Chùa Hải-Đức in Jacksonville

[Home] [Up] [Điểm Sách] [Sutras] [Dharma Talks] [GĐPT] [Sinh Hoạt] [Our Activities] [Kinh] [Pháp Thoại audio mp3] [Tin Tức Phật Giáo] [Thuyết Pháp] [Thơ Văn] [Ngoại Điển] [Phật Học] [Tụng Kinh] [Nghi Lễ - Rituals]

 

Truyện  Tích  Phật  Giáo

Tác giả: Phật Giáo Cố Sự Đại Toàn

Dịch giả: Diệu Hạnh & Giao Trinh

51 - 60

 

51- Kho tàng rắn độc

Có một hôm, tôn giả A Nan đi cùng với Đức Phật ra ngoài thành hành hóa. Đến một chỗ đó, Đức Phật th́nh ĺnh ngừng bước, quay đầu lại hỏi tôn giả A Nan:

- A Nan! Ngay đây có rất nhiều, rất nhiều rắn độc đang ẩn núp trong ḷng đất, ông có thấy không?

Tôn giả A Nan đă chứng được thiên nhăn thông nên nh́n thấy rất rơ ràng, ngài trả lời :

- Thưa vâng, bạch Thế Tôn! Đệ tử đă nh́n thấy.

Nói xong, hai người khoan thai tiếp tục bước đi.

Khi Đức Phật và A Nan đi ngang qua chỗ ấy th́ có một người làm công cũng vừa đến sau lưng hai người. Người này nghe lời đối thoại giữa Đức Phật và A Nan bèn lấy làm lạ, tự nghĩ:

- Không lẽ mắt của hai vị sa môn này lợi hại đến thế sao, đến nỗi nh́n thấy tất cả những ǵ được chôn dấu dưới mặt dất? Để ta đào đất lên xem thử dưới ấy có nhiều rắn độc như họ nói không. Nếu thật sự có rắn độc cũng chẳng hề ǵ, dù sao đi nữa chúng cũng không hại ta nổi.

Nghĩ thế xong, ông bèn đi lấy cuốc tới đào đất chỗ ấy. Khi ông đào xuống được khoảng 3 thước, bỗng nhiên nh́n thấy từ phía dưới có ánh sáng chói lọi chiếu lên. Th́ ra chôn dấu dưới ḷng đất không phải là rắn độc, mà là rất nhiều vàng bạc châu báu!

Người làm công này mừng quá, nói không ra lời, nghĩ rằng:

- Đây là vận may của ta, ta nên đem hết về nhà.

Rồi bèn vội vàng lén lút mang hết kho tàng về nhà ḿnh. Từ một người làm công nghèo rách mồng tơi, chỉ một bước ông đă biến thành một tay triệu phú.

Tuy ông có rất nhiều tiền, sống một cuộc sống hết sức sung sướng thoải mái, nhưng ông có một người hàng xóm ở sát bên tường rất ganh ghét ông. Ngay từ trước hai bên đă không ưa nhau, nay người hàng xóm thấy ông này bỗng nhiên trở nên giàu có nên trong ḷng lúc nào cũng ngờ vực và ganh tị, bèn t́m cách điều tra xem tiền của ấy từ đâu ra. Không lâu sau, nghe được một đứa bé kể lại rẳng tiền của này do ông nọ đào được kho tàng mà có, thế là người hàng xóm vội đi báo cáo cho nhà vua biết.

Theo luật pháp đương thời của nước ấy, bất kỳ ai đào được kho tàng cũng đều phải tŕnh tâu lên triều đ́nh, và kho tàng ấy phải được đưa vào ngân khố của quốc gia. Thế nhưng người làm công nói trên lại không tuân hành luật pháp, nên khi việc này đến tai nhà vua, nhà vua nổi trận lôi đ́nh ra lệnh bắt giam người ấy về tra tấn hạch hỏi, bắt phải khai chỗ đă đào được kho tàng, nghĩ rằng biết đâu chỗ ấy c̣n sót lại bảo vật nào chăng?

Sự thật th́ kho tàng đă được đào sạch cả rồi, nhưng nhà vua không chịu tin, vẫn cho tra khảo đánh đập người làm công nọ cho bầm thịt nát xương, rồi c̣n cho mật thám vào ngục tối ở chung với ông, ḍ xét xem ông có dấu giếm điều chi không. Ông đem hết sự thật ra kể cho mật thám nghe, nhưng trước khi nói, ông thành kính chắp tay ngước nh́n lên trời, sa nước mắt mà rằng:

- Lời của Đức Phật thật là không bao giờ sai quấy. Lúc Ngài đi ngang chỗ chôn kho tàng, Ngài đă nói với tôn giả A Nan rằng đất này độc hiểm nên có rất nhiều rắn độc ẩn núp ở phía dưới. Tôi thật là ngu si nên nghe thế muốn biết thực hư ra sao, bèn đem cuốc đến đào đất lên. Đào ra mới thấy ở phía dưới toàn là châu báu, tôi mừng không kể xiết, mới bí mật đem kho tàng về nhà. Lúc ấy tôi cho rằng đó là vận may của tôi, c̣n Đức Phật và A Nan mới là kẻ ngu si nên không biết làm giàu.

Nào có ngờ đâu v́ việc này mà chiêu cảm đại họa, chỉ hận là lúc ấy tôi không tin lời Đức Phật, bây giờ mới biết rằng vàng bạc châu báu không khác ǵ rắn độc, nên mới đưa tôi đến cái tai vạ bị tra tấn đến tan xương nát thịt ngày hôm nay!

Mật thám đem câu chuyện lên tŕnh tâu nhà vua, nhà vua nghe xong, biết người làm công đă tin lời Đức Phật rồi và đă phát nguyện hối cải, nên mới thả cho ông ra khỏi ngục mà nói:

- Thế Tôn đại từ bi mới gọi kho tàng là ổ rắn độc để khuyên người khác tránh xa. Người ta không tin lời Đức Phật nên nổi ḷng tham và tạo tội. Nếu nghe nhớ lời Phật dạy th́ có tai nạn nào c̣n lụy đến thân nữa?

Nói xong, nhà vua cho phép người làm công trở về nhà.

 

52- Không tính kẻ oán người thân

Ngày xưa có một vị đại Bồ Tát tên gọi là Tiên Thán, là một người giàu có đến nỗi không ai so sánh được. Tuy gia đ́nh ông rất đỗi giàu sang sung túc, nhưng trong cuộc sống ông không hề xa xỉ, v́ thường được nghe lời giáo huấn của Đức Phật. Ông hiểu rằng thế gian là vô thường, giác ngộ rằng tài sản không thể trường tồn, chỉ có công đức bố thí mới là cái gia tài mà ta có thể nương nhờ được.

Tiên Thán thường nói với người khác rằng:

- Nếu có người nào sống một đời sống khó khăn hoặc thiếu thốn nghèo nàn, tôi sẵn sàng hoan hỉ giúp đỡ người ấy.

Tuy Tiên Thán muốn làm việc thiện, muốn hành bố thí, nhưng lúc ấy thiên hạ thái b́nh, nhân dân an lạc, cuộc sống mọi người đều sung túc, nên Tiên Thán không t́m ra đối tượng cho ông bố thí.

Về sau, ông nghĩ rằng muốn bố thí không nhất thiết phải trực tiếp dùng đến tiền bạc, bấy giờ trời đang nóng bức, có rất nhiều người ngă bệnh, th́ săn sóc bệnh nhân, cung cấp thuốc men cho họ là việc đáng làm nhất.

Từ đó về sau, hễ chỗ nào có bệnh nhân rên xiết, xa xôi tới đâu Tiên Thán cũng không ngại lao khổ mà đến tận nơi để an ủi săn sóc họ, hơn nữa, ông c̣n phát tâm cung cấp hết mọi thứ thuốc thang. Năm này sang năm khác, mấy năm rồi mà tinh thần phụng sự chúng sinh của Tiên Thán trước sau vẫn như một, không lười biếng, không than thở. V́ thế cả nước đều nghe nói tới đức độ của ông và mọi người đồng thanh khen ngợi rằng:

- Tiên Thán thật là một người hiếm có trên thế gian, ông là đại ân nhân của chúng ta, ông như cha mẹ đă sinh chúng ta ra đời lần thứ hai vậy!

Họ c̣n nói:

- Công đức của Tiên Thán cao hơn trời, dày hơn đất!

Rất nhiều người bệnh nhân nhờ được Tiên Thán ân cần chăm sóc nên hồi phục được sức khỏe mau chóng. V́ thế, những người bệnh từ bốn phương tám hướng đổ về t́m đến cầu cứu ông, ngày càng thêm đông.

V́ Tiên Thán bố thí một cách rộng răi như thế nên tài sản của ông càng ngày càng suy giảm, và tới một lúc th́ cạn kiệt hẳn. Không những ông không có một lời than thở, mà c̣n vui vẻ đi xứ khác làm ăn, phát nguyện rằng khi nào có tiền sẽ tiếp tục bố thí. Đi được nửa đường ông thấy có rất nhiều cỗ xe đầy cả người bệnh, ông thấy điều lạ lùng bèn hỏi:

- Qúy vị đi đâu vậy?

- Chúng tôi bệnh hoạn, muốn t́m tới ông Tiên Thán để cầu xin ông cứu giúp!

Tiên Thán nghe thế, không suy nghĩ ǵ thêm mà quay trở về, mượn nhà vua 5 trăm lượng vàng để chữa bệnh cho những chúng sinh đau khổ ấy. Nhờ Tiên Thán chân thành chữa trị cho nên tất cả những người ấy đều hoàn toàn b́nh phục.

Để tự sinh sống và để cung cấp thuốc men cho người khác, Tiên Thán tháp tùng rất nhiều nhà buôn cùng nhau ra nước ngoài làm ăn buôn bán. Lúc đi qua một con đường dài trên sa mạc, rất nhiều người trong đoàn không có nước uống nên đă ngă quỵ bất tỉnh, nhưng thật là không thể tưởng tượng được, ở trong cái sa mạc mênh mông không có một bóng người, Tiên Thán lại kiếm ra được một nguồn nước ngọt. Mỗi lần kiếm ra được nguồn nước ngọt mát mẻ trong trẻo như thế, Tiên Thán lại nhất định nhường cho mọi người uống thỏa thuê xong mới đến phần ḿnh uống một chút.

Với đạo đức và phúc báo của ḿnh, Tiên Thán làm ăn buôn bán rất thành công và dễ dàng. Các tay nhà buôn kia cũng nương vào phúc báo ấy mà kiếm được khá nhiều tiền.

Nào ngờ trên đường về, họ thấy Tiên Thán kiếm được tiền lời nhiều gấp họ mấy lần nên tối tăm mặt mũi, sau khi bàn tính với nhau, họ quyết định đến một cái giếng cổ nọ sẽ đoạt lấy tiền của Tiên Thán và ném ông xuống cái giếng ấy.

Về tới bổn xứ, rất nhiều người lấy làm lạ không thấy Tiên Thán về chung với đoàn nhà buôn này. Nhà vua cũng hỏi họ:

- Không phải các ông cùng với Tiên Thán rời khỏi nước để ra xứ ngoài làm ăn hay sao? Sao Tiên Thán lại chưa về tới?

- Chúng tôi không biết, vừa ra khỏi xứ là ông ta tách ra khỏi đoàn chúng tôi.

Thấy các nhà buôn trả lời một cách ấp úng, gượng gạo th́ nhà vua đă hiểu rơ hết mọi sự, ông bèn bắt giữ những tay nhà buôn ấy lại và mặt khác sai người đi t́m kiếm mọi nơi.

Tuy bị xô xuống giếng nhưng người thiện luôn luôn có sự giúp đỡ của chư Phật, nên khi ở dưới đáy giếng trong ánh sáng lờ mờ, Tiên Thán thấy bên cạnh có một đường hầm. Ông ép ḿnh lần theo đường hầm ấy mà ḅ ra, nhờ vậy ông thoát khỏi giếng sâu và thấy lại ánh sáng mặt trời.

Trải qua bẩy ngày đêm, Thiên Thán về tới nước của ḿnh, dân chúng rất mừng rỡ. Ông tay không đến gặp nhà vua, vua hỏi:

- Tại sao ông lại tŕ trệ như vậy mà không về nước liền? Và tại sao lại c̣n về tay không?

Tiên Thán khiêm tốn trả lời:

- Thần rất hổ thẹn, v́ thần vô đạo đức, không có phúc báo nên làm ăn thất bại.

Nhà vua thừa biết Tiên Thán là người từ bi vị tha, không bao giờ nói ra lời nào có thể gây thiệt hại cho người khác. V́ thế vua cho triệu mấy tay nhà buôn kia tới, muốn dùng h́nh phạt tàn khốc bắt họ khai:

- Nếu các ông không thành thật thú tội, ta sẽ thẳng tay trừng trị. Người nào biết ḿnh đă tạo lỗi lầm và biết nhận lỗi, ta có thể giảm khinh h́nh phạt cho người đó.

Khi thấy những dụng cụ tra tấn người nào cũng hồn xiêu phách lạc, v́ thế không ai dám dấu giếm ǵ nữa, họ đem chuyện mưu hại Tiên Thán ra thẳng thắn khai hết đầu đuôi. Vua nổi giận ra lệnh đem tất cả ra chém chết, Tiên Thán biết được, vội vàng đến cung điện khấu đầu cầu xin nhà vua tha tội cho họ và thả họ ra khỏi tù. Nhà vua trả lời:

- Làm sao có thể khoan thứ cho cái phường ác ôn như thế? Phải trừng phạt kẻ ác để cảnh giác người khác.

Lời của vua không phải là không có lư, nhưng Tiên Thán vẫn một mực van nài:

- Thỉnh cầu bệ hạ, hăy thương xót những người ấy đă trong một giây phút mù quáng mà phạm tội. Tốt hơn hết là tha thứ cho họ và sau đó dạy họ sám hối sửa lỗi.

Tiên Thán như cha mẹ của mọi người, nên đối với mỗi cá nhân ông đều dùng tâm từ bi che chở mà đối đăi, không nỡ thấy họ phải chịu khổ. Tuy đó là những người tàn ác đă từng hại chính ông, nhưng ông cũng không suy tính so đo, cứ thế mà lo lắng cho họ. Tất cả oán hay thân ông cũng đều coi bằng nhau, v́ muốn cho họ có cơ hội hồi đầu và sửa đổi. Những người lái buôn ấy tuy tội rất lớn và tâm địa cực kỳ ác độc, nhưng nếu biết sám hối th́ cũng được cứu. Mỗi người chỉ cần sửa lỗi, th́ bao giờ cũng có hy vọng sống.

 

53- Kiện Đạt Đa ích kỷ

Có một hôm Đức Phật đi dạo bên bờ hồ sen. Lúc ấy buổi sáng sớm, gió nhè nhẹ thổi, hương sen phảng phất. Từ dung của Đức Phật như trăng rằm, ngài chăm chú nh́n giữa hồ sen, thấy hoa sen hàm tiếu nở đầy hồ, nước xanh trong vắt, lấp lánh ánh sáng.

Bỗng nhiên, bằng huệ nhăn Ngài nh́n thấu qua đáy hồ và thấy cảnh địa ngục.

Trong địa ngục bốn phía đen ng̣m có một hồ máu đỏ tanh tưởi, trong đó ngàn vạn tội nhân đang ch́m nổi, khóc than thảm thiết, có kẻ th́ sức lực cạn kiệt mệt mỏi, có kể th́ giẫy dụa vùng vẫy. Giữa đám tội nhân ấy, Đức Phật nh́n ra một người mạnh khoẻ nhất, tên là Kiện Đạt Đa, cũng đang hết sức vùng vẫy giẫy dụa.

Kiếp trước, Kiện Đạt Đa là một tên tướng cướp chuyên môn đốt nhà và giết người, không có tội ác nào mà hắn không nhúng tay vào, v́ tội ác dẫy đầy chồng chất mà phải đọa xuống địa ngục.

Nhưng có một lần, sau một vụ cướp của đốt nhà, trên đường về hắn thấy một con nhền nhện đang từ từ ḅ ngang qua đường. Khi hắn vừa đưa chân lên tính đạp xuống kết liễu mạng sống của con nhện, bỗng nhiên hắn khởi lên một niệm lành trong tâm "Con nhện nhỏ bé này cũng có sinh mệnh, cho nó chết giữa đường kể cũng tội nghiệp, thôi hôm nay ta tha cho nó, làm phước một phen!" Con nhện dưới chân hắn vội ba chân bốn cẳng chạy bán mạng t́m đường sống.

Khi Đức Phật quan sát tới việc thiện của hắn, Ngài t́m cách cứu Kiện Đạt Đa ra khỏi địa ngục. Vừa khéo, một con nhện của thế giới Cực Lạc đang giăng một sợi tơ bạc tuyệt đẹp giữa những cành hoa. Đức Phật bèn nắm lấy sợi tơ bạc ấy, và thả từ hồ sen xuống tận địa ngục.

Địa ngục đen ng̣m không chút ánh sáng, dễ sợ như một ngôi nhà mồ, chỉ thấy có một vài bộ mặt hung ác gớm ghiếc và vô số tội nhân như những hạt cát ch́m nổi trong hồ máu, ḅ trườn vặn vẹo như những con trùng.

Kiện Đạt Đa vốn khoẻ mạnh, vô t́nh ngẩn đầu lên, thấy giữa không gian đen ng̣m có một lằn ánh sáng chiếu xuống đỉnh đầu hắn. Như gặp được cứu tinh hắn mừng rỡ nghĩ rằng:

- Ê, đây không phải là một sợi tơ nhện từ cơi trời xa thăm thẳm kia đang từ từ hạ xuống hay sao? Giả sử như ta bám được sợi tơ nhện này rồi cứ thế mà leo lên, làm ǵ mà không thoát được địa ngục và trèo lên tới thế giới Cực Lạc?

Nghĩ thế xong, hắn bèn hai tay nắm lấy sợi tơ nhện, rồi vận dụng hết sức lực cố gắng trèo lên. Cái nghề trèo cây đu cành vốn là nghề của một tên tướng cướp như hắn, nên hắn trèo một cách dễ dàng như ăn cơm bữa!

Nhưng khoảng cách giữa địa ngục và Cực Lạc thế giới sao mà xa xôi diệu vợi, dẫu ráng tới đâu cũng không thể trong một lúc mà leo tới được. Sau một khoảng thời gian dài, Kiện Đạt Đa từ từ thấm mệt, hắn đành phải lơ lửng giữa hư không mà nghỉ ngơi.

Lơ lửng giữa hư không như thế, Kiện Đạt Đa thuận mắt nh́n xuống phía dưới. Hồ máu trong địa ngục bây giờ đă ch́m ẩn trong một màu đen sâu thẳm, mù mờ không thấy rơ nữa. Kiện Đạt Đa ḷng như nở hoa, mừng rỡ cất tiếng cười hô hố.

Đột nhiên hắn thấy phần dưới của sợi tơ nhện có vô số tội nhân hiện đang lũ lượt như đàn kiến theo gương hắn cố gắng trèo lên. Hắn kinh hoàng phẫn nộ tự bảo "Mỗi một ḿnh ta trèo mà c̣n sợ sợi tơ nhện mong manh kia đứt mất, huống chi với sức nặng của từng đó người! Nếu chẳng may sợi tơ nhện đứt th́ tất cả những cố gắng và hy vọng của ta sẽ tan thành bọt nước, để rồi lại phải rơi xuống địa ngục chịu khổ nữa!" Lũ tội nhân vẫn hàng hàng lớp lớp không ngừng trèo lên, càng lúc càng đông. Kiện Đạt Đa cuống quưt vừa sợ vừa giận, nổi sân hận la hét om ṣm:

- Ê! Ê! Cái lũ tội nhân kia! Sợi tơ nhện này là của ta khám phá, nó thuộc quyền sở hữu của ta! Ai cho phép bọn bây trèo lên? Đi xuống! Đi xuống!

Vừa dứt lời, sợi tơ nhện bỗng đứt ngay ở phía trên chỗ Kiện Đạt Đa đang nắm.

Tên Kiện Đạt Đa ích kỷ kia giữa hư không xoay tít mấy ṿng, rồi rơi tơm xuống địa ngục trở lại. Phần tơ nhện c̣n lại vẫn óng ánh, lấp lánh trong địa ngục tối tăm lặng im như cơi chết, nhưng quá xa tầm tay với của tội nhân, như một con diều lơ lửng cao vút trong không trung.

Khuôn mặt từ bi của Đức Phật liền phủ lên một thoáng buồn. Ngài khẽ lắc đầu thở dài một tiếng.

Hoa sen nở đầy hồ vẫn tỏa hương ngào ngạt, lá sen mềm mại vẫn xanh mơn mởn, mà ḷng xót thương từ bi của Đức Phật th́ cứ vẫn dạt dào.

54- Làm chứng gian

Có một hôm Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đang thuyết pháp độ sinh ở núi Linh Thứu, thành Xá Vệ, th́ từ bên ngoài truyền vào một cái tin kỳ lạ khiến dân chúng trong cả thành Xá Vệ đâu đâu cũng xôn xao bàn tán.

Tin ấy như sau: Trong gia đ́nh phú ông nọ mới sinh ra một đứa bé trai, nhưng kỳ lạ thay, thằng bé sinh ra không có tai, không có mắt, không có cả tay chân, và bất hạnh hơn nữa là hơn một trăm ngày trước khi nó ra đời th́ cha nó mất đi. V́ thế tuy nó có 5 người chị nhưng trong nhà không có huynh trưởng, và gia sản tiền muôn bạc vạn ấy là do đứa bé trai tay chân và năm căn không đầy đủ ấy thừa hưởng. Như thế th́ phải nói phúc báo của nó không phải là ít, nhưng không biết kiếp trước nó đă tạo nên tội ác nào để hôm nay mang một h́nh hài khốn khổ đến dường ấy? Các đệ tử của Phật nghe chuyện ấy, vội chạy tới gặp Phật thỉnh Ngài giải thích căn duyên.

Đức Phật là bậc đại giác, trong vũ trụ không có chuyện chi mà Ngài không biết, không hiểu rơ ngọn nguồn. Hôm ấy, nh́n các vị đệ tử đang ngồi xung quanh bốn bề, Ngài từ ḥa nói:

- Ta vui ḷng thuyết giảng cho các ông biết về sự việc mà các ông mới được nghe nói đó.

Chuyện này xảy ra trong một kiếp rất lâu xa về trước. Lúc ấy có một vị phú ông sinh ra hai cậu con trai, người anh tên là Đàn Nhược, người em tên là Thi La.

Đức Phật ngừng lại một lúc rồi tiếp tục nói:

- Từ thuở bé Đàn Nhược đă rất thành thật, trung tín, tính t́nh lại rộng răi, thích bố thí, thấy việc nghĩa th́ dũng cảm ra tay hành động ngaỵ Người trong thành ai cũng tán thán, danh tiếng của chàng ngày càng lan xạ Khi vua nước ấy nghe tiếng một người hiền đức như thế th́ cho người ḍ xét khắp nơi xem điều ấy có thật hay không? Khi biết được danh ấy không phải là hư truyền, vua phái sứ thần mời Đàn Nhược lên kinh thành và phong cho chàng quan chức "B́nh Sự", đó là tên vua đặt cho người công minh chính đại duy nhất trong cả nước.

Căn cứ theo luật pháp đương thời của nước ấy, trong dân gian ai có mượn tài sản vật dụng ǵ của ai th́ không cần lập khế ước văn tự hay viết tờ giấy nợ, chỉ cần đến trước mặt quan B́nh Sự xin chứng minh cho là đủ. Cho tới cả những chuyện tranh căi, kiện tụng, nếu không tự giải quyết với nhau được th́ cũng đưa nhau ra trước mặt quan B́nh Sự, nhờ ông phán quyết một cách công b́nh. Trong cái thời chưa có luật pháp, chưa có công ước như thế, quan B́nh Sự phán quyết như thế nào th́ mọi người phải tuyệt đối theo đó phục tùng.

Trước khi mời được Đàn Nhược về làm quan B́nh Sự th́ nhà vua đă phải tự ḿnh giải quyết, xử lư hết mọi chuyện lớn nhỏ trong nước. Nay có quan B́nh Sự đảm nhiệm việc ấy, dĩ nhiên vua đỡ được rất nhiều rắc rối phiền phức.

Nhưng Đàn Nhược từ khi giữ chức B́nh Sự th́ trách nhiệm thật là trọng đại, khiến ông bận bịu cả ngày, thường ăn không ngon, ngủ không yên nữa.

Đă vậy, không những ông không hưởng được bổng lộc của triều đ́nh cũng không ăn đồng trinh nào của người dân, mà có khi, để giải quyết một sự việc nào đó cho ổn thỏa, ông c̣n phải móc tiền từ chính hầu bao của ḿnh ra để giải ḥa mọi xích mích.

Một người có quyền lực, có khả năng giải trừ mọi tranh chấp giữa người dân và giúp vua giữ ǵn chính nghĩa, thật xứng đáng được mọi người kính trọng.

Nhưng chỉ một lần hành động sai quấy, Đàn Nhược đă mất ḷng tin cậy của một số dân chúng và theo nguyên tắc nhân quả, đă chiêu cảm cái thống khổ của ngày hôm nay.

Nguyên nhân là v́ lúc ấy có một nhà buôn rất nghèo, muốn t́m một vài người cùng ra nước ngoài làm ăn. Nhưng muốn thế cần phải có rất nhiều vốn, trước hết phải chuẩn bị một con tàu lớn, rồi t́m người dẫn đường, thuê người chèo thuyền, mua sẵn lương thực và đồ dùng cần thiết lúc ở giữa biển. Phải chuẩn bị quá nhiều thứ, phải cần quá nhiều vốn, nhà buôn nghèo cùng kia cảm thấy đau cả đầu! Để sống cho qua ngày đă là một điều khó khăn quá rồi, số tiền to lớn kia t́m đâu ra đây? Cuối cùng ông cũng t́m ra một cách.

Số là ông quen biết nhiều với Thi La, em trai của quan B́nh Sự Đàn Nhược. Không ai là không biết là hai anh em nhà này đă chia nhau một gia tài kếch sù. Thế mà tuy có tiền, Thi La là một nho sĩ đọc sách, thành thật chất phác, không biết và cũng không thích buôn bán làm ăn, kinh doanh kiếm thêm tiền. V́ vậy, nhà buôn nọ nghĩ rằng tốt hơn hết là t́m tới Thi La.

Ông dùng lời mềm mỏng khéo léo để thuyết phục gia đ́nh Thi La cho ông mượn một số tiền, rồi khi ông buôn bán thành công sẽ hoàn tiền lại cộng với lợi tức nữa. Những lời đường mật của nhà buôn đă làm cho Thi La động ḷng, ông c̣n nói thêm:

- Bạn chỉ cần xuất một số tiền, phần c̣n lại một ḿnh tôi lo liệu, bạn cứ yên tâm ở nhà chờ tôi làm ăn thành công trở về, tôi sẽ lập tức đem tiền vốn và tiền lời tới tận nhà trả cho bạn.

Thi La vốn là một người thật t́nh nên bằng ḷng ngaỵ Khi chuẩn bị xong số tiền, Thi La bèn đem con trai của ḿnh cùng nhà buôn kia tới nhà người anh là quan B́nh Sự, nhờ anh chứng minh cho:

- Có một nhà buôn tên là... muốn ra nước ngoài làm ăn, cần tới một vạn đồng tiền vàng. Khi làm ăn thành công rồi ông ta sẽ lập tức đem tiền về trả cho em, cộng thêm một số tiền lời. Em đă chấp thuận lời ông ta yêu cầu. Nếu lúc ấy em c̣n sống th́ quá tốt, ông ta chỉ cần trả cho em. Nếu em có qua đời, th́ số tiền ấy phải giao lại cho con trai em đây. Xin quan B́nh Sự vui ḷng làm người chứng.

Quan B́nh Sự gật đầu chấp thuận. Nhà buôn nhận tiền rồi, chuẩn bị linh đ́nh và khi mọi sự sẵn sàng th́ lên tàu ra biển. Không ngờ trời không thuận ḷng người, tàu ra giữa biển th́ th́nh ĺnh gặp gió to băo lớn, lật úp tàu xuống khiến người trên tàu bị rơi xuống nước. Về sau tuy được cứu sống, nhưng nhà buôn nọ trở về tay không, thân thể tuy không hề hấn ǵ mà một đồng xu cũng không c̣n. Không có cách ǵ trả nợ đă đành, mà sinh sống cũng vô cùng khó khăn.

Bạn bè thân thích của ông ai cũng nhiều lần khuyến khích ông ra nước ngoài làm giàu một lần nữa, họ nói rằng kẻ nào bị tai nạn lớn mà không chết th́ về sau hưởng đại phúc. Nhà buôn tin những lời nói ấy, lấy lại can đảm, t́m cách tậu vốn và ấn định ngày xuất hành.

Ra nước ngoài lần thứ hai ông may mắn hơn, gió thổi thuận chiều, chỉ mấy tháng sau là ông làm ăn thành công, trở về với vàng bạc đầy rương.

Thi La th́ bất hạnh, trong thời gian ấy đă ra người thiên cổ. Khi nhà buôn kia về tới cố hương, nghe tin Thi La không c̣n nữa th́ gạt luôn chuyện trả nợ ra khỏi đầu và tiếp tục lo làm giàu. Một chuyến, rồi thêm một chuyến nữa đi xa, nhà buôn nọ từ từ kiếm được thật nhiều tiền, bây giờ không những không cần lo tới miếng cơm manh áo, mà mái nhà tranh lúc trước nay đă biến thành một ṭa nhà to lớn hoa lệ, vật dụng cần thiết trong nhà dư dả, đời sống trở nên xa xỉ, từ một nhà buôn nghèo cùng ông đă trở thành một tay cự phú, tiền rừng bạc biển.

Có một hôm, người con trai của Thi La gặp nhà buôn nọ giữa đường, thấy ông này ăn mặc xa hoa, dáng điệu sung túc, cưỡi con tuấn mă vung roi ngựa chạy qua mặt cậu, cậu bèn vội chạy tới gọi lại để đ̣i món nợ ngày trước. Nhà buôn trả lời vài ngày nữa sẽ đến tận nhà cậu để thôn tính chuyện nợ nần.

Chiều về tới nhà, nghĩ tới việc trả nợ, nhà buôn nghĩ rằng "nếu trả tiền cho hắn th́ tài sản của ta sẽ sa sút rất nhiều", lúc trước mượn một vạn đồng tiền vàng, nay cộng thêm tiền lăi th́ con số phải trả sẽ trở nên kinh khủng!

Ông bèn nảy ra một ư nghĩ xấu xa : lúc mượn tiền không có khế ước văn tự ǵ làm chứng, chỉ có mỗi một người là quan B́nh Sự chứng minh. Nay làm sao để quan đừng chứng minh cho nữa th́ vấn đề sẽ được giải quyết êm đẹp. Người con của Thi La không có bằng chứng th́ hắn làm ǵ được ta nữa?

Thế rồi ông nghĩ ra một mưu kế để bắt quan B́nh Sự làm theo ư ḿnh.

Tay nhà buôn vô lương tâm đó biết rằng vợ của Đàn Nhược B́nh Sự rất thích nữ trang, bèn nắm lấy nhược điểm đó, cầm một viên ngọc quư đến thăm B́nh Sự phu nhân. Khi gặp phu nhân nhà buôn nói :

- Tôi có viên ngọc báu trị giá ngàn vàng, xin kính tặng phu nhân, nhưng lại có một điều cần đến sự giúp đỡ của phu nhân.

Nói tới đây nhà buôn ngừng lại một chút, nh́n phu nhân ḍ xét phản ứng, rồi nói tiếp:

- Điều ấy rất đơn giản, chỉ xin phu nhân nói với quan B́nh Sự một tiếng, nói ông đừng chứng minh là tôi có mượn tiền cháu ông ấy là xong.

Phu nhân nh́n viên ngọc ưa thích vô cùng, nhưng trước một việc vô đạo đức như thế, đối với lương tâm coi không được, hơn nữa bà thừa biết rằng quan B́nh Sự làm việc rất quang minh chính đại, nên bà miễn cưỡng trả lời:

- Quan B́nh Sự cả đời chính trực, việc này tôi e rất khó, đợi tối nay nhà tôi về tôi nói thử một tiếng xem sao!

Tối đến quan B́nh Sự Đàn Nhược về nhà, phu nhân đem lời yêu cầu của nhà buôn ra xin quan B́nh Sự thỏa thuận cho, nhưng quan B́nh Sự không đồng ư làm cái chuyện thất đức ấy.

Hôm sau, nhà buôn lại đến, tay cầm một viên ngọc châu to hơn, đẹp hơn viên hôm trước. Tuy đêm qua quan B́nh Sự đă từ chối, nhưng trước một viên ngọc quư trị giá 5 ngàn tiền vàng, phu nhân làm sao bỏ qua cho nổi. Chỉ một lời nói là viên ngọc ấy về tay ḿnh, phu nhân hoàn toàn bị mê hoặc, nên không suy nghĩ ǵ thêm, bà ưng thuận giúp đỡ cho nhà buôn được toại nguyện. Khi Đàn Nhược về tới nhà, phu nhân dùng lời ngọt ngào dịu dàng khuyến dụ chồng nhưng không có kết quả, cuối cùng bà đem bản lĩnh của một người đàn bà ra thi thố, một là khóc lóc, hai là căi cọ, ba là treo cổ tự tử. Lúc ấy quan B́nh Sự Đàn Nhược bị đẩy vào đường cùng. Để giữ ḥa khí trong gia đ́nh, ông không làm ǵ khác hơn là cùng phu nhân chôn vùi lương tâm, làm cái chuyện tham lam, thất đức kia.

Hôm sau con trai của Thi La kéo người nhà buôn đến gặp quan B́nh Sự, yêu cầu quan làm chứng, nhưng lương tâm Đàn Nhược đă bị mê muội:

- Đầu óc ta nay đă lẫn mất rồi, ta không hề nhớ tới chuyện ấy!

Lần ấy quan B́nh Sự Đàn Nhược đă làm một chuyện xấu ác, nên chết rồi bị đọa địa ngục, chịu tất cả mọi thống khổ. Nay tuy sinh trong cơi người nhưng đời đời kiếp kiếp phải chịu phần số năm căn không đầy đủ như thế. Nhưng trong quá khứ, ông cũng đă từng là một người thích bố thí, nên được sinh trong một gia đ́nh giàu sang.

Một người mà năm căn không đầy đủ th́ có nhiều tiền bạc để làm ǵ  Cho nên có câu nói "một lần sa ngă là hận thiên thu".

Xử sự không công bằng, làm chứng gian, có thể lừa gạt được người khác nhưng làm sao lừa gạt được nhân quả!

 

55- Làm vua bảy ngày

Nước Ấn Độ có một vị vua nổi tiếng nhất, giỏi giang nhất, đức độ nhất, và được dân chúng kính trọng ngưỡng mộ nhất, đó là vua A Dục. Sau khi Phật bát Niết Bàn chừng trăm năm, vua A Dục đă thống nhất nước Ấn Độ và để lại cho đất nước này một trang sử huy hoàng.

Vua A Dục là một vị Phật tử thuần thành, lúc c̣n tại vị, không những ông dốc ḷng tin tưởng Đức Phật mà lại c̣n cực lực lo việc truyền bá thánh pháp.

Để phát khởi ḷng tin của dân chúng đối với Phật pháp, ông đă đổ dồn không biết bao nhiêu là tâm trí lẫn tiền tài vào việc lập tháp cúng dường Đức Phật ở khắp mọi nơi.

Ngày hôm nay, nước Ấn Độ c̣n lại rất nhiều di tích của những chùa viện lớn, đó là những kiến trúc được xây lên từ thời vua A Dục vậy.

Vua mải lo tung tiền trong việc truyền bá Phật giáo nên có một cuộc sống rất phong phú và an vui. Điều làm cho ông buồn tiếc nhất là người em tên là Thường Tu, không những không tin Phật giáo mà c̣n quy theo tà giáo, đi đâu cũng hủy báng Phật pháp. Vua A Dục thường thường khuyên răn ông, nhưng Thường Tu rất cố chấp, vua không biết phải xử trí bằng cách nào.

Một hôm trời tối, Thường Tu bước vào hoàng cung, nói với vua A Dục rằng:

- Vương huynh! Hôm nay đệ khám phá ra một điều và nghĩ tới một số vấn đề, không biết có thể nói với vương huynh không?

Thường Tu nói xong, mở to hai mắt nh́n thẳng vua A Dục, đợi lệnh của vua.

- Thường Tu! Hiền đệ là người em mà ta thương mến nhất, từ trước tới giờ ta không hề có sự phân biệt với hiền đệ, đệ nên thường thường giúp ta trong việc trị nước mới phải, th́ có chuyện chi mà đệ không nói được với ta chứ? Đệ muốn nói ǵ th́ cứ nói đi!

Thường Tu bèn tỏ ra rất nghiêm chỉnh:

- Vương huynh! Đệ muốn nói với vương huynh một vài lời trung thật, huynh đối với mấy ông tỳ kheo Phật giáo quá đỗi cung kính, quá đỗi ủng hộ mấy ông ấy, coi chuyện Phật sự c̣n quan trọng hơn việc quốc gia. Đệ thấy mấy ông sa môn tỳ kheo chẳng có ǵ xứng đáng cho vương huynh cung kính tôn trọng như thế, nên đệ khuyên vương huynh nên coi trọng việc nước hơn.

Những lời hủy báng của Thường Tu, vua A Dục nghe như những mũi tên đâm vào tim, trong ḷng rất buồn nên vội vàng ngăn lại rằng :

- Thường Tu, đệ hăy ngừng ngay những lời nói ấy. Hủy báng Tam Bảo là có tội. Đệ không hiểu sự cao quư của các vị tỳ kheo, họ là những người đă đoạn trừ được ái dục, xa ĺa thân quyến để xuất gia cửa Phật , khoác áo cà sa, hoằng pháp lợi sinh, t́m cầu sự an lạc cho nhân dân, cho xă hội. Phật giáo có hưng thịnh th́ đất nước mới ổn định được.

Nghe những lời của vua A Dục, Thường Tu không hề đồng ư c̣n nói rằng:

- Vương huynh! Huynh không nên tin họ như thế, cúng dường mấy ông tỳ kheo ấy th́ có lợi ích ǵ? Đệ thấy không những vô ích cho quốc gia, mà c̣n có hại đối với nhân tâm. Cả ngày họ không làm việc, ngồi đó mà hưởng phúc, không lẽ dân chúng không muốn bắt chước sống như thế hay sao? Hơn nữa, huynh nói họ là những người đă đoạn trừ ái dục, kỳ thật chuyện ấy không thể nào có được, huynh xem loại động vật c̣n biết thế nào là t́nh ái, huống chi là loài người?

Những tà ngôn tà kiến ấy làm cho vua A Dục rất buồn khổ, cuối cùng ông nghĩ ra một giải pháp để sửa đổi quan niệm lầm lạc của Thường Tu.

Một hôm vua A Dục bí mật gọi một vị đại thần vào cung, dặn phải làm như thế, như thế. Vị đại thần vâng theo lời dặn ḍ của vua mà thi hành.

Vào lúc trời chạng vạng tối, vua A Dục đang tắm ngoài ao, th́ vị đại thần nọ cùng Thường Tu bước vào cung, thấy vua A Dục vắng mặt mà vương măo cùng long bào th́ bày ngay đấy, vị đại thần bèn nói với Thường Tu rằng:

- Thân vương! Tướng mạo, khuôn mặt của ngài và đại vương hết sức giống nhau, nếu ngài khoác long bào vào thế nào cũng có người lầm tưởng ngài là vua A Dục. Thân vương, ngài làm thử mà xem!

Thường Tu biết đây là một việc phạm pháp, nhưng tâm hiếu kỳ và tâm hư danh thúc đẩy, ông bèn mặc long bào và đội vương măo lên. Đúng ngay lúc ấy vua A Dục bước vào, thấy thế nổi giận, trách mắng Thường Tu rằng:

- Ngươi thật là to gan, dám lén lấy áo măo của ta mà mặc, có phải là ngươi muốn làm phản không? Ngươi tính chuyện soán ngôi, có phải chăng?

Chứng cớ đă rành rành, Thường Tu c̣n chạy chối vào đâu được? Vua A Dục bèn hạ lệnh:

- Đem hắn ra ngoài cửa thành chém đầu lập tức!

Vị đại thần nọ bèn vội vàng tiến đến can gián:

- Đại vương! Thường Tu là em vua, không phải là người ngoài, hơn nữa đây là lần đầu tiên xúc phạm, xin đại vương tha tội cho thân vương!

Vua A Dục nh́n xuống nét mặt ủ dột của Thường Tu, rồi đột nhiên hỏi:

- Thường Tu, ta hỏi ngươi, ngươi có thích làm vua không?

- Tuy rất thích, nhưng thần không dám vọng tưởng.

Thường Tu trả lời rất nhỏ.

- Làm vua th́ vui sướng ở chỗ nào?

Bây giờ th́ Thường Tu đă lấy lại can đảm, trả lời rằng:

- Vua là người được tôn trọng nhất nước, những khoái lạc vua hưởng kể ra không hết, mà những diễm phúc vua có th́ nói ra cũng không cùng tận. Đồng thời cũng không có ai trên đầu cai quản vua, như thế không phải vui sướng là ǵ?

- Được! Ngươi đă muốn làm vua th́ ta nhường ngôi cho ngươi làm vua trong bẩy ngày, ngươi có quyền tận hưởng ngũ dục tùy thích. Nhưng măn kỳ hạn ấy, ngươi sẽ bị xử tử.

Vua A Dục quy định như thế xong bèn lui về hậu cung, và bí mật ra lệnh cho một vị thị thần đến trước cửa nhà của Thường Tu, chờ ông này chiều chiều từ cung điện trở về th́ nhắc nhở một câu. Người thị thần tay cầm thanh đao bén, đứng ngay tại cửa nhà, mỗi khi thấy Thường Tu trở về th́ lớn tiếng hô rằng:

- Thêm một ngày vừa mới trôi qua, c̣n mấy ngày nữa th́ xử tử h́nh!

Thường Tu rất sợ chết, nghe thế mỗi ngày mỗi thêm phiền năo, bất an. Không những ông không khởi lên được một niệm dục lạc nào, mà c̣n lo âu đến nỗi h́nh dung tiều tụy hẳn. Bẩy ngày làm vua trôi qua trong khổ sầu, đến sáng ngày thứ tám, vua A Dục lên ngôi báu trở lại, hai bên có văn vơ bá quan đứng hầu, hỏi Thường Tu rằng:

- Sao, ngươi làm vua bẩy ngày, hẳn là đă hưởng thụ rất nhiều dục lạc phải không?

Thường Tu nghe vương huynh hỏi như thế th́ ủ rũ cúi đầu trả lời:

- Trong bẩy ngày vừa qua, thật sự đệ không nghe, không thấy ǵ hết, nói chi tới chuyện hưởng thụ. Mỗi ngày về đến cửa nhà , thấy tên thị thần tay cầm thanh đao sáng loáng, miệng lại hô lớn số ngày c̣n lại, đủ làm cho đệ ưu khổ rồi, c̣n tâm trí đâu mà nghĩ tới mấy thứ lạc thú dục lạc kia nữa? V́ thế cho nên trong bẩy ngày qua, đệ không nh́n thấy, cũng không nghe thấy ǵ cả.

Câu nói của Thường Tu làm cho vua A Dục hết sức vui ḷng và yên tâm, ông bèn nói:

- Thường Tu, các vị tỳ kheo xuất gia thường thường tư duy đến vấn đề sinh tử lớn lao ấy, v́ thế họ không thể nào có tâm trí đâu mà sinh khởi niệm ái dục hay tham chấp vật bên ngoài.

Vua A Dục c̣n thuyết rất nhiều pháp liên quan tới sự đau khổ của nhân sinh đối với vấn đề sinh tử, khiến Thường Tu cảm động rơi lệ, bèn phát tâm quy y Phật giáo và c̣n xin vương huynh cho phép ḿnh xuống tóc xuất gia nữa.

56- Lời nói thật

Vua nước Thiên La ở Ấn Độ tên là Ba La Ma Đạt, tính t́nh ôn ḥa, rất thương yêu bảo bọc dân, thưởng phạt công b́nh nên được mọi người tôn kính.

Ông sinh được một người con trai đặt tên là Ban Túc. Thái tử Ban Túc tính t́nh hoàn toàn trái ngược với vua chạ Càng lớn càng khoẻ mạnh lực lưỡng nên thái tử vô cùng kiêu ngạo, v́ thế nhiều vị đại thần tránh không muốn thân cận với thái tử.

Lúc c̣n trẻ, thái tử đại diện vua cha đi chinh phục các nước lân bang, lập được chiến công nên sự kiêu ngạo của ông gia tăng tới mức cuồng vọng, không coi ai ra ǵ, thậm chí tới phụ vương ông cũng coi thường. Ngày đăng vị, thái tử đă khoe với mọi người rằng ḿnh sẽ lén phụ vương đi chinh phục các nước và sẽ lấy đầu của 100 ông vua nước các nước nhỏ để hiển dương vơ lực trên đời có một không hai của ḿnh.

Vua các nước nhỏ lần lượt bị thái tử bắt nhốt trong một hang động trong núi, một ông, hai ông, mười ông, hai mươi ông, cứ thế tăng lên cho tới 99 ông. Thái tử rất vui mừng, chỉ cần đem binh đi chinh phạt một nước nữa là sẽ bắt được một ông vua khác cho chẵn 100 ông. Nước bị thái tử chinh phạt để bắt ông vua cuối cùng ấy là một nước nhỏ cách nước Thiên La khoảng hơn ngàn dặm. Vua nước ấy tên là Phổ Minh, vua này không chủ trương chiến tranh nên không hề chuẩn bị kháng chiến, v́ thế nên khi thái tử Ban Túc dẫn binh vào chiếm thành, dân chúng xứ này không hề hay biết, cho đến khi vua Phổ Minh bị bắt trói đem đi.

Thái tử đưa vua Phổ Minh tới nước Thiên La, giam cùng với 99 ông vua trước trong sơn động, nhưng từ nước Thiên La tới núi, nhưng vua Phổ Minh không ngừng khóc lớn, nước mắt tuôn như mưa. Thái tử Ban Túc thấy thế rất bực ḿnh, nghiêm khắc trách mắng:

- Cái thứ gà ướt phải mưa, vậy mà cũng đ̣i làm vua! Ông là vua một nước mà sao lại khóc lóc như con nít, thật là không thể tưởng tượng được!

Vua Phổ Minh nghe thái tử Ban Túc trách mắng như thế cũng lấy làm bực ḿnh, bèn trả lời một cách nghiêm nghị:

- Ông không biết nỗi khổ của tôi, tôi không hề sợ chết, mà chỉ sợ mất ḷng tin của người khác, v́ tôi trị nước lấy câu "thật ngữ đệ nhất" làm tôn chỉ. Đối với quốc dân tôi chưa một lần nói dối. Tôi lănh đạo nhân dân cả nước, hết ḷng giữ ǵn giới "bất vọng ngữ", v́ thế chúng tôi tin tưởng lẫn nhau, chưa hề có chuyện người này nghi kỵ người kia.

Nói tới đây, ông đau ḷng buông một tiếng thở dài rồi nói tiếp:

- Vài ngày trước, có một vị tỳ kheo đến hoàng cung muốn độ hóa cho tôi xuất gia, tôi đă nhận lời rồi, hẹn ngài ấy trở lại trong một tuần nữa để xuống tóc cho tôi. Nay ông bắt giam tôi ở đây, làm sao tôi giữ lời hứa được bây giờ? Đó không phải là làm mất ḷng tin của người khác hay sao?

Nghe vua Phổ Minh kể như thế, thái tử Ban Túc tuy là một kẻ hung ác tàn nhẫn nhưng vẫn thấy cảm động trước một người quư trọng lời hứa hơn cả sinh mệnh của ḿnh. Cuối cùng thái tử gật đầu nói:

- Được rồi! Tôi thả ông về giải quyết vấn đề của ông xong xuôi, cho ông được măn nguyện. Nhưng nội trong ṿng 7 ngày, giải quyết vấn đề xong ông phải trở lại đây, ông có chịu không?

Vui Phổ Minh mừng rỡ chảy nước mắt trả lời:

- Cám ơn ông! Bảy ngày là đủ cho tôi lắm, tôi sẽ giải thích rơ mọi chuyện cho vị tỳ kheo rồi chắc chắn sẽ trở lại đây.

Thái tử Ban Túc bèn cấp cho vua Phổ Minh một con ngựa nhanh nhẹn để vua mau chóng trở về vương quốc của ḿnh. Khi về tới hoàng cung, việc thứ nhất, vua Phổ Minh nhường ngôi cho con trai lớn, giao hết mọi trách nhiệm cho thái tử rồi xin lại lời hứa cũ với vị tỳ kheo, áy náy thưa rằng:

- Lúc trước tôi nhận lời xuất gia với thầy, nhưng nay không làm được. Đó không phải do tôi không giữ lời, cũng không phải tôi đổi ư không muốn xuất gia, mà là v́...

Vua đem chuyện bị thái tử Ban Túc bắt và lời hẹn phải trở lại trong 7 ngày, kể hết cho vị tỳ kheo nghe. Vị tỳ kheo không c̣n cách nào hơn là bỏ ư định độ cho vua xuất gia.

Cuối cùng, vua tập họp hết tất cả dân chúng trong sân hoàng cung để từ biệt. Không có một người nào là không đau ḷng rơi nước mắt, ai nấy đều quỳ xuống van nài giữ vua lại, nhưng vua Phổ Minh vui vẻ nói:

- Lời nói thật là giới đệ nhất, là cái thang bắt lên tới trời, c̣n kẻ nói dối sẽ bị đọa địa ngục. Người quân tử luôn nói lời chân thật. Ta nay giữ lời hứa, thà xả bỏ thân mệnh mà tâm không hối hận.

Nói xong, vua quất ngựa bắt đầu ngay cuộc hành tŕnh trở về, tới trưa ngày thứ bảy ông bước vào trong cung thành của nước Thiên La, chạy đến chỗ của thái tử Ban Túc để báo tin ḿnh đă có mặt.

Thái tử Ban Túc đang vui say dục lạc, nghe nói có vua Phổ Minh trở lại th́ lấy làm ngạc nhiên và không khỏi cảm thấy kính phục. Ông vội vàng chạy ra đến cửa cung điện, nắm tay vua Phổ Minh mà nói:

- Ngài thật là một người tôn trọng lời nói của ḿnh, tôi vô cùng kính phục. Tôi thả ngài trở về nước như ngựa thoát chuồng, tại sao c̣n tự ư trở lại? Lời nói thật quả là một điều cao cả và đáng kính, tôi sẽ truyền bá tôn chỉ "thật ngữ đệ nhất" này trong khắp cả nước tôi, để mọi người được sống b́nh an, ḥa thuận và hạnh phúc.

Nói xong, ông thỉnh vua Phổ Minh lên đài cao để giảng về giới "không vọng ngữ" cho đại thần và nhân dân trong nước Thiên La nghe.

Vua Phổ Minh tán thán lời nói thật, chê bai vọng ngữ, được cả vạn người ở dưới đài cổ vơ hoan hô.

Lúc ấy thái tử Ban Túc mới thấm thía một điều, "ta tuy dùng vơ lực đi chinh phục nhiều nước, thế mà dũng khí anh hùng ấy chưa từng được dân chúng hoan hô như vậy. Thế mới biết là lời nói thật khiến người ta cảm động, ái kính, ghi khắc trong ḷng không quên, c̣n vơ lực th́ tuyệt đối không thu phục được ḷng người. Trong vai tṛ một ông vua, ta không nên áp dụng chính sách vơ lực bạo ngược".

Nghĩ thế xong ông bèn thả 99 ông vua đang bị giam cầm trong núi cho về nước hết.

Từ đó, nước Thiên La có ban hành giới không vọng ngữ và thực hành tôn chỉ "thật ngữ đệ nhất", cũng từ đó trong nước ấy được quốc thái dân an, mọi người sống chung đầm ấm yên vui.

57- Lưu Ly Vương

Sinh ra thân phận tỳ nữ, một bước lên ngôi hoàng hậu, thật là một điều không phải dễ. Thế mà điều ấy đă thật sự xẩy ra cho Mạt Lợi phu nhân. Bà sinh ra làm tỳ nữ, sau được làm vợ của vua Ba Tư Nặc và trở thành hoàng hậu của nước Kiều Tát Di Lạ Chuyện ǵ đă xẩy ra khiến cho cuộc đời bà có sự thay đổi to lớn ấy? Đó là do nhân duyên sau đây :

Thời ấy nước Ấn Độ, giống như dưới thời Chiến Quốc ở Trung Hoa, phân thành rất nhiều nước nhỏ, mà giàu mạnh nhất phải nói là nước Kiều Tát Di La.

Có một hôm, vua của nước Kiều Tát Di La là vua Ba Tư Nặc xin cầu thân với nước lân bang là nước Ca Tỳ La Vệ, v́ ở Ấn Độ lúc ấy, nước Ca Tỳ La Vệ nổi tiếng là nước có nhiều mỹ nhân. Nước Ca Tỳ La Vệ tuy nhỏ bé nhưng không muốn đưa nàng công chúa xinh đẹp tuyệt vời của họ về làm vương phi nước Kiều Tát Di La, v́ thế trưởng giả Ma Ha Nam trong thành mới nghĩ ra một kế, đó là đưa cô tỳ nữ Mạt Lợi trong nhà cho cải trang làm công chúa, gả cho về làm hoàng hậu của vua Ba Tư Nặc.

Cả nước Kiều Tát Di La đă bị mắc lừa, và đây cũng là nguyên nhân đưa nước Ca Tỳ La Vệ đến chỗ diệt vong sau này.

Phu nhân Mạt Lợi tiến cung rồi, được tất cả mọi người tán thán nhan sắc kiều diễm cùng đức tính phúc hậu hiền lành, nên không một ai nghi ngờ hay đặt câu hỏi về thân thế của bà.

Được làm hoàng hậu, mặc th́ chỉ mặc lụa là gấm vóc, ăn th́ chỉ ăn sơn hào hải vị, lại được quốc vương sủng ái, cuộc sống của Mạt Lợi phu nhân thật là sung sướng.

Chẳng bao lâu sau, bà sinh hạ cho vua Ba Tư Nặc một vị thái tử. Vị thái tử này không ai xa lạ, chính là người đă đem khu vườn ḿnh ưa thích nhất dâng cúng cho Đức Phật, tức là thái tử Kỳ Đà. Nhưng về sau thái tử không được lên làm vua v́ bị người em là thái tử Lưu Ly giết chết.

Lưu Ly là hoàng tử thứ hai của Mạt Lợi phu nhân, không những giết anh mà c̣n giết luôn vua cha, đồng thời cũng đă tiêu diệt cả nước Ca Tỳ La Vệ, quê hương của mẫu hậu. Tại sao thái tử Lưu Ly đă tạo ra tội ác tày trời này? Đó cũng là do nhân duyên sau đây :

Lúc thái tử Lưu Ly c̣n bé, đă cùng công tử Khổ Mẫu, con của một vị đại thần sang nước Ca Tỳ La Vệ học bắn tên. Kỹ thuật bắn tên của dân nước Ca Tỳ La Vệ rất điêu luyện nên có rất nhiều vương tôn công tử từ các nước khác đến xin theo học.

Một hôm trong nước Ca Tỳ La Vệ, trên đường đi đến trường, thái tử Lưu Ly cùng công tử Khổ Mẫu đi ngang một ngôi nhà nguy nga tráng lệ, trong đó có một ṭa giảng đường rất trang nghiêm. Thái tử Lưu Ly bèn trèo lên bảo ṭa sư tử ngồi chơi. Lúc ấy có một đoàn người bước vào, thấy thái tử Lưu Ly trên ṭa báu, nổi giận mắng rằng:

- Mi là con của một đứa nữ tỳ hạ tiện, làm sao cả gan bước vào ṭa giảng đường linh thiêng của ta, và làm ô uế bảo toà sư tử này? Mi có biết là bọn ta xây ngôi giảng đường này là để tiếp rước bậc đại thánh Đức Phật Thích Ca về quê không? Làm sao một đứa ti tiện như mi lại có thể đặt chân đến một chỗ thanh tịnh như thế này, có mau mau cút đi cho ta không?

Tuy thái tử Lưu Ly c̣n rất trẻ nhưng tự ái đă bị tổn thương trước những lời sỉ nhục như thế, khuôn mặt đỏ bừng xấu hổ. Chàng lặng lẽ rời ngôi giảng đường đi thẳng một mạch về nước Kiều Tát Di La, cắn răng nghiến lợi nói với Khổ Mẫu rằng:

- Khổ Mẫu! Chuyện ngày hôm nay huynh hăy nhớ giùm tôi! Ngày nào tôi lên ngôi vua, th́ việc thứ nhất là báo thù rửa cái nhục hôm nay!

Khổ Mẫu bản tính vốn hiếu chiến, nên nghe thái tử nói thế, khen ngợi rằng:

- Thái tử thật là dũng cảm! Tôi quyết sẽ giúp thái tử báo cừu, chỉ cần thái tử giữ vững chí khí ngày hôm nay!

Từ ngày hôm đó trở đi, thái tử ghi khắc trong ḷng chuyện ḿnh đă bị nhục mạ, lúc nào câu chuyện ấy cũng như đang diễn ra trước mắt, cho đến trong giấc ngủ, trong giấc mơ cũng không quên được. V́ thế mà chàng canh cánh lo nghĩ đến chuyện lên ngôi kế vị. Chàng thường thất vọng trước sức khoẻ tráng kiện của vua cha, và c̣n phiền năo hơn nữa là sau vua cha c̣n có người anh là thái tử Kỳ Đà.

Ư muốn sớm rửa hận đă che mờ lương tâm lư trí của thái tử Lưu Ly, chàng hăm hại anh rồi giết chết vua cha, lập tức lên ngôi và phong Khổ Mẫu làm đại thần. Khổ Mẫu vô cùng kiêu ngạo, tâu rằng:

- Đại vương! Ngài có nhớ đă bị gịng họ Thích Ca sỉ nhục không? Chúng ta phải báo thù!

Vua Lưu Ly ngày đêm nhớ nghĩ chuyện cũ trong đầu, làm sao mà quên cho được. Ông nói một cách sôi nổi:

- Từ ngày hôm ấy trở đi, mối thù này đă khắc ghi sâu đậm trong ḷng ta, vĩnh viễn không thể nào quên, chỉ hận là không được lên ngôi sớm! Khổ Mẫu, bây giờ đă đến thời rửa hận, ta không thể nhẫn nại được nữa. Khanh hăy mau triệu tập ba quân, chuẩn bị mọi sự!

Lệnh vua đưa ra ai dám không tuân, Khổ Mẫu bèn chọn lựa một cách nghiêm khắc những vị tướng sĩ tinh nhuệ nhất, và vua Lưu Ly thân hành kiểm duyệt. Xong đâu đó, họ kéo quân đến nước Ca Tỳ La Vệ.

Nước Ca Tỳ La Vệ giáp giới với nước Kiều Tát Di La, từ xưa đến nay hai nước vốn giữ t́nh lân bang tốt đẹp, quen sống hoà b́nh, dân chúng hai bên thường qua lại buôn bán với nhau, nên vua Lưu Ly bất thần khởi binh vấn tội, khi quân lính giữ thành biết là t́nh thế không ổn th́ đă quá trễ, đoàn quân của vua Lưu Ly đă rầm rộ tiến vào thành như nước triều dâng, bao vây cung điện của vua như một ṿng vây sắt. Chỉ trong ṿng nửa ngày, trọn thành Ca Tỳ La Vệ bị họ tàn sát, và bất cứ người nào của ḍng họ Thích Ca, dầu nam hay nữ cũng bị giết sạch. Tử thi ngổn ngang đầy đường, thật là một cảnh thảm thương không thể chịu thấu. Hôm ấy ḍng họ Thích Ca đă bị vua Lưu Ly diệt tận.

Lúc ấy, Đức Phật đang thuyết pháp ở tinh xá Kỳ thọ Cấp Cô Độc viên trong thành Xá Vệ, Ngài biết chuyện, chỉ thở dài mà nói:

- Kẻ tội nhân vô đạo đại nghịch ấy chỉ trong bẩy ngày là sẽ bị chết cháy trong lửa dữ, và chết rồi sẽ đọa xuống địa ngục vô gián chịu khổ!

Đức Phật là bậc đại thánh, nói ra lời nào là lời ắt phải chân thật, không thể nào không tin. V́ thế, khi các vị đại thần đương triều đem tin này tŕnh lên vua Lưu Ly, th́ ông vua này mặt mày xanh xám, tóc tai dựng đứng! Làm tội ác tày trời th́ làm, nhưng làm người trên thế gian, ai là người không sợ chết, ai là người muốn chịu khổ? Đằng này đă chết mà c̣n phải chịu khổ, sức người nào kham nổi! Do đó vua Lưu Ly rất phiền năo và sợ hăi. Khổ Mẫu đứng bên cạnh thấy thế tâu rằng:

- Đại vương! Xin ngài đừng sợ, đó chỉ là những lời dối trá bịp bợm. Đại vương thử suy nghĩ cũng biết, khi một người bà la môn tới đây cầu xin chuyện ǵ mà không được, họ bèn nguyền rủa ngài, cầu chúc cho ngài đủ chuyện xui xẻo. Hôm nay ngài đă giết sạch ḍng họ Thích Ca của Phật, th́ làm sao ông ấy không thốt lời oán than? Phật và bà la môn có điểm khác nhau là ông Phật hiện đang buồn rầu. Kệ, cho ông ấy cứ việc nguyền rủa. Đại vương, xin ngài hăy an tâm.

Tuy Khổ Mẫu nói những lời bùi tai như thế nhưng vua Lưu Ly không thể nào an tâm nổi, Khổ Mẫu mới bèn nghĩ ra một giải pháp:

- Đại vương, nếu thật sự ngài không an tâm được, th́ thần có một giải pháp này bảo đảm chắc chắn thoát nạn. Chúng ta có thể lên một con tàu bơi ra ngoài khơi, chờ bẩy ngày sau tai nạn qua rồi th́ lại bơi về. Đó không phải là một giải pháp hoàn hảo hay sao?

Vua Lưu Ly quá phiền năo nên đâm ra mê muội, chỉ c̣n biết nghe theo lời bày vẽ của Khổ Mẫu và ra lệnh chuẩn bị tàu bè. Ngay chiều ngày hôm ấy, vua Lưu Ly, Khổ Mẫu và một đoàn rất nhiều cung nữ mang theo những thứ cần dùng lên tàu, vội vàng nhổ neo ra khơi. Những người này b́nh thường có bao giờ đi biển, nên đời sống trên biển đối với họ rất khổ sở. Vua Lưu Ly tuy được bao nhiêu mỹ nữ bao quanh, được ăn những món ăn tuyệt diệu, nhưng tâm vẫn bất an và sống th́ không thoải mái, nên cảm thấy khó chịu vô cùng, một ngày dài dằng dặt bằng ba năm! Nhưng cứ qua đi một đêm là Khổ Mẫu lớn tiếng cổ vơ:

- Qua được mấy ngày rồi, chỉ c̣n mấy ngày nữa thôi là chúng ta có thể trở về thành!

Tuy Khổ Mẫu hô hào như thế nhưng tai nạn vẫn không thể tránh khỏi.

Buổi sáng sớm ngày thứ bẩy, Khổ Mẫu lại oang oang nói:

- Chỉ một đêm nữa thôi, ngày mai chúng ta sẽ về thành!

Bầy cung nữ chịu hết nổi đời sống tù túng vô nghĩa trên tàu, cô nào cũng phiền trách Khổ Mẫu, nhưng nay nghe nói ngày mai sẽ về thành, ai nấy đều vui mừng tột độ.

Đêm về khuya, đèn đuốc trên tàu được đốt sáng choang huy hoàng, mọi người ca xang múa hát vô cùng huyên náo, họ trầm ḿnh trong cuộc vui, quên hẳn ḿnh đang ở trên biển để lánh nạn.

Có lẽ phúc báo của vua Lưu Ly đă đến thời kiệt tận, hay trời không dung dưỡng tội ác của ông nữa, nên đương lúc mọi người đang ăn chơi thích thú th́ mặt trăng đang chiếu sáng trong hư không bỗng bị mây đen giăng phủ che kín và một trận cuồng phong nổi dậy. Con tàu của vua Lưu Ly to lớn như thế mà cũng theo sóng biển lắc lư dao động không ngừng. Những tấm phướng, tấm màn treo trên cao bị gió thổi bay phần phật, chạm phải các ngọn đèn, lập tức bén lửa. Ngọn lửa bắt qua các tấm vách bằng gỗ và trong khoảnh khắc, giống như những con rắn lửa bay lượn loạn xạ. Mọi người kinh hoàng, tuy trước mặt không có đường thoát nhưng ai nấy cũng luống cuống chạy loạn xạ. Cuối cùng vua Lưu Ly, Khổ Mẫu và đoàn cung nữ không một người nào trốn thoát, tất cả đều cùng con tàu to lớn chịu chung một số phận, là bị hỏa táng dưới đáy biển sâu.

Quả báo nhăn tiền mà vua Lưu Ly phải chịu là một tấm gương cho dân chúng Ấn Độ đương thời, đồng thời cũng cho chúng ta thấy rơ ràng rằng nhân quả báo ứng không sai một đường tơ kẽ tóc.

 

58- Ma Ha Lô đắc đạo

Tại nước Ma La ở Ấn Độ, cách đô thành chừng sáu, bảy trăm dặm, có một ṭa tinh xá, b́nh thường có 500 vị tỳ kheo đă thọ cụ túc giới sinh sống ở trong ấy. Ngoài số các vị tỳ kheo ấy có một vị tương đối lớn tuổi, tên gọi là Ma Ha Lộ Ông sinh ra vốn ngu si đần độn, không ai có thể dạy cho ông học, cho đến một câu kệ Ông cũng không nhớ nổi.

V́ thế 500 vị tỳ kheo nọ đều coi thường ông, khinh thị Ông, không ai muốn ở chung một chỗ với ông, nên trong cuộc sống hằng ngày, ông luôn luôn cô độc một ḿnh.

Có một hôm nhà vua sai sứ thần đến tinh xá thỉnh mời chư tỳ kheo cho vua cúng dường. Ma Ha Lô hổ thẹn ḿnh ngu đần, không dám tham gia pháp hội trai tăng của nhà vua, ông chờ tất cả mọi người rời thành và đến hoàng cung rồi, nghĩ ḿnh ngu si đáng xấu hổ, bèn lẳng lặng đi lấy một sợi dây thừng, ra vườn hoa dưới một gốc cây lớn, tính treo cổ tự sát.

Đúng ngay lúc ấy Đức Phật trang nghiêm tướng hảo đă hiện ra trước mặt Ma Ha Lô, nghiêm nghị quở trách rằng:

- Ma Ha Lô! Tại sao lại học làm cái chuyện xuẩn ngốc như thế, ông đă không gấp rút chăm chỉ tinh tiến, c̣n muốn làm một điều ngu si đến thế ư!

Đức Phật ngừng lại một lúc, rồi nói tiếp:

- Nguyên lai kiếp xa xưa, ông là một vị tu đạo học thức uyên bác, nhưng ông không bao giờ chịu bố thí sự hiểu biết của ḿnh giúp người khác học, lại sinh tâm ngă mạn, khinh thị tất cả mọi người, v́ thế nên đời đời kiếp kiếp chịu quả báo ngu si ám độn. Chuyện này ông không trách được ai, ḿnh làm chuyện sai quấy th́ ḿnh phải tự biết sám hối một cách thâm sâu, cái chết không kết thúc được nghiệp tội đâu!

Ma Ha Lô được Đức Phật giảng cho nghe xong, trong ḷng hổ thẹn muôn phần, bèn quỳ xuống trước mặt Đức Phật xin Ngài cho phép ông được sám hối. Đức Phật từ bi, không cần biết người ta đă tạo tội ǵ, chỉ cần người ấy biết lỗi và hối cải, Ngài đều xem họ là người tốt như nhau.

Đức Phật không quản công lao thuyết pháp khai thị cho Ma Ha Lô, có lẽ nhân duyên đă thành thục, nên khi Đức Phật thuyết pháp xong, Ma Ha Lô bèn giác ngộ chứng quả, cái tâm trí ngu si ám độn kia trong khoảnh khắc trở nên sáng láng, ông có thể thông hiểu rơ ràng lời pháp vi diệu của Đức Phật, có thể nh́n thấu tất cả mọi sự trên thế gian. Lúc ấy Đức Phật biết ông đă ngộ đạo, nên bảo ông hăy mau đi dự buổi tiệc cúng dường trai tăng của nhà vua, và sau đó thuyết pháp cho đại chúng nghe nữa. Khi ông vừa tính quay đi th́ Đức Phật nói thêm:

- Ma Ha Lô, lúc ông là một vị trưởng lăo trong quá khứ, ông đă thâu nhận 500 vị đệ tử, 500 người ấy chính là 500 vị tỳ kheo đang thọ cúng dường của nhà vua trong hoàng cung. Bây giờ ông hăy mau đến đấy, họ đang chờ đợi ông chỉ đạo cho họ!

Ma Ha Lô bái biệt Đức Phật rồi, lên đường đến hoàng cung. Lúc ông đến, buổi tiệc sắp sửa bắt đầu. Không một chút khách khí, Ma Ha Lô bèn tiến đến chỗ của các vị thượng tọa mà ngồi. Trong khung cảnh trang nghiêm ấy, thái độ của Ma Ha Lô làm cho mọi người kinh dị, tưởng ông đă phát điên cuồng lên rồi, nhưng trước mặt hoàng đế và đại thần, không ai dám nói câu nào.

Buổi tiệc bắt đầu, ai nấy ăn uống vui vẻ. Chờ mọi người ăn no xong, Ma Ha Lô bèn đứng dậy hướng về phía mọi người mà thuyết giảng Phật pháp vi diệu, thị hiện sư tử hống.

Trước muôn cặp mắt đổ dồn về ông, Ma Ha Lô không tỏ vẻ chút ǵ là sợ hăi. Thính chúng, trong số ấy có vua quan đại thần, ai nấy đều vô cùng khâm phục. Nhất là các vị tỳ kheo nọ, họ cảm thấy tàm quư, thật là núi thái sơn trước mắt mà không nh́n thấy. Đây là một vị đă chứng đại quả A La Hán, thế mà trong quá khứ đă bị ḿnh khinh thị đến dường ấy! Ai nấy đều ân hận măi không thôi.

59- Một tảng đá

Mùa Xuân là thời gian thích hợp nhất cho việc trồng trọt, thế nên có ông nông phu nọ nghĩ đến chuyện khai khẩn, gieo trồng canh tác trong một mảnh đất xưa nay vẫn bị bỏ hoang. Hôm đó, ông nông phu đang đẩy cán cày để trở đất, th́ mũi cày bỗng chạm phải một vật ǵ rất cứng chắc. Ông khều đất ra xem, th́ ra đó là một tảng đá trắng tinh rất lớn.

- Ta phải t́m một vài ba người đến đây giúp một tay, vứt tảng đá này đi chỗ khác, nếu không th́ không thể gieo trồng ǵ được.

Ông nông phu nghĩ. Bỗng có một ông già tiến lại gần hỏi:

- Tại sao ông lại muốn đem tảng đá này đi chỗ khác?

- Như vậy mới có lợi, nếu dời nó đi chỗ khác th́ có nhiều đất để trồng trọt hơn, cho nên...

Ông nông phu đáp:

- A vậy hả? Nếu ông khai khẩn, canh tác gieo trồng mảnh đất hoang này xong th́ một năm ông thu hoạch được bao nhiêu? Nếu tôi tặng ông 500 lượng bạc, ông có thể ch́u ư tôi mà không dời tảng đá này đi chỗ khác, được không?

- Tại sao? Ông nông phu ngạc nhiên hỏi. Tại sao ông lại quan tâm đến việc này như thế?

Lăo già bỗng lắc ḿnh một cái, biến thành một người cao lớn, đẹp đẽ, y phục lộng lẫy, nói với người nông phu rằng:

- Ta là người cơi trời xuống đây, ngày xưa ta sống ở gần làng này, lúc ấy ở gần nhà ta có một ông lăo phát tâm xây một ngôi chùa, vật liệu chi cũng có đủ, chỉ thiếu có một tảng đá để làm cột trụ cho móng nhà. Vừa khéo, nhà ta có một tảng đá trắng để giặt áo, là gia bảo của tổ tiên ta để lại, đúng y tảng đă mà ông lăo đang cần. Tuy ta không phải là người theo đạo Phật, song ta rơ biết giúp người là một điều tốt, v́ vậy ta mới đem tảng đá ấy mà tặng cho ông lăo khiến cho ngôi chùa được cất lên rất mau lẹ. Nào có ngờ, điều này đă đem lại cho ta phúc đức vô cùng to lớn. Lâm chung rồi, ta sinh lên cơi trời Đao Lợi, sống trong cung điện làm bằng bảy báu, và được thiên nữ xinh đẹp hầu hạ phục dịch, quần áo, thức ăn, vật dụng hưởng thụ không bao giờ hết. Xưa nay đang an