Chùa Hải-Đức in Jacksonville
|
|
Truyện Tích Phật Giáo Tác giả: Phật Giáo Cố Sự Đại Toàn Dịch giả: Diệu Hạnh & Giao Trinh 61 - 70 61- Nai biết trọng chữ tín Trong một khu rừng thẳm trên núi cao có một bầy nai cùng nhau chung sống, con số lên tới cũng cả tr ăm. Chúng đi theo những cánh đồng xanh mơn mởn, vừa ăn vừa đùa giỡn, chẳng mấy chốc tiến dần đến chốn thị thành có người ở.Hôm ấy, nhà vua dẫn đầu một đoàn tùy tùng ra khỏi thành hướng về phía thôn dă săn bắn. Người ngựa khắp nơi, đoàn nai kinh hăi chạy tán loạn. Có một con nai đang mang thai bị bỏ lạc lại phía sau, không cách nào chạy kịp theo các bạn. Vừa đói lại vừa mệt, nó sinh hạ được hai con nai con.Nai mẹ đem hai con nai con dấu vào một nơi kín đáo rồi vội vàng nghĩ tới chuyện kiếm ăn. V́ trong ḷng đang khủng hoảng, nó bất cẩn sa xuống hố. Lo lắng cho hai đứa con, nai mẹ sốt ruột t́m đủ cách thoát ra khỏi hố nhưng không thoát được, nó bèn kêu khóc thảm thiết. Thợ săn nghe tiếng khóc, chạy đến xem thấy một con nai lớn, vui mừng vô cùng tính đem nai ra giết. Nai mẹ quỳ xuống, khấu đầu van xin, dáng điệu như muốn nói : - Tôi vừa mới sinh được hai con nai con, lâu lắm rồi chưa có ǵ vào bụng, xin các ông làm phúc thả cho tôi ra một lúc thôi, để tôi về thăm các con và chỉ cho chúng nó chỗ nào có nước có cỏ, cho chúng nó có thể tự kiếm sống một ḿnh, rồi sau đó trở lại chịu chết. Tôi thề không sai lời hẹn ước. Thợ săn thấy nai mẹ quỳ xuống với dáng điệu van n ài như thế, vừa kinh dị vừa quái lạ, bèn nói:- Làm người trong đời ai cũng tham sống sợ chết, huống chi mi là loài thú vật! Bây giờ mi đă đến tay ta, ta bắt được mi rồi, làm ǵ có chuyện thả mi ra?Họ không hề có ư định thả nai mẹ về. Nai mẹ khóc nước mắt ướt cả mặt, liên tục khấu đầu cầu khẩn như muốn nói:- Mạng sống của tôi hiện thời đang nằm trong tay các ông. Tôi không hề tiếc chút thân tàn này, chỉ thương xót hai đứa con thơ dại. Nếu các ông bằng ḷng thả cho tôi về th́ hai đứa con của tôi mới c̣n sống sót được, bằng không chúng nó chỉ c ̣n có nước chết mà thôi!Thợ s ăn thấy nai mẹ van nài với những t́nh cảm không khác ǵ loài người, họ không thể nào không cảm động nên cuối cùng thả cho nai mẹ ra đi.Nai mẹ chạy về chỗ dấu mấy đứa con, vừa buồn vừa vui, chỉ cho chúng nói biết ở đâu có nước uống và ở đâu có cỏ ăn, xong rơi lệ m à nói:- Lúc năy mẹ ra ngoài, không cẩn thận nên bị rơi vào tay thợ s ăn, chút xíu nữa th́ không về gặp các con được. V́ mẹ lo nghĩ cho các con nên xin họ thả cho ra trong chốc lát để về thăm các con. Các con thật là bất hạnh đáng thương! Từ nay các con sẽ không có mẹ săn sóc nữa. Mẹ hy vọng các con sẽ sống sung sướng sau này.Nai mẹ nói tới đây, bỏ các con ở lại mà đi. Hai con nai con thấy mẹ đi rồi trở về, mừng rỡ vô cùng, bây giờ lại nghe mẹ nói sẽ đi nữa, bèn theo bén gót, vừa đi vừa kêu khóc. Nai mẹ quay đầu lại nói:- Các con không thể nào theo mẹ được, nếu không mẹ con chúng ta sẽ bị giết hại cả nhà! Mẹ được về thăm các con một lúc như thế, có chết cũng cam ḷng! Chúng ta nghiệp chướng sâu dày nên sinh ra làm súc sinh, nay c̣n gặp thảm trạng bị bắt bị giết. Mẹ chết đi rồi, mong các con lập nguyện vững chải l à không bao giờ tái sinh làm thú vật nữa!Nhưng nai con nào có nghe lời nai mẹ, nhất định theo mẹ cho đến chỗ có cái hố. Thợ săn thấy nai mẹ về, theo sau có hai chú nai con, trong ḷng lại càng thấy bất nhẫn nên thả cho mấy mẹ con nhà nai về hết.Họ bèn đem chuyện này lên tâu với nhà vuạ Nhà vua cũng thấy loài nai mà biết trọng chữ tín c̣n hơn loài người, bèn hạ lệnh cấm săn bắn nai, cho nên từ đó bầy nai mới gọi bạn kết lũ mà sống tự do, đi lại chơi đùa tự tại trên những cánh đồng cỏ.Sinh làm nai mà có chữ tín lại biết thương con như thế, thật không khác ǵ con người. Đức Phật nói chúng sinh trong vũ trụ, ai cũng có trí huệ và đức độ của Như Lai, điều đó quả thật không sai! Chỉ cần có tâm từ bi là ngay trong kiếp này đă được quả báo tốt. Lừa gạt người khác chính là tự lừa gạt lấy ḿnh, giữ chữ tín với người khác tức là tự giúp đỡ lấy ḿnh.Chuyện con nai mẹ biết trọng chữ tín, thật đáng làm bài học cho loài người biết bao!Kinh Di Đà có nói tới 16 vị đại đệ tử của Đức Phật, trong số ấy có tôn giả Bạc Câu Lạ Ngài cao lớn tráng kiện, nghi dung trang nghiêm đẹp đẽ, đó là v́ trong những đời quá khứ ngài không hề sát hại một sinh linh nào. Nhờ thiện nghiệp ấy nên trong 91 đời ngài không bệnh hoạn, từ nhỏ tới già không ngă bệnh một lần nào. Không những thế, ngài c̣n có cái phúc đức là không bao giờ chết v́ năm loại tai họa, cũng gọi là "năm loại bất tử". Thế nào là năm loại bất tử?1. Không v́ thiên nhiên chuyển hóa như núi lở hay đất nẻ m à chết.2. Không bị lửa dữ thiêu cháy, không bị nước lớn nhận ch́m. 3. Không gặp đạo tặc hăm hại.4. không bị ng ăn cấm bởi lệnh vua.5. Không bị đao binh, chiến tranh l àm thiệt mạng.Tôn giả Bạc Câu La có thiện nghiệp và phúc báo ấy, ai được thấy ngài hay nghe nói đến ngài cũng phải cung kính và tán thán.Ngài tu hành tinh tiến, thường thường ngồi kiết già, đoan nghiêm bất động. Khi ngài tọa thiền dưới gốc cây, không bao giờ do v́ cảm thấy mệt mỏi mà tựa vào thân cây. Cũng thế trong các pḥng thất, ngài cũng không bao giờ ngồi tựa vào các tường, vách.Trên phương diện chuyên cần tu tập cũng không ai bằng ngài, và khó hơn nữa, ngài có đầy đủ biện tài vô ngại, có thể thuyết giảng cặn kẽ tất cả các diệu pháp.Thế nhưng ngài không thường thuyết pháp cho đại chúng, luôn luôn giữ thái độ tĩnh mặc, vô ngôn. Điều ấy khiến cho nhiều người lấy làm kỳ dị, đă có tài thuyết pháp th́ tại sao lại không thuyết? V́ thế một hôm tôn giả A Nan mới hỏi ngài rằng:- Tôn giả Bạc Câu La! Tại sao ngài lại không tuyên thuyết diệu pháp cho đại chúng nghe?Tôn giả Bạc Câu La bèn trang trọng trả lời rằng: - Nói nhiều chưa chắc đă được người ta tin nghe. Dẫu cho lời nói của ḿnh câu nào cũng đáng giá ngàn vàng, thế nào cũng có người lại thấy rằng lời ḿnh nói ra làm nhiễu động tâm họ. Tôi thường thường đắc được pháp lạc trong cảnh tịnh tĩnh, cho nên tôi muốn mọi người cũng được như thôi, hưởng pháp lạc trong sự tĩnh lặng.Tôn giả Bạc Câu La không những rất chuyên tâm trong việc an tọa tham thiền, mà trong việc tu tŕ công đức nhẫn nhục th́ lại càng cao quư hơn: bị người đánh đau, ngài không những không trả đũa mà c̣n không khởi tâm sân hận. Bị người hăm hại, đă không phục thù, ngài cũng không hề oán trách người. Cũng như bị người chửi mắng, ngài cũng có thể nhẫn nhục chịu đựng. Được lợi, bị suy thoái, bị hủy báng, được danh dự, được khen ngợi, bị chế nhạo, được sung sướng hay khổ đau, tám loại "gió" (bát phong) ấy không thể làm cho ngài động tâm hay phiền năo. Công phu tu dưỡng của ngài thật xứng đáng cho chúng ta muôn đời kính phục v à tôn trọng.63- Nghĩa khí của con khỉ mặt đỏ Ngày xưa, trong một ngọn núi thâm u rậm rạp, có một con quạ đen già tên là Câu Kỳ xây tổ ở trên một khóm cây cao to, sinh hạ được vài chú quạ đen xinh xắn dễ thương. Lăo rất mực yêu thương mấy chú quạ con của lăo.Ngày dài tháng rộng, lăo quạ đen Câu Kỳ thường đi chơi trong rừng sâu núi thẳm, và kết bạn với một con khỉ mặt đỏ. T́nh bạn của họ vô cùng thân thiết.Gần khóm cây của lăo có một con rắn độc cũng thường hay tới chơi. Khi nó thấy được mấy chú quạ con xinh xắn trên ngọn cây, nó không ngừng chăm chú nh́n lên, nhưng v́ lăo quạ đen và con khỉ mặt đỏ thường ở đấy canh chừng nên nó chưa có cơ hội lên làm thịt mấy chú quạ con ấy.Có một hôm, lăo quạ đen phải bay đi nơi khác kiếm thức ăn, con khỉ mặt đỏ cũng lên núi hái hoa quả, con rắn độc bèn chụp lấy cơ hội ngàn vàng này, ḅ lên tổ quạ ăn tươi nuốt sống mấy chú quạ con rồi bỏ đi.Lăo quạ đen cực khổ lắm mới t́m được thức ăn mang về nhưng khi về tới ổ, lăo chỉ thấy lác đác vài chiếc lông tơ bên cạnh mấy ngấn máu đỏ, lăo biết ngay là con rắn độc đă ăn mất quạ con của lăo rồi. Lăo đau khổ vô ngần, kêu thương không ngớt, muốn báo thù cho con nhưng lăo thừa biết lăo không phải là đối thủ của con rắn độc. V́ thế nên nỗi thương đau của lăo lại càng tăng th êm.Khỉ mặt đỏ vừa về tới, thấy lăo quạ đen đang khóc than bi thảm, nó ngạc nhiên hỏi nguyên do. Lăo quạ đen mới đem chuyện quạ con bị rắn độc giết ăn thịt ra kể cho khỉ mặt đỏ nghe.Khỉ mặt đỏ nổi cơn tam b ành, chửi rủa om ṣm:- Con rắn độc tâm địa tàn ác, táng tận lương tâm, chuyên môn gây nghiệp sát sinh, lười biếng không biết kiếm sống theo chính nghiệp, thấy ai yếu hơn ḿnh th́ nhe răng giương vuốt uy hiếp giết hại, thật đáng buồn cho cảnh ỷ mạnh hiếp yếu này !Con khỉ mặt đỏ thương t́nh an ủi quạ đen, rồi nói một cách cương quyết:- Con rắn độc n ày quá khốn nạn, tôi sẽ báo thù giùm anh!Nói xong, nó nhẩy vọt đi. Đi không xa, từ trên cao nh́n xuống, nó thấy con rắn độc đang trườn đi một cách ung dung an nhàn. Nó bèn nghĩ rằng:- Con rắn độc khốn nạn, mi tàn nhẫn giết hại con của bạn ta mà ăn thịt, hôm nay ta quyết ăn thua đủ với mi, một sống hai chết mới thôi!Nghĩ như thế xong, nó nhẩy ra trước mặt rắn độc chận đường. Rắn độc nổi giận đùng đùng ngóc thân lên, định quấn lấy khỉ. Nhưng con khỉ mặt đỏ nhanh nhẹn như tên bắn, nhẩy sang một bên rồi lại nhẩy tới phía trước, dùng hết sức lực một tay túm lấy đầu rắn, một tay chụp một ḥn đá cứng, rồi đập xuống nghiền nát đầu đối thủ. Rắn bị bể đầu chết tươi. Khỉ mặt đỏ cầm xác con rắn quăng xuống vực sâu rồi vui vẻ thơ thới quay về. Lăo quạ thấy kẻ tử thù đă đền xong nợ máu, cũng thấy có chút phần an ủi. Nghe được câu chuyện này, Đức Phật nói rằng: - Con khỉ này chính là một vị Bồ Tát hóa thân, nó v́ chính nghĩa mà trừ khử con rắn độc, không cho phép rắn tiếp tục giết hại những sinh mệnh bé nhỏ yếu ớt khác. Nó đă tự hy sinh, chẳng thà tự ḿnh chịu lấy nghiệp sát và bị đọa lạc mà sinh mệnh của chúng sinh được bảo to àn.Giới luật của tiểu thừa tuyệt đối cấm sát sinh, nhưng theo tinh thần đại thừa, không thể chấp chặt vào pháp một cách cứng nhắc, thà tự ḿnh đọa địa ngục mà làm cho chúng sinh thoát khổ.Cao cả thay tinh thần Bồ Tát!
Ông vua được coi là đức độ tài giỏi nhất của Ấn Độ, từ xưa đến nay, là vua A Dục. Ông có một người con trai tên là Câu Na Lạ Hoàng tử Câu Na La rất khôi ngô tuấn tú, tướng mạo như tranh vẽ, khuôn mặt như trăng rằm, v́ thế có rất nhiều cô gái muốn được thân cận với chàng.Lúc đó, trong cung điện có một nàng vương phi trẻ tuổi tên là Đê Xá La Hy Đạ Cô gặp hoàng tử lần đầu liền đem ḷng yêu thương, thường t́m đủ cơ hội để gặp gỡ, gần gũi.Một hôm, nhân t́m được một cơ hội tốt, vương phi liền đi t́m gặp hoàng tử, đem tâm sự của ḿnh tha thiết bày tỏ với chàng, hy vọng hoàng tử chấp thuận t́nh cảm của ḿnh. Nhưng hoàng tử Câu Na La xưa nay vốn phụng tŕ Phật pháp, chàng biết đây là vương phi của phụ hoàng, tuy nàng c̣n trẻ tuổi nhưng về phương diện thứ bậc th́ nàng ở vai mẹ chàng. Chàng là người biết trọng đạo lư, tuyệt đối không bao giờ có thể làm một chuyện vô luân điên đảo như thế nên không hề động ḷng. Cho nên khi người vương phi nhan sắc mỹ miều kia đem t́nh ái ra bày tỏ với chàng, th́ không những chàng không chấp thuận mà c̣n dùng lời lẽ dịu dàng ra khuyên bảo nàng không nên nghĩ đến những chuyện như thế nữa. Người vương phi quá si t́nh, không đạt được ư nguyện, vừa buồn vừa xấu hổ nên giận dữ mà sinh tâm oán hận, bất chấp tất cả, mướn người độc ác đến khoét mắt hoàng tử trước khi giết chàng đi. Khi mọi người nghe tin này, ai nấy đều kinh hoàng. Làm sao một người hiền lành, thân thiết như hoàng tử lại chịu một số phận bất hạnh như thế. Mọi người do đó bèn đi t́m một vị tỳ kheo có thần thông để thỉnh giáo. Tôn giả trả lời: - Trong những kiếp sâu xa về trước, tại thành Ba La Nại có một người thợ săn săn thú để sinh sống. Có một năm nọ, tiết trời lạnh lẽo, người thợ săn lên núi săn bắn, tới một nơi đó, ông phát giác ra một hang động, có rất nhiều nai trú lạnh trong ấy. Từ đó, mỗi ngày ông đến cửa động săn một con nai đem về nhà, trước hết ông móc mắt nai, sau đem nai đi giết. Cứ như thế trong suốt hơn một năm trời, bầy nai đáng thương kia, từ từ bị giết không c ̣n một con.Do nhân duyên sát sinh ấy, đời này sang đời khác ông chịu quả báo bị khoét mắt trước khi bị giết. Hoàng tử Câu Na La hôm nay, chính là ông thợ săn thời ấy.Tôn giả nói xong, mọi người vẫn c̣n chỗ nghi hoặc, hỏi thêm: - Bạch tôn giả, đă là một người thợ săn đáng ghét như thế, th́ làm sao lại được sinh ra trong một gia đ́nh cao quư làm hoàng tử? Xin thỉnh tôn giả từ bi thuyết giải cho chúng tôi hiểu.- Ông ta sinh ở hoàng cung là do một nhân duyên khác. Lúc ấy, khi Đại Phật Ca La Ca diệt độ rồi, th́ vua của quốc gia ấy mới mời người đến khắc tôn tượng của Như Lai để tỏ ḷng tôn kính Tam Bảo, rồi c̣n xây bảo tháp cúng dường tôn tượng. Nhưng về sau có một hôn quân không tin Tam Bảo, ra lệnh hủy hoại bức tượng Như Lai. Trong nước ấy có một ông thợ nặn tượng, thấy ông vua vô đạo như thế rất buồn khổ, nên phát nguyện đem bức tượng Phật về tu sửa lại trang nghiêm như cũ.Người thợ điêu khắc cũng chính là tiền kiếp của thái tử Câu Đa La, do công đức tu sửa tượng Phật mà kiếp này được sinh vào nhà của vua, nhưng v́ cái nghiệp sát sinh trước chưa hết, nên vẫn c̣n phải chịu quả báo.Những lời giảng của tôn giả đă làm tăng trưởng ḷng tin nhân quả của mỗi người, có nhân như thế th́ sẽ thọ quả báo như thế, ḿnh làm th́ ḿnh phải chịu, đó là một chân lư, không ai chịu khổ thế cho ai cả!Lúc Đ ức Phật c̣n ở tại nhân địa, có một thời sinh ra làm một vị tiên nhân chứng được năm thần thông, tu hành trong một quả núi hoang.Ngài công phu tu hành rất tinh tấn, trong tâm không c̣n chút quái ngại, đối với tất cả mọi vinh hoa phú quư của thế gian ngài không c̣n chút ham thích, hằng ngày chỉ hái trái ăn qua bữa trong những năm cuối của cuộc đời.Chỗ ngài tu có một con rắn độc, mỗi ngày nh́n ngũ thông tiên nhân tu hành, nó cảm động n ên xin quy y với ngài.Con rắn độc quy y rồi th́ ở lại phục dịch hầu hạ ngài, mỗi ngày miệng ngậm nước sạch phun xuống đất và lấy rễ cỏ quét bụi, làm những thứ lặt vặt trong nhà cho ngài. Nó cứ luẩn quẩn bên cạnh ngũ thông tiên nhân nghe pháp, không chịu rời xa nửa bước.Ngày lại rồi ngày qua, mùa hạ, mùa thu qua đi, trời bước sang mùa đông lạnh lẽo, ngũ thông tiên nhân nghĩ rằng hoa quả không c̣n nữa, nay phải xuống núi t́m thức ăn thôi!Khi rắn độc thấy ngũ thông tiên nhân sắp bỏ đi, buồn bă nước mắt tuôn ràn rụa. Ngũ thông tiên nhân thấy thế, động l ̣ng an ủi:- Con là con rắn độc, nếu ta đem con đi với ta, người ta thấy con th́ sẽ muốn giết hại con. Thôi con hăy ở đây yên tĩnh tu hành, thế nào ta cũng sẽ trở về, con hăy an tâm đừng đi đâu hết, thầy tṛ ḿnh sẽ c̣n gặp nhau!Tiên nhân nói xong lên đường ngay. Con rắn độc khóc hoài không ngừng, nó ḅ lên một ngọn cây cao chót vót để có thể nh́n thật xa, ngóng trông tiên nhân trở về. Nhưng chờ hoài không thấy ngài về, nó buồn tủi cho thân phận ḿnh, bỗng nhiên từ trên cây rớt xuống, chưa chạm đất đă rơi xuống một cành cây giữa đường và bị cắt đứt làm hai đoạn chết mất.Rắn độc vừa chết là sinh lên cung trời Đâu Suất, và vừa tái sinh là đă nhớ ngay đến kiếp trước của m ́nh.Nhớ ơn kiếp làm rắn, người trời này mới đưa một số thiên nữ tay cầm hoa hương xuống chỗ cũ rắc hoa lên thân rắn, và đem hoa hương đến chỗ của ngũ thông tiên nhân cúng dường để báo đáp ân đức của ngài đối với ḿnh.Có thiện tâm, chịu học pháp, ngay một con rắn độc mà c̣n có thể sinh lên cơi trời huống chi là con người.Người nào cũng thế, đừng thấy cái thiện nhỏ rồi chê mà không làm, v́ một niệm tâm thiện là hạt giống của sự thành Phật trong tương lai. Trừ ác, tu thiện chính là phương pháp để thoát khổ vậy.
Mỗi khi Đ ức Phật Thích Ca đi tới nơi nào thuyết pháp, th́ có rất nhiều các vị đệ tử hay đi theo vây quanh Ngài.Có một hôm, Đ ức Phật ở núi Linh Thứu, và những tín đồ của Ngài cũng đến tụ tập tại nơi ấy. Trong số đó có các vị tỳ kheo, tỳ kheo ni xuất gia, có các vị ưu bà tắc, ưu bà di tại gia và c̣n có các vị quốc vương, đại thần v.v... cũng đến xung quanh Đức Phật, cung kính cúng dường, nghe Ngài thuyết Pháp giảng Kinh.Trong pháp hội thù thắng ấy có rất nhiều vị đệ tử trong ḷng có điểm thắc mắc, họ muốn biết nhân duyên nào đă thúc đẩy Đức Phật xuất gia học đạo lúc ban đầu. Tuy họ muốn thỉnh xin Đức Phật nói cho họ biết, nhưng không ai dám mở miệng ra hỏi.Lúc ấy, tôn giả A Nan biết tâm niệm của mọi người nên từ ṭa ngồi đứng dậy, cung kính chắp tay, hỏi thăm Đức Phật xong rồi mới thay mặt mọi người m à thưa rằng:- Thế Tôn, bậc cứu chủ của chúng con! Nay chúng con có một điểm thắc mắc, đó là lúc Thế Tôn chưa xuất gia, hăy c̣n là một vị thái tử cao quư, sao lại xả bỏ vương vị, xả bỏ những thứ hoa lệ phú quư của hoàng cung, mà đột nhiên vào núi tu hành rồi sau sáu năm khổ hạnh ngồi dưới cây Bồ Đề thành Đẳng Chính Giác, hiển hiện ứng hóa thân độ hóa chúng sinh, làm thầy của Trời Người. Chúng con không biết lúc ban đầu do những nhân duyên ǵ mà Thế Tôn đă phát đại Bồ Đề tâm như thế, đi thẳng đến địa vị Phật? Chúng con đây đều là đệ tử của Phật, đều phải phát tâm rộng lớn như Phật đă phát, phải hướng theo con đường của Phật đă đi qua mà cất bước tiến lên hầu thừa kế Như Lai. Xin nguyện Thế Tôn từ bi tuyên thuyết để khuyến khích tất cả chúng sinh.Đức Phật khen ngợi A Nan rằng: - Hay thay! Hay thay! Điều mà ông hỏi hôm nay cũng là điều mà ta muốn nói đến. Các ông hăy yên tĩnh ngồi nghe.Khi Đ ức Phật nói như thế, tất cả Bồ Tát và thánh chúng đều yên tịnh không một tiếng động, chú ư lắng nghe pháp âm của Phật.Từ miệng Đức Phật phóng ra một đạo hào quang ngũ sắc, ánh sáng chiếu rọi đại thi ên thế giới, vỗ về thân tâm của mọi loài chúng sinh, khiến cho họ có cảm giác mát mẻ, giải thoát.Đức Phật ngồi ngay ngắn trên ṭa báu và nói: - Tại vô lượng kiếp trong quá khứ về trước, trong ta bà thế giới này có một vị Chuyển Luân Thánh Vương, cũng là một vị vua tên gọi là Đại Quang Minh. Vua là người rất phúc đức và trí huệ, nhân từ và rộng răi đối với người khác, thích cứu giúp kẻ bần cùng, danh tiếng lẫy lừng truyền rộng khắp nơi. Vua của nước láng giềng xưa nay vẫn giữ t́nh giao hảo với vua Đại Quang Minh, hai người đối xử với nhau không khác ǵ hai anh em ruột thịt. Khi nước này gặp lúc thiếu hụt lương thực hay vật dụng, vua Đại Quang Minh thường cứu giúp cho họ bớt khổ trong những năm đói kém.Cũng có lúc vua láng giềng đem sản phẩm của nước ḿnh đến hiến tặng vua Đại Quang Minh để báo đáp ơn cứu giúp. Có một hôm, một số người vào núi săn được một con voi trắng, một con voi rất đẹp đẽ đoan chính, thân nó đẹp không khác ǵ bạch ngọc, trên thế gian thật là hiếm có. Vị vua nhỏ nọ muốn đem voi trắng cống hiến vua Đại Quang Minh, nên thu thập một ít châu báu trang sức cho voi rồi sai người đem voi qua nước láng giềng. Vua Quang Minh được voi trắng rất hoan hỉ, b èn mời một người dạy voi rất giỏi tên là Tôn Nhược về cung, giao voi trắng cho vị này nuôi nấng và dạy dỗ.Voi trắng thông minh, đoán biết ư muốn của thầy, thầy chỉ bảo ǵ cũng đều làm theo được, chẳng bao lâu sau nó đă hoàn toàn thuần thục. Tôn Nhược bèn trang sức cho nó bằng rất nhiều ngọc quư, và dẫn nó đến trước mặt vua Quang Minh thưa rằng:- Đại vương! Voi đ ă thuần thục, xin vua hăy thử voi.Vua nghe thế rất vui ḷng, ra lệnh cho thị giả đánh trống vàng, triệu tập các vị đại thần cũng những người có danh tiếng trong thành đến xem voi biểu diễn. Ít lâu sau mọi người đều tụ tập ở ngoài thành, vua Quang Minh cưỡi lưng voi trắng bước từng bước chậm chạp, trông chẳng khác nào mặt trời vừa mới mọc, ánh sáng chói lọi, ai thấy cũng phải vui mừng tán thán.Đến một băi săn, vua muốn bắt voi biểu diễn. Nhưng con voi trắng ôn ḥa kia lúc ấy bỗng trở nên hung bạo trăm phần như đang bước vào chiến trường, điên cuồng vừa chạy vừa nhảy loạn xạ. Vua ngồi trên lưng voi không có cách nào chế ngự nó được. Nguyên do chỉ v́ con voi trắng mà vua đang cưỡi là một con voi đực, nó nghe tiếng kêu của một con voi cái ở núi bên cạnh nên dục niệm nổi lên, khiến nó điên cuồng muốn chạy theo voi cái.Tôn Nhược ở phía sau thấy thế kêu to lên: - Đại Vương! Ngài hăy bám vào một nhánh cây để rời khỏi thân voi rồi nhảy xuống đất, có thế mới an toàn được!Lúc ấy voi đă chạy về phía rừng sâu, nhà vua bèn cấp tốc bám vào một nhánh cây mà rời khỏi lưng voi. Vua thoát thân rồi, voi trắng chạy như bay không quay đầu trở lại. Vua Quang Minh từ thân cây trèo xuống ngồi bệt dưới đất, lúng ta lúng túng không biết l àm sao, áo mũ rơi rớt rách nát, toàn thân thương tích máu chảy dầm dề, tức giận run cả người.Không lâu sau Tôn Nhược chạy tới, thấy vua bèn khấu đầu trấn an rằng:- Xin đại vương đừng phiền năo, voi điên ngu si, có lẽ chỉ v́ niệm dâm dục phát lên mà nên cơ sự, không có cách nào chế ngự nó được. Chẳng bao lâu niệm dâm của nó lắng xuống, nó sẽ chán cỏ dại nước dơ của núi rừng m à trở về vương cung.Nhà vua tức giận trả lời: - Ta không muốn con voi đó nữa, suưt nữa nó đă làm cho ta mất mạng! Nhà ngươi cũng hăy cút đi, từ nay về sau ta không c̣n muốn thấy ngươi dạy voi nữa!Cũng ngay tại lúc đó, các vị đại thần và dân chúng cũng vừa đến tới, họ tưởng rằng vua đă bị voi giết chết rồi v́ trên đường đi có người th́ nhặt được mũ vua, có người th́ nhặt được vương bào nên ai cũng kinh hăi khủng khiếp. T́m măi mới thấy được vua, người th́ mau mau đem y áo tới cho vua mặc, người th́ dắt một thớt voi khác thuần thục hơn cho vua ngồi lên an toàn rồi trở về hoàng cung. Người trong thành thấy vị vua hiền đức của họ đă bị voi trắng hăm hại nên họ căm tức Tôn Nhược vô cùng.Chẳng bao lâu, đúng như Tôn Nhược đă nói, voi trắng không quen sống nơi núi rừng hoang dă, niệm dâm cũng đă lắng xuống, nó bèn trở về hoàng cung. Tôn Nhược thấy voi về bèn báo cho vua biết nhưng vua từ chối không tiếp, cho người ra trả lời rằng:- Vua không cần voi trắng và cũng không cần đến người dạy voi nữa.Tôn Nhược ba lần xin gặp, muốn tự ḿnh cưỡi voi trắng và chứng tỏ cho vua thấy voi đă thuần thục đến đâu, cuối cùng vua đành phải chấp thuận. Thế là họ trải chỗ ngồi tại một khoảng đất bằng phẳng, vua và tất cả dân chúng đều đến xem. Tôn Nhược đem voi trắng tới chỗ biểu diễn, đồng thời k êu thợ làm cho ḿnh bẩy ḥn sắt, nếu voi nuốt hết mấy ḥn sắt ấy th́ chắc chắn chỉ có chết mà thôi.Sợ vua ân hận về sau, Tôn Nhược thưa trước với vua rằng: - Đại Vương, chỉ có bậc Chuyển Luân Thánh vương mới có được một thớt voi trắng như thế, hôm nay nó phạm chút lỗi lầm, nhưng không nên v́ thế mà lấy mạng sống của nó.- Con voi trắng này chẳng hề được điều phục, đáng lẽ ông cũng không nên để cho ta cưỡi nó. Nếu thật sự nó đă thuần thục th́ tại sao lại ngoan cố như thế được? Do đó, cho dầu cả ông cả nó có bị giết đi nữa ta cũng chẳng ân hận!- Thưa Đại vương, thần chết cũng chẳng hề ǵ, nhưng voi trắng này mà chết th́ thật là đáng tiếc! - Thôi đừng có nhiều lời nữa! Vua nổi giận hét lên. Tôn Nhược quỳ xuống đất, rơi nước mắt mà nói:- Vua không có huệ nhăn nên không biết chân tài. Tôi điều phục được thân voi nhưng không điều phục được tâm của nó. Nếu lửa dục vọng cháy lên phừng phực trong tâm voi th́ đương nhiên tôi không có cách nào chế ngự được. Bây giờ xin đại vương hăy chứng kiến việc tôi điều phục voi.Nói xong, ông đến trước chân voi, lấy dáng điệu nghiêm khắc khiến voi không thể không vâng lời, đem những ḥn sắt bỏ vào lửa cháy đỏ rồi nói: - Mi hăy nuốt hết những ḥn sắt này, nếu không ta sẽ lấy móc sắt móc năo mi ra! Voi trắng hiểu thầy ḿnh muốn đưa ḿnh vào chỗ chết, nghĩ rằng:- Chẳng thà ta nuốt những ḥn sắt này mà chết chứ không để bị móc năo.Voi nghĩ xong bèn quỳ xuống nh́n về hướng nhà vua chảy nước mắt mà cầu cứu, nhưng lửa giận của vua c̣n đang hừng hực nên ông quay đầu đi chỗ khác không thèm nh́n lại. Voi trắng nh́n những người bốn phía xung quanh không có ai có thể cứu ḿnh được, bèn lấy những ḥn sắt được nung đỏ ấy bỏ vào miệng nuốt xuống ruột, thông qua hậu môn và chết ngay tại chỗ. Thật là không khác ǵ cảnh chày kim cương đập nát núi pha lê, những ḥn sắt rơi xuống đất rồi mà hăy c̣n cháy đỏ, khiến những người ngồi nh́n, không ai là không thương xót đến rơi nước mắt.Vua Quang Minh thấy thế, trong tâm chợt nẩy lên một chút ân hận, cho gọi Tôn Nhược đến hỏi: - Ông đă điều phục được voi thuần thục đến mức này rồi, vậy sao trong rừng không chế ngự được nó? Tôn Nhược quỳ xuống đáp rằng: - Đại vương, lúc năy thần đă nói, thần chỉ điều phục được thân voi chứ không điều phục được tâm voi. - Trên thế gian này có ai điều phục được cả thân lẫn tâm chăng? - Có Như Lai Thế Tôn, đă vừa điều được thân lại vừa điều được tâm, nên trong mười thánh hiệu của chư Phật Như Lai có câu "Điều Ngự Trượng Phu". Vua Đại Quang Minh nghe được danh hiệu Phật, biết rằng chỉ có Phật Như Lai mới có đầy đủ lực oai thần đó th́ hoảng hồn tóc tai dựng đứng, hỏi th êm rằng:- Vị mà ông gọi là Như Lai đó, có đặc tính ǵ?- Phàm là Như Lai Thế Tôn, có hai loại đặc tính: một là trí huệ, hai là đại bi. Đức Phật chăm thực hành lục độ, có nghĩa là bố thí, tŕ giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và trí huệ, c̣n gọi là lục ba la mật, v́ cả phúc đức lẫn trí huệ đều đầy đủ nên được tôn xưng là Phật. Ngài vừa có thể điều phục được chính ḿnh mà c̣n điều phục được chúng sinh.Vua Đại Quang Minh nghe thế, vui mừng lập tức nhanh nhẩu trở về cung, dùng nước thơm tắm gội, mặc y phục mới, lên lầu cao hướng về bốn phương lễ bái, khởi đại bi tâm đối với tất cả chúng sinh, nhiễu hương m à thề nguyện rằng:- Nguyện tôi có bất cứ công đức nào trong quá khứ, hiện tại hay vị lai cũng đều hồi hướng Phật đạo, thành tựu Phật đạo để điều phục tâm ḿnh và cũng để điều phục tất cả chúng sinh.Nếu có một chúng sinh nào tạo tội trọng mà phải trải qua một kiếp trong A Tỳ địa ngục, tôi sẽ vào ngay trong địa ngục để làm lợi ích cho chúng sinh ấy, và không hề xả bỏ tâm Bồ Đề. Lúc ông phát thề nguyện lớn như vậy, quả đất rúng động sáu cách, trong không trung hoa trời rơi xuống dầy đặc như mưa, vô lượng người trời tấu nhạc trên không, âm thanh vi diệu ấy chính là để tán thán công đức của vị Bồ Tát mới phát đại tâm. Đức Phật nói xong về nhân duyên như trên rồi, lại nói tiếp: - Con voi trắng đă bị lửa dục đốt cháy thân, nuốt bảy ḥn sắt, đă thọ nghiệp báo một cách thê thảm trong hiện kiếp của ḿnh khiến cho mọi người kinh hăi và lấy đó răn ḿnh, nên đoạn trừ được ác duyên và mở rộng con đường giác ngộ, phúc đức đạt được cũng không thể nghĩ bàn. Con voi trắng thời ấy chính là A La Hán Nan Đà. Vị thầy dạy voi nay là Đại Trí Xá Lợi Phất, và vua Đại Quang Minh chính là ta vậy. Lúc ấy ta thấy việc điều phục thân voi nên muốn t́m cách điều phục tâm, do đó mới phát đại tâm bồ đề lúc ban sơ, t́m cầu Phật đạo.Những người trong đại hội nghe Phật thuyết ai cũng đại ngộ, người th́ đắc được bốn thánh vị, người th́ phát tâm đạo rộng lớn, người th ́ xuất gia, không ai là không hoan hỉ phụng hành.Tại Xá Vệ Thành có người con của ông trưởng giả nọ, sinh ra h́nh thù cực kỳ xấu xí : miệng th́ rộng toang hoác, mũi th́ lơm trũng xuống, mắt th́ con to con bé, người th́ thấp, toàn thân th́ đen như mực, giọng nói th́ thô lỗ như tiếng heo kêu, càng lớn càng giống như quỷ, bị đặt tên là Xú nhân (người xấu xí). Xú nhân bị cha mẹ ghét bỏ, và cuối cùng bị đuổi ra khỏi nhà.Ban đầu Xú nhân đi ăn mày kiếm sống, nhưng khi người ta thấy h́nh dáng như quỷ của ông th́ sợ hăi chạy trốn, không ai dám đến gần bố thí cho thức ăn. V́ thế, bất đắc dĩ ông phải chui núp trong núi sâu rừng rậm, hái trái rừng, hứng nước suối qua ngày. Thật đáng thương cho Xú nhân, sống trong rừng sâu núi thẳm lẽ ra có thể ổn định và sung sướng, nhưng ngay cả thú vật trên trời hay dưới đất thấy ông xấu xí quá cũng đâm sợ mà tránh xạ Ông như một người rừng man dă, chỉ c̣n sống một cuộc sống tối tăm không chút ánh sáng.Đức Phật với đầy đủ thiên nhăn thông biết được t́nh cảnh ấy, bèn đưa chư tỳ kheo vào tận trong rừng núi, sửa soạn độ hóa Xú nhân. Nhưng khi ông thấy Đức Phật giáng lâm th́ vội vàng chạy trốn thật xa. Đức Phật bèn dùng thần thông làm cho ông không thể chạy nên ông không trốn đi đâu được, đứng sửng sốt giữa rừng cây, không hiểu chuyện ǵ đ ă xẩy ra cho ḿnh.Lúc ấy, các vị tỳ kheo đều ngồi kết già phu thiền định dưới các gốc cây, gió thổi vi vu, lá nhẹ rơi lác đác xung quanh các ngài, thật là một quang cảnh thơ mộng.Đức Phật lập tức hóa thân thành một người xấu xí, thân thể dơ bẩn, người không ra người quỷ không ra quỷ, xấu xí không thua Xú nhân, tay cầm b́nh bát đựng đầy thức ăn, từ từ hướng về phía ông. Đang bối rối, bỗng thấy một người xấu xí lại gần, Xú nhân ban đầu rất kinh ngạc nhưng sau trong ḷng hoan hỉ, bất giác thốt lên: - Người này mới đúng là bạn ta!Nói xong, ông tiến lại gần người xấu xí kia mà nói: - Chúng ta cả hai đều xấu xí khó coi, đều cô đơn như nhau, chi bằng kết làm bạn tốt với nhau, bạn có đồng ư không?- Đồng ư, nhưng bạn và tôi phải hợp tác với nhau và coi nhau như anh em. Trước hết, tôi xin tặng bạn thức ăn trong b ́nh bát này.Xú nhân t́m được bạn tri kỷ mừng rỡ vô hạn, không chút khách khí, cùng chia thức ăn trong b́nh bát với người bạn mới.Dùng cơm vừa xong, hóa nhân của Đ ức Phật bỗng biến thành một người đoan chính tuấn tú, khiến Xú nhân ngạc nhiên hỏi rằng:- Bạn làm sao mà đột nhiên trở thành trang nghiêm đoan chính như thế?Hóa nhân từ tốn đáp rằng: - Điều đó chả có ǵ lạ lùng cả, khi tôi ăn các thức ăn ban năy, tôi đă dùng tâm thiện lành, cung kính mà quán nh́n các vị tỳ kheo đang ngồi thiền kia. Nhờ phúc báo của tâm cung kính ấy mà tôi trở nên đoan chính. - Đó chính là phương pháp hay sao? Làm người xấu xí khổ quá, tôi khao khát được trở nên đoan chính như bạn. - Th́ bạn cứ thử làm như tôi xem! Như bắt được hạnh phúc vi diệu, Xú nhân liền phát khởi tâm sám hối và tâm hoan hỉ, không chút nghi ngờ, dùng mắt thiện lành mà quán nh́n các và tỳ kheo đang tọa thiền dưới các gốc cây.Đức Phật bèn hồi phục lại nguyên h́nh với 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp, ánh sáng của Ngài chiếu rọi khắp mọi nơi như trăm ngàn ánh mặt trời, khiến Xú nhân tự động quỳ xuống đảnh lễ bái lạy trước mặt Ngài mà thưa rằng: - Có lẽ trong quá khứ con đă hủy báng cười chê các bậc tỳ kheo tu hành nên mới gặt hái quả báo xấu xí ngày hôm naỵ Con muốn xuất gia học đạo để sám hối lỗi lầm trước.- Tốt lắm! Đức Phật hoan hỉ nói. Ta chấp thuận cho ông trở thành tỳ kheo, làm đệ tử của ta. Đức Phật nói xong, râu tóc của Xú nhân tự nhiên rụng hết, áo pháp tự nhiên khoác lên người, hiện thân tỳ kheo, và c̣n được Đức Phật thuyết đủ loại pháp cho nghe. Ông tu hành tinh tấn, chẳng bao lâu đắc quả thánh A La Hán, không c̣n bị phiền năo bởi h́nh thù xấu xí nữa.
Lúc Đ ức Phật Thích Ca Mâu Ni ở tinh xá Kỳ Viên trong thành Xá Vệ thuyết pháp độ sinh, th́ trong ngôi thành lớn ấy có ông trưởng giả nọ sinh được một cậu con trai rất kỳ diệu. Lúc cậu ra đời th́ nước cam lồ từ trên trời tuông xuống, và thiên nhạc tuyệt diệu trổi lên khúc hoan cạ Cha mẹ cậu mừng rỡ quá, mời thầy chiêm tinh về bốc cho đứa bé hy hữu ấy một quẻ. Thầy chiêm tinh bốc xong, khen ngợi rằng :- Đứa bé này ra đời có cam lồ, thiên nhạc chào mừng, đó là v́ sau này cậu sẽ là phúc tinh của nhân loại, nếu được xuất gia học đạo, chắc chắn sẽ thành một vị thánh!Nghe những lời ấy cha mẹ cậu rất đẹp ḷng, đặt tên cho cậu là Da Xỉ Mật Đa, tối ngày cưng ch́u, cung phụng đủ thứ. Nhưng kỳ lạ thay, đứa bé này không cần bú sữa. Khi đói, giữa những kẽ ngón tay của cậu có một gịng sữa trắng tự nhiên chảy ra, nuôi cho cậu dần dần lớn mập. Lúc c̣n bé, cậu thông minh dị thường, cung cách siêu phàm.Có một hôm cậu đến Kỳ Viên tinh xá, thấy Đức Phật với 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp, thân phóng hào quang sáng rực, Da Xỉ Mật Đa hoan hỉ vô cùng, chạy đến đảnh lễ Đức Phật và xin Ngài thu nhận ḿnh làm đệ tử. Đức Phật từ bi nhận lời, cho phép Da Xỉ Mật Đa được xuống tóc xuất gia. Tuy c̣n nhỏ tuổi, nhưng cậu tu hành tinh chuyên, chẳng bao lâu chứng quả A La Hán, có đại thần thông, được người, trời kính phục.Những vị đệ tử khác của Đức Phật lớn tuổi hơn cậu hay xuất gia trước cậu đều không b́ kịp, nên mọi người mới lấy làm lạ, thỉnh giáo Đức Phật. Đức Phật không chút nề hà, thuyết cho mọi người nghe nguyên do như sau: Lúc Ca Diếp Như Lai c̣n tại thế, có một vị thân sĩ ở nước Ba La Nại, tuổi đă lớn mới xuất gia học đạo, nhưng lại giải đăi lười biếng, không chịu tinh tiến, thân lại thường hay mang bệnh. Các thầy thuốc thấy ông gầy yếu, bèn khuyên ông nên uống nhiều dầu tô (dầu tô là một loại chất bổ giúp cho thân thể cường tráng). Lăo tỳ kheo này nghe lời thầy thuốc, ráng sức uống dầu tô cho nhiều, tới nửa đêm th́ chất thuốc phát tác, ông vừa nóng vừa khát, muốn uống chút nước th́ trong bát không có lấy nửa giọt cho ông uống. Chạy ra giếng, giếng đă cạn khộ Chạy ra bờ sông, th́ gặp lúc hạn hán đă lâu, nên chỉ thấy đáy sông. Ông đi t́m khắp nơi mà không t́m đâu ra nước, khát chịu gần hết nổi. Lúc ấy ông như tỉnh ngộ, biết rằng đây là quả báo từ quá khứ chiêu cảm, nên ông nhẫn chịu khát cho qua đêm ấy. Ngày hôm sau ông t́m tới Ca Diếp Như Lai cầu cứu. Như Lai thấy ông đáng thương, bèn nói với ông rằng:- Cái khổ của ông hôm nay không khác ǵ cái khổ của loài ngạ quỷ, nếu biết sám hối th́ c̣n cứu văn được. Bây giờ ông hăy nước trong b́nh của ta mà cung kính dâng lên cho chư tăng.Lăo tỳ kheo nghe lời giáo huấn cuả Như Lai, tính lấy b́nh nước nhưng nghiệp tội đă quá sâu dày, nên tay mới chạm b́nh, th́ nước trong b́nh đang đầy ắp bỗng không cánh mà baỵ Lăo tỳ kheo rất buồn phiền, thấy ḿnh như sắp đọa xuống cơi ngạ quỷ tới nơi rồi! Ông lại đi t ́m Như Lai, cầu xin Ngài thương xót chỉ giáo chọ Như Lai dạy:- Bây giờ ông ở giữa t ăng chúng, giữ tâm ư cho thật thành kính, lấy nước thanh tịnh nhất, trong sạch nhất mà cúng dường chư tăng, th́ mới thoát được nỗi thống khổ của loài ngạ quỷ này.Lăo tỳ kheo vâng lời và tin tưởng Như Lai, sinh tâm đại hoan hỉ, lại c̣n nương vào lực của Phật nên ở đâu cũng t́m được nước sạch, nước trong. Từ đó, ngày ngày ông mang nước sạch đến cung cấp cho tăng đoàn, mải cho đến lúc tuổi thật cao mới tạ thế. Nhờ công đức cúng dường nước cho chư tăng như thế nên sinh ra đời này mới tự nhiên có sữa thanh tịnh mà uống, cho đến mới gặp Phật, đắc độ rất mau chóng. Này chư tỳ kheo, lăo tỳ kheo bệnh hoạn kia, nay chính là Da Xỉ Mật Đa vậy.Mọi người muốn t́m cầu hạnh phúc, nên thường cúng dường Phật và tăng, trồng nhân thiện th́ tự nhiên sẽ hái được quả thiện.
N ăm ứng thân của Đức Phật được 80 tuổi, Ngài đưa A Nan đi hành hóa tới tháp Già Bà La, ở đấy có rất nhiều vị tỳ kheo vân tập. Đức Phật nói với đại chúng rằng:- Này chư tỳ kheo! Hôm nay ta gặp các ông tại nơi đây là điều rất tốt. Từ khi ta thành đạo và chứng được chính giác, đă thương tưởng bảo hộ các tỳ kheo và đệ tử, giáo hóa đại chúng, ban phúc cho mọi người, đem sự an vui bố thí cho kẻ khác, dùng từ bi mà đối đăi với tất cả chúng sinh. Ta thuyết pháp độ sinh, chưa hề nề hà gian lao hay nghĩ đến sự nghỉ ngơi. Điều ta muốn nói th́ đă nói xong với các ông rồi. Ta không hề nghĩ các ông thuộc về ta, chúng sinh thuộc về ta, cho ta toàn quyền sai khiến. Ta chỉ là một người giữa các ông, thường thường cùng các ông ở chung một chỗ. Điều ta muốn thuyết giảng đă thuyết giảng xong, Như Lai không hề giữ lại điều bí mật n ào, không áp bức ai và cũng không muốn ai phải phục tùng.Ứng thân của ta nay đă già, như một cái xe cũ th́ phải hư, cứ sửa sang, bảo tŕ măi cũng không phải là một biện pháp lâu dài được. Trong ba tháng nữa, ta sẽ y theo pháp tính mà nhập Niết Bàn ở giữa hai gốc cây Ta La thành Câu Thi Na Ca La, được sự an ổn vô thượng. Nhưng ta sẽ luôn luôn gia hộ cho các ông và cho những chúng sinh vị lai tin tưởng vào giáo pháp của ta.Tin Đ ức Phật nhập Niết Bàn vừa mới ban ra, nên đệ tử của Ngài ai cũng kinh hoàng. Trong tâm của họ, trong khoảnh khắc mặt trời và mặt trăng đều tắt phụp, trời đất xoay tṛn. Đức Phật lại nói tiếp:- Các ông không nên đau buồn, vạn vật trong trời đất, hễ có sinh th́ tất nhiên phải có tướng vô thường. Định luật này, bất kỳ là ai chăng nữa cũng không trốn thoát được. Ta đă chẳng nói điều này cho các ông nghe rồi sao? Những ǵ ḿnh yêu thương đều phải có lúc mất mát, có tụ họp th́ phải có xa ĺa, thân thể của người đời do tâm và vật chất tụ lại mà thành th́ tất nhiên là vô thường, th́ không thể tự do như người ta thường tưởng. Thân xác thịt không thể vĩnh viễn tồn tại, ta đă không thường xuyên nhắc nhở điều n ày hay sao?Muốn ứng thân của Phật ở măi trên thế gian là đi ngược lại với quy tắc tự nhiên của pháp tính. Ta là người đă thị hiện chân lư của vũ trụ, th́ đương nhiên là không thể đi ngược lại với pháp tính.Nếu các ông muốn ta ở lại măi trên thế gian là các ông đă không y theo giáo pháp của ta đă giảng dạy mà tu hành, vậy th́ cho dầu ta có sống thêm ngàn vạn năm nữa phỏng có ích lợi g ́?Nếu các ông có thể y theo giáo pháp của ta mà tu hành th́ chẳng khác nào ta sống vĩnh viễn trong tâm các ông. Pháp thân huệ mệnh của ta biến khắp tất cả mọi nơi, luôn ở cùng một chỗ với các ông và với chúng sinh đời vị lai.Các ông hăy giữ ḷng tin kiên cố, quy y nơi pháp, y pháp mà tu hành, không nên quy y nơi ǵ khác. Các ông tu học thánh đạo không biếng trễ, giải thoát phiền năo, trụ tâm không loạn, th́ các ông đúng là đệ tử chân chính của ta.Đức Phật nói xong lại đi qua Xà Đầu viên ở thành Ba Bà, ở đấy nhận sự cúng dường của ông thợ vàng tên là Thuần Đà. Ông này cúng dường Chiên Đàn nhung, là một loại nấm rất khó tiêu hóa. Đức Phật dùng xong trong người không khoẻ, nhưng Ngài vẫn từ bi giải đáp cho Thuần Đà biết thế nào là sự khác biệt giữa bốn loại sa môn, khiến ông này vô cùng cảm động. Đức Phật nói bốn loại sa môn : một là sa môn hành đạo thù thắng, hai là sa môn khéo thuyết nghĩa của đạo, ba là sa môn dựa vào đạo mà sinh sống và bốn là sa môn làm ô uế đạo. Cùng là sa môn mà có chân có ngụy, có thiện có ác, không nên thấy một vị sa môn không hiền không thiện rồi hủy báng toàn thể các vị sa môn. Giống như trong một thuở ruộng lúa mạ tốt, bên trong có thể xen tạp vài ngọn cỏ dại. Là người cư sĩ tại gia tin Phật, nên thường gần gũi thiện tri thức, nhưng không nên phê b́nh sa môn. Người cư sĩ tại gia, tốt hơn hết là không nên để ư tới chuyện tốt xấu thiện ác của sa môn.Sau đó, Đức Phật thị hiện tướng bệnh ở thôn Trúc Phương, nhưng Ngài vẫn không chịu nghỉ ngơi, vẫn tiếp tục lên đường hành hóa. Một hôm, từ nhan của Ngài bỗng chiếu ra ánh sáng huy hoàng, viên măn hơn, thanh tịnh hơn, trang nghiêm hơn b́nh thường, ánh sáng ấy chói lọi như mặt trăng mặt trời, sâu rộng vô biên như biển lớn. A Nan hỏi Đức Phật: - Thế Tôn, từ trước tới nay con đi theo làm thị giả của Phật, đây là lần thứ nhất con thấy từ nhan của Thế Tôn sáng chói hơn những ngày trước, ánh sáng vô lượng ấy như muốn chiếu thấu cùng khắp cả tam thiên đại thi ên thế giới.Đức Phật đáp: - Đúng thế! Quang sắc của Phật có hai lần đặc biệt không giống b́nh thường, lần thứ nhất là lúc mới thành Phật đạo chứng đắc vô thượng chính giác, lần thứ hai là lúc sắp nhập Niết Bàn.A Nan nghe nói vừa mừng vừa cảm thấy buồn thương. Đức Phật gieo rắc chủng tử của chân lư trên đường đi của Ngài, và có rất nhiều người đi theo sau chân Ngài. Họ đi theo sau một Đức Phật vừa già nua vừa bệnh hoạn, nên dường như ai cũng rơi lệ. Sự thật, nếu trên thế giới này có một người thật sự mạnh khoẻ và huệ mệnh vĩnh viễn không có già bệnh, th́ người ấy chính là bậc cứu thế, là bậc đại thánh, là Đức Phật vậy.Trên đường đi theo Đức Phật, A Nan lo sợ thưa rằng: - Thế Tôn nhập Niết Bàn rồi, th́ nghi thức an táng chúng con phải làm như thế nào? Đức Phật an nhiên đáp: - Những người đă quy y sẽ đến giúp ông, ông đừng lo, hăy an tâm mà lo lấy việc của ḿnh. Tuy nhiên ta cũng có thể chỉ bày cho ông một vài nghi thức để cùng ông tham khảo. Mọi người ai cũng mong muốn biết, và cũng để tránh điều tranh luận giữa đám đông người, ta nói cho các ông nghe cũng tốt. Thế th́ ta bày cho các ông nghi thức mai táng của Chuyển Luân Thánh Vương vậy!- Nghi thức mai táng của Chuyển Luân Thánh Vương là thế nào? A Nan xúc cảm vừa khóc vừa hỏi. Đức Phật nhẹ nhàng trả lời: - Trước hết lấy nước thơm rửa người, xong dùng vải mới sạch bao người lại. Bên trên dùng 500 tấm thảm bông bao thêm, đặt vào trong một cỗ áo quan bằng vàng, bên trong áo quan có phết dầu hương. Sau đó mới đem cỗ áo quan đặt vào một chiếc quan tài bằng sắt, xung quanh quan tài rải hương chiên đàn trên một ṿng tṛn rộng, bên trên th́ chất hương thơm, bốn phía đặt hoa tươi...Đức Phật nói đến đây, trầm ngâm một lúc rồi lại nói: - Phật có thể tự dùng lửa tam muội mà trà tỳ, các ông thu thập xá lợi và lập tháp ở ngă tư đường để người qua lại biết mà nhớ nghĩ và tin tưởng.Đức Phật không hề muốn ai xây tháp cho chính ḿnh, mà v́ chúng sinh nên mới để lại di ngôn như trên. Không lâu sau, Đ ức Phật tiến vào thành Câu Thi Na Ca La, dặn ḍ A Nan rằng :- Ông hăy v́ ta mà đến giữa hai gốc cây Sa La sắp đặt một chỗ nằm, đầu quay về hướng bắc, mặt nh́n về hướng tây. Những năm sắp tới, giáo pháp của ta có thể hướng về phía bắc mà hoằng truyền, và tương lai sẽ thịnh hành ở phương tây. Đêm nay ta sẽ nhập Niết Bàn.A Nan và đại chúng nghe thế, ai cũng khóc không sao ngừng được. Sau đó mọi người bàn tính với nhau, nếu chỉ ở đó mà khóc lóc th́ chẳng có ích lợi ǵ, điều cần kíp là phải thỉnh cầu Đức Phật chỉ bày làm cách nào để chính pháp được giữ ǵn lâu dài trong thế gian đời vị lai. Bàn tính với nhau xong, họ cử A Nan thỉnh giáo Đức Phật :- Thế Tôn, chúng con không cách nào mà không buồn thương cho được, nhưng chúng con có bốn vấn đề cuối c ùng xin thỉnh Thế Tôn chỉ bày:Thứ nhất, lúc Thế Tôn c̣n tại thế, Ngài là thầy cho chúng con nương dựa. Thế Tôn Niết Bàn rồi, chúng con biết nương dựa vào người thầy nào đây?Thứ hai, lúc Thế Tôn c̣n tại thế, chúng con an trụ vào Phật. Thế Tôn Niết Bàn rồi, chúng con biết an trụ vào đâu? Thứ ba, lúc Thế Tôn c̣n tại thế th́ người hung ác đă có Thế Tôn điều phục. Thế Tôn Niết Bàn rồi, làm sao điều phục người hung ác đây? Thứ tư, lúc Thế Tôn c̣n tại thế, ngôn giáo của Phật nói ai cũng đễ tin dễ hiểu. Thế Tôn Niết Bàn rồi, kinh điển kết tập l àm sao cho người ta tin tưởng?Đức Phật trả lời một cách từ bi, vui vẻ: - A Nan, ông được đại chúng đề cử đến hỏi ta bốn vấn đề này, thật là vô cùng quan trọng. Các ông không nên bi lụy như thế, giả như Xá Lợi Phất hay Mục Kiền Liên mà c̣n sống, chắc chắn họ sẽ không cư xử như các ông đâu! Đại Ca Diếp hiện giờ c̣n trên đường về, ông ấy sẽ không về kịp trước giờ ta Niết Bàn. Các ông phải nhận biết pháp tính, nếu Phật dùng ứng thân ở tại thế gian, th́ đây là tướng vô thường cuối cùng, phải nhập Niết Bàn. Các ông y theo pháp mà hành th́ không khác ǵ Phật thường c̣n ở thế gian vậy.Nay ta sẽ trả lời bốn vấn đề của các ông hỏi, các ông hăy nhớ kỹ lấy:Thứ nhất, các ông hỏi ta Niết Bàn rồi th́ ai là thầy cho các ông nương: hăy nương vào Ba La Đề Mộc Xoa.Thứ hai, các ông hỏi ta Niết Bàn rồi th́ nên an trụ vào đâu: h ăy an trụ vào Tứ Niệm Xứ.Thứ ba, các ông hỏi ta Niết Bàn rồi th́ làm sao điều phục người hung ác: nên im lặng tách xa họ ra.Thứ tư, các ông hỏi ta Niết Bàn rồi th́ làm sao cho người ta tin vào kinh điển: phải đặt bốn chữ "Như Thị Ngă Văn" ở ngay đầu tất cả mọi bộ kinh.A Nan, các ông nên thường xuyên nhớ nghĩ đến chỗ Phật sinh ra, chỗ Phật giác ngộ, chỗ Phật thuyết pháp và chỗ Phật Niết Bàn. Điều cần thiết là thân phải từ, miệng phải từ và ư phải từ, chuyện khác không cần quan tâm đến. Hôm nay không nên bi lụy, hăy mau v́ ta mà đến giữa hai gốc cây Sa La mà sắp đặt chỗ nằm. Đây là nguyên do tại sao mà ở đầu tất cả mọi kinh điển đều có bốn chữ "Như Thị Ngă Văn".
Có một buổi sáng kia, ánh sáng b́nh minh đầu tiên vừa mới trải dài trên mặt đất, Đức Phật đă một ḿnh đi tản bộ trên bờ sông. Bỗng nhiên từ xa, có một thanh niên chạy đến với dáng vẻ điên cuồng, miệng không ngớt la thất thanh:- Khổ quá! Tôi khổ quá! Người thanh niên chạy đến gần chỗ Đức Phật đang đứng, Đức Phật dùng ánh mắt từ bi nh́n anh ta, anh ta cũng ngờ ngợ nh́n lại Đức Phật. Tướng hảo trang nghiêm của Đức Phật nhiếp được cái tâm điên cuồng của anh ta, nên anh ta quỳ xuống trước mặt Ngài :- Ngài có phải là vị mà người ta thường gọi là Đ ức Phật đại từ đại bi không? Xin Ngài từ bi cứu con với! Con tên là Già Xá ở thành Ca Thi, con đang sống trong một t́nh trạng khổ sở và bất an. Hằng ngày, từ khi mặt trời vừa mới mọc con đă bị những chuyện thanh sắc tài lợi quấy nhiễu không ngừng. Hoàng hôn vừa phủ xuống và ánh đèn vừa thắp lên, th́ các cô gái đẹp tập họp lại múa hát trong những buổi yến tiệc huy hoàng. Ban đầu con cũng đă từng một thời đắm say mê mẩn, nhưng ngày qua ngày, con thật t́nh không t́m được chút lạc thú nào trong đó nữa. Hôm qua khi tiệc vừa tan, con kéo lết cái thân mệt mỏi kiệt quệ này về nhà ngủ. Trong cơn hôn trầm mông lung ấy, con bị một cơn ác mộng khủng khiếp đánh thức và không ngủ lại được nữa. Con bèn ngồi dậy bước xuống giường và ra khỏi pḥng ngủ, th́ thấy cô đào hát t́nh nhân riêng của con đang giỡn hớt với một anh kép hát. Lúc ấy con không dằn được, lửa giận hừng hực bừng cháy trong lồng ngực, thần kinh con đâm ra hỗn loạn, do đó con phát điên lên nửa đêm bỏ nhà đi. Suốt quăng đường con như một người mù, chạy một cách điên cuồng, dường như có một sức mạnh nào đó thúc đẩy con. Trong ánh b́nh minh con chạy đến ven bờ sông Phược La Ca này và thấy h́nh như Ngài chính là người được xưng tán là bậc Đại Giác, là Phật. Xin Ngài cứu vớt con, tâm con đang hết sức phiền năo.Đức Phật từ bi đưa tay vỗ về Già Xá: - Thiện nam tử! Ta chính là Phật mà ngươi nói đó. Ngươi không c̣n ǵ để phiền năo bất an nữa, gặp ta rồi th́ sẽ được an ổn tự tại. Bây giờ ngươi hăy tĩnh tâm lại suy nghĩ. Thế gian có buổi tiệc nào kéo dài măi mà không tàn chăng? Người ta có thể nào thân mật ở chung với nhau hoài? Ngươi không nên buồn sầu, thế giới này căn bổn chỉ là hư ngụy. Trên thế giới này tất cả đều là vô thường, ngay thân thể của ta mà ta c̣n không thể nương tựa vào được, th́ làm sao mà ta muốn có một người khác phải thuộc về ta? Cơ hội được độ của ngươi đă đến, ngươi nên xả bỏ hết mọi thứ đi!Già Xá nghe được pháp âm của Đức Phật, lửa oán giận trong ḷng như được nước cam lồ tưới nhuần. Gă nh́n lên tướng hảo hiền từ của Đức Phật, cảm động rơi nước mắt, vội quỳ xuống đất thống thiết cầu xin Đức Phật cho phép m ́nh xuất gia.Đức Phật lại dùng ánh mắt từ bi lân mẫn chiếu tới Già Xá mà nói rằng: - Già Xá, bây giờ ngươi nên lập tức trở về nhà, cha mẹ ngươi hiện đang sốt ruột mà lo lắng cho ngươi đó. Không phải cứ hễ bỏ gia đ́nh th́ gọi là xuất gia, v́ tuy trên thân khoác áo xuất gia nhưng tâm vẫn nhiễm dục t́nh thế gian. Một người có thể ở trong chốn rừng sâu núi thẳm nhưng vẫn thường nhớ nghĩ đến những chuyện danh lợi, người ấy không thể gọi là xuất gia được. C̣n thí dụ một người thân đeo chuỗi anh lạc quư đẹp nhưng tâm th́ quang minh thanh tịnh, hàng phục được kẻ thù phiền năo, đối với người khác th́ không phân biệt kẻ oán người thân, và c̣n biết lấy chân lư mà giáo hóa họ th́ đó gọi là một người xuất gia chân chính. Vậy ngươi muốn làm hạng xuất gia nào?- Thế Tôn, Ngài khai thị ư nghĩa của việc xuất gia con đă hiểu rơ ràng và có thể tiếp nhận được. Con thỉnh cầu Thế Tôn từ bi cho con xuất gia theo lối đoạn ĺa phiền năo, làm một kẻ đi gieo rắc chân lư, làm đệ tử của Ngài, của Đức Phật cao cả.Đức Phật bèn chấp thuận lời thỉnh cầu của Già Xá và chúng đệ tử của Phật ngày một thêm đông đảo. Phụ thân của Già Xá là trưởng lăo Câu Lê Gia, sáng sớm ngày hôm sau thức dậy nghe gia nhân thưa lại nửa đêm Già Xá vô cớ bỏ nhà ra đi, không biết đâu mà t́m. Ông nghe xong kinh hoàng, lập tức ra lệnh cho gia nhân chia nhau đi bốn phương tám hướng mà t́m kiếm, chính ông cũng tự ḿnh lên đường đi ḍ hỏi khắp nơi, nhờ thế mà ông lần ṃ ra tới bờ sông Phược La Cạ Trưởng lăo Câu Lê Ca băng qua sông và đi đến chỗ Đức Phật. Đức Phật bảo Già Xá lánh mặt, rồi tự thân ra tiếp trưởng lăo Câu Lê Cạ Trưởng lăo nói:- Ông có phải là một vị sa môn không? Tôi chưa từng thấy một vị sa môn nào tướng hảo uy nghi như ông. Ông có thấy thằng con trai của tôi tên là Già Xá không - Xin mời ông ngồi xuống. Chắc chắn là chúng ta sẽ t́m ra được con trai của ông.- Thật thế sao? Tôi thấy ông là một người cao quư, chắc chắc là không nói dối! Trưởng lăo Câu Lê Ca bèn ngồi xuống đối diện với Đức Phật . Đức Phật bèn nói rơ cho ông nghe những chân lư như : con người cần những lợi lạc của công đức bố thí, tŕ giới như thế nào, rồi lại nói đến những phiền năo đau khổ mà loài người thường phải chịu, và phú quư như bọt bèo trên mặt nước, không thể dựa nhờ được. Trưởng lăo Câu Lê Ca nghe đức Phật khai thị như thế, vô cùng cảm động. Đến khi nghe Ngài chính là thái tử Tất Đạt Đa của nước Ca Tỳ La đă xuất gia thành đạo, vừa cảm kích vừa phấn chấn tinh thần, ông bất giác quỳ xuống trước Đức Phật mà đảnh lễ. Lúc ấy Đức Phật mới gọi Già Xá ra gặp mặt cha.Thật ra trưởng lăo vốn nghi rằng Già Xá đă tự sát rồi, nay thấy con ḿnh vẫn c̣n sống mạnh khoẻ như thường lại c̣n quy y với Đức Phật nữa, ông mừng rỡ không bút nào tả xiết, và rất tán thành việc Già Xá xuất gia. Chính ông cũng xin quy y, làm một vị đệ tử tại gia của Ngài. Đó là vị đệ tử Ưu Bà Tắc đầu tiên của Đức Phật.Câu Lê Ca lại khẩn khoản xin cầu Đức Phật đến nhà ḿnh hôm sau để cho ḿnh được cúng dường. Hôm sau, Đức Phật đưa sáu người đệ tử đến thọ cúng xong, mẹ của Già Xá cũng xin quy y dưới ṭa Như Lai, làm người tín nữ tại gia, sống một đời sống gia đ́nh thấm nhuần Phật pháp. Đó là vị đệ tử Ưu Bà Di thứ nhất của Đức Phật.
|
|
|