giờ chuẩn bị hành trang xong xuôi là khởi hành ngay, chỉ có một người không ai nh́n thấy mà đánh thức nên c̣n nằm ngủ say ở đó. Khi người này mở mắt tỉnh giấc th́ đă lạc mất đồng bạn, cuống cuồng chạy ra đường núi những tưởng bắt kịp lại được đoàn người kia, nhưng đă muộn mất rồi! Người này chạy tới chạy lui, nhưng chạy đường nào đi nữa cũng không ra khỏi được dẫy núi quanh co hiểm trở. Đúng ngay lúc ấy, gió bắc bỗng nổi dậy rít lên giận dữ, trong chớp nhoáng một trận cuồng phong thổi tới làm cho cát đá bay loạn xạ, từng tảng băng tuyết ào ạt rơi xuống, con đường núi trước mặt phút chốc đă bị băng tuyết phủ kín, không trông thấy đâu nữa. Con đường về nay đă không c̣n, người lái buôn này tuyệt vọng ôm mặt khóc ṛng, nước mắt lả chả.Trong những dẫy núi quanh co đó, có một cây chiên đàn hương, hấp thụ tinh hoa của trời đất từ lâu đời nên có được tánh linh và biến thành một vị thần cây. Thần cây biết được nỗi thống khổ của người lái buôn lạc đường nên phát tâm cứu giúp, đến trước người này mà nói rằng:- Ông có thể tạm thời đến chỗ của ta mà ở, chuyện ăn uống, quần áo đă có ta lo liệu, chờ tới mùa xuân năm sau, băng tuyết tan rồi th́ sẽ t́m ra đường về, lúc đó hẵn tính.Người lái buôn này đă đến bước đường cùng, nghe thế mừng rỡ vô cùng, từ đó bèn trú ngụ dưới gốc cây chiên đ àn này.Thời gian qua như tên bay, chẳng mấy chốc mùa xuân đă đến, băng tuyết đă tan, đường về đă hiện ra trước mắt, người lái buôn lạc đường mới nói với thần cây:- Khi tôi cùng đường mạt lộ, hân hạnh được ngài cứu vớt mới sống sót được tới ngày hôm nay, chỉ hận là trong người không có vật ǵ để báo đáp ơn ngài. Bây giờ tôi c̣n chút cha già phải về phụng dưỡng, xin ngài vui ḷng đưa đường chỉ lối cho tôi về. - Được, thần cây cười nói và đưa cho người này một cái bánh bằng vàng, ông cứ đi thẳng trước mặt th́ sẽ đến một ngôi thành nhỏ, cứ ven theo ngôi thành ấy th́ sẽ t́m được đường về nh à.Nghe xong, người lái buôn lạc đường mới cáo biệt thần cây:- Gốc cây này mùi hương ngào ngạt thanh khiết không ǵ sánh bằng, trên thế gian chắc chắn không có một gốc cây thứ hai như thế. Hôm nay tôi từ biệt ngài mà về chốn xa xôi, có lẽ suốt đời tôi sẽ không được gặp lại ng ài nữa, chỉ ao ước ngài vui ḷng cho tôi biết tên.Thần cây trả lời : - Ông hăy đi về đi, t́m biết tên ta mà làm ǵ.Người lái buôn nói: - Tôi rất là xấu hổ, lúc cùng đường gặp ngài nên được sống sót, tính lại hơn một trăm ngày đă trôi qua mà chưa báo đáp được mảy may nào công ơn to lớn của ngài, thật ra tôi không làm ǵ khác được là xin được biết quư danh để khi về tới nhà, tôi có thể kể cho người nhà biết đến công đức của ngài.Thần cây thấy người lái buôn có vẻ thành thật, không nỡ từ chối hảo ư của người này nên thẳng thắn nói tên ḿnh là Chiên Đàn, nhưng dặn đi dặn lại mấy lượt:- Rễ nhánh của ta tuy có thể trị được tất cả các loại bệnh của thế gian, mùi hương của ta bay ngát bốn phương trời, ở xa cũng có thể ngửi thấy, có thể nói là trên đời có một không hai. Nhưng nếu mọi người biết được sự hiện diện của ta, ḷng tham không đáy của họ sẽ khiến họ đến đốn ta mất. V ́ thế, ta hy vọng ông sẽ không nói với ai chỗ ta ở.Người lái buôn cám ơn thần cây rồi, đi theo lộ tŕnh thần cây chỉ dẫn, quả nhiên về được tới nhà của ḿnh. Sau đó ông sống những chuỗi ngày an vui hạnh phúc bên cạnh cha mẹ và vô số bạn bè thân thích.Sau đó không lâu, nhà vua bỗng mắc bệnh đau đầu, uống thang thuốc nào đi nữa cũng vô hiệu, sau gặp một vị thầy thuốc có danh tiếng nói cho biết rằng chỉ có một phương thuốc mới chữa được bệnh của vua, đó là làm sao t́m cho ra một cây chiên đàn, lấy lá rán lên làm thuốc mà uống.Nhà vua nghe thế, lập tức xuống chiếu nói rằng, hễ ai t́m được cây chiên đàn hương th́ sẽ được phong thưởng hậu hĩ, chưa kể c̣n được vua gả công chúa cho nữa.Lệnh vua truyền xuống chẳng mấy chốc đă tới tai người lái buôn mới ngày nào đi lạc đường. Người này tuy mặt người nhưng ḷng thú, tâm tham dục quyến rũ không sao cưỡng được, nên quên bẵng ơn cứu mệnh và những lời căn dặn năm lần bẩy lượt của thần cây, lén lút chạy đi nói với nhà vua là ḿnh biết chỗ có cây chiên đàn. Nhà vua liền phái một đoàn vệ sĩ đi theo vị thương nhân để đốn cây chiên đ àn mang về.Thế là một đoàn người rầm rộ, ngày đi đêm nghỉ không ngừng ngày nào, quả nhiên đến chỗ có cây chiên đàn. Mọi người ngước lên chỉ thấy cành lá sum sê, thân cây sừng sững chót vót. Bọn vệ sĩ thấy cây như thế, không ai nỡ ra tay đốn. Nhưng nếu về tay không th́ cái tội khi quân, cưỡng lệnh làm sao trốn thoát? Đang phân vân lưỡng lự th́ bỗng có tiếng nói rổn rảng từ trên không vọng xuống:- Ta là thần của gốc cây này, quư vị nếu muốn đốn th́ cứ việc ra taỵ Chỉ xin quư vị cố gắng giữ ǵn rễ cây để cây đừng tuyệt chủng. Đốn cây xong, lại xin quư vị kiếm xác của một người mới chết, lấy máu người này bôi lên rễ cây, rồi lấy ruột gan đắp lên trên, cây sẽ có thể sống lại như cũ.Nghe đến đây, ai nấy mỗi người một tay đưa búa lên chém, thân cây ngă xuống đánh ầm một tiếng. Đúng lúc đó, người lái buôn đứng bên cạnh đang mải mê ngước đầu lên nh́n bỗng rú lên rồi ngă xuống đất. Mọi người hớt hải chạy đến th́ thấy trên thân của người này máu chảy dầm dề. Th́ ra người này đi không cẩn thận, vấp phải một nhánh cây mà ngă xuống, bị trúng ngay chỗ hiểm. Thật đáng thương, tiền lănh thưởng th́ chưa thấy đồng nào mà tính mệnh th́ than ôi! Đă đi đời!Lúc mọi người c̣n đang b àn tán sôi nổi bên cạnh thi thể của người lái buôn xấu số, th́ có một người lên tiếng:- Lúc năy tôi nghe có tiếng người nói từ trên không vọng xuống, bảo kiếm xác người mới chết lấy máu mà bôi lên, rồi lấy ruột gan mà đắp lên rễ cây. Lúc đó tôi hoang mang tự hỏi, ở một nơi hoang vắng như thế này th́ lấy đâu ra xác người? Nào ngờ người lái buôn này lại chết bất đắc kỳ tử, hay có thể ông ta vừa tới số cũng không chừng, thôi th́ chúng ta hăy tạm lấy máu và ruột gan ông ta đắp lên rễ cây vậy.Mọi người ai nấy đều đồng ḷng hưởng ứng, khi họ hoàn tất việc này, trong nháy mắt rễ cây bỗng đâm ra tua tủa và cành lá vươn lên rậm rạp, gốc cây sum sê tươi tốt như thể chưa từng bị đốn xuống bao giờ.Nhà vua nhờ uống thuốc chế từ cây chiên đàn nên bệnh đau đầu phút chốc đă lành, bèn truyền lệnh cho tất cả thần dân, ai có bệnh th́ hăy đến lấy thuốc chiên đàn c̣n lại đem về uống, chẳng bao lâu, bệnh tật nào cũng chữa lành hết. Từ đó đất nước thanh b ́nh, quốc thái dân an, hưởng hạnh phúc lâu dài.Ngài A Nan nghe Đ ức Phật kể đến đây, bèn rời chỗ ngồi, tiến lên lễ Phật bạch rằng:- Người lái buôn lạc đường sao lại vong ơn bội nghĩa, căi lời dặn ḍ của thần cây? Tại sao v́ muốn lănh thưởng mà lại làm chuyện trái với lẽ phải như thế kia?Đức Phật là một vị đại giác, Ngài biết một cách rơ ràng mọi dây mơ rễ má của từng quan hệ nhân quả một, nên trả lời ngài A Nan: - Ngày xưa khi Duy Vệ Phật c̣n tại thế, có ba cha con nhà nọ. người cha ch ăm chỉ hành ngũ giới, thập thiện, nghiêm tŕ bát quan trai giới, tinh tiến, không giải đăi. Người con trưởng cũng hay ở giữa sân hướng lên không trung mà đốt hương lễ bái, cúng dường chư Phật trong mười phương. C̣n người con út lại ngu si không biết tôn kính Tam Bảo, thường lấy áo quần không thanh khiết mà đậy lên những nén hương này. Người con trưởng nói:- Hành động mày làm rất tội lỗi, làm sao mày có thể ngang ngược làm chuyện xúc phạm như thế được!Người con út không những không hối lỗi mà c̣n dùng lời thô ác mắng lại anh: - Hứ! Anh dám xía vô chuyện của tôi, tôi thề chặt đứt chân anh mới hả ḷng!Người c̣n trưởng không nén được cơn giận mới trả lời:- Đồ mất dạy, tao giết m ày chết bây giờ!Người cha đứng bên cạnh cũng nổi cáu lên mà ôm đầu than:- Chúng bây hai đứa căi nhau ồn ào quá, làm tao bực bội nhức cả cái đầu đây n ày!Người con trưởng nói: - Con sẵn sàng mổ thân con ra làm thuốc chữa cho cha lành bệnh. Đức Phật nói đến đây, ngừng lại một lúc rồi nói tiếp: - Ai cũng thế, không nên thốt lời vọng ngữ! Kiếp này tạo khẩu nghiệp, về sau thế nào cũng bị báo ứng. Như đứa con út vừa nói ban năy, v́ niệm ác khởi lên muốn chặt đứt chân anh, quả nhiên về sau đem người đến đốn cây, tức là người anh đầu thai lên làm thần cây. Người con trưởng đ̣i giết em, quả nhiên sau đó thực hiện lời nói của ḿnh. C̣n ông vua bị bệnh đau đầu chính là cha của anh em nhà ấy, nhờ phụng tŕ trai giới một cách tinh tấn nên sinh ra được mọi người tôn quư, nhưng chỉ v́ khi hai đứa con của ông căi nhau, ông đă từng nói "làm cho tao nhức đầu quá" nên về sau quả nhiên bị bệnh đau đầu.Những người này, người nào cũng đă từng thốt lời vọng ngữ bừa băi nên mỗi người đều chịu quả báo lời nói của ḿnh. Cho nên nói rằng nhân quả báo ứng y như bóng theo h́nh, không tăng không giảm không sinh không diệt l à như vậy.Đức Phật thuyết xong về vấn đề giữ giới thân khẩu ư xong, ông Ca La Việt đứng bên cạnh Ngài lập tức chứng quả Tu Đà Hoàn. Trong nhà ông có bao nhiêu tài sản, ông đem lên cúng dường hết để truyền bá rộng răi việc hoằng pháp. Xong ông c̣n đưa vợ con đi quy y Phật, để họ được bước trên con đường chính giác.
Một tr ăm năm sau khi Đức Phật nhật Niết Bàn , vị vua trị v́ nước Ấn Độ tên là A Dục. Vua A Dục tính t́nh vô cùng tàn bạo, thích tự tay giết người, và lấy chuyện giết người làm niềm vui.Ngày nào vua A Dục cũng phải giết người mới vui, ban đầu ông chỉ giết những tội phạm trong tù, về sau số tội nhân không c̣n bao nhiêu và cuối cùng, không c̣n ai cho ông giết nữa. Nhưng ông lại quen thói giết người rồi, nên phải quay sang bắt người vô tội đem ra giết. Vua quen giết người nên thấy đó là chuyện thường, nhưng dân chúng th́ sợ hăi đến cực độ. Có một vị đại thần thấy thế không chịu đựng được nữa nên đă dâng kiến nghị lên tâu rằng:- Đại vương, mỗi ngày đại vương lấy việc tự tay giết người làm tṛ vui, nhưng ảnh hưởng của việc này đối với nhân tâm hiện tại đă không tốt, đối với hậu thế cũng không tốt. Nếu đại vương thích chuyện giếc chóc, chúng thần có thể t́m một người hiếu sát làm chuyện ấy thế cho đại vương, để đại vương khỏi bị mang tiếng sát nhân, chẳng hay đại vương thấy thế nào?A Dục vương thấy giải pháp này rất hay nên chấp thuận, bảo họ đi t́m một người như thế. Các vị đại thần đi t́m khắp nơi một kẻ khát máu về làm đao phủ thủ, nhưng không ai bằng ḷng nhận lănh làm việc này. Về sau, tại một địa phương hẻo lánh, họ t́m được một người tên là Kỳ Lệ, đây là một người tính t́nh cực kỳ hung ác bạo ngược, tàn khốc không ai b́ kịp.Người này sinh sống bằng nghề s ăn thú, chuyên môn dùng tên độc bắn chết thú vật, lại c̣n thích giết người, nên ai ai cũng xa lánh chẳng dám đến gần. Kỳ Lệ đến thành Hoa Thị là thủ đô của vua A Dục, vua gặp người sắp thay thế ḿnh th́ rất hài ḷng. Kỳ Lệ xin vua A Dục xây cho ḿnh một ṭa nhà thật lớn dùng làm pháp trường, trong đó bày biện đủ các thứ khí cụ để giết người. Trong pháp trường, họ c̣n đặt ra các phương pháp khác nhau để tra tấn giết chóc, và quyết định rằng hễ có người đặt chân vào toà nhà này rồi th́ không có ngày trở ra, v́ thế ṭa nhà này có tên là "địa ngục nhân gian".Tại một vùng duyên hải, có một cặp vợ chồng sinh được một đứa con trai, v́ họ sống ở ven biển nên đặt t ên cho con là Vị Hải.Về sau nhà này bị giặc cướp tấn công, hai vợ chồng chẳng may mất mạng, chỉ c̣n lại Vị Hải tuổi c̣n nhỏ mà đă mất cả cha lẫn mẹ, không biết làm sao mà sống. May quá có một vị tỳ kheo đi ngang chỗ ấy, thấy thế bèn đem Vị Hải về cho xuất gia.Vị Hải theo sư phụ xuất gia làm sa di, rất ngoan ngoăn tinh tiến tu hành. Một hôm, chú đến thành Hoa Thị khất thực, thấy một ṭa nhà cao lớn, muốn vào trong đó khất thực hóa duyên, nên mới tiến vào bên trong. Chú không thấy bóng dáng một người nào mà chỉ thấy hai bên bày biện những khí cụ giết người rất ghê rợn, chú lấy làm quái dị, vội vàng t́m đường thối lui, nhưng bỗng nhiên người giữ cửa tiến tới cản đường: - Ê Chú sa môn kia! Chú không biết quy luật ở đây sao? Ṭa nhà này có tên là Địa ngục nhân gian, do Vô Ưu Đại vương(#1) sai chủ nhân của ta là ông Kỳ Lệ về đây trấn thủ. Ai vào đây rồi là không được trở ra nữa! Lúc ấy Kỳ Lệ nghe có tiếng người cũng bước ra, ngăn không cho Vị Hải t́m đường trốn thoát: - Số của mi xui xẻo, thôi th́ hăy ngoan ngoăn chờ chết đi! Vị Hải biết rằng lư luận với những kẻ không c̣n nhân tính này không ích lợi ǵ, nên nói: - Tôi không hề sợ chết, nhưng nghĩ ḿnh tu hành chưa chứng được quả, thật là đáng tiếc. Bây giờ tôi chỉ xin các ông kỳ hạn cho tôi một tháng nữa thôi, cho phép tôi gia công tu hành, sau đó tôi sẽ để cho các ông tùy ư xử tử.- Xin gia hạn ngày chết, mi thật là vọng tưởng! Nhưng thôi được, ta niệm t́nh mi nhỏ tuổi, nhưng một tháng lâu quá. Ta chỉ gia hạn cho mi bảy ngày nữa thôi!Vị Hải chỉ c̣n có bảy ngày nữa để sống, chú bèn lui vào một góc nhà gia công tu hành, hy vọng trong thời hạn bảy ngày ngắn ngủi đó có thể giác ngộ và chứng quả.Nhưng giác ngộ chứng quả không phải là chuyện dễ dàng, mà thời gian th́ cứ thế mà từng ngày từng ngày trôi quạ Hôm nay đă qua tới ngày thứ bảy rồi, Vị Hải chỉ c̣n có ngày hôm nay để sống nữa thôi, ngày mai sẽ phải chịu xử tử h́nh. Thế mà hiện bây giờ vọng niệm c̣n rối bời trong tâm của chú, c̣n giác ngộ và chứng quả th́ chẳng thấy tăm hơi đâu cả!Chiều tối đến "địa ngục nhân gian" có thêm một người khách, đó l à một thiếu nữ bị kết tội không trinh tiết.Vị Hải nh́n thấy tên Kỳ Lệ ḷng lang dạ thú dùng chùy sắt đập vào đầu, vào mặt cô gái, cô gái bị đánh đến ḷi cả mắt ra ngoài. Bỗng nhiên chú khởi tâm thương xót, và đối với thế gian th́ lại khởi tâm yếm ly muốn xả bỏ. Chú chợt nhớ lại lời dạy của Đức Phật "sắc thân con người do ngũ ấm hợp thành, rất mong manh và không có thật". Chú nh́n lại cô thiếu nữ nọ, bị đánh thêm một cái nữa là trong khoảnh khắc hồn ĺa khỏi xác.Thân người th́ không có ǵ chắc chắn, thế gian th́ đầy khổ năo, nếu không phải là một thánh nhân giải thoát th́ không có cách nào tránh khỏi khổ đau. Vị Hải lại nỗ lực quan sát thêm nữa, đêm càng lúc càng đen và tâm của chú th́ càng lúc càng sáng lạn. Chú chứng được sơ quả Tu Đà Hoàn, gia công tinh tiến thêm, đắc nhị quả, tam quả và cuối cùng thành tựu được đại quả A La Hán. Lúc đó, b́nh ḿnh của ngày thứ tám đă bắt đầu ló dạng.Kỳ Lệ bước tới trước mặt Vị Hải nói: - Bảy ngày đă qua rồi, hôm nay đă qua ngày thứ tám, mi hăy chuẩn bị chờ chết.Vị Hải trả lời rất điềm nhiên:- Tốt lắm! Tốt lắm! Đêm đen của ta đă qua, ánh sáng của ta đă đến. Ngày tốt đến rồi th́ ông cứ việc tùy ư mà xử tử!Kỳ Lệ ném Vị Hải vào trong một cái nồi bằng đồng, trong ḷng nồi đựng đầy nước phân, nước tiểu dơ bẩn, phía dưới th́ đốt củi khộ Lửa cháy đỏ hừng hực, ánh lửa rực lên một góc trời. Lửa đốt thật lâu nhưng nước cứ tiếp tục lạnh ngắt, cả cái nồi đồng cũng chẳng nóng lên chút nào. Kỳ Lệ cho châm thêm lửa mà vẫn chẳng thấy nhiệt độ tăng lên, hắn nổi cáu quát tháo người châm lửa là đồ vô dụng, rồi tự tay ném thêm vào ḷ rất nhiều củi gỗ, và c̣n thêm than và dầu. Lửa bùng to hơn, nhưng nước trong nồi vẫn không chịu nóng. Hắn đưa mắt nh́n xem Vị Hải đă chết chưa, th́ thật là không thể tưởng tượng được! Nước dơ bẩn ô uế kia đă biến thành thanh tịnh từ bao giờ, trên mặt nước c̣n nổi lên những đóa hoa sen, c̣n Vị Hải th́ ngồi kết già phu trên một đóa sen ngàn cánh.Bốn phía rực lên ánh sáng rực rỡ, nhưng không phải là một thứ ánh sáng tầm thường, mà là ánh sáng màu hoàng kim làm chói mắt người nh́n. Tên Kỳ Lệ hung ác ấy không biết phải làm ǵ hơn là đem chuyện này lên tâu với vua A Dục.Vua A Dục nghe chuyện, thấy đây là một sự kiện kỳ quái nên đem thật nhiều đại thần tùy tùng đến xem thực hư ra sao. Thấy sự thật rồi, vua A Dục bỗng khởi lên một ḷng tôn kính hy hữu, quỳ xuống đất xấu hổ mà nói:- Đại Đức! Xin hăy tha thứ cho bọn chúng con dốt nát, bây giờ được thấy ngài như thế này con rất là xấu hổ! Tất cả những thứ này đều do con gây tội, xin ngài từ bi tha thứ cho chúng con, cứu độ cho tất cả chúng con!- Tốt lắm! Tốt lắm! Lúc Đức Phật c̣n tại thế đă thọ kư cho ông rồi! Đức Phật có nói, một trăm năm sau khi Ng ài nhập diệt, có một vị vua tên là A Dục sẽ là hộ pháp của Phật giáo, sẽ truyền bá pháp âm và dựng tháp, tạo phúc.Vua A Dục nghe nói cách đây một trăm năm mà Đức Phật đă biết sẽ có ḿnh rồi, lại càng tăng thêm ḷng tin, và xin quy y Phật Pháp Tăng với Vị Hải. Bao nhiêu tâm ư ác độc đă tan biến hết, vua A Dục biết sám hối một cách chân thành nên được cứu độ.Vị Hải rất vui mừng v́ đă làm được một việc công đức cho chúng sinh, vua A Dục cũng rất vui mừng v́ đă t́m được chỗ quy y chân chính. Lúc vua A Dục lên tiếng thỉnh Vị Hải về cung với ḿnh th́ tên Kỳ Lệ bạo tàn, thấy vua A Dục sửa soạn lui về thành th́ vội vàng tiến lên cản đường: - Đại vương! Chính ngài là người đưa ra quy luật là chỗ này chỉ có thể vào chứ không có thể ra. Bây giờ ngài cũng không được phép đi ra, xin ng ài ở lại chịu tội.Vua A Dục nghe thế giật ḿnh kinh hoàng, nhưng ông tự trấn tĩnh lại ngay, hỏi rằng: - Mi là người vào đây trước, hay ta là người tới trước?- Thần là người vào đây trước!- Nếu mi là người vào đây trước th ́ mi sẽ bị trị tội trước!Đám đại thần tùy tùng của vua bèn tóm ngay Kỳ Lệ ném vào lửa cho chết cháy, và dở tháo, hủy diệt luôn căn nhà "địa ngục nhân gian" ấy. Từ đó trở đi, vua A Dục dùng chính sách nhân từ trị dân, dựng tháp cúng dường, đưa Phật pháp gieo rắc ở nước ngoài, dân chúng do đó được sống những chuỗi ngày an lạc.Sám hối là con đường đưa đến sự được cứu độ. Người bằng ḷng sám hối là người được sống một cuộc đời mới. Như vua A Dục vốn là một người hung ác, thế mà chịu sám hối sửa lỗi, trong một niệm đă trở thành một người thiện lành.Sửa lỗi và sám hối thật là một pháp môn đại công đức, đáng tôn quư lắm vậy!Chú thích: (#1) một tên khác của vua A Dục.
Ngày xưa ở Ấn Độ có một vị quốc vương, tên gọi là Nhất Thiết Thí. Ngài là một ông vua rất mực nhân từ, hành đạo Bồ Tát. Bất kỳ người nào, chỉ cần cầu xin ông điều chi là liền được toại ư nên người dẫu ở xa mấy cũng nghe nói đến tên ông.Tại một quốc gia lân cận, có một thằng bé con thuộc gịng Bà La Môn, từ bé mất cha, sống với mẹ già và người chị. Không có cha, lại không có tiền nên cuộc sống của ba mẹ con vô cùng khốn khổ. Một hôm người mẹ gọi con đến bảo rằng:- Mẹ nghe nói ông vua nước láng giềng là người rất mực nhân từ, ai xin điều chi cũng được ông giúp đỡ, do đó ông có tên là vua Nhất Thiết Thí. Con có thể qua đến đó, xin ông ta tiền cho ba mẹ con ḿnh sinh sống, không biết con có bằng ḷng đi hay không? - Con rất muốn đi qua bên ấy, nhưng ngày giờ này con chưa biết ǵ cả, không có chút học vấn nào cả, v́ vậy con sợ không có khả năng đi xa như vậy. Con muốn ở đây cầu học trước cho có chút hiểu biết, có chút vốn liếng trí thức, thông hiểu chút đỉnh về đời về người rồi hẵng đi. Người mẹ nghe thế, suy nghĩ một hồi lâu, cân nhắc kỹ càng điều con ḿnh yêu cầu rồi bằng ḷng đi mượn tiền người ta để sinh sống trong một năm trong thời gian con đi cầu học. Thời gian đi vùn vụt, mau như nước chảy, ngoảnh đi ngoảnh lại một năm đă qua rồi mà đứa bé kia chẳng học được chi là bao. Về lại nhà, nó lại xin mẹ kiếm cách khác, nhưng người mẹ lại thôi thúc con nên mau đi gặp vua Nhất Thiết Thí, không n ên chần chờ nữa.Ngày nó lên đường, trong nhà không c̣n ǵ hết, bà mẹ lại đi t́m ông chủ nợ năm ngoái để xin mượn thêm tiền, nhưng lần này ông chủ nợ không chịu mà lại đưa ra điều kiện, bắt người mẹ và người chị phải đến nhà ông làm thuê và làm con tin th́ ông mới cho mượn thêm tiền.Ngay lúc ấy, Nhất Thiết Thí Vương phải đương đầu với một hoàn cảnh vô cùng khó khăn. Vua của một nước láng giềng, vốn tàn bạo bất nhân, ḷng tham không đáy, đem một đại đội binh mă đến đánh phá biên giới của vua Nhất Thiết Thí, với ư định thôn tính nước này.Nghe tin này, vua Nhất Thiết Thí không hề lấy làm ngạc nhiên, cứ thản nhiên như không hề có chuyện chi xẩy ra, cũng không hề chuẩn bị bất cứ điều chi để đi ứng chiến.Nhất Thiết Thí vương nghĩ rằng đời sống con người vốn ngắn ngủi, vinh hoa không có thật, ông dự bị đợi một ngày nào đó sẽ lẳng lặng đem đất nước ḿnh đi bố thí cho cái người đang cần đó. Các quan đại thần trong triều rất lấy làm ưu sầu, lo lắng trước t́nh cảnh ấy, lại thấy quân vương cứ làm như thể không có ǵ xẩy ra mà cứ cư xử, làm việc vui vẻ như b́nh thường, ai nấy ruột gan như lửa đốt, nên đồng lên xin diện kiến với nhà vua để hỏi ng ài tại sao không lo việc ứng chiến.Nhất Thiết Thí vương im lặng không đáp, đợi cho |