Chùa Hải-Đức in Jacksonville

[Home] [Up] [Điểm Sách] [Sutras] [Dharma Talks] [GĐPT] [Sinh Hoạt] [Our Activities] [Kinh] [Pháp Thoại audio mp3] [Tin Tức Phật Giáo] [Thuyết Pháp] [Thơ Văn] [Ngoại Điển] [Phật Học] [Tụng Kinh] [Nghi Lễ - Rituals]

 

Truyện  Tích  Phật  Giáo

Tác giả: Phật Giáo Cố Sự Đại Toàn

Dịch giả: Diệu Hạnh & Giao Trinh

71 - 80

 

71- Niệm Phật diệt tội

Khi Đức Phật đă chứng quả Vô Thượng Bồ Đề, th́ có rất nhiều người đi theo Ngài xuất gia học đạo. Dưới sự hướng dẫn chỉ đạo của Thế Tôn, có rất nhiều người đă chứng quả A La Hán, thoát được sự đau khổ của sinh tử. Các vị này có thể tự do tự tại đi lại khắp mọi nơi trong mười phương không một chút chướng ngại.

Trong số các vị đă chứng quả A La Hán ấy có một vị phát nguyện cứu độ tất cả những người đă có nhân duyên với ngài trong những kiếp trước hay trong kiếp này. Dầu cho họ có đầu thai làm người hay làm súc sinh, ngài cũng t́m đủ mọi cách và vận dụng đủ mọi thần thông để cứu họ giải thoát.

Sau một vài tháng như thế, ngài đă độ hóa được vô số, vô số người, tất cả đều quy y Phật và đều trở thành những Phật tử thuần thành.

Duy chỉ có một người hăy c̣n ở dưới địa ngục là ngài chưa t́m ra cách nào để cứu được, đó chính là mẹ của ngài ở kiếp này. Lúc c̣n sống, mẹ ngài không kính trọng người lớn tuổi, hủy báng Tam Bảo, nên chết rồi phải đọa xuống địa ngục, chịu những cái khổ khủng khiếp như bơi trong biển lửa, trèo lên núi dao. Nghiệp chướng của bà quá nặng nề nên tuy có con trai đắc quả A La Hán rồi mà cũng không cứu bà ra khỏi địa ngục được.

Thế nhưng người con hiếu thảo vẫn tha thiết muốn cứu mẹ, tự biết lực của chính ḿnh không đủ, bây giờ phải nhờ đến tha lực.

Vị A La Hán thấy vua của một vương quốc bé nhỏ nọ, tuy c̣n trẻ tuổi nhưng bản tính hung bạo, đă từng tạo tội giết cha để chiếm ngôi. Cái tội giết cha và thí vua nhất định sẽ chiêu cảm quả báo khổ đau cùng cực.

Vị A La Hán dùng thần thông quán thấy vị hôn quân ngỗ nghịch vô đạo này mệnh sống chỉ c̣n có 7 ngày, chết rồi sẽ đọa ngay xuống đúng cái địa ngục mà mẹ ngài đang ở để cùng chịu chung cảnh khổ của địa ngục ấy.

V́ muốn cứu mẹ và đồng thời cứu luôn ông vua lẫn tất cả những người đang chịu khổ trong địa ngục, vị A La Hán bèn đến trước mặt vua, hiện thần thông, nửa thân người treo lơ lửng trên hư không.

Ông vua thấy thế hoảng sợ vội rút kiếm ra tính sát hại ngài, nhưng lưỡi kiếm chưa chạm đến thân ngài th́ vuột khỏi bàn tay vua rơi xuống đất. Ông vua lấy làm lạ, vừa định mở miệng ra hỏi th́ nửa phần thân người đang treo lơ lửng trên hư không bỗng nói trước:

- Có phải cái ngôi báu mà bệ hạ đang ngồi đó, là do bệ hạ chiếm đoạt không? Bệ hạ giết vua cha để soán ngôi, bệ hạ có biết tội ấy nặng như núi không? Nếu bệ hạ không mau mau hối lỗi, trong nội bẩy ngày bệ hạ sẽ chết và đọa xuống địa ngục. Hôm nay tôi đặc biệt đến đây để báo cho bệ hạ biết trước mà sớm sám hối, may ra mới thoát khổ sau này.

Nhà vua nghe thế trong ḷng vừa xấu hổ vừa sợ hăi. Nghe rằng cái chết đang kề cận ngay trước mắt, chỉ trong ṿng 7 ngày nữa là thọ mệnh chấm dứt rồi sau đó sẽ rơi xuống địa ngục chịu khổ, ông chợt biết những việc ông làm là tội lỗi. Nhà vua khóc lóc thảm thiết, van cầu ngài A La Hán ra tay cứu độ.

Vị A La Hán thương xót sự ngu muội của ông, nói rằng:

- Bây giờ thọ mệnh của bệ hạ chỉ c̣n có 7 ngày, dẫu có muốn tạo công đức cũng không kịp nữa. Tôi cho bệ hạ biết, nếu trong 7 ngày tới mà bệ hạ có thể xả bỏ tất cả mọi thứ, một ḷng thành tâm niệm "Nam Mô A Di Đà Phật" th́ có thể nương dựa vào lực đại từ đại bi của Phật A Di Đà mà được độ thoát.

Nghe lời dạy bảo của vị A La Hán, nhà vua nhất tâm nhất ư niệm thánh hiệu Phật A Di Đà.

Quả nhiên 7 ngày sau ông tắt thở, nhưng tâm trí vẫn hết sức tỉnh táo sáng suốt. Ông biết ḿnh đă rơi xuống địa ngục, nhưng nhờ trong ṛng ră 7 ngày liền ông đă niệm danh hiệu Phật A Di Đà cho đến mức nhất tâm, nên đến tới cửa địa ngục rồi mà cũng không chút sợ hăi, ông cứ thế tiếp tục niệm danh hiệu Phật.

Khi danh hiệu Phật vừa từ cửa miệng ông xướng lên, th́ địa ngục bỗng nhiên mát mẻ, các dụng cụ tra tấn bày hai bên bỗng không cánh mà baỵ Lúc ấy tất cả các tội nhân trong địa ngục đều cùng nhau bắt chước nhà vua niệm Phật. Tâm thành khẩn của mọi người đă giao tiếp được với nguyện lực của Đức A Di Đà, nên nhà vua, mẹ của vị A La Hán cùng hết thẩy mọi tội nhân trong ngục đều được giải thoát và siêu sinh.

72- Niệm Phật được cứu

Thời xưa có một người đàn bà hiền đức và tài giỏi, ở đây tạm gọi là bà Hiền Huệ. Nhờ bà thường lắng nghe Phật Pháp, nên hiểu rơ rằng đời sống con người là tạm bợ và đau khổ. Nếu không tu học Phật đạo, nếu không tự cảnh giác để khỏi phạm tội, th́ không kể nam hay nữ, tất cả sẽ vĩnh viễn trôi nổi trầm luân trong sáu nẻo không có ngày chấm dứt. Tuy công việc nhà rất bề bộn, nhưng đi đứng nằm ngồi bà cũng không quên tinh cần niệm Phật. Ngay cả những người hàng xóm hai bên nhà cũng được bà khuyến khích nên cũng chuyên tâm cùng bà tu học, tất cả đều đắm ḿnh trong danh hiệu của Phật nên sống một đời sống an nhiên vui vẻ.

Chỉ có mỗi một điều đáng tiếc là chính người chồng của bà Hiền Huệ th́ không thể khuyến hóa được, có lẽ v́ cơ duyên chưa chín mùi chăng? Nhưng lỡ như đó là một người dở tệ đến nỗi không có cách nào tiếp nhận được Phật Pháp th́ thật là tiêu đời! Bà Hiền Huệ cứ nghĩ đến đây là lo lắng vô cùng, bà suy đi tính lại măi mà không t́m ra cách nào cải hóa ông chồng.

Một hôm, bà nh́n thấy những đứa bé con hàng xóm đang đùa nghịch với một cái chuông đồng trước mặt nhà bà, bỗng nhiên bà nhanh trí loé ra trong đầu một phương pháp rất hay.

Trời gần tối, chồng về tới nhà, bà nói với chồng rằng:

- Thiếp nghe nói gần đây thường xảy ra nhiều vụ trộm cướp, phu quân đi làm việc, thiếp ở nhà một ḿnh, trước cửa không có ai canh gác, thật là nguy hiểm cho nên thiếp bắt buộc phải đóng chặt cửa lại. Thiếp muốn mua một cái chuông đồng treo trước cửa, phu quân về tới nhà th́ lắc chuông vài tiếng, mỗi lần lắc là niệm một câu "Nam mô A Di Đà Phật" làm ám hiệu, thiếp biết là phu quân đă về sẽ ra mở cửa. Làm như thế vừa có thể pḥng ngừa bọn trộm cướp, vừa để cho thiếp an tâm làm việc trong bếp.

Người chồng mỉm cười gập đầu:

- Được! Hiền thê nghĩ cách đó rất hay.

Từ đó về sau, người chồng về nhà bắt buộc phải lắc chuông và niệm vài câu niệm Phật, niệm Phật do đó trở thành một thói quen lúc nào ông không hay biết.

V́ người chồng không nghe chính pháp, nên giống như bao nhiêu người khác, không phân biệt rơ thiện ác, mặc cho hoàn cảnh đưa đẩy mà tạo tác các nghiệp. V́ thế nên khi vô thường đến, ông lâm bệnh ĺa đời, không đem theo được ǵ theo ḿnh trừ nghiệp tội là không rời thân. Một con người ở trong vũng lầy ô trọc của tội ác, th́ không cần biết tài giỏi đến đâu, lúc ấy cũng không giở tṛ ǵ được.

Người chồng bị đẩy xuống địa ngục lớn, trong đó có vạc dầu sôi, núi dao với những h́nh phạt độc ác ghê rợn nhất. Bọn ngục tốt hung hăng đưa đinh ba trong tay lên nhắm hướng người tội nhân mới đến mà xông tới, muốn dùng đinh ba xóc ông ném vào vạc dầu sôi. Cái đinh ba này bằng sắt, bên trên có treo rất nhiều khoen sắt chạm vào nhau kêu leng keng, làm cho tội nhân càng thêm run sợ.

Âm thanh của những chiếc khoen sắt hay những dụng cụ tra tấn chạm vào nhau giống như tiếng chuông đồng treo trên cửa nhà vợ chồng bà Hiền Huệ, nên người tội nhân mới đến này, tức là chồng bà Hiền Huệ, không thể không buộc miệng niệm "Nam mô A Di Đà Phật".

Lạ thay, địa ngục đen ng̣m âm u bỗng nhiên sáng rực, ánh sáng không biết từ đâu chiếu đến. Bọn ngục tốt ngừng mọi khí cụ tra tấn trong tay, ngọn lửa phừng phực cũng dập tắt, nguyên cả địa ngục biến thành một nơi thanh tịnh mát mẻ.

Rất nhiều hồn ma đang chịu h́nh phạt cũng được nghỉ ngơi. Lúc ấy có sứ giả của địa ngục đến ra lệnh với bọn ngục tốt rằng:

- Đem cái người đó lên cơi người, hắn có đầy đủ công đức của việc tŕ niệm danh hiệu Phật.

Địa ngục trở lại cảnh tượng thê thảm trước, nhưng chồng bà Hiền Huệ th́ đă sinh lên cơi người rồi.

Công đức của một câu niệm Phật to lớn như thế, hy vọng những người không niệm Phật sẽ mau mau bắt đầu!

 

73- Nữ chuyển thành nam

Nghiệp chướng của người nữ so với người nam luôn luôn nặng hơn. Sinh ra làm một người đàn bà, dầu trên bất cứ phương diện nào, cũng không thắng được một người đàn ông. V́ thế, người đàn bà nào trên thế giới này cũng phải sinh tâm tàm quư đă sinh làm thân nữ.

Thời quá khứ, có một cô gái, v́ muốn sám hối nghiệp chướng của ḿnh và muốn các đời sau không c̣n thọ thân nữ nữa, mới đem một bó hoa tươi thắm và thơm ngào ngạt đến chùa dâng cúng Đức Phật. Cô chí thành đảnh lễ tượng Phật và sau đó, ra khỏi chùa đến cửa lớn, th́ vừa vặn gặp một vị xuất gia. Cô hỏi:

- Bạch thầy, đem một bó hoa cúng Phật được bao nhiêu phước báo?

- Tôi là người mới xuất gia tu học, chưa rơ lắm về điều cô muốn hỏi. Nhưng tôi có thể đưa cô đến gặp một vị đă chứng quả A La Hán, và cô có thể hỏi ngài.

Vị xuất gia sơ học bèn đưa cô gái đến gặp vị A La Hán, và đem vấn đề cô gái hỏi ra thưa thỉnh ngài. Vị A La Hán trả lời:

- Công đức cô đem một bó hoa cúng Phật, khiến kiếp tới cô sẽ không sinh làm thân nữ nữa, mà được sinh lên cơi trời hưởng phúc suốt cả một vạn kiếp, mà phước báo vẫn chưa dứt hết. Sau đó, c̣n phước báo nào nữa th́ tôi không biết được.

Vị A La Hán không trả lời được cho cô gái một cách hoàn măn khiến cô vẫn c̣n bất an. Vị A La Hán bèn nói:

- Cô ở đây chờ một chút, tôi lên cung trời Đâu Suất thỉnh giáo Bồ Tát Di Lặc.

Vị A La Hán nói xong, lập tức đằng không lên cung trời Đâu Suất, hỏi Bồ Tát Di Lặc :

- Có một tín nữ cúng Phật một bó hoa và sám hối nghiệp chướng trong quá khứ. Công đức của cô như thế, nói cho đến cùng tận, th́ được bao nhiêu?

Nhưng ngài Di Lặc Bồ Tát cũng không thể biết hết được tường tận vấn đề này, ngài bảo khi nào ngài chứng quả Phật th́ mới biết rốt ráo được.

Xem thế mới biết, cúng Phật một bó hoa thôi mà được công đức vô lượng, không thể nghĩ bàn, không thể so sánh. Chỉ cần mọi người chịu phát tâm tu công đức cho nhiều, bố thí cho nhiều, th́ không những có thể làm cho nghiệp chướng tiêu trừ, mà phước báo đạt được th́ không thể nào hiểu tận cùng được!

 

74- Ông vua kiểu mẫu

Cách thành Xá Vệ không xa có một khu vườn hoa, tên là vườn Cấp Cô Độc cây Kỳ. Trong vườn cây cối sum sê, cỏ hoa ngào ngạt hương, có pḥng ốc, giảng đường đồ sộ. Đây chính là đạo tràng mà trưởng giả Cấp Cô Độc đă hợp sức với thái tử Kỳ Đà dâng lên Đức Phật, và Thế Tôn thường thuyết pháp tại nơi này.

Cũng tại nơi này, không biết bao nhiêu chúng sinh cơi trời, cơi người đă được độ.

Có một hôm, một luồng ánh sáng cát tường huy hoàng bỗng chiếu thẳng tới thiên cung. Thái tử Bích La tại thiên cung biết ngay đây là điềm báo Đức Phật sắp thuyết pháp nên không dám chần chờ, lập tức cưỡi luồng từ quang ấy và trong chớp mắt đă đến vườn Cấp Cô Độc cây Kỳ, lễ bái Đức Phật và yên lặng đứng sang một bên chờ đợi.

Pháp hội đă bắt đầu, thái tử Bích La đứng dậy, cung kính chắp tay thưa với Đức Phật rằng:

- Thế Tôn! Từ quang bi nguyện của Như Lai đă làm lợi lạc cho chúng sinh cùng khắp, công đức vĩ đại ấy con tán thán không bao giờ cùng tận! Hôm nay con có một câu hỏi, thỉnh Thế Tôn giải đáp cho con.

Đức Phật đáp:

- Tốt lắm, ông có điều chi cứ hỏi, ta sẵn sàng trả lời cho ông.

Hoàng tử Bích La mừng rỡ bạch rằng:

- Thế Tôn! Làm người trong khắp cả thiên hạ, ai cũng ôm ấp đầy những mong muốn: muốn ḿnh được khoẻ mạnh không ưu sầu, không bệnh hoạn, muốn con cháu đầy nhà, quyền cao chức trọng, lại muốn ăn ngon mặc đẹp... rồi ngồi đó mà chờ những thứ ấy rơi vào tay ḿnh!

Kỳ thật, làm ǵ có chuyện không làm ǵ mà được tất cả, một người không chịu làm việc, vĩnh viễn không thu hoạch được ǵ hết! Cái mà họ gặt hái được trái lại là khổ nhiều vui ít. Thế Tôn! Trong thế giới tam thiên đại thiên rộng lớn vô biên này, có bao nhiêu người đạt được những vui thú hay sự b́nh an mà họ mong cầu? Phật là bậc đại giác, thỉnh Ngài cho con biết tại sao cuộc đời lại như thế?

Đức Phật khen ngợi mà trả lời rằng:

- Điều ông muốn nói là muốn cầu phúc báo th́ có phương pháp để được phúc báo, song nếu cầu không đúng cách th́ dĩ nhiên không đạt được ǵ hết. Ông nên biết, bất kỳ ở cơi trời hay cơi con người, điều tốt hay xấu mà tự ḿnh đă làm nên th́ cũng sẽ do tự ḿnh gánh vác lấy. Chờ khi nghiệp báo tới lúc trổ quả th́ trốn không thoát mà ai thay thế cho cũng không được. Một người tạo nghiệp lành th́ sẽ được phúc báo, c̣n giả như một người làm ác bằng đủ mọi cách, th́ sẽ gặt hái toàn là tai họa. Đó là nhân quả, không có ai do may mắn mà được quả phúc, cũng không có ai gặp nguy nàn một cách vô cớ. Họa và phúc như cái bóng theo ta bén gót, như âm thanh vừa phát ra th́ tai ta liền có phản ứng.

- Thưa vâng, Thế Tôn! Con nghĩ tới một câu chuyện xưa, cũng đúng như vậy, trong đời quá khứ, con nhớ lúc c̣n làm một vị vua trong loài người, v́ rơ biết nhờ đă có hành bố thí nên mới được hưởng phước báo, quốc gia của con mới thịnh vượng, nhân dân mới an lạc như thế. Một hôm, con lại nghĩ, đời người vốn ngắn ngủi, nên lợi dụng lúc c̣n th́ giờ mà hành bố thí và làm chút ǵ lợi ích cho chúng sinh, hầu trồng trọt hạt giống phúc đức cho tương lai của chính ḿnh.

V́ thế nên vào buổi lâm triều sớm, khi quần thần đă tụ tập đầy đủ, con nói với họ rằng:

- Trẫm muốn bố thí sâu rộng trong quần chúng nên cần có một cái trống lớn, mỗi khi gióng trống lên th́ tiếng của nó phải vang xa tới một trăm dặm để cho người ở xa có thể nghe thấy mà mau đến nhận bố thí. Ai tạo cho trẫm được một cái trống như thế, trẫm sẽ trọng thưởng.

Quần thần ai nấy đều im lặng suy nghĩ, v́ điều con đ̣i hỏi không giản dị chút nào. Thật lâu sau, bỗng nhiên có một vị quan đứng dậy tâu:

- Để đáp hồng ân của bệ hạ từ bi cứu tế muôn dân, thần xin nguyện cố gắng hết sức ḿnh để đảm nhiệm việc này.

Đó là một vị đại thần tên là Khuông Thượng, mọi người ai cũng kính phúc ḷng trung tín cũng như tài năng của ông, nên họ đồng thanh tiến cử ông lên cho con. Con cũng vui mừng tán thưởng:

- Thế th́ hay quá!

- Tuy nhiên, Khuông Thượng tiến lên tâu rằng, có lẽ sẽ phải cần rất nhiều tiền mới làm nên chuyện.

Con ra lệnh cho mở ngân khố quốc gia, và nói:

- Điều đó không thành vấn đề, khanh cần bao nhiêu cứ tự tiện lấy mà chi dùng.

Khuông Thượng bèn lấy trong kho nào tài sản, lương thực, tất cả những ǵ cần thiết cho đời sống, rồi cho người lấy xe chở hết ra ngoài cung thành, chia ra từng món phẩm vật khác nhau tử tế, xong lại phái người đi khắp nơi truyền rao và dán cáo thị cho dân chúng biết: "Nhờ hồng ân của hoàng thượng, những ai nghèo khó, ăn không đủ no, mặc không đủ ấm, đều có thể đến đây nhận sự trợ giúp."

Ngoài ra, ông phái sứ giả đức độ tài giỏi đem phẩm vật cần thiết hằng năm cho các vị sa môn và bà la môn, tùy tháng, tùy khu tùy thời mà phân phát.

Từ xa tới gần, một đồn mười, mười đồn trăm, dân chúng trong cả nước ai ai cũng nghe tin ấy, và ai ai cũng không quản lặn lội đường xa nhắm hướng kinh thành mà đi. Cho đến dân chúng trong những nước lân cận cũng nhập theo đoàn người đi nhận vật trợ tế. Những nước nhỏ nghèo đói th́ cảm động trước từ bi đức độ của con, nên đua nhau đến xin quy phục.

Mỗi ngày, trước mặt cung thành, khung cảnh náo nhiệt như buổi họp chợ, trẻ già lớn bé d́u dập liên tục tới lănh của bố thí, họ tay ôm tay xách rất nhiều thứ, không ngừng hướng về vương cung lạy tạ, và cũng không ngừng tán thán nhân đức của nước con:

- Hỡi quốc vương nhân từ! Ngài thương yêu bảo bọc chúng thần như cha mẹ, chúng thần nguyện sẽ măi măi ủng hộ ngài, để măi măi được che chở dưới chính thể nhân đức của ngài.

Qua một năm, con gặp lại Khuông Thượng, hỏi xem ông ta làm cái trống tới đâu rồi, ông đáp:

- Tuân lệnh của bệ hạ, thần đă làm xong từ lâu rồi!

- Thế sao ta không nghe tiếng trống bao giờ cả?

Con sửng sốt hỏi.

- Kính thỉnh bệ hạ lên xa giá ra ngoài thành khảo sát, chắc chắn ngài sẽ nghe trống pháp của Phật vang xa. Không phải chỉ 100 dặm mà thôi, tới ngàn dặm cũng c̣n nghe được.

Khuông Thượng cúi ḿnh tâu lên.

Con bèn lên xa giá cùng thị vệ ra khỏi cung điện khảo sát. Thị trấn nào cũng sầm uất tấp nập, nhân dân sống trong sung túc, người nào cũng có vẻ rỡ ràng hạnh phúc, và ai ai cũng cảm tạ ân đức của con. Tự mắt ḿnh chứng kiến điều đó làm cho con rất ngạc nhiên, hỏi Khuông Thượng rằng:

- Nước chúng ta đông dân đến thế ư? Mà tại sao họ lại vui mừng đón tiếp ta một cách nồng hậu như thế?

Khuông Thượng đáp:

- Năm ngoái thần tuân chỉ dụ của hoàng thượng đúc được cái trống to, với mục đích loan truyền rộng răi trong quần chúng ư muốn từ bi hành đại bố thí của hoàng thượng. Nhưng thần tự nghĩ, làm sao một khúc gỗ khô cùng một tấm da thú có thể nói lên được đức độ của hoàng thượng? Hoàng thượng đă trao cho thần toàn quyền, th́ thần tự làm theo ư ḿnh, tức là đem của cải tài sản từ ngân khố quốc gia, tuyển người hiền đức tài năng đúng thời đúng chỗ mà đem phân phát trong tăng đoàn, thay mặt hoàng thượng cúng dường chư tăng không hề gián đoạn để duy tŕ chính pháp. Muốn cho quốc gia cường thịnh, nhân dân an lạc, thần nghĩ duy chỉ có một cách là làm cho Phật pháp vĩnh viễn lưu truyền trong nhân gian, lấy Phật pháp làm sáng đẹp nhân tâm th́ thế gian tự nhiên biến thành tịnh độ. Một mặt lại đem tài vật ra bố thí cho người nghèo khó bần cùng trong nước, từ xa tới gần, cho đến cả những nước nhỏ lân cận nghe tin ấy cũng mau đến xin bố thí, họ cảm động trước nhân đức của hoàng thượng nên đồng đến xin quy phục. Có kẻ từ trăm dăm, từ ngàn dặm, mà cũng có kể đă từ vạn dặm đường xa mà đến. Hoàng thượng nay tự chứng kiến sự mừng vui của dân chúng, đă tự tai nghe họ tán tụng ngài, đó là v́ thần đă áp dụng nguyên tắc của "trống pháp" mà đúc trống cho hoàng thượng.

Đức Phật nghe thiên cung thái tử Bích La kể xong, hoan hỉ nói:

- Ông và ta giống nhau, lúc trước trên đường hành đạo, ta gặp ma nạn không ít mà gặp người hộ tŕ ta cũng nhiều. Ta có ân với người, người cũng có ân với ta, muốn được mọi sự như ư phải thi ân thật nhiều cho người khác!

Thái tử Bích La nghe thế cảm động không cùng, th́ ra sinh nơi cơi trời rồi mà vẫn c̣n phải hành bố thí sâu rộng.

75- Phước đức của hòang hậu

Đức Phật đă từng nói với chúng ta rằng người hành bố thí là người đang tạo cho ḿnh một gia sản vững chắc. Công đức của bố thí không những thù thắng, mà c̣n là nơi nương tựa bảo đảm và an toàn nhất. Những người giàu có trên thế gian hiện tại chính là những người đă tạo nhân bố thí trong những kiếp trước, và họ đang hưởng phúc báo của công đức này. Và người hành bố thí thời nay là người đang chuẩn bị hưởng hạnh phúc trong tương lai.

Thời xưa ở Ấn Độ có một bà hoàng hậu, ḷng tin Phật pháp rất thâm sâu và thành khẩn. Bà chỉ thích làm hai việc là bố thí và tạo công đức. V́ thế nhân dân trong vương quốc rất thương mến tôn kính bà, và ngay trong cung, bà cũng được tất cả mọi người suy tôn.

Một hôm, bà khoác vào người một bộ y phục lụa là tuyệt đẹp, trên đầu đội vương miện bằng trân châu để đi dạo trong vườn hoa với nhà vuạ Nhà vua ngắm nhan sắc kiều diễm của hoàng hậu và nói:

- Ái khanh của ta! Nàng nghĩ xem, nàng sửa soạn thật là xinh đẹp, phú quư mà nàng đang hưởng mà ít ai có được. Nhờ ta mà nàng mới có một cuộc sống vinh quang như thế, nàng thấy có đúng không? Ta là vua, nàng là hoàng hậu, ta ăn th́ ăn ngon, mặc th́ mặc đẹp, nhà ở th́ lộng lẫy, những niềm phúc lạc ấy nàng đều chia xẻ với ta, thế th́ ái khanh ơi, nàng phải thương yêu ta lắm mới phải!

- Đại vương, thiếp phải luôn luôn thương yêu và cảm tạ đại vương. Nhưng phú quư thiếp được hưởng ngày hôm nay, không phải là nhờ đại vương ban cho mà là nhờ phúc báo sẵn có của thiếp. Giữa chúng ta chỉ có quan hệ vợ chồng, c̣n nói tới phúc báo của người này hay người kia, th́ phải nói là nhờ nhân thiện do chính họ gieo trồng chứ không ai ảnh hưởng ai được!

Những câu nói của hoàng hậu không làm cho vua bằng ḷng chút nào nhưng ông không trả lời, chỉ hầm hầm quay trở về vương cung. Ông muốn chứng tỏ cho hoàng hậu phải thấy rằng những quan niệm của bà không đứng vững.

Khuya đêm hôm ấy, chờ hoàng hậu ngủ say rồi, ông lén cởi chiếc nhẫn quư giá mà hoàng hậu đang đeo trên tay rồi đem ném xuống sông. Vua làm điều này một cách bí mật, không có một người nào trông thấy. Hôm sau hoàng hậu tỉnh giấc, thấy chiếc nhẫn không cánh mà bay bèn hỏi vua:

- Quân vương! Chàng có thấy chiếc nhẫn của thiếp không?

- Làm sao ta thấy được? Nhẫn nàng đang mang trên tay tại sao lại hỏi ta? Không lẽ một người sẵn có phúc đức như nàng mà cũng bị mất nhẫn ư?

Nhà vua trả lời một cách châm biếm.

- Vâng, nếu thiếp có phúc có phần và nếu chiếc nhẫn ấy thuộc về thiếp th́ chắc chắn là nó không mất, ngược lại nếu thiếp không được sở hữu một vật nào đó mà cứ cưỡng ép để mà có th́ cũng chỉ vô ích mà thôi.

Thái độ của hoàng hậu rất thản nhiên và tự tại. Tuy đó chỉ là một chiếc nhẫn, nhưng trên chiếc nhẫn có gắn một viên bảo châu vô giá, thế mà chiếc nhẫn mất đi không làm cho hoàng hậu phiền năo hay ưu tư chút nào. Nếu chuyện ấy xẩy ra cho nhà vua, chắc là ông đă lo lắng ghê gớm lắm, v́ thế ông mới lập ra mưu kế ấy để đánh đổ cái lư luận tự cho ḿnh là phi phàm của hoàng hậu.

Lạ thay, ba ngày sau, cung nữ trong nhà bếp mổ bụng một con cá th́ t́m ra chiếc nhẫn mà hoàng hậu đă mất mấy hôm naỵ Vua nghe tin này ngạc nhiên cùng cực, lúc ấy ông mới tin tưởng chắc chắn rằng phúc đức là điều bất khả tư ngh́.

Số là sau khi chiếc nhẫn bị vua ném xuống sông rồi, th́ liền bị một con cá bơi ngang chỗ ấy đớp vào bụng mất. Mới nuốt xong chiếc nhẫn, nó rơi ngay vào lưới của một người đánh cá và người này đem mẻ cá mới lưới được bán cho triều đ́nh. Mọi sự việc ăn khớp với nhau chặt chẽ, chỉ cái phước vô song của hoàng hậu mới khiến cho chiếc nhẫn đă mất mà t́m lại được.

Từ đó trong cách đối xử với hoàng hậu, vua không dám tỏ ra ḿnh là người thi ân nữa, v́ phúc của ai th́ người đó hưởng vậy. Tội báo hay phúc báo đều như bóng theo h́nh.

Phúc báo là do bố thí, do cúng dường mà có. Làm người nên bố thí, nên cúng dường cho nhiều là v́ lư do này.

 

76- Quả báo ác khẩu

Hai bên bờ sông Thắng Huệ của thành Quảng Nghiêm là nơi sinh sống của rất nhiều dân chài lưới. Mỗi ngày họ đều đến sông Thắng Huệ đánh cá, đời sống trôi qua rất đầy đủ và thư thái.

Sông Thắng Huệ giáp ngay biển lớn, và trong ḷng biển có đủ loại cá lớn nhỏ, con số vô tận, nhiều không sao tính đếm nổi. Số cá câu hay lưới được từ ḍng sông này hầu như nuôi sống được nguyên cả thành Quảng Nghiêm.

B́nh thường, trời vừa lờ mờ sáng là cứ hai, ba chục người đánh cá họp nhau thành một đoàn, đem lưới nhỏ lên thuyền ra khơi đánh cá.

Từ khi nhờ con sông này mà sinh sống, cho đến bây giờ, ngày nào họ cũng mang về những mẻ lưới phong phú, chưa lần nào trở về tay không.

Gặp những ngày hội, ngày lễ lớn cần phải cung cấp nhiều cá hơn, ngư dân bèn ôm lưới to và cứ sáu, bảy chục người lập thành đoàn cùng nhau ra khơi quăng lưới, lưới to th́ đương nhiên bắt được nhiều cá hơn, thế mà trong những ngày lễ lược tưng bừng ấy số cá mang về đều bị mua sạch không c̣n một con.

Có một hôm, cũng nhằm lễ lớn tại Quảng Nghiêm thành, người mua cá đặc biệt đông. Trời chưa sáng mà dân xóm chài bên bờ sông Thắng Huệ đă mang lưới to lưới nhỏ ra giữa ḷng sông. Lưới nhỏ tương đối dễ giăng, nên chẳng mấy chốc đă vớt được không biết bao nhiêu là cá, rùa, ba ba v.. . đủ loại, đổ lên bờ chồng chất như một ḥn núi nhỏ.

Đúng lúc ấy có một con cá Ma Yết khổng lồ đang ngủ trong ḷng biển rộng, lúc thủy triều dâng lên nó bị cuốn trôi vào sông Thắng Huệ. Có lẽ mệnh số đă định sẵn, nên chỉ một cơn sóng nước dội tới là nó đă nằm gọn trong lưới, khi giật ḿnh tỉnh giấc, có vẫy vùng dẫy dụa mấy đi nữa cũng không thoát được mạng lưới trói buộc kia.

Con cá này rất to và sức nó rất mạnh, phải có rất nhiều người hợp lực để kéo lưới, thế mà đă không những không lôi được cá lên bờ mà c̣n bị cá kéo ngược lại ra biển.

Người trên thuyền đánh cá hô hoán lên cầu cứu. Khi ấy, có rất nhiều người đang đứng xung quanh núi cá trên bờ, đột nhiên nghe tiếng cầu cứu họ giật ḿnh kinh hoàng, thấy đồng bạn đang gặp cảnh nguy khốn, không suy nghĩ ǵ nữa, tất cả đều ùn ùn nhẩy xuống nước giúp kéo lưới một tay.

Phải có cái sức mạnh như trâu như cọp ấy họ mới kéo được con cá khổng lồ kia lên băi cát. Để được như thế, tuy có rất nhiều người bị thương chảy máu, mạng lưới bị rách nhiều chỗ, nhưng cũng may không có người nào bị tổn hại đến sinh mệnh.

Chưa ai từng thấy hay nghe nói tới một con cá khổng lồ như thế, kể cả những người đánh cá lớn tuổi. Nhưng kỳ quái hơn nữa là trên đầu của con cá này có nhiều cái đầu nhỏ mọc lên, mà những cái đầu nhỏ này lại không giống nhau : có cái giống đầu chó, có cái giống đầu ngựa, đầu ḅ, đầu mèo, đầu lợn, đầu voi, quái đản lạ lùng khiến những người đứng nh́n đều phải trố mắt kinh ngạc.

Tin có một con cá lạ bị bắt lan truyền ra khắp cả thành Quảng Nghiêm, khiến có thêm vô số người hiếu kỳ chạy tới xem, ai nấy đều thấy đó là một việc chưa từng có.

Tâm từ bi của Đức Phật chỉ nghĩ đến việc lợi ích chúng sinh, không có thời khắc nào là không quan hoài đến sự khổ đau hay sung sướng của tất cả hữu t́nh. Lúc ấy Ngài cũng đang ngụ trong thành Quảng Nghiêm, biết là con Ma Yết Ngư nọ đang gặp nạn, do v́ trong tiền kiếp nó đă từng gieo trồng thiện căn và cũng có nhân duyên với Phật nên Đức Phật cùng A Nan và các tỳ kheo đồng đến bên bờ sông Thắng Huệ.

Dân chúng từ mọi nơi kéo đến xem cá, thấy Đức Phật quang lâm, bèn vội đến đón rước Ngài và dạt ra một bên nhường đường cho Ngài đến gần con cá Ma Yết. Cá đang nằm trên băi cát, giương hai con mắt vĩ đại lên nh́n Đức Phật, Ngài lân mẫn đưa bàn tay ra vỗ đầu nó và hỏi :

- Ngươi có phải là Kiếp Tỷ La không?

Nghe Đức Phật hỏi như thế, kỳ lạ thay, con Ma Yết Ngư biết trả lời rằng:

- Thưa vâng, bạch Thế Tôn! Con chính là Kiếp Tỷ La đây!

Đức Phật tiếp tục hỏi:

- Ngươi biết ác nghiệp đă tạo trong quá khứ chăng? Ai là người xui giục ngươi tạo tội để kiếp này phải chịu quả báo vậy?

- Con đă hiểu rằng quả báo khổ ngày hôm nay hoàn toàn do chính con tạo nên trong kiếp trước. Chỉ v́ mẹ con không tốt nên đă khiến cho con tạo nghiệp.

Con cá Ma Yết nói một cách đau khổ, hai giọt lệ lớn từ mắt nó lăn xuống.

Những người đứng xem xung quanh thấy như thế, vừa quái lạ vừa cảm động. Sau đó, họ nghe giọng từ bi của Đức Phật:

- Bây giờ mẹ ngươi đă bị đọa xuống địa ngục chịu khổ, c̣n ngươi th́ đầu thai làm cá trong đường súc sinh. Ngươi có biết chết rồi ngươi sẽ sinh về đâu không?

- Thế Tôn từ bi! Xin Ngài cứu con với, v́ hết thân cá này rồi con sẽ đọa địa ngục.

Nước mắt nhoè nhoẹt, cá Ma Yết nh́n Đức Phật khẩn khoản cầu cứu, hai con mắt to như hai hạt đậu như mong chờ bàn tay cứu độ của Đức Phật.

- Bây giờ ngươi sinh làm thân cá, không có cách nào cải đổi t́nh thế được. Ta chỉ c̣n cách là thuyết cho ngươi nghe ba câu Pháp, ngươi hăy cố ghi nhớ cho thật kỹ th́ có thể siêu thăng: tất cả các hành đều vô thường, tất cả các pháp đều vô ngă và Niết Bàn là tịch tĩnh. Đó gọi là Tam Pháp Ấn.

Nghe lời đối thoại giữa Đức Phật và cá Yết Ma như thế mọi người đều lấy làm lạ, làm sao mà con cá này có thể nói tiếng người? Lại c̣n có thể nhớ lại chuyện kiếp trước nữa?

Đức Phật là bậc đại Thánh nên biết rơ tâm ư của đại chúng, Ngài giảng cho họ nghe nhân duyên quá khứ:

Trong một kiếp xa xưa, thời Ca Diếp Như Lai c̣n tại thế, có một vị đại Bà La Môn, tên gọi là Kiếp Tỷ La Thiết Nạ Ông này học vấn uyên bác, biện tài siêu việt, mỗi lần ông tham dự đại hội biện luận nào là đều thắng tất cả mọi người, một ḿnh chiếm ngôi thủ tọa.

Mỗi lần như thế các nước khác phái đến rất nhiều luận sư nhưng không ai qua được mặt ông, điều đó khiến nhà vua rất đẹp ḷng và thưởng cho ông vô số châu báu.

Về sau, Kiếp Tỷ La Thiết Na lấy vợ sinh con, cũng đặt tên cho con trai là Kiếp Tỷ La. Cậu bé này sinh ra rất xinh xắn, kháu khỉnh. Lớn lên, nhờ cha dạy dỗ nên cậu cũng có học vấn uyên thâm, biện tài cao cường, so với cha có phần tinh nhuệ hơn, thông minh hơn. V́ thế, cha cậu đem 500 vị đồ đệ của ḿnh giao cho cậu dạy dỗ, c̣n ông th́ chu du các nơi, và thân cận với đệ tử của Phật. Cuối cùng, tuổi già lâm bệnh ông bèn quay về nhà, lúc gần tạ thế ông gọi con đến dặn ḍ:

- Cha đă biết rằng học vấn và biện tài của con có thể thắng tất cả mọi người, nhưng ta muốn nói với con rằng, tuyệt đối không được biện luận với đệ tử của Đức Phật, v́ cái học của các vị ấy là chân lư siêu việt thế gian. Nếu con biện luận với họ chắc chắn sẽ nắm phần thất bại trong tay.

Không bao lâu sau, Kiếp Tỷ La Thiết Na qua đời. Khi có một vị luận sư chết đi th́ tất cả các nước khác đều chú ư, họ nghĩ rằng nước ấy không c̣n luận sư giỏi nữa, nên tới tấp kéo nhau đến. Nhà vua cũng lo sợ điều ấy, nên đăng bảng chiêu tài, và kết quả là Kiếp Tỷ La trúng tuyển. Đại hội biện luận ngày hôm ấy, Kiếp Tỷ La ngồi trên đài cao, quốc vương, đại thần cùng với các học sĩ trong nước ai cũng đến xem nghe, khỏi cần nói, Kiếp Tỷ La biện luận thắng mọi người. Với trí thông minh và biện tài của cậu, những người khác làm sao đối lại được! Từ đó danh tiếng của Kiếp Tỷ La lừng lẫy, nhà vua đẹp dạ ban cho cậu chức Luận chủ. Tuy cậu là một vị Luận chủ được tất cả mọi người ngưỡng mộ, song mẹ cậu vẫn chưa thấy thế là đủ, nên một hôm bà bảo con rằng:

- Con à, tuy con là Luận chủ, nhưng con có thật sự thắng hết được tất cả mọi người trên thế giới này không?

- Trừ các vị đệ tử của Phật ra, con quyết chắc có thể biện luận thắng bất cứ luận sư nào.

Mẹ cậu nghe thế không đồng ư, nói rằng:

- Tại sao con không biện luận với mấy ông tỳ kheo? Nếu con luận không thắng họ, th́ địa vị luận chủ của con khó có thể vững chắc.

- Không! Lúc cha hấp hối có dặn con rằng tuyệt đối không được biện luận với đệ tử của Phật, bằng không chắc chắn sẽ nắm phần thất bại.

Kiếp Tỷ La nhớ rất rơ lời trăn trối của cha, cậu rất tôn trọng điều cha dặn ḍ nên chưa hề có ư muốn biện luận với các tỳ kheo, nhưng mẹ cậu giận dỗi nói:

- Đừng nhắc tới cha con, ông ấy đă bị Phật mê hoặc nên mới nói thế, không lẽ con cũng muốn làm nô lệ của Phật nữa sao?

Kiếp Tỷ La vốn là một đứa con có hiếu, không dám làm trái ư mẹ, nên mới đến chỗ cư ngụ của Như Lai muốn thử biện luận với các tỳ kheo chút xem sao, nhưng cậu cũng rất lo sợ v́ chẳng biết chút ǵ về Phật pháp.

Tới vườn Lộc Dă, Kiếp Tỷ La không dám liều lĩnh làm càn, cậu nghĩ trước hết nên thám thính, đợi thu thập chút ít hiểu biết về Phật lư, rồi sau đó hẵn biện luận với các tỳ kheo. Trên đường đi cậu gặp một vị xuất gia, bèn hỏi rằng:

- Kính thưa đại đức, ở đây quư vị có bao nhiêu người hết thảy? Ai là thầy chỉ đạo của quư vị? Đạo lư mà các vị nghiên cứu đó nói về điều ǵ?

- Ở đây chúng tôi ước chừng có hơn 2 vạn người, thầy chúng tôi là bậc đại giác Ca Diếp Như Lai, và chúng tôi nghiên cứu tam tạng kinh điển là tạng kinh, tạng luật và tạng luận.

Nghe thế Kiếp Tỷ La mừng rỡ, hỏi thêm:

- Mỗi tạng có bao nhiêu bài tụng?

- Mỗi tạng có mười vạn bài tụng.

Vị xuất gia nói tới đây, hỏi ngược lại rằng:

- Tôi thấy ông là người có học vấn, bây giờ tôi có vài câu kệ, xin ông giải thích cho tôi.

Kiếp Tỷ La đồng ư, vị xuất gia bèn đọc kệ rằng:

- Hà chỉ lưu đương chỉ? Hà chỉ đạo ưng hành? Thế gian khổ lạc sự, hà xứ đương cùng tận? (Ḍng lưu chuyển cái ǵ chận lại th́ nên ngừng? Con đường đạo, cái ǵ chận lại nhưng vẫn cứ phải đi? Những chuyện vui buồn trên thế gian, chỗ nào là chỗ chấm dứt?)

Tuy là một vị Luận chủ học vấn uyên bác, nhưng Kiếp Tỷ La không cách nào giải thích những câu kệ trên, cuối cùng chính vị xuất gia phải giải thích cho cậu nghe. Nghe chân lư ấy xong, như bắt được kho tàng, Kiếp Tỷ La từ biệt vị xuất gia và muốn đem chút hiểu biết mới có được đi biện luận với các vị xuất gia khác. Nhưng những hiểu biết của cậu quá nhỏ nhoi, cuối cùng làm sao thắng các vị xuất gia cho được!

Kiếp Tỷ La thẹn quá hóa khùng, chửi rủa lung tung, dùng lời vô lư để thoá mạ các vị tỳ kheo, rồi c̣n hủy báng cả Đức Phật nữa.

V́ thế nên chết rồi cậu bị đoa. làm thân cá và mang cái h́nh thù quái đản hôm naỵ Không nên tạo khẩu nghiệp, nếu không quả báo sẽ theo sát bên chân!

77- Quả báo của sự keo kiệt

Ở miền Nam Ấn Độ cách Vương Xá Thành không xa, có một khu rừng trúc u nhă, yên tịnh tên là Ca Lan Đà, trúc trong ấy vừa cao vừa rậm rạp. Trong khu rừng trúc ấy có một tinh xá cao to tráng lệ, do vua Tần Bà Sa La xây cúng dường Đức Phật, đó chính là Trúc Lâm tinh xá. Đây là nơi mà Đức Phật cùng rất đông đệ tử của Ngài cư ngụ, cũng là nơi mà Đức Phật giảng kinh thuyết pháp cho rất nhiều người nghe.

Hai vị đệ tử thượng thủ của Ngài, ngài Xá Lợi Phất và ngài Mục Kiền Liên, lần nào trước khi dùng cơm cũng vận dụng thần thông "từ bi" (thần thông này do lực từ bi mà có) để quan sát các chúng sinh đang chịu khổ trong ba đường ác là địa ngục, ngạ quỷ và súc sinh, xem có cơ duyên nào cứu độ họ được hay không, rồi mới dùng cơm.

Có một lần tôn giả Mục Kiền Liên quan sát thế giới ngạ quỷ, thấy có một ngạ quỷ rất đáng thương. Thân nó giống như cây cột cháy, bụng th́ to như g̣ núi, hễ đưa bất cứ thứ ǵ lên miệng th́ thứ ấy lập tức biến thành những cây kim bằng sắt. Đă thế mà c̣n thường thường khạc ra lửa khói, tự đốt cháy mặt mày, tóc tai th́ cứng như dao kiếm, suốt ngày khóc lóc kêu than, đói khát muốn chết thế mà một giọt nước cũng không nuốt được, v́ hễ đem nước lên tới miệng th́ nước liền biến thành máu. Thấy t́nh cảnh ngạ quỷ thống khổ như thế, Mục Kiền Liên mới tiến đến trước mặt nó hỏi:

- Ngươi đă tạo nên nghiệp tội ǵ mà bây giờ phải chịu khổ như thế này?

- Bạch tôn giả, hễ chỗ nào có mặt trời chiếu th́ không cần thắp ngọn đèn dầu leo lét. Trí huệ Đức Phật như kính sáng, có thể chiếu rọi chúng sinh trong mười phương. Bất kỳ người nào tạo nghiệp tội trong quá khứ, hiện tại và vị lai cũng được kính trí huệ của Ngài soi rơ, không thiếu sót mảy may nào. Tôi đă tạo tội ác ǵ, ngài có thể thỉnh hỏi Đức Phật th́ rơ. Bây giờ tôi quá đói khát, không trả lời cho ngài được, xin ngài thứ lỗi.

Ngạ quỷ nói với ngài Mục Kiền Liên như thế xong, lại tiếp tục rên rỉ kêu than. Tôn giả Mục Kiền Liên liền đi t́m Đức Phật bái kiến. Lúc ấy Đức Phật đang thuyết giáo nghĩa cứu cánh cho các tỳ kheo, thấy dáng điệu vội vàng của ngài Mục Kiền Liên liền hỏi:

- Mục Kiền Liên, ông có việc ǵ mà cuống quưt lên như thế?

- Vâng, bạch Thế Tôn! Con có một điều không giải quyết được, nên phải tới đây thỉnh Thế Tôn khai thị.

Đức Phật từ bi trả lời:

- Có chuyện ǵ ông cứ nói.

- Vừa rồi con quan sát trong địa ngục có một ngạ quỷ thân thể bị cháy sém, cổ họng như lỗ kim, bụng to như cái thùng, không ăn được bất cứ món ǵ, không ngừng đi lùng kiếm thức ăn nhưng cứ hễ đưa thức ăn lên miệng th́ thức ăn biến thành kim sắt. Ngạ quỷ này đă làm nên tội ǵ mà phải thọ một quả báo như vậy, cúi xin Thế Tôn thuyết giải cho chúng con rơ.

Trước khi Mục Kiền Liên bắt đầu kể, Đức Phật đă biết rơ chuyện ǵ đă xẩy ra nên mới thuận theo cơ duyên này mà nói với các đệ tử trong pháp hội:

- Các ông hăy nghe cho kỹ, ta sẽ nói cho các ông rơ.

Cách đây rất lâu trong thành Xá Vệ, có một người rất giàu có, làm nghề ép mía lấy nước ngọt bán, công việc làm ăn thịnh vượng, trong nhà tấp nập công nhân thợ thuyền. Lúc ấy có một vị Bích Chi Phật, v́ muốn hóa độ tất cả chúng sinh nên thị hiện chứng bệnh hay khát nước. Có một người khuyên ngài nên uống nước mía ép, v́ thế ngài bèn đến nhà ông nhà giàu nọ xin nước mía uống.

Người này thấy có Bích Chi Phật đến, sinh ḷng cung kính, hoan hỉ cúng dường nước mía cho ngài. Nhưng ông có việc gấp phải đi ra ngoài, không thể tự tay cúng dường, bèn giao việc này cho bà vợ và căn dặn rằng: "Bà hăy thay tôi đem nước mía lên cúng dường Bích Chi Phật". Bà vợ trả lời: "Vâng, tôi đem lên liền". Ông nhà giàu đi rồi, bà vợ bèn nghĩ "Nước mía rất quư, từ trước đến nay nhà ta chưa bao giờ đem cho ai uống không. Nếu hôm nay cho ông này uống, sau này sẽ có nhiều người đến xin nữa".

Tâm keo kiệt phát khởi, bà lén thi hành độc kế bằng cách lấy một cái bát bằng sắt, đổ nước dơ uế vào rồi mới đổ một chút nước mía lên trên, xong bưng lên đưa cho Bích Chi Phật uống. Vị Bích Chi Phật đón lấy cái bát, biết ngay việc làm tội lỗi của người đàn bà, nên đổ những món bẩn thỉu trong bát xuống đất, lấy nước rửa bát sạch sẽ rồi bỏ đi.

Không lâu sau ấy mệnh sống người của đàn bà keo kiệt chấm dứt, đọa xuống làm ngạ quỷ, thường bị đói khát và bị lửa nghiệp đốt thân. Nghiệp khổ này c̣n phải kéo dài đến 90 ngàn năm nữa mới hết.

Đức Phật thuyết xong nhân duyên của người đàn bà keo kiệt bị đọa xuống làm ngạ quỷ, khiến tứ chúng trong pháp hội đều bỏ tính keo kiệt tham lam, ghê sợ chuyện sinh tử, ai cũng chứng được quả thánh, hoan hỉ tán thán rồi lui đi.

 

78- Quỷ mẹ

Lúc Đức Phật thuyết pháp ở nước Đại Đâu th́ ở trong nước ấy có một người đàn bà sinh được rất nhiều con, và rất thương yêu con của ḿnh nhưng lại thích bắt cóc con người khác về ăn thịt.

Những người làm cha mẹ ở nước Đại Đâu rất lo sợ, sợ con ḿnh bị bắt cóc mất.

Các vị tỳ kheo đi từ ngoài đường về đem chuyện này kể cho Đức Phật nghe, Ngài biết ngay đây không phải là một người đàn bà tầm thường. Ngài biết trong nước này có một con quỷ rất thích bắt cóc con người ta ăn thịt, và không thể dùng một vài câu nói mà cảm hóa nó được.

Đức Phật bảo một vị tỳ kheo, thừa lúc quỷ mẹ vắng nhà, bắt đứa con út mà nó thương yêu nhất, tên là Tần Già La đưa về tinh xá.

V́ thế, khi quỷ mẹ về tới nhà không thấy đứa con út bé bỏng của ḿnh, đau khổ bỏ ăn bỏ uống khóc lóc không ngừng, chỉ trong mấy ngày thôi mà tưởng chừng như muốn hóa điên lên được.

Một hôm, Đức Phật cố ư t́m cơ hội đến gặp nó, hỏi rằng:

- Ngươi có việc ǵ mà khóc lóc thảm thương như thế?

Quỷ mẹ nh́n thấy đức Phật, tạm ngừng khóc một lúc, quẹt nước mắt mà trả lời:

- Tại v́ lúc con đi vắng nhà, không biết ai lẻn vào bắc cóc mất đứa con dễ thương nhất của con đi rồi!

- Ngươi không ở nhà giữ con, để cho người khác lẻn vào bắc cóc mất, vậy chứ lúc đó ngươi đi đâu? Ngươi đi ra ngoài để làm ǵ?

Khi Đức Phật đặt câu hỏi như thế, quỷ mẹ giật ḿnh, v́ lúc con của nó bị người ta bắt mất cũng chính là lúc nó lẻn vào nhà người khác bắt cóc con người ta, đó là một quả báo đương nhiên phải xẩy ra vậy.

Quỷ mẹ nói điều ấy cho Đức Phật nghe xong, lúc đó nó mới thấy ḿnh tàn nhẫn và sai lầm, trong tâm sinh khởi một niệm hối hận, tức khắc nó liền gieo năm vóc xuống đất đảnh lễ Đức Phật. Đức Phật lại hỏi :

- Ngươi có thương con của ngươi không?

- Tần Già La là đứa nhỏ mà con thương yêu nhất, một khắc cũng không rời nó ra. Con không thể nào sống mà không có nó, không có nó, con chỉ có nước chết mất mà thôi!

Đức Phật bèn nắm lấy cơ hội đó để khai thị cho nó:

- Ngươi thương con của ḿnh ra sao, th́ người khác cũng thương con của họ như vậy. Ngươi đau khổ v́ mất con, mà lại đi bắt cóc con người ta để ăn thịt, th́ người ta cũng đau khổ không khác ǵ ngươi. Bây giờ ngươi có muốn t́m thấy con của ngươi không?

- Nếu có ai t́m được Tần Già La về cho con, th́ bảo con làm ǵ con cũng làm cả!

Đức Phật biết là quỷ mẹ đă chuyển tâm hối hận rồi mới nói:

- Ta có thể giúp ngươi t́m ra con của ngươi lại, nhưng ngươi có thật sự ăn năn tội ác của ngươi lúc trước, tức là tội đi bắt cóc con của người khác về ăn thịt không

- Con rất ăn năn! Thế Tôn, xin Ngài từ bi chỉ giáo cho con, Ngài dạy con làm chi con sẽ làm y như vậy!

Đức Phật nói:

- Từ nay trở đi, thứ nhất ngươi không được sát sinh, thứ hai không được trộm cắp, thứ ba không được tà dâm, thứ tư không được vọng ngữ, thứ năm không được ăn uống loạn xạ, mà c̣n phải lấy t́nh thương trời sinh của một người mẹ hiền mà lo lắng cho con của thiên hạ.

- Không cho con ăn thịt trẻ con th́ từ giờ về sau con ăn cái ǵ được?

Quỷ mẹ hỏi.

- Ta sẽ bảo đệ tử của ta, mỗi lần được người ta cúng dường th́ sẽ trích ra một phần thức ăn bố thí cho ngươi dùng trước.

Quỷ mẹ vô cùng vui mừng, nhận lănh lời giáo huấn của Đức Phật một cách thành khẩn.

Đức Phật đem đứa con Tần Già La trả lại cho nó, nó mừng đến mức không có ngôn ngữ chữ nghĩa nào có thể diễn tả nổi, bèn phát nguyện là từ đây trở đi, sẽ hộ tŕ cho tất cả các đứa trẻ con của người khác.

Thời nay, khi ăn cơm, người xuất gia hay trích ra trước một phần thức ăn, chính để bố thí cho quỷ mẹ là do sự tích này vậy.

79- Rắn trả ơn

Lúc Đức Phật Thích Ca c̣n ở Nhân địa tu Bồ Tát đạo, Ngài đă từng sinh ra làm một vị đại phú ông rất giàu có. Cây gỗ trong rừng và mỏ khoáng trong núi thuộc sở hữu của ông dùng suốt đời cũng không hết, c̣n nói về tiền bạc th́ phải đếm lên tới cả ngàn vạn ức kim tiền, tha hồ xử dụng chi tiêu. Ông là người từ bi, hỷ xả, thường thường bỏ ra cả ngàn lượng, cả vạn lượng vàng đem bố thí mà không chút tiếc nuối. Ông cũng hay lảng vảng trong chốn chợ búa, chờ thấy con thú vật đáng thương nào sắp gặp nạn, sắp bị giết làm thịt th́ vội vàng chạy tới mua về phóng sinh. Phóng sinh là tâm nguyện duy nhất của ông phú hộ nhân từ này, nên được người đời đặt tên là Thiện nhân.

Có một hôm, vị phú ông nhân từ ấy thấy ngoài chợ có một con rùa rất lớn, đang mở to hai mắt chăm chú nh́n ông. Con rùa có vẻ thống khổ vô hạn, nước mắt trào ra, như thể đang cầu xin ông cứu giúp.

Thấy thế ông rất buồn,vội vàng tiến đến xin mua con rùa. Người bán rùa, dĩ nhiên là muốn bán con rùa đi nhưng khi thấy Thiện nhân đến hỏi giá tiền, th́ cố ư làm khó dễ, trả lời là không muốn bán. Thiện nhân từ bi tha thiết muốn cứu mạng con rùa nên nài nỉ xin muạ Người bán rùa nói:

- Nếu ông nhất định muốn mua th́ phải trả cho tôi một vạn đồng tôi mới chịu bán, bằng không th́ tôi đem nó về giết làm thuốc uống!

Thiện nhân không chút do dự, đưa ra một vạn đồng mua rùa mang về.

Người bán rùa ḷng dạ đen tối ấy tuy có một vạn đồng bỏ túi nhưng nhà bị ăn trộm, rồi lâm bệnh nặng, sau đó c̣n bị cháy nhà khiến cho một vạn đồng tiền bị thiêu rụi, cuối cùng xơ xác lại hoàn xác xơ.

Thiện nhân mang con rùa lớn về nhà, đem những món ăn ngon lành nhất cho ăn, rồi thấy miệng rùa có vết thương, vội lấy thuốc bôi cho nó. Không lâu sau, vết thương trên miệng rùa đă lành, ông cho xe chở rùa ra bờ biển thả xuống nước, trả tự do cho nó về với trời đất.

Cách đó không lâu sau, vị phú ông từ bi đang ngồi tham thiền th́ bỗng nhiên có tiếng gơ lạch cạch ở cửa sau. Ông đến mở cửa xem, th́ ra đó là con rùa được ông cứu lúc trước. Con rùa mở miệng ra nói với ông rằng:

- Ân nhân, không lâu nữa ngôi thành này sẽ gặp nạn lớn. Dân chúng ở thành này nghiệp tội rất nặng, bây giờ nghiệp đă đến thời phải trả, không thể nào tránh khỏi tai họa. Chỉ có hai nhà là không nằm trong số người phải trả báo, một là nhà của ngài, hai là nhà của vuạ Ngày đó tháng đó, nguyên ngôi thành này sẽ ch́m lỉm dưới nước sau một trận lụt vĩ đại. Xin ân nhân cùng vua sớm chuẩn bị mướn người đóng tàu, hẹn nhau khi thấy nước lớn vừa dâng lên th́ mau lên tàu, thuận theo ḍng nước mà đi, tự nhiên sẽ t́m được nơi nương náu.

Con rùa lớn nói xong quay đầu đi mất. Thiện nhân rất ngạc nhiên, nhưng được một con rùa biết nói báo nguy trước, không thể không tin. Hôm sau ông bí mật báo cho vua biết chuyện đêm qua, họ cấp tốc chuẩn bị mọi sự. Đúng y như rằng, không bao lâu sau, nạn lụt xẩy ra trong thành. Khi một con nước lũ vừa ập đến là con rùa kia cũng xuất hiện, thôi thúc họ lên tàu mà đi. Con rùa bơi đằng trước, bảo họ rằng:

- Xin đi theo tôi, đừng để lạc mất phương hướng!

Khi con tàu đang lướt trên ḍng nước lũ, bỗng phía sau có một con rắn lớn bơi đến, ngóc đầu lên nh́n, dáng vẻ như xin được cứu mạng. Thiện nhân từ bi bèn ra lệnh ngừng tàu lại vớt con rắn lên. Con rùa phía trước nói:

- Ân nhân! con rắn này có duyên với ngài, sau này ngài sẽ hiểu.

Cách đó không xa, ông lại cứu một con cáo, và lại được rùa khen ngợi. Rồi đến phiên một người đang vùng vẫy trong ḍng nước lớn, la hét kêu cứu, Thiện nhân từ bi cũng muốn cứu y nhưng con rùa ngăn lại nói rằng:

- Đây là một người có tâm địa xấu xa, tốt nhất là đừng cứu y. Nếu hôm nay cứu y, sau này y sẽ hại ân nhân.

Thiện nhân trả lời:

- Bất cứ người nào chúng ta cũng phải cứu. Nếu chúng ta ích kỷ mà không cứu là phản bội lời chư Phật dạy, là phải xem tất cả b́nh đẳng như nhau. Dầu sau này có xẩy ra chuyện ǵ đi nữa, ta cũng phải cứu người này.

Rồi không màng tới lời ngăn cản của rùa, ông vớt người nọ ra khỏi nước cứu cho khỏi chết ch́m.

Đi một đỗi nữa th́ con rùa lớn lại mở miệng ra nói:

- Trời quang mây tạnh rồi, thiên tai đă qua rồi. Tôi xin tạm thời cáo biệt.

Nói xong nó bỏ đi ngaỵ Rắn và cáo cũng từ giă mà đi.

Đoàn người lênh đênh trên mặt nước một thời gian th́ khám phá một ḥn đảo nhỏ. Họ lên bờ, thấy ḥn đảo này có rất nhiều tài nguyên, chỉ tiếc là không có bao nhiêu dân cư trú. Họ quyết định lưu lại trên đảo ở tạm.

Có một hôm, con cáo xuất hiện một cách bất ngờ, nói với thiện nhân rằng:

- Ân nhân! Ngài đă cứu tôi thoát nạn, hôm nay tôi xin báo đáp ơn cứu mạng to lớn ấy. Vừa rồi tôi mới khám phá ra một kho tàng trong một cái huyệt giữa núi. Kho tàng này không nằm trong mộ phần của ai cũng không phải do tôi cướp giật, tức là của trời cho tôi. Nay tôi muốn đem kho tàng này dâng tặng cho ân nhân để báo đáp ơn sâu, xin ân nhân vui ḷng nhận.

Thiện nhân nghĩ rằng nếu không nhận và nếu chẳng may kho tàng này rơi vào tay một kẻ bất lương th́ không phải là đáng tiếc lắm sao? Chi bằng ta vui ḷng nhận, rồi đem bố thí cho người nghèo, và giúp đỡ tất cả những chúng sinh khốn cùng. Nghĩ như thế rồi, ông bằng ḷng nhận kho tàng của con cáo dâng tặng.

Khi ông đi lấy kho tàng về, th́ cái người được ông cứu khỏi chết ch́m lúc trước, không những không nghĩ tới chuyện đền ơn cứu mạng mà c̣n dùng lời dọa nạt và thủ đọan bắt thiện nhân phải chia cho ḿnh phân nửa kho tàng. Thiện nhân cho hắn mười cân vàng nhưng con người tâm địa đen tối ấy từ chối không nhận, dọa rằng:

- Nếu ông không chia cho tôi phân nửa, tôi sẽ tố cáo ông đă quật mồ cướp của.

Thiện nhân đáp:

- Thiên tai vừa qua chắc chắn đă làm cho rất nhiều người bị tán gia bại sản, tôi muốn đem số vàng này cứu giúp cho họ. Nếu ông lấy đi, hẳn không phải để làm điều tốt, tức là phản bội lương tâm, cho nên tôi không cho ông toại nguyện tà ư đó.

Người kia ôm mối hận, bí mật tố cáo với quan vu khống thiện nhân đă quật mồ cướp của. V́ thế thiện nhân tốt bụng bị bắt, nhưng ḷng không chút oán hận kẻ xấu xa đă vu khống ḿnh, chỉ thấy rằng ḿnh đă tạo nghiệp tội trong kiếp trước nên kiếp này mới bị quả báo xấu như thế này.

Ông không hề oán hận, chỉ cầu nguyện sao cho tất cả chúng sinh sớm thoát tai nạn, đừng kết oán với người khác để đừng bị giam trong tù ngục như ḿnh hôm nay.

Vua rắn và vua cáo là những con vật có tánh linh, chúng bèn họp nhau bàn bạc làm cách nào để cứu ân nhân đă bị giam trong ngục tù một cách oan uổng. Vua rắn nói với vua cáo rằng:

- Tôi có một cách này, nhất định cứu được ân nhân thoát nạn.

Nói xong vua rắn bèn cáo biệt vua cáo mà đi. Vua rắn một ḿnh ḅ lên núi t́m cỏ thuốc, đây là một loại thuốc có một không hai, có thể giải độc và xoa dịu mọi đau đớn trong chớp nhoáng. Vua rắn ngậm cỏ thuốc trong miệng ḅ vào ngục, nói với thiện nhân rằng:

- Đây là một loại cỏ thuốc có năng lực giải độc. Chốc nữa thái tử sẽ bị bệnh, không có thầy có thuốc nào có thể cứu được, chỉ có loại thuốc này mới có thể cứu thái tử thoát hiểm. Lúc đó ân nhân hăy nói với tên cai ngục là ḿnh có thuốc thần trừ độc, chắc chắn hắn sẽ loan tin ấy ra,và như thế ngày ân nhân ra khỏi tù sẽ không c̣n lâu nữa!

Vua rắn từ giă thiện nhân rồi, lén ḅ vào vương cung cắn chân thái tử một cái. Tức thời chất độc lan đi rất nhanh, tất cả thầy thuốc danh y đều bó tay chịu thua, nh́n thái tử chờ chết. Ông vua già chỉ có một đứa con trai duy nhất ấy thôi nên tâm can c̣n nóng nảy hơn đoàn kiến trong chảo nóng. Ông ra lệnh cho các đại thần dán bảng yết thị khắp nơi, cấp tốc kiếm một vị thần ỵ Nếu có ai cứu được thái tử khỏi bệnh th́ sẽ được phong làm thủ tướng, c̣n nếu ai làm môi giới đưa thần y đến th́ sẽ được thưởng một vạn lượng vàng.

Đúng như rắn chúa tiên đoán, tên cai ngục biết tin này bèn báo cho thiện nhân trong tù biết. Thiện nhân nói:

- Tôi có thuốc thần trong người.

Vua nghe tên cai ngục báo tin, vời thiện nhân vào cung bôi thuốc cho thái tử. Thuốc vừa bôi xong, thái tử lập tức hết đau và vết sưng cũng xẹp xuống ngay, nên được b́nh an thoát hiểm. Vua thấy chân thái tử lành lặn, vui mừng không kể xiết, bèn hỏi nguyên do tại sao thiện nhân bị vào tù. Khi biết thiện nhân bị tù oan, vua tự trách rằng:

- Ta là vua thất đức, và quan quân đại thần cũng thiếu sáng suốt nên để cho kẻ ác lừa bịp và cho người hiền bị phỉ báng!

Vua ra lệnh bắt con người vong ân bội nghĩa kia về chịu khổ h́nh, phong thiện nhân làm thủ tướng, và đại xá tất cả tội nhân khiến cho mọi ngục tù đều trống không trong khoảnh khắc.

Thiện nhân hiểu biết Phật pháp một cách thâm sâu, nên vua cung kính thỉnh ông khai thị. Thiện nhân bèn tuyên thuyết giáo nghĩa cứu khổ của Đức Phật cho vua nghe khiến vua được tỉnh ngộ, quy y Tam Bảo, tôn kính duy tŕ giới luật thanh tịnh, phát tâm từ bi rộng lớn, mở các kho vựa của quốc gia cứu giúp người nghèo khổ, chỉnh đốn việc giáo dục, xây cất viện dưỡng lăo và viện mồ côi, thương xót tất cả hữu t́nh. Về sau, đất nước này trở nên ḥa b́nh an lạc, được từ quang của Đức Phật chiếu rạng khắp nơi.

 

80- Sa di ngộ đạo

Thời Phật Ca Diếp có một vị tỳ kheo trẻ tuổi, xướng tán rất haỵ Khi cùng ở chung một chỗ với các vị tỳ kheo khác, thầy hay lộ vẻ kiêu ngạo, tự phụ giọng của ḿnh trong và thanh và thấy ḿnh phi thường, nổi bật.

Có một vị tỳ kheo lớn tuổi, giọng lại khàn đục, không giỏi tán xướng, cũng ở chung với đại chúng. Khi vị tỳ kheo trẻ nghe âm thanh tán xướng của vị tỳ kheo già, thầy bèn cười ngạo rằng giọng ấy không khác ǵ tiếng chó trụ Vị tỳ kheo già vốn là một vị thánh đă chứng quả A La Hán, hỏi vị tỳ kheo trẻ kia rằng:

- Thầy có biết tôi không?

- Tôi biết thầy từ lâu rồi, thầy là vị tỳ kheo thượng thủ của Ca Diếp Như Lai.

Vị tỳ kheo già nói:

- Tuy không biết xướng tán nhưng tôi đă thoát được sự trói triền của sinh tử, và không c̣n bất cứ khổ năo nào của thế gian.

Vị tỳ kheo trẻ nghe thế th́ hết sức hoảng sợ, cảm thấy hổ thẹn vô cùng, bèn xin sám hối với vị tỳ kheo già. Nhưng tính tội đă thành lập rồi, nên trong 500 kiếp, thầy đă phải chịu khổ báo sinh ra làm người câm. Tuy nhiên nhờ cái nhân thiện là đă từng xuất gia, về sau lúc Đức Thích Ca Mâu Ni xuất thế th́ thầy mới được giải thoát. Nhân duyên thầy được độ diễn ra như sau :

Có 500 nhà buôn muốn đi du lịch xa, bèn kết bạn với nhau để cùng đi. Trong số đó có một người dắt theo một con chó cho nó canh chừng ban đêm. Đi được nửa đường, các nhà buôn ngủ nghỉ trong lữ điếm, con chó thấy chủ nhân ngủ say, bèn lén lấy trộm một miếng thịt ăn. Nhưng nhà buôn ấy thức dậy thấy được, nổi giận lôi đ́nh, thế là chân đá tay đấm, lửa sân ngùn ngụt, ông đánh con chó gẫy cả bốn chân, vứt nó trong một cánh đồng hoang rồi bỏ đi nơi khác.

Lúc ấy Xá Lợi Phất dùng thiên nhăn thông thấy hết, thấy con chó đau đớn không cùng, gần chết đói chết khát, bèn đem cơm mà ngài đă khất thực được bố thí cho nó ăn. Con chó giữ được chút tàn hơi, sung sướng vô ngần. Xá Lợi Phất thuyết diệu pháp cho chó nghe, và con chó nghe pháp xong liền tắt thở, rồi tái sinh trong nhà Bà La Môn ở Xá Vệ Thành.

Một hôm, Xá Lợi Phất đi khất thực một ḿnh, Bà La Môn trông thấy liền hỏi:

- Tôn giả đi có một ḿnh, sao không có sa di đi theo hầu?

Xá Lợi Phất trả lời :

- Tôi không có sa di, nghe ông mới có một đứa con trai, có thể cho nó làm sa di đi theo tôi không ?

<