Chùa Hải-Đức in Jacksonville
|
|
Truyện Tích Phật Giáo Tác giả: Phật Giáo Cố Sự Đại Toàn Dịch giả: Diệu Hạnh & Giao Trinh 81 - 94
81- Sát sinh cúng tế người chết Ngày xưa, để cúng tế người thân quá cố, người ta hay giết rất nhiều dê, cừu v.v.. gọi là "vật tế người chết". Chư tỳ kheo thấy ai cũng làm như thế bèn hỏi Đức Phật:- Thế Tôn! Thiên hạ giết rất nhiều thú vật để cúng tế người chết. Làm như thế th́ có công đức n ào?- Này chư tỳ kheo, sát sinh để cúng tế người chết không hề có một công đức nào hết. Từ xưa đă có người hiền ngồi trong hư không mà thuyết pháp, nói tới các tội chướng của việc sát sinh, khiến cho người trong cơi Diêm Phù đă băi bỏ việc sát sinh để cúng tế. Thế mà chuyện quá khứ nay lại xuất hiện nữa rồi!Đức Phật nói xong, tiếp tục kể chuyện xưa: - Trong quá khứ, ở nước Ba La Nại có một vị giáo sư Bà La Môn danh tiếng, tinh thông ba tạng Vệ Đà, muốn cúng tế người chết nên đi bắt một con dê và dặn ḍ mấy đứa học tṛ rằng:- Đem con dê này ra bờ sông tắm rửa, đeo hoa lên cổ cho nó, mua 5 đồng tiền thức ăn cho nó ăn, sửa soạn cho nó xong rồi dẫn nó về.Mấy đứa học tṛ tuân lệnh đem dê ra bờ sông tắm rửa, và sửa soạn cho nó ngay tại đấy. Con dê thấy được nghiệp kiếp trước của ḿnh, biết rằng hôm nay đă đến ngày ḿnh thoát khỏi mọi khổ đau, mừng vui cười lớn, phát ra những âm thanh như tiếng b́nh vỡ. Nhưng nghĩ tới ông Bà La Môn kia sắp đem ḿnh ra giết và sẽ phải chịu quả báo đau khổ, bất giác sinh tâm thương xót cho ông ta, b èn lớn tiếng oà lên khóc. Bọn trẻ con học tṛ của Bà La Môn hỏi:- Dê này, khi th́ mi cười lớn, khi th́ mi lại khóc to, tại sao vậy? - Xin dắt tôi về gặp thầy của các người rồi hẵn hỏi lại tôi câu ấy. Bọn trẻ bèn dắt dê về, đem mọi sự kể lại cho thầy nghe. Bà La Môn nghe kể xong hỏi dê:- Tại sao mi cười rồi lại khóc? Dê moi trong kư ức để hồi tưởng lại túc nghiệp của ḿnh, đáp lời Bà La Môn rằng:- Bà La Môn, ngày xưa tôi cũng là một vị Bà La Môn, đọc tụng tinh thông quyển kinh "Ma Nô Pháp điển" như ông vậy. V́ muốn tế người chết nên tôi giết dê đem cúng, và trong 499 đời, tôi đă phải chịu quả khổ chết đứt đầu. Bây giờ là kiếp cuối cùng thứ 500, hôm nay tôi sẽ thoát hết mọi đau khổ, v́ thế tôi mới vui mừng mà cười tọ Tôi lại khóc ngay sau đó, là v́ tôi giết một con dê mà 500 đời phải bị cái nạn đầu ĺa khỏi cổ, tuy hôm nay tôi sẽ thoát tai ách đó rồi, nhưng nghĩ tới ông, Bà La Môn, ông giết tôi rồi lại sẽ chịu cái khổ chết đứt đầu trong 500 đời như tôi, tôi xót thương ông mà khóc.- Dê ơi đừng sợ, ta sẽ không giết mi đâu.- Bà La Môn, ông nói ǵ thế? Ông giết hay không giết tôi, hôm nay tôi cũng không thể thoát chết được. - Dê đừng sợ, ta sẽ bảo vệ mi, sẽ đi cùng đường với mi. - Bà La Môn! Sức bảo vệ của ông rất yếu, mà tội ác của tôi đ ă tạo lại rất lớn!Bà La Môn đem dê đi thả, và ra lệnh không ai được giết nó, rồi sai bọn học tṛ cùng đi chung đường với dê. Dê được tự do, chạy vào khu rừng cây rậm ở dưới một mơm đá cao, vươn cổ lên gặm lá cây mà ăn. Đúng ngay sát na ấy, trên đỉnh mơm đá bỗng vang lên một tiếng sấm, một góc của tảng đá bị nẻ ra, rơi trúng ngay cổ con dê đang vươn lên lúc ấy, thế là dê bị đứt đầu mà chết. Có rất nhiều người bèn chạy đến tập trung xung quanh.Lúc ấy ta là thần cây của chỗ ấy, thấy mọi người như thế bèn dùng thần lực ngồi ngay ngắn giữa hư không. Để cho những chúng sinh ấy biết quả báo của ác nghiệp mà không sát sinh nữa, ta thuyết pháp để cảnh giác họ cái khổ ghê rợn dưới địa ngục. Mọi người nghe pháp ấy, quá kinh sợ bị đọa địa ngục, từ đó ngưng bặt việc sát sinh. Ta cũng dạy mọi người thọ tŕ giới hạnh, và ai cũng nghe lời ta dạy, tích tụ những việc thiện như bố thí v.v... nên cuối cùng ai cũng được sinh l ên cơi trời.Sát sinh để cúng tế không hề có phúc báo mà c̣n là một việc tội lỗi, những người thích sát sinh cúng tế hăy mau hồi tỉnh.Những người thích sát sinh tế tự, nếu nghe được những lời này của Đức Phật th́ hay biết bao!Cách đây chừng hơn 2000 năm, nước Ấn Độ giống như vào thời Chiến Quốc ở Trung Hoa, chia làm thành rất nhiều nước nhỏ và rất nhiều bộ lạc. Vua A Dục, một vị vua có phúc báo thù thắng, đă chinh phục tất cả các nước nhỏ và các bộ lạc ấy quy làm thành một quốc gia. Đó cũng là lần thứ nhất trong lịch nước Ấn Độ được thống nhất.Vua A Dục rất tài giỏi và anh dũng, ông đă đào tạo một đội quân kiên cường, một đoàn ngựa hùng mạnh. Hơn nữa, đối với dân ông thành thật như đối với chính ḿnh, nên chẳng bao lâu, uy đức ông đă cảm hóa được mọi người, ai ai cũng tôn s ùng kính trọng ông.Nhưng chỉ có một điều đáng tiếc là bản tính vô cùng cao ngạo của ông.Có một lần, ông chiêu tập quần thần và hỏi rằng: - Thế gian này c̣n có chỗ nào không thuộc về ta? Có c̣n người nào không phục tùng ta? Quần thần đồng thanh trả lời:- Trong thế gian này, không có chỗ nào là không thuộc về đại vương, cũng không c̣n một ai là dám không phục tùng đại vương. Mọi người nói xong th́ có một vị quan đứng dậy tâu rằng: - Theo chỗ hạ thần biết, trong thế gian vẫn có nơi không thuộc về vua, thí dụ như long vương trong biển cả, từ trước đến nay không hề giao thiệp với chúng ta cũng chẳng bao giờ đem bảo vật đến triều cống, điều đó chứng tỏ rằng y không hề phục tùng đại vương. A Dục vương muốn thử xem phúc đức và uy lực của ḿnh có thâu nhiếp được long vương hay không, nên đem ngàn vạn binh tướng, khua chuông gióng trống, cờ phướng rợp trời, cuồn cuộn kéo đến bờ biển, gằn giọng hét to: - Long vương! Ngươi ở trong biên cảnh của ta, tại sao lại có thái độ phản kháng, không xuất hiện đến gặp ta? Mặt biển mênh mông lặng lờ, chỉ có nhấp nhô tiếng sóng trả lời. Tuy vua A Dục thị uy ba lần như vậy, nhưng mặt biển vẫn im ĺm không có phản ứng. Lúc ấy Long vương đang sống an nhiên trong long cung, tuy vua A Dục quay cuồng như vậy mà vẫn làm ngơ như thể không thấy. Vua A Dục lo lắng không biết phải xử trí ra sao, bèn hỏi quần thần rằng:- Có cách nào buộc long vương phải xuất hiện ch ăng?Có một vị quan tương đối có trí huệ l ên tiếng trả lời:- Đại vương, xin đừng lo lắng, tới đúng lúc đúng thời th́ không cần ai gọi, long vương cũng sẽ xuất hiện. Có thể bây giờ phúc báo của y lớn hơn phúc báo của đại vương nên y không chịu quy phục. Nếu đại vương muốn thử cũng có thể được: ngài hăy dùng hai cân vàng đúc hai pho tượng, một tượng của ngài, một tượng của long vương. Đem hai pho tượng ra so sánh, pho nào nặng hơn th́ người đó có nhiều phúc đức hơn.A Dục vương làm theo lời vị đại thần để thử nghiệm, khi đem ra cân th́ kết quả tượng long vương nặng hơn. Đương nhi ên khỏi nói, long vương có nhiều phúc báo hơn vua A Dục.Lúc ấy vua A Dục tự hiểu, hổ thẹn ḿnh phúc bạc, từ đó lo gấp rút vun trồng cội đức, phát thiện tâm rộng lớn, cứu tế an ủi những người cô quả, nghèo khổ, người già và trẻ con trong nước. Ông c̣n lập chùa, dựng tháp ở mỗi huyện lỵ, cung kính thờ phục tượng Phật, xá lợi, khi thấy kinh điển th́ khởi tâm sùng kính, tâm hoan hỉ, tăng chúng trong nước th́ tuyệt đối được ông tôn trọng và thành tâm cúng dường.Cứ như thế trong suốt ba n ăm, ông lại đem hai bức tượng ra cân trở lại, thật là không thể tưởng tượng, lần này tượng của vua A Dục nặng hơn.Vua A Dục lại muốn thử một lần nữa xem có linh nghiệm hay không, bèn đem đại chúng ra bờ biển. Không cần vua kêu gọi hay truyền lệnh, từ xa long vương đă biến thành một người thanh niên đến đón rước vua, và đem rất nhiều châu báu ra triều cống.Mỗi người tự trồng trọt bồi đắp lấy phúc báo của ḿnh. Không có phúc báo mà muốn cho người khác cung kính là điều vọng tưởng, làm sao có được? Đời quá khứ, Tŕ Địa Bồ Tát sinh đúng vào thời Đức Phổ Quang Như Lai xuất hiện tại thế. Ngài mới nghe qua Phật pháp liền phát tâm xuất gia, và phát nguyện rằng hễ ngài c̣n sống đời nào th́ trong đời sống ấy ngài sẽ dùng hết sức lực v́ chúng sinh mà xây cầu đắp đường. Phàm thấy có chỗ nào nguy hiểm th́ ngài gia công tu sửa cho con đường giao thông được thuận lợi an toàn.Trong nhiều đời như thế, Tŕ Địa Bồ Tát cứ một ḷng làm việc khổ nhọc, không giải đăi, không mệt mỏi, không than văn, không khoe khoang. Ngoài việc xây cầu và đắp đường, cứ thấy người già hoặc trẻ con phải xách vác cái ǵ nặng nề cồng kềnh là Tŕ Địa Bồ Tát vội vàng chạy đến vác hộ, không cần biết đường xa hay gần, và tuyệt đối không nhận một sự đền ơn báo đáp nào. V́ thế ngài được rất nhiều người kính ngưỡng.Có một lần, quốc vương lập đàn cúng dường Như Lai, Tŕ Địa Bồ Tát biết được, liền vội vàng cẩn thận tu sửa con đường mà Như Lai sắp bước qua cho được bằng phẳng, rồi cung kính đứng chờ Như Lai giáng lâm. Đến thời Tỳ Xá Như Lai, Đức Phật lại đi ngang qua con đường ấy. Ngài hết lời khen ngợi Tŕ Địa Bồ Tát có tinh thần làm việc v́ người, và đưa cánh tay ra xoa đỉnh đầu của Bồ Tát mà nói rằng: - Ông phát tâm tu sửa tất cả mọi con đường khiến đâu đâu cũng được bằng phẳng. Đất bằng th́ tâm cũng bằng, trong tương lai ông sẽ chứng quả rất mau chóng.Tŕ Địa Bồ Tát nghe Như Lai khai thị xong, lập tức đốn ngộ, biết rằng thân ḿnh cùng thế giới và tất cả mọi sự mọi vật không hề có một sự sai khác nào, ngài biết bổn tính của ḿnh vốn tịch lặng vô nhiễm, không có cái "ngă" nào tồn tại. V́ thế ngài chứng đắc quả A La Hán.Đó là chuyện tiền kiếp của ngài Tŕ Địa Bồ Tát.
Trong xă hội xưa hay nay, nước ta có một tập tục rất xấu, đó là khi hai vợ chồng cưới nhau được vài năm, nếu người vợ chưa sinh sản được th́ người chồng đi lấy vợ bé, khiến cho hoà khí trong gia đ́nh v́ thế mà tan nát.Thời xưa có một người, cưới vợ được mấy năm rồi, hai vợ chồng thèm khát một đứa con mà chờ măi không có, người chồng nóng ruột quá nên cuối cùng đi cưới một cô vợ lẽ. Với sự thỏa thuận của bà vợ lớn, cô vợ bé được về ở chung trong cùng một nhà. Không lâu sau cô này sinh hạ được một đứa con trai trắng trẻo và bụ bẫm, khiến người chồng hết sức vui mừng. Từ đó ông lại càng cưng quư cô vợ bé và thằng con trai, mà không ngó ngàng ǵ đến bà vợ lớn.Ngay từ phút đầu, bà vợ lớn đă coi cô vợ bé như cái gai trước mắt, huống chi bây giờ thấy chồng cưng quư mẹ con cô này hơn trước, dĩ nhiên bà nổi cơn ghen tức nhưng trước quyền uy của ông chồng bà không làm ǵ được, chỉ có thể thừa lúc người chồng vắng nhà mới hơi tỏ lộ ra chút ghen hờn, giận tức đối với người vợ bé. Tuy nhiên những cơ hội ấy rất hiếm, cho nên ḷng oán hận của bà càng lúc càng chồng chất nhiều thêm.Một hôm, đứa bé vừa đúng hai tuổi, bà vợ lớn thừa lúc cô vợ nhỏ vắng mặt, mới rút một cây trâm vàng cài trên tóc cắm sâu vào đầu đứa bé. Bà làm chuyện này một cách âm thầm bí mật, không có ai hay biết. Dù đứa bé khóc măi không ngừng nhưng không ai nghe thấy, cho nên đứa bé trắng trẻo bụ bẫm kia, chỉ sau một đêm lên cơn sốt thật nặng, yểu mệnh mà chết.Thấy đứa con ḿnh mang nặng đẻ đau lại kháu khỉnh dễ thương đến dường ấy bỗng nhiên một hôm ngă lăn xuống chết, người mẹ nào mà không đau đớn? Cô vợ bé bị tai nạn giáng xuống đầu một cách th́nh ĺnh như thế khóc thương bi thảm, thằng con chết cả tháng rồi mà cô vẫn c̣n gào khóc thảm thiết, tâm cang tan nát cho đến ngă bệnh. Người chồng thấy con ḿnh chết yểu dĩ nhiên là thương tiếc vô cùng, nhưng ông b́nh tĩnh hơn, nghĩ rằng người đă chết th́ nào có sống lại được, khóc lóc chẳng ích lợi ǵ cả. Tuy nhiên có rất nhiều người bà con láng giềng nói rằng một đứa bé chết th́nh ĺnh như thế chắc chắn là phải có nguyên do, họ bèn khuyên cô vợ bé mở quan tài để khám nghiệm tử thị Quả nhiên mọi người đoán không sai, lúc khám nghiệm mới thấy trong đầu của đứa bé có cắm một cây trâm vàng dài cả ba tấc!Cô vợ bé thấy con ḿnh chết v́ bị sát hại th́ lại càng đau khổ nhiều hơn, cô vừa bi thương vừa căm phẫn, thề rằng sẽ báo thù cho con, nếu không th́ cô sẽ chết không nhắm mắt. Cô t́m một vị bà la môn để thỉnh giáo, hỏi xem phải làm thế nào để báo thù, vị này mới bảo nếu cô tŕ được trai giới th́ sẽ được măn nguyện. Ḷng thương con của cô càng tha thiết th́ ư nguyện báo thù càng thâm sâu, cô bèn tŕ trai giới rất tinh cần. Không lâu sau, cô vợ bé này v́ quá sầu muộn nên ĺa bỏ cơi đời.Cũng đúng lúc ấy bà vợ lớn thụ thai nên vui mừng không kể xiết. Cây gai trước mắt đă nhổ được rồi, chính ḿnh lại đang có thai nên có thể được chồng y êu chiều hơn, niềm vui của bà không cùng tận!Không lâu sau bà sinh hạ được một đứa con gái xinh đẹp như hoa như ngọc, cả nhà cưng quư đứa bé như châu báu, nhưng bất hạnh thay, đứa bé vừa được hai tuổi th́ ĺa đời. Thật là một tai biến không ai có thể ngờ được, bà vợ lớn khóc đến chết đi sống lại, nhưng người đă chết rồi, biết làm sao đây? Một thời gian sau bà lại sinh được một đứa con trai, nhưng nuôi chưa đến ba tuổi đă chết yểu. Cứ như thế, bà sinh được sáu đứa con nhưng chỉ nuôi được đến bảy tuổi là tối đạ Con cưng mà lại chết yểu, làm cha mẹ ai lại không đau đớn? Ṛng ră mười năm trời như thế, người vợ lớn sinh được đứa nào là đứa con ấy chết yểu nên đau khổ triền miên, thân thể tiều tụy, bà tuyệt vọng tự giam ḿnh suốt ngày trong nhà không muốn tiếp xúc với người ngoài.Một hôm, bỗng nhiên có một vị tỳ kheo đến t́m bà. Ban đầu bà từ chối không chịu ra gặp, về sau vị tỳ kheo mới bảo là có chuyện quan trọng muốn nói với bà, bà mới chịu ra. Khi vị tỳ kheo nh́n thấy bà, ông liền hỏi ngay:- Bà có nhớ cô vợ bé đă chết rồi không? Cô ấy làm sao mà chết? Rồi đứa con mới lên hai của cô ấy, cũng tại sao mà chết vậy?Câu hỏi đặt ra quá bất ngờ khiến bà vợ lớn hoảng sợ, toàn thân run lẩy bẩy, không trả lời được câu nào. Bà xấu hổ và đau đớn kể lại mọi sự cho vị tỳ kheo nghe, và cầu khẩn ông cứu khổ cho bà. Vị tỳ kheo nói cho bà biết rằng sáu đứa con chết yểu của bà chính là oan hồn cô vợ bé đầu thai về cố ư làm cho bà khổ đau. Nếu bây giờ bà muốn giải trừ mối oan gia đó, bà phải đến chùa làm công quả để tiêu tai.Ngày hôm sau, bà vợ lớn tuân theo lời dạy của vị tỳ kheo, trời vừa tảng sáng là bà thức dậy sửa soạn đến chùa, nhưng trên đường đi, bà thấy một con rắn độc đang hả miệng thật lớn, phăng phăng trườn đến gần bà khiến bà sợ quá ngă xuống bất tỉnh. May thay, vị tỳ kheo nói trên cũng vừa đến nơi, nói với con rắn độc:- Này rắn độc! Ngươi chưa thấy măn nguyện sao? Ngươi nghĩ lại xem, bà ấy chỉ hại ngươi có một lần mà ngươi báo thù tới sáu lần, như thế chưa đủ rồi hay sao? Bây giờ bà ấy đă biết hối hận, lại c̣n muốn lên chùa làm công đức hồi hướng cho ngươi, ngươi cũng hăy nên hóa giải mối oan kết ấy đi. Ngươi không nghe nói "oán cừu nên cởi không nên kết" hay sao? Nếu hôm nay ngươi muốn giết bà ấy th́ chẳng có ích lợi ǵ cho ngươi mà chỉ có hại. Bây giờ v́ tương lai của chính ngươi, ngươi cũng nên bỏ qua hết đi! Không lẽ ngươi muốn đời đời kiếp kiếp sinh làm súc sinh hay đọa địa ngục hay sao? Câu nói của vị tỳ kheo khiến con rắn độc có vẻ như hiểu ra, nó cúi đầu rồi từ từ trườn đi mất. Bà vợ lớn tỉnh dậy không thấy con rắn độc nữa, vị tỳ kheo mới đem chuyện vừa qua kể cho bà nghe. Do đó bà vợ lớn cảm thấy chuyện ḿnh làm lúc trước quá ư tội lỗi, bà bèn xin xuất gia tu hành với vị tỳ kheo. Những năm cuối của cuộc đời, bà sống trong rừng sâu núi thẳm để sám hối nghiệp chướng mà ḿnh đ ă tạo trong quá khứ.Hại người là tự hại lấy chính ḿnh, làm sao không cẩn thận chuyện nhân quả cho được?
Tâm của một con người ngu si bị động niệm là v́ ngă tham và ngă chấp. Một người như thế rất trọng vọng danh lợi và có thể hy sinh tất cả cho nó, ngay đến cả thân mệnh nữa, mục đích là để có được một thứ danh dự hư huyễn không thật.Ở Ấn Độ thời xưa có một người đàn bà thuộc ḍng Bà La Môn tên là Đề Vị Gia đ́nh bà xưa nay vốn giàu có, nô tỳ nuôi trong nhà cũng có đến cả trăm người. Nhưng từ khi chồng bà qua đời th ́ mức sống dần dần sụt xuống.Thật không phải dễ dàng cho một goá phụ khi phải ứng phó với mọi chi phí trong nhà, nào quần áo ăn uống, rồi tiền nuôi gia nhân nào ăn nào mặc, ngày này qua ngày khác, năm này sang năm khác. V́ thế Đề Vi vô cùng buồn khổ v́ cái họa nghèo khó luôn luôn đe dọa.Thật ra, để giảm bớt ngân quỹ, bà có thể giải tán một phần gia nhân đông đảo và giữ lại một số ít người để làm việc trong nhà, nhưng Đề Vi cho rằng danh dự là điều quan trọng nhất, thể diện là cần thiết nhất, v́ thế bà không chịu giải quyết vấn đề bằng cách ấy. Nhưng c̣n cách nào khác nữa đâu? Bà nghĩ thà chết chứ không để mất mặt, nhưng nếu đ ă chọn cái chết th́ cũng phải chọn chết thế nào cho có ư nghĩa.Lúc ấy ở Ấn Độ có một trường phái ngoại đạo cho rằng muốn được sung sướng th́ phải trả giá bằng sự đau khổ, kiếp này càng đau khổ th́ kiếp sau càng được hưởng niềm sung sướng khoái lạc. Đề Vi nghe được tà kiến này là mù quáng tin tưởng theo ngaỵ Bà nghĩ rằng không có cái đau đớn nào cho thân thể con người bằng cái đau của sự chết cháy, nên bà quyết định tự thiêu. Làm như thế, thứ nhất, bà đánh đổi cái đau đớn ấy để lấy một kiếp sau sung sướng, thứ hai, một khi chết rồi là bà không cần phải đối phó với chuyện kiếm tiền chi phí trong nhà, và thứ ba, chết để cầu đạo là một cái chết rất vinh dự, thể diện của bà sẽ giữ được vẹn toàn.Đề Vi tính toán như thế, tuy bà rất kín đáo không nói cho ai hay, nhưng đệ tử của Đức Phật là Biện Tài tôn giả lại đoán biết tất cả những ǵ bà nghĩ trong đầu, nên ngài đích thân đến nhà bà để giáo hóa. Tôn giả nói với Đề Vi rằng: - V́ bà không đảm nhiệm nổi mọi chi phí trong nhà nên mới muốn thiêu thân để t́m cái chết, có phải như vậy không? Nhưng làm như thế bà cũng không thoát được trách nhiệm, trái lại càng làm cho nghiệp chướng tăng trưởng. Ác nghiệp của kiếp trước chưa trả xong mà đă chết đi, th́ kiếp sau cũng sẽ phải trả một lần nữa.Đồng thời tự đốt cháy thân cũng là tạo tội. Bà phải biết tự thiêu là một hành động tự sát, và tự sát là có tội. Các tội nhân trong địa ngục A Tỳ đêm ngày bị đốt cháy, suốt một ngày trời chết đi sống lại không biết bao nhiêu lần, cứ thế mà bị thiêu đốt mấy chục ngàn n ăm mới có thể trừ tội. C̣n bà bây giờ chỉ tự đốt có một lần mà mong trừ tội th́ làm sao được?Đề Vi nghe tôn giả nói như thế thấy rất có lư, chợt như người đang ngủ mê chợt bừng tỉnh, tính hỏi tôn giả một câu, th́ dường như tôn giả đọc được điều bà đang nghĩ, ngài nói tiếp: - Bà muốn diệt tội cũng không phải là chuyện khó. Tất cả mọi việc thiện ác đều do tâm mà sinh khởi, nếu tâm của bà cất chứa những niệm ác th́ cũng giống như ánh sáng của mặt trăng bị mây đen che mờ, không thể chiếu ra ngoài được. Chỉ có cách là nhất tâm làm việc thiện, không cất giữ niệm ác nào trong tâm, lúc ấy chẳng khác nào một cơn gió mát thổi bạt mây đen đi, mặt trăng sẽ lập tức phóng ra ánh sáng viên măn. Làm như thế không những có thể diệt trừ tội chướng, mà kiếp sau cũng sẽ được lợi ích lớn!Đề Vi nghe xong rất vui ngừng, liền triệu tập tất cả quyến thuộc nô tỳ trong nhà, thỉnh giáo tôn giả: - Tôn giả, được ngài khai thị giáo hóa, chúng con rất cảm kích. Kính xin tôn giả dạy cho chúng con làm cách nào để giải thoát và diệt tội.Biện Tài tôn giả lại nói: - Nếu muốn diệt tội, th́ trước hết phải t́m c ăn nguyên của tội lỗi. Phần đông các tội ác đều do thân khẩu ư tạo ra, v́ thế, bây giờ bà phải tu thập thiện...Tôn giả liền giảng cho Đề Vi và đại chúng nghe ư nghĩa của thập thiện, và dạy cho họ phải làm sao để sám hối nghiệp chướng của những kiếp trước, làm sao để tạo nghiệp thiện, làm sao phát tâm từ bi.Đề Vi nhận lănh sự chỉ giáo của tôn giả một cách vui mừng. Từ ngày hôm đó về sau, đời đời kiếp kiếp bà phụng hành Phật giáo, phát nguyện cứu chúng sinh ra khỏi khổ đau, v́ vậy bà chứng đắc được quả thánh.
Ngày xưa có một vị thương gia tên gọi là Vương lăo lăo, người béo mập, to lớn mạnh khoẻ, ăn th́ thích ăn ngon, ở th́ thích nhà cao cửa rộng, không có thứ ǵ là không ham muốn. V́ để hưởng thụ tiền tài, sắc đẹp và đồ ăn thức uống, nên ông đặc biệt quư trọng thân thể của ḿnh, chỉ sợ mỗi một điều là mạng sống không lâu dài.Có một hôm trên đường về nhà sau một chuyến buôn xa, ngước mắt nh́n trời th́ thấy mặt trời đă lặn, màn đêm đă bao phủ từ bao giờ. Ông vội vàng t́m một căn nhà nghỉ trọ, nhưng ngoài núi rừng hoang dă, xung quanh không hề có bóng dáng nhà cửa dân cư nào. Trong lúc đang bồn chồn lo lắng, th́ xa xa phía trước thấy thấp thoáng có một ngôi miếu bỏ hoang, ông mừng rỡ chạy tới trú đêm trong ấy.Trong ngôi miếu hoang phế, ông t́m một góc pḥng và nằm ngay xuống đất mà ngủ. Ông suy nghĩ lung tung, tư tưởng càng lúc càng mơ hồ. Trong khoảng mông lung ấy, ông bỗng nh́n thấy một con quỷ đầu to, tóc tai bù xù, mày rậm, mắt lồi, mặt đen, trên lưng cơng một cái xác chết gầy g̣, ném xác chết trước mặt ông đánh "rầm" một tiếng. Ông sợ quá, muốn chạy trốn mà không có đường trốn. Tiếp theo, ông lại thấy một con quỷ khác, miệng hoác, tai to, mũi nhọn, răng vẩu, lưỡi dài cũng chạy tới, giận dữ toác miệng ra mắng con quỷ đầu to:- Cái xác chết này là của ta, tại sao mi lại đem nó tới đây? - Nó là của ta, dĩ nhiên ta muốn đem nó đi đâu th́ đem! - Đồ ăn nói qu àng xiêng, nó thuộc về ta!Con quỷ miệng hoác nói xong liền kéo một tay một chân của thây ma lên, tính vác đem đi.- Chờ một chút, có người làm chứng, mi có thể hỏi tiên sinh đây! Con quỷ đầu to vừa nói vừa chỉ thương gia Vương lăo lăo, và đồng thời cũng nắm giữ lại một tay một chân của tử thi. Hai con quỷ tranh qua dành lại, tranh hoài không phân thắng bại, con quỷ miệng hoác bèn nh́n Vương lăo lăo hất hàm hỏi: - Sự thật cái tử thi này là của ai? Vương lăo lăo thầm nghĩ rằng hai con quỷ này sức mạnh vô song, được ḷng đứa này th́ tất nhiên sẽ mất ḷng đứa kia, bây giờ có nói thật hay nói dối cũng không thoát chết, thôi th́ nói thật rồi chết c̣n hơn nói dối, ông bèn trả lời:- Tôi thấy chính là vị tiên sinh đầu to đem cái tử thi này tới đây.- Nói bậy, mi là đồ nói bậy! Con quỷ miệng hoác hét lên, trừng hai con mắt lên nh́n, không nghe lời biện bạch nào nữa mà hùng hổ kéo một cánh tay của Vương lăo lăo giật mạnh một cái đứt đoạn, rồi vứt xuống đất. Con quỷ đầu to vội vàng giật một cánh tay của tử thi ra, rồi cắm vào người của Vương lăo lăo. Cứ thế mà trao qua đổi lại, một con quỷ th́ kéo ra từ đầu này, một con kia th́ lấy từ đầu kia đổi lại, hai tay, hai chân, rồi từ đầu xuống chân cho đến toàn thân của Vương lăo lăo đă dổi với toàn thân của tử thị Hai con quỷ thấy cái thân mới mập mạp tươi tốt bèn thi nhau ăn, không c̣n tranh nhau cái thân người gầy g̣ kia nữa. Thật đáng thương cho Vương lăo lăo, bị hai con ngạ quỷ dùng làm thức ăn điểm tâm. Ăn no nê rồi, chúng quẹt mồm chùi mép, vặn ḿnh chuyển người một lúc rồi hoan hỉ kéo nhau đi. May sao, chân tâm của Vương lăo lăo không hề bị mất đi, bổn tính cũng chưa m ê muội, ông suy nghĩ :- Thân thể do cha mẹ sinh ra, thế mà hồi năy trơ mắt ra nh́n hai con quỷ đói ăn sạch rồi! Bây giờ da thịt trên thân ta là da thịt của người khác, từ mập ta trở thành ốm, mà thật sự ta có thân không? Hay là không có thân?Ông suy nghĩ măi về vấn đề này, nhưng nghĩ không ra. Bỗng nhiên có một tiếng động mạnh làm cho ông sợ hăi giật nẩy ḿnh. Ông trố mắt nh́n quanh, gian pḥng trống không, th́ ra ông vừa trải qua một cơn ác mộng.Ngày hôm sau, Vương lăo lăo t́m đến một ngôi chùa, kể lại giấc mộng của ḿnh cho một vị tỳ kheo nghe, và nêu lên vấn đề thân của ḿnh có hay là không có? Vị tỳ kheo dạy rằng:- Chư pháp do nhân duyên mà sinh, chư pháp cũng do nhân duyên mà diệt, đời người vô thường, xét đến cùng là v́ như thế. Từ vô thủy đến giờ, thật sự không có ngă.- Thầy thuyết pháp cao siêu quá, tôi nghe mà không hiểu hết. - Được rồi, ta sẽ nói một cách cụ thể hơn một chút cho ông nghe. Sắc thân của chúng ta là do tứ đại ḥa hợp lại, là một cái bao da hôi thối. Một ngày nào đó bốn nhân duyên lớn là đất, nước, lửa, gió không ḥa hợp nữa, cái thân thể mà ta chấp là "tôi" đó, cũng sẽ tiêu tan.- Như cái thân của tôi do cha mẹ sinh ra, tứ chi và n ăm căn vẹn toàn, có thể đi, có thể ăn, có thể nói chuyện này, không phải là thân của tôi hay sao?Vương lăo lăo hỏi, có vẻ như không hiểu. - Trong giấc mộng vừa rồi của ông, cái thân của ông và cái thân của xác chết có cái ǵ khác biệt với nhau? - Khác biệt chứ sao lại không, cái thân của tôi sau khi đă bị trao đổi, đă thành da thịt của người khác.- Thế th́, lúc ấy cái mà ông gọi là "tôi" đó đă đi đâu rồi?Vương lăo lăo không có lời lẽ nào để trả lời câu hỏi n ày. Ngừng một lúc, vị tỳ kheo lại nói:- Chính điều đó làm cho chuyện đại sự sinh tử không rơ ràng.Vị tỳ kheo lại ngừng, để cho Vương lăo lăo suy nghĩ một lúc, sau đó từ tốn khai thị cho ông:- Cái thân c̣n sống của ông và cái xác thân đă chết nọ, đều là cái tôi giả tạo, nếu hiểu rơ ràng th́ sẽ thấy là không có hai, không có khác. Ông có thể chỉ cái thân c̣n sống của ông, sau khi đă trao đổi với cái thân của xác chết kia, mà nói rằng "đây là cái tôi thật", đó cũng l à bổn lại diện mục của ông vậy.Vương lăo lăo nghe xong, như chợt đại ngộ, liền phát tâm xuất gia tu hành, tinh tiến giữ giới, ĺa bỏ ngũ dục, đoạn trừ phiền năo của thế gian và chứng quả A La Hán.Một hôm, tại chỗ Đ ức Phật đang giáo hóa, có bốn vị tỳ kheo sơ phát tâm mới xuất gia tu hành, nhân lúc nhàn hạ ngồi nói chuyện dưới một gốc cây lớn, cùng nhau bàn căi nghiên cứu xem cái ǵ là cái đau khổ, cái hoạn nạn lớn nhất của con người.Một trong bốn vị phát biểu ư kiến: - Theo tôi, cái khổ to lớn nhất, ghê gớm nhất của con người không ǵ bằng sự đam mê sắc dục. Thí dụ nếu không đoạn trừ được tâm dâm dục th́ không cách nào vào đạo!Một người khác nói lên cảm tưởng của ḿnh: - Cái khổ lớn nhất là cái khổ thiếu ăn! Một khi gặp cơn đói khát, con người không làm được ǵ cả!Lại có người nói: - Theo tôi, ḷng sân hận mới là cái hoạn nạn đáng sợ nhất của con người! "Nhất niệm sân tâm khởi, bát vạn chướng môn khai" (một niệm tâm sân nổi lên là 80 000 cánh cửa chướng ngại được mở ra) mà! Sân hận cũng là nguyên nhân khiến người ta phải chịu vô lượng tội phạt!Người cuối cùng nói: - Theo tôi cái sợ hăi mới là cái khổ lớn nhất của con người! Sống trong sợ hăi giấy phút nào là giây phút đó không có chút an ổn!Bốn người hăng say bàn căi, th́ cũng vừa đúng lúc ấy Đức Phật đi ngang. V́ họ chưa t́m ra một kết luận thỏa đáng nào cho cuộc thảo luận của họ, Đức Phật mới hỏi họ đang thảo luận về vấn đề g ́. Bốn người lần lượt tŕnh bày ư kiến của ḿnh xong, Ngài mới sửa cho họ rằng:- Là người tu hành mà có thể cùng nhau tụ họp để kiểm thảo cái nh́n của ḿnh đối với vấn đề tu học là một điều rất đáng mừng. Nhưng nghe lư luận các ông vừa mới thứ tự tŕnh bày đó, tuy ai nói cũng có lư nhưng cái lư ấy chưa được rốt ráo. Nay ta nói cho các ông nghe rằng, cái khổ năo hoạn nạn lớn nhất của con người là có cái thân ngũ uẩn giả hợp này. Thân là căn bổn cho tất cả mọi ưu khổ được tạo thành. V́ vậy chúng ta hay gọi thân là "khổ khí". Đói khát, lạnh nóng, phiền năo, sợ hăi, những tai họa do sắc dục gây ra, tất cả là do thân thể cảm thọ. Lao tâm cực trí, lo sợ trăm mối, và chúng sinh tàn hại lẫn nhau, cho đến sự trầm luân trong sáu nẻo, không ngừng lăn lộn trong sinh tử, cũng đều do có thân mà ra cả. Muốn thoát ra khỏi cái khổ của thế gian này, th́ phải t́m cầu sự tịch diệt tức là cái thoát khổ chân chính. Nhiếp được tâm tham dục, dập tắt được ngọn lửa sân hận, dối với ngoại cảnh hư huyễn th́ dùng thái độ không mong cầu mà đối phó, th́ cứ thế lần lần, sự tịch diệt sẽ tự nhiên hiện ra trước mắt.Bốn vị tỳ kheo nghe Đ ức Phật khai thị dạy bảo xong, phát tâm tàm quư, tinh tiến dũng mănh gia công tu hành, và chứng được thánh quả rất mau chóng.
88- Thần thông không chống được nghiệp lực Trong số 16 vị đệ tử công hành siêu việt của Đức Phật, Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên là hai nhân vật xuất sắc nổi bật nhất. Nói đến trí huệ của Xá Lợi Phất và thần thông của Mục Kiền Liên, th́ ai ai cũng đều phải công nhận rằng không có vị đệ tử nào khác có thể so sánh được với hai ngài, chính Đức Phật cũng thường hay khen ngợi những thành tựu thù thắng ấy của hai ngài.Hai ngài là bạn thân với nhau từ lâu, thường hay cùng nhau đi lại trong những cảnh giới cơi trời, cơi người và cả địa ngục hay súc sinh, vận dụng thần thông và trí huệ để giải cứu những người đang gặp khổ nạn và giáo hóa những chúng sinh ngu si.Có một hôm, hai vị đi tới địa ngục vô gián, nhiệt độ trong ngục rất cao giống như một ḷ than hồng, ngọn lửa bốc lên phừng phực, hơi nóng từ vạc dầu sôi tỏa ra không ngừng, bao phủ cả địa ngục. Những người chịu tội h́nh th́ kêu la than khóc, Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên bèn rưới nước mưa pháp thanh tịnh cho họ, khiến những thống khổ của họ tạm dừng được trong chốc lát.Lúc ấy có một tội nhân rất dễ sợ, thân h́nh to lớn kệch cỡm, c̣n cái lưỡi th́ vừa rộng vừa dài, bên trên có 500 lưỡi cày bằng sắt cày lên trên ấy như cày trên một thuở ruộng hoàn toàn hoang dă, khiến máu tươi từ lưỡi nhỏ xuống từng giọt, từng giọt. Người tội nhân này thấy Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên th́ mừng rỡ như bắt được báu vật, vội vàng chạy đến cầu khẩn: - Bạch hai vị tôn giả, con tên là Bộ Lợi Nă, lúc c̣n sống con là nhà truyền bá tà giáo, chuyên môn thuyết tà pháp và phỉ báng Tam Bảo, nên hôm nay phải chịu khổ báo này. Giả như hai vị có đi Nam Thiệm Bộ Châu, xin nói với môn đồ của con đừng lễ bái cái tháp gỗ nơi họ thờ phụng con nữa, điều đó làm cho tội báo của con ngày thêm nặng nề, đồng thời nói với họ đừng phỉ báng Tam Bảo, đừng lấy tà giáo mà lừa gạt chúng sinh nữa, để họ đừng dẫm theo bước chân của con mà đọa lạc xuống nơi n ày.Hai vị tôn giả ra khỏi địa ngục vô gián, và trở về thành Vương Xá, trên đường về th́ gặp một nhóm ngoại đạo, trên tay người nào cũng cầm vơ khí như cây, gậy gỗ v.v... Những người này chuyên môn chận đường những người xuất gia đi ngang qua đấy và c̣n nhục mạ, đánh đuổi họ nữa.Xá Lợi Phất đi trước, thấy họ vung gậy lên toan đánh, bèn dùng lời ḥa nhă để ngăn họ, th́ những ngoại đạo ấy tuy ngừng tay lại nhưng vẫn dùng tia mắt hung dữ nh́n tôn giả đi quạ Nhưng đến khi Mục Kiền Liên tiến đến th ́ họ lại vung vơ khí trở lên trở lại.- Đợi một chút, Mục Kiền Liên đưa tay lên chận lại, chúng ta vừa từ địa ngục vô gián lên, gặp sư phụ của các người là Bộ Lợi Nă ở trong ấy đang chịu những khổ báo cực kỳ nặng nề, lưỡi ông ấy bị cày bằng cày sắt, máu tươi dầm dề, khổ sở không bút nào tả xiết. Ông ấy nhờ ta chuyển lời đến cho các người, hăy ngừng hủy báng Tam Bảo, không được tuyên thuyết tà pháp, và mong không có ai dẫm lên bước chân của ông ấy, đồng thời đừng lễ bái tháp gỗ nữa, để cho ông được bớt khổ một chút.Mục Kiền Liên v́ ḷng tốt mà nói lại cho họ nghe lời của thầy họ, nghĩ rằng điều ấy có thể làm cho họ hối lỗi và giải tỏa những oan khiên giữa đôi bên lúc ấy. Nào ngờ lời chưa dứt, bọn ngoại đạo đ ă hung bạo ùa tới như một bầy hổ sói bao quanh ngài tấn công:- Đánh hắn! Hắn dám phỉ báng sư phụ của chúng ta! Đánh hắn! Đánh tên sa môn này đi!Nào cây nào gậy tới tấp như mưa rơi lên thân của Mục Kiền Liên, ngài bị đánh đến nỗi thương tích đầy người. Mục Kiền Liên, bậc đệ nhất thần thông, thần lực bất khả tư ngh́, đă từng dùng ngón chân ấn lên cung điện của trời Đế Thích làm cung điện này giao động và sụp đổ nữa, vậy th́ tại sao ngài lại không đem sức thần thông ấy ra đối phó khi bị ngoại đạo bao vây đánh đập? Lúc ấy chiến thắng một vài ngàn ngoại đạo không phải l à dễ dàng như trở bàn tay sao?Mục Kiền Liên tôn giả dùng thần thông chống đỡ tấm thân đầy thương tích vào thành khất thực, trở về tinh xá dùng cơm, xếp đặt lại y bát gọn gàng xong đến gặp Đức Phật, đi nhiễu xung quanh Thế Tôn lễ bái và thưa:- Con vừa mới trả xong nợ tội, không lâu nữa Xá Lợi Phất sẽ nhập Niết Bàn, chúng con là hai người bạn thân nhất trong thế giới loài người, con nghĩ ḿnh phải đi theo ngài. Xin Thế Tôn từ bi tha thứ cho đệ tử!Mục Kiền Liên với tâm cung kính chân thành nhất đi nhiễu xung quanh Đức Phật ba ṿng theo chiều tay phải, sau đó ngài trở về quê từ biệt gia đ́nh bạn hữu và độ hóa cho những người có duy ên với ngài, rồi lên núi Kỳ Xà Lê tiến nhập Niết Bàn.Giữa t ăng đoàn, Đức Phật kể lại cho chúng đệ tử nghe chuyện "đánh một thả một", tức là chuyện kiếp xưa của Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên:Ngày xưa có hai vị tu đạo một hôm đi qua ngôi làng nọ, th́ có một bọn trẻ con ngu si trong làng, thấy hai vị từ xa đi tới, tâm liền loạn động, chúng bàn tính với nhau nên làm khó dễ hai vị ấy như thế nào.- Chừng nào th́ khí hậu mới trở lạnh? Bọn trẻ du côn kia chắn ngang giữa đường hỏi vị tu đạo đầu tiên mới đi ngang.- Không kể xuân hạ thu đông, hễ ng ày nào có gió có mưa th́ cảm thấy lạnh.Vị tu đạo cười đáp. Bọn trẻ nhường cho vị ngày đi qua đường nhưng lại vội vă chận đường trở lại, cản không cho vị tu đạo thứ hai đi tiếp và lại hỏi:- Bao giờ trời trở lạnh? - Mùa đông thời tiết lạnh lẽo, mặt trời mặt trăng cùng tinh tú xoay chuyển là điều tự nhiên, xuân hạ thu đông bốn mùa, đến mùa đông th́ lạnh, đó là định luật tự nhiên của trời đất, ai ai cũng biết điều đó, chỉ có đứa ngu mới không biết.Bọn trẻ nghe thế, nhặt đá dưới đất và thi nhau ném vào người vị tu đạo thứ hai. Vị tu đạo thứ nhất chính l à Xá Lợi Phất, và vị thứ hai là Mục Kiền Liên. Chuyện xảy ra giống như ngày hôm nay vậy.Nói tới đây, Đức Phật biết có rất nhiều người, thấy Mục Kiền Liên gặp nạn như thế bèn sinh ḷng nghi ngờ đối với thần thông, v́ thế Ngài nói tiếp:- Các ông chớ nên nghi ngờ, diệu dụng của thần thông không phải là một điều hư dối, nhờ thần thông tôn giả có thể lên trên trời, chui xuống ḷng đất, biến hóa khôn lường, tự do tự tại không có chướng ngại. Mục Kiền Liên có sức mạnh bất khả tư ngh́ như thế. Tôn giả cũng không hề mất thần thông của ḿnh, chỉ v́ khi nào nghiệp lực hiện tiền th́ Mục Kiền Liên biết rằng đă có nợ th́ phải trả cho hết. Đến Như Lai c̣n không đi ngược lại luật nhân quả được, người nào cũng thế, khi nào nghiệp báo tới thời trổ quả th́ chỉ có cúi đầu mà nhận chịu thôi. Thuận theo nhân quả mới phù hợp với lư tính của chư pháp. V́ thế mọi người nên vui vẻ mà chấp nhận nghiệp báo, đừng nên trốn tránh, cũng không nên oán hận nó. Cũng v́ thế, mọi người nên biết rơ rằng nghiệp báo rất đáng sợ mà tinh tiến tu hành, cẩn thận mỗi hành vi của chính ḿnh, dựng một bức tường xung quanh thân khẩu ư mà pḥng ngừa. Mục Kiền Liên hiểu rơ giáo pháp của ta một cách chân chính, tôn giả rất giỏi thần thông nhưng không dùng thần thông để che đậy cho tội lỗi của ḿnh.Mục Kiền Liên bị nạn là một tấm gương sáng, là một bài học rất tốt cho chúng ta chiêm nghiệm.
Ngày xưa ở thành Xá Vệ nước Ấn Độ có một ông vua hiền từ và công minh tên là Ba Tư Nặc.Vua là một tín đồ Phật giáo thuần thành, rất nhiệt tâm làm việc phước thiện và việc giáo dục, đối nội th́ dùng chính sách nhân từ và ôn hoà để trị dân, đối ngoại th́ dùng chính sách thân thiện với các nước lân bang v́ ông không thích chuyện chiến tranh giết chóc.Với một ông vua quang minh như thế, tr ăm họ dĩ nhiên phải hạnh phúc, nhân dân do đó rất thương mến và tôn kính vua.Vua Ba Tư Nặc sinh được ba cô công chúa, cô thứ nhất vô cùng xấu xí, từ nhỏ bị dấu trong thâm cung, chưa một lần gặp mặt người lạ, sợ bị người ta chê cười. Cô thứ hai tên là Thiện Quang, cô thứ ba tên là Bà Đà. Bà Đà công chúa vô phúc nên từ bé đă phải xa ĺa bố mẹ, chỉ c̣n lại nhị công chúa Thiện Quang là được bố mẹ vô cùng yêu ch́u.Thiện Quang công chúa không những sinh ra xinh đẹp đoan trang, tính t́nh lại ôn ḥa nhă nhặn. Chưa kể thân nàng c̣n phóng ra một thứ ánh sáng cát tường, cứ chiều tối đến là ánh sáng này tăng lên gấp bội như thể đang giữa ban ngày.Mọi người thương mến bảo bọc công chúa th́ công chúa cũng lấy ḷng thương mến nhân từ đối xử lại khiến người ta lại càng thương yêu kính trọng công chúa thêm.Một hôm nhà vua nhàn rỗi không có việc ǵ làm, bèn đưa người nhà ra vườn hoa dạo chơi. Công chúa Thiện Quang đi sát sau lưng vua cha, lúc nào cũng để ư chăm sóc cho cha nên được vua thương yêu thêm. Khi vua cha đặt câu hỏi th́ công chúa trả lời trôi chảy, lư lẽ rành mạch đâu đó. Vô t́nh nhà vua hỏi:- Thiện Quang! Phụ vương của con là vua của một nước, được tất cả mọi người tôn kính. Con nhờ vào sức mạnh, uy thế và phúc đức của phụ vương nên cũng được mọi người thương yêu tôn trọng, có ai may mắn như con không? Như thế chắc con phải mang ơn phụ vương lắm nhỉ?Nghe vua cha nói thế, công chúa dùng lời lẽ nhu hoà để trả lời:- Tâu phụ vương, con được đầu thai vào gia đ ́nh vua chúa, làm con gái của phụ vương th́ dĩ nhiên con phải kính trọng và hiếu thảo với phụ vương.Nhưng nếu con được mọi người thương yêu tôn trọng th́ đó hoàn toàn là nhờ vào phúc đức con gặt hái được từ những kiếp trước, chứ nếu nói nhờ vào ảnh hưởng của người khác th́ không có ǵ đáng kể.Nhà vua nghe thế không bằng ḷng, tự nghĩ: - Nhị công chúa xưa nay vốn ôn ḥa mềm mỏng, chưa bao giờ tỏ thái độ ngỗ nghịch với ta, tại sao hôm nay lại dám lớn giọng khoe khoang tự cho là ḿnh có phúc báo, có phải là vận hạn may mắn của nó đă hết và nó sắp phải chịu khổ báo?Nhà vua nghiêm sắc mặt, nói với Thiện Quang công chúa với một vẻ không vui: - Nếu con nói con đă tự có phúc báo th́ bây giờ ta sẽ thử nghiệm xem phúc báo của con rốt cuộc lớn nhỏ tới mức nào?Vua Ba Tư Nặc lập tức gọi một người hầu cận tâm phúc, bảo người ấy phải làm sao mà trong ṿng mấy ngày bí mật t́m cho ra một anh chàng thanh niên tuấn tú nhưng không có cơm ăn, không có nhà ở, sống bằng nghề ăn xin quanh quẩn trong hay ngoài hoàng thành, và dặn người ấy tuyệt đối không được tiết lộ việc này ra ngoài.Ba ngày sau, người hầu cận đưa về một người thanh niên hành khất, bảo đứng chờ ở vườn sau. Nhà vua nghe tâu, liền đổi thường phục ra vườn sau gặp người thanh niên đang đứng ở dưới ngọn giả sơn. Thấy mặt người thanh niên ông rất vừa ư, bảo người này rằng:- Ta thấy ngươi c̣n trẻ tuổi, hẳn là chưa có vợ. Nếu ngươi bằng ḷng, ta sẽ tặng cho ngươi một mỹ nhân, cho ngươi đưa về lập tức!Trong đời người hành khất, đến trong mơ c̣n không dám mơ tưởng đến một sự việc như thế, vui mừng quá mà quên thân phận không nhà không cửa của ḿnh, gật đầu trả lời nh à vua:- Ư vua là ư trời, tiểu nhân đâu dám không tuân!Vua Ba Tư Nặc lập tức gọi công chúa Thiện Quang ra bảo rằng: - Con nói tự con đă sẵn có phúc báo, ta muốn thử nghiệm xem phúc báo của con bao to? Nay ta gả con cho anh thanh niên nghèo khổ khốn cùng này, con phải đi theo anh ấy ngay!Công chúa Thiện Quang không chút trách hờn vua cha, cũng chẳng bận tâm đến tương lai của ḿnh sẽ phải lấy ǵ mà sống. Nàng liền đi thay bộ quần áo xa hoa sang trọng đổi lấy một bộ y phục bằng vải thô, lạy phụ vương cáo biệt rồi cùng người hành khất đi ra ngo ài bằng cửa sau của vườn hoa.Thiện Quang công chúa không buồn mà cũng chẳng lo, đi được một đoạn đường, nàng hỏi người hành khất:- Phu quân, nhà chàng ở đâu? Cách đây c̣n xa không? Có chỗ để nương náu không?Người hành khất xấu hổ trả lời: - Khi tôi mới sinh ra đời th́ trong nhà rất có tiền, gia sản khổng lồ. Nhưng không lâu sau cha tôi thôi làm quan, ở nhà ăn không ngồi rồi măi th́ núi cũng phải lở, chỉ một vài năm sau là đời sống trở nên rất khó khăn. Chưa kể cha mẹ tôi tuổi đă già, v́ quá ưu tư mà lâm bệnh nặng, theo nhau mà qua đời. C̣n lại tôi tuổi nhỏ không biết làm ǵ để sống, cứ thế mà lâu ngày nhà cửa hư nát, chỉ c̣n duy nhất một khu vườn lớn không có ai trông coi. Công chúa, khu vườn này cách đây không xa.Công chúa nghe thế rất vui mừng, nói rằng: - Nếu thế th́ quá tốt, chúng ta đến đó xem xét rồi tính sau.Đến th́ thấy một căn nhà hư cũ, phần lớn đă bị đổ nát, cỏ hoang mọc đầy mặt đất. Hai người đi một ṿng quan sát, công chúa Thiện Quang mới khám phá rằng những ngọn cỏ hoang ấy chính thật là cỏ thơm, tức là một loại cỏ thuốc có tác dụng trị bệnh. Công chúa lại càng vui mừng hơn. Trong một góc khác của khu vườn bỏ hoang, trên mặt đất không có ngọn cỏ dại nào, chỉ thấy toàn là đá vụn chồng chất thành những đống nhỏ. Công chúa lấy làm lạ, bèn tiến đến phía trước gạt đá vụn xem ở phía dưới có ǵ, th́ khám phá trên mặt đất có một khối đá rất đẹp đẽ. Công chúa có linh tính là khối đá này không tầm thường, nên nhờ ông chồng hành khất xô khối đá sang một bên. Thật là không ngờ, ngay ở dưới khối đá có chôn một kho tàng toàn là vàng bạc, trân châu quư giá. Người hành khất chưa bao giờ từng thấy nhiều vàng bạc như thế, mừng quưnh cả lên!Để tránh sự ḍm ngó của người khác, hai người lén dấu kho tàng. Trước hết họ cất lên một chỗ cư ngụ tạm thời, rồi mướn thật nhiều thợ thuyền, nào thợ mộc nào thợ nề, xong tự tay công chúa vẽ đồ h́nh để những người này xây một căn nhà huy hoàng tráng lệ. Không bao lâu sau, ngôi dinh thự của pḥ mă đă xây xong, đẹp đẽ không khác ǵ một cung điện nguy nga khiến người người xa gần đều tấm tắc khen ngợi.Khi nhà vua nghe tin này, ông rất lấy làm lạ. Ông dự liệu công chúa sau này phải sống một cuộc sống rất cực khổ, th́ làm sao mà chưa bao lâu đă có một ngôi dinh thự để ở, mà ngôi dinh thự này lại c̣n có phần huy hoàng hơn cung điện của vua? Không lẽ Thiện Quang thật sự có phúc báo to lớn đến dường ấy? Nếu thế th́ phúc báo này từ đâu m à có?Nghĩ thế rồi, nhà vua đến thỉnh giáo bậc đại giác Thế Tôn xin được khai thị.Đức Phật từ bi thuyết giải rơ ràng nhân duyên phúc báo trong kiếp trước của công chúa Thiện Quang cho vua nghe. - Trong quá khứ có một ông vua hiền từ tài giỏi, tên gọi là Bàn Đầu. Hoàng hậu là một người thích làm việc từ thiện bố thí, tôn kính Tam Bảo. Lúc đó chính là lúc Tỳ Bà Thi Như Lai ứng hiện nơi đời để độ hóa chúng sinh. Khi đức Như Lai thị hiện tịch diệt Niết Bàn rồi, hoàng hậu nhớ tưởng ơn Phật, mới kêu thợ điêu khắc đến hoàng cung tạo lên một bức tượng Phật, rồi c̣n lấy bảo vật trân châu quư giá nhất đặt lên đỉnh đầu tôn tượng. Hoàng hậu rất sùng kính tôn tượng và nguyện cúng dường tất cả cho Tỳ Bà Sa Như Lai, v́ thế công đức của bà phải nói là không thể nghĩ bàn được. Về sau, có một lần bà lễ Phật xong phát nguyện rằng: "Nguyện trong tương lai đời đời kiếp kiếp, tôi sẽ sinh vào gia đ́nh phú quư và thân tôi thường có ánh sáng và hương thơm".Đến thời Ca Diếp Như Lai ứng hiện tại thế để độ hóa chúng sinh, hoàng hậu cũng sinh ra trong một gia đ́nh giàu có. Bà chuyên cần làm việc bố thí, cúng dường Đức Phật và chư tăng, không bao giờ lẫn tiếc bất cứ một thứ ǵ. Có một hôm, bà muốn thỉnh Đ ức Phật và đệ tử của Ngài đến nhà cho bà cúng dường, nhưng chồng bà keo kiệt, thấy việc bố thí quá tốn kém. Chỉ ḿnh bà mới biết rơ công đức vô lượng của việc bố thí.Nếu ngay từ đầu bà không bố thí th́ kiếp này bà không thể nào có được một cuộc đời phú quư đến như thế. Có rất nhiều chúng sinh nghèo nàn khổ sở cũng chỉ v́ đ ă có một niệm keo kiệt bủn xỉn trong quá khứ.Bố thí không có nghĩa là nhất định phải đem hết tài sản ra cho, có khi chỉ cần thấy người khác bố thí mà sinh tâm hoan hỉ, th́ không những được ích lợi lớn mà c̣n tiêu diệt được tội chướng.Bà thường thường đem ích lợi của sự bố thí ra giảng giải cho chồng nghe, từ từ sửa đổi được cách nh́n sai lầm của chồng. Sau đó hai vợ chồng đều đồng tâm đồng l ̣ng làm việc bố thí cúng dường.Người đàn bà thiện lành lúc ấy chính là Thiện Quang công chúa hôm nay, và người chồng đă khởi niệm keo kiệt nọ không ai khác hơn là anh chàng thanh niên hành khất vậy. Anh này chỉ v́ một niệm sai lầm mà phải nửa đời nghèo khổ, sống đời ăn xin.Đại vương! Đạo lư nhân quả thiện ác y như h́nh với bóng không sai chạy một mảy may nào. Cày bừa một th́ thu hoạch mười, đó là một đạo lư cố định. Vua Ba Tư Nặc được Đức Phật khai thị như thế rồi, ḷng tin đối với việc báo ứng thiện ác sinh khởi, ông hoan hỉ lễ Phật rồi lui đi.
Tại Ấn Độ ngày xưa, vua nước Ba La Nại tên là Phạm Đạt Ma. Một hôm, vua và quần thần lên núi thẳm rừng sâu săn bắn, đến chiều tối th́ trú đêm trong một căn lều cỏ dưới một ngọn cây cao. Sau một ngày chạy bở hơi tai, vua Phạm Đạt Ma mệt mỏi nên vừa đặt lưng xuống là ngủ say như chết.Lúc ấy, trong ngoài tĩnh mịch, cái yên tĩnh của ban đêm như có cái ǵ rờn rợn. Bỗng nhiên xa xa có tiếng gọi:- Bệ hạ! Bệ hạ! Vua Phạm Đạt Ma!Vua Phạm Đạt Ma đang ngủ say bị tiếng gọi ấy đánh thức dậy th ́nh ĺnh, ông mở to hai mắt nghiêng tai lắng nghe.- Bệ hạ! Bệ hạ! Bệ hạ! Trong đêm đen, ai là người gọi nhà vua? Vua Phạm Đạt Ma cho rằng thần kinh của ḿnh quá ư nhậy cảm nên không thèm t́m hiểu ǵ thêm, nhắm mắt ngủ tiếp. Ngày hôm sau, đoàn người lại tiếp tục săn bắn, cho đến khi mặt trời ngả về tây họ mới mệt nhoài kéo nhau về. Suốt một ngày săn bắn hào hứng, nhà vua đă quên khuấy tiếng gọi trong đêm vừa qua. Đêm hôm ấy, y như đêm trước, ông lại ngủ rất saỵ Đến nửa đêm, tiếng gọi quái dị lại vang lên:- Bệ hạ! Bệ hạ! Bệ hạ! Nhà vua lại bị tiếng gọi đánh thức, hơi cảm thấy bực bội nhưng đồng thời cũng lấy làm lạ, làm sao mà hai đêm liền lại có người gọi ḿnh như thế? Vua sai cận vệ ra ngoài nh́n xem là ai, nhưng không hề có bóng dáng của một người lạ nào.Qua đêm thứ ba, sự thể lại diễn ra như trước. Lần này vua bắt đầu cảm thấy sợ, ông không c̣n hứng thú ǵ trong việc săn bắn nữa, tuy đó là thú vui mà ông ưa thích nhất từ trước đến naỵ Trời vừa hừng sáng, vua không dám nấn ná lại chỗ ấy, truyền lệnh cho quần thần trong ṿng một giờ phải nhổ trại và thu dọn tất cả để tức khắc hồi cung.Về tới hoàng cung, vua vẫn c̣n phiền năo v́ chuyện này nên triệu tập đông đủ các đại thần trong triều để cùng nhau thảo luận. Mọi người đoán rằng chắc chắn đây là yêu ma quỷ mị tác quái, và phải t́m cách trừ khử ma quỷ ngaỵ Nhưng khi nói đến ma quỷ th́ ai cũng run sợ, văn vơ đại thần tướng sĩ trong triều chẳng ai dám đảm nhận trọng trách một ḿnh vào chốn rừng sâu quyết đấu với quỷ. Cuối cùng, chỉ c̣n cách là dán yết thị, chiêu mộ người can đảm dũng lược và có sức mạnh đi bắt quỷ. Bảng yết thị nói rằng người nào trừ được quỷ th́ sẽ được thưởng 500 lượng vàng. Yết thị dán lên chưa được bao lâu th́ có một người nghèo khổ cùng đinh nhưng lại rất gan dạ xin tŕnh diện đi trừ quỷ để lănh thưởng. Vua thấy người này thân thể cường tráng, rất lấy làm vừa ư, bèn đem đầu đuôi câu chuyện kể cho người này nghe. Trời vừa chạng vạng tối, người cùng đinh này lên đường. Màn đêm từ từ buông xuống, người này vào trong tận rừng sâu ngồi yên chờ đợi. Từng phút, từng phút chầm chậm trôi qua. Đến khoảng nửa đ êm, tiếng gọi quái dị nọ lại vang lên :- Bệ hạ! Bệ hạ! Bệ hạ! Người cùng đinh nhắm hướng tiếng gọi vọng lại mà tiến tới, khám phá ra tiếng gọi này từ trong một hang động vọng ra. Ông đứng trước hang động, lớn tiếng gọi vào:- Ê! Mi là người hay là quỷ? Mau ra đây! Nếu không ta sẽ lấy dao bén đâm chết mi!Thật lạ lùng, ông vừa nói xong th́ trong động lại vọng ra âm thanh trả lời: - Tôi không phải là quỷ cũng không phải là người. Tôi là kho tàng bị chôn trong hang động này. Thật đáng tiếc, mấy đêm liền tôi gọi nhà vua đến mang tôi về, nhưng vua không thèm màng tới. Anh đến thật đúng lúc, bây giờ toàn thể tài sản này chúng tôi hiến tặng cho anh hết! Chẳng qua tôi có 7 người bạn, và chúng tôi đi đâu cũng muốn đi cùng. Bây giờ tôi bày cho anh phải làm những ǵ : ngày mai anh về chùi dọn nhà cửa cho sạch sẽ, xong chuẩn bị sẵn chút sữa ḅ và chút nước nhọ Đến trưa, chúng tôi sẽ cải trang thành 8 nhà tu đến nhà anh. Anh đợi chúng tôi ăn uống xong, lấy một cây gậy phang vào đầu người trưởng đoàn của chúng tôi, xong đem ông ấy đặt vào góc nhà, lúc đó kho t àng sẽ về tay anh.Người cùng đinh nghe những lời ấy th́ quá đỗi mừng rỡ, vội vàng chạy về nhà. Trời chưa sáng, ông đă lo chùi dọn nhà cửa thật sạch sẽ, xong đến gặp nhà vua, ba hoa khoác lác bịa ra một câu chuyện. Nhà vua không chút nghi ngờ, sai đem 500 lượng vàng ra thưởng cho ông. Ông vui mừng trở về nhà sửa soạn cơm nước và sữa, rồi c̣n gọi một người thợ hớt tóc về nhà hớt tóc tươm tất. Thời gian quá cấp bách nên ông vừa hớt tóc xong th́ có 8 nhà tu đă đến trước cửa. Ông lễ độ mời họ vào nhà ngồi, xong đem các thứ đă chuẩn bị sẵn ra khoản đăi họ. Xong, như đă đồng ư với nhau trước, ông đem tới một cây gậy và nhắm đầu nhà tu trưởng đoàn phang vào một cái thật mạnh. Thật là quái lạ, ông vừa mới phang xuống, tám ông thầy tu bỗng biến thành tám cái b́nh bằng vàng sáng choang, óng ánh. Ông mừng quưnh mừng quáng, bây giờ ông không c̣n là một anh chàng cùng đinh nữa mà đă trở thành một ông nhà giàu.Nhưng mọi sự đă bị người khác thấy rơ ngọn nguồn: người thợ hớt tóc ban năy, chưa kịp đi th́ khách đă đến nên đành phải trốn trong một căn pḥng khác nh́n trộm.Ông này vừa kinh ngạc vừa khoái chí, ḷng tham nẩy sinh, tuy không biết ất giáp ǵ những cũng muốn bắt chước theo điều ḿnh mới nh́n thấy để phát tài:- Ta cũng có thể làm giàu bằng kiểu này vậy! Ông về nhà, một mặt nhờ người đi kiếm 8 ông thầy tu mời về, một mặt dọn dẹp nhà cửa sạch sẽ, mua thật nhiều thức ăn ngon lành dọn sẵn. 8 ông thầy tu tới rồi, ông chân thành mời họ vào cỗ, đợi cho họ ăn no rồi mới bắt chước anh chàng cùng đinh kia, vác gậy ra phang lên đầu một trong 8 ông thầy tu.Nhưng thật là luống công, v́ 8 ông thầy tu chẳng những đă không biến thành 8 cái b́nh vàng, mà người bị đánh th́ bể đầu chảy máu kêu la bài hăi, v́ thế người ngoài đường bu đến xem rất đông. Khi không khi khổng đi đánh người ta, tội đă rành rành không chối vào đâu được, người thợ hớt tóc lập tức bị bắt giải v ào phủ quan chịu tội.Khi bị quan ṭa hỏi tại sao lại đánh người, ông thợ hớt tóc mới đem đầu đuôi ngọn ngành câu chuyện kể lại cho quan nghe. Quan toà lại mang chuyện này tŕnh tâu lên vuạ Nhà vua nổi giận, sai người đến nhà người cùng đinh tịch thu hết mấy cái b́nh vàng, nhưng quái lạ thay, b́nh vàng mới đặt trước mặt nhà vua đă biến thành những con rắn độc ghê rợn.Câu chuyện trên đây muốn nói rằng: đáng lẽ ta không có được vật ǵ, không thể cưỡng nhân duyên cho có. Nếu cưỡng nhân duyên cho có th́ chỉ có tổn hại cho ta mà thôi. Cổ nhân có nói "mưu tài hữu đạo". Nếu mưu cầu điều ǵ mà không đúng pháp th́ chẳng khác ǵ ép cát t́m dầu hay đục băng đá t́m sữa, hoàn toàn phí công vô ích.Đức Phật có nói: Chỉ có tŕ giới mới là tài sản chắc chắn nhất, bảo đảm nhất.
Thành Vương Xá là một khu đất h́nh ḷng chảo trụ trên núi cao, bốn phía có vườn tược bao quanh, cây cối rậm rạp, khí hậu ôn ḥa, ấm cúng, quốc thái dân an, phong điều vũ thuận. Vua của vương quốc này là A Xà Thế hoàng đế, tin Phật, thương dân, trị quốc đúng cách, rất được ḷng người.Trong vương quốc có nhà một ông đại phú hộ, kho vàng đầy ắp, tiền tài nhiều không ai sánh bằng, nhưng hai vợ chồng cưới nhau đă lâu mà không có được một đứa con nào. V́ thế hai người đi cầu thần linh, coi bói khắp nơi, làm việc thiện, bố thí để cầu xin một đứa con trai. Cuối cùng trời không phụ ḷng người, tới một năm kia th́ hạ sinh một cậu quư tử trắng trẻo bụ bẫm. Đứa bé này sinh ra thật không giống người thường, không biết kiếp trước đă trồng phước đức ǵ mà các đầu ngón tay của cậu phóng ra ánh sáng cát tường, sáng như mặt trời mặt trăng. V́ đầu ngón tay của cậu phóng ra ánh sáng có thể làm tan biến được bóng tối, nên cậu được đặt tên là Đăng Chỉ (đèn trên ngón tay).Không những Đăng Chỉ có ngón tay phóng ra ánh sáng mà tướng mạo cũng thanh tú đẹp đẽ, khiến cha mẹ vừa ngạc nhiên vừa vui mừng, mời rất nhiều thầy tướng số đến xem tướng cho con. Trong số các vị này có một người tên là Khổ Tu, nh́n tướng của Đăng Chỉ xong nói với ông phú hộ rằng:- Tôi thấy tướng đứa bé n ày lớn lên không giống người thường, tương lai chắc chắn sẽ là thánh nhân.Ông phú hộ nghe thế mừng rỡ không kể xiết, nên lúc Đăng Chỉ đầy tháng, ông lập đàn bố thí rất lớn trong suốt 7 ngày, hai vợ chồng nguyện hồi hướng công đức bố thí ấy cho tương lai con trai được nhiều nhân tốt hơn nữa.Tin phú ông lập đàn bố thí, chỉ trong ṿng một ngày là được loan truyền đi khắp cả nước, ai ai cũng khen ngợi tán thán. Nhà vua nghe được tin này cũng vui mừng không cùng, sai sứ thần đến nhà ông phú hộ bảo muốn Đăng Chỉ vào cung cho vua gặp. Vua đă truyền lệnh ai dám không tuân, phú ông lập tức mang đứa bé mới đầy tháng đi gặp nhà vuạ Đường đi rất xa nên khi phú ông đến hoàng thành th́ trời đă tối. Khi ông đến trước cửa hoàng cung, bỗng nghe tiếng chiêng trống rầm trời, th́ ra trong cung có một buổi tiệc rượu đang được cử hành. V́ thế phú ông đứng ở ngoài rất lâu mà không ai vào thông báo, chẳng vào trong cung được. Đang trù trừ do dự, bỗng hài nhi đưa tay lên, từ các đầu ngón tay phát ra ánh sáng chiếu khắp cả cung điện, từ trong ra ngoài chói ngời rạng rỡ. Lúc ̐ |