Chùa Hải-Đức in Jacksonville
|
|
Truyện Tích Phật Giáo Tác giả: Phật Giáo Cố Sự Đại Toàn Dịch giả: Diệu Hạnh & Giao Trinh 31 - 40
Lúc Đ ức Phật c̣n tại thế, có một vị đệ tử được người ta cúng dường quần áo, mặc chỉ hai ba hôm là đă dơ bẩn, rách rưới; lúc ăn cơm, bát cơm chưa vét hết là đă đứng dậy mà đi, không hề biết giữ ǵn tiếc rẻ vật dụng.Có một hôm, Đ ức Phật bảo người này hăy cởi bỏ áo cà sa vào thành khất thức. Khi ông vào thành, những người lúc trước vẫn thường cúng dường ông th́ hôm nay thấy ông, nhất định không ai chịu cúng dường. Vừa thấy ông trở về, Đức Phật hỏi:- Hôm nay ông được cúng dường những ǵ?- Bạch Thế Tôn, hôm nay con không nhận được ǵ hết. Thỉnh Thế Tôn cho con mặc áo cà sa trở lại.- Ta tính trả lại cho ông tấm áo cà sa mà ông gởi cho ta giữ nhưng lại quên mất để nó ở chỗ nào. Thôi th́ ở đây có mớ bông g̣n, ông có thể lấy mà tự may áo cà sa mặc cũng được.Đức Phật giao cho vị đệ tử này một bó bông g̣n, ông cầm lấy tự nghĩ, làm sao mà may áo với những thứ này? Ông nói với một giọng châm biếm : - Bạch Thế Tôn, con không phải là nhà ảo thuật, làm sao có thể may áo cà sa với mớ bông g̣n này? - Áo cà sa là do bông g̣n làm thành, không cần phải là nhà ảo thuật mới có thể làm được, có một vài công việc cố định phải làm, và ai cũng có thể làm được. Nhưng để biến bông g̣n thành vải phải mất rất nhiều công lao gian khổ, phải hái bông g̣n, kéo thành sợi, dệt thành vải, sau đó cắt may mới thành được một tấm cà sạ Áo cà sa mà ông đang cần đó, phải làm như thế mới có được.Đức Phật trả lời vị đệ tử. Người này kinh ngạc hỏi: - Trời ơi, phiền phức đến thế sao?- Phải rồi, muốn làm thành một tấm cà sa phải trải qua bấy nhiêu đó gian khổ. V́ thế ông phải biết ǵn giữ đồ vật, mà không phải chỉ có quần áo mà thôi đâu. Ta thấy ông ăn cơm cũng phí phạm như thế. Ông phải biết, một hạt thóc là do người nông phu phải cực nhọc làm lụng mà ra. Hạt thóc ấy muốn nấu cho thành cơm, th́ phải gieo mạ, nhặt cỏ, bỏ phân, tưới tẩm v.v... Chúng ta được sống qua ngày một cách an ổn như thế này là do sự giúp đỡ của rất nhiều người. Chúng ta không nên quên lăng ân huệ ấy, mà phải dùng cái tâm tri ân để giữ ǵn đồ đạc mà họ cúng dường cho chúng ta, và lấy sự tu hành chuyên cần để báo đáp ơn thí chủ. Đức Phật không phải là một vị chuyên môn trong vấn đề tài chánh, và tài sản, châu báu đối với Ngài không có ư nghĩa ǵ. Nhưng dầu là một cọng cỏ, một nhánh cây trên thế gian này, không có vật ǵ là Ngài không cẩn thận ǵn giữ. Có thể nói Ngài là nhà kinh tế lỗi lạc nhất.
Tại thành Tỳ Xá Ly ở miền trung nước Ấn Độ có một hoàng tử tên là Dũng Quân, tính t́nh rất phóng túng bê tha, ngày đêm sống một cuộc đời xa xỉ hoang đàng, không biết lo, không biết sầu, chỉ biết vui chơi hoan lạc. Người trong thành không ai là không biết đến nhân cách của chàng.Có một hôm, Đức Phật bỗng gọi A Nan đến hỏi:- A Nan! Ông có biết Dũng Quân hoàng tử là người như thế nào không? - Bạch Thế Tôn, con biết Dũng Quân hoàng tử là một người tham cầu ngũ dục. - Một người sống trong phóng túng và tham dục như thế, hậu quả sau này sẽ như thế nào? - Thế Tôn! Một người như hoàng tử Dũng Quân, chết rồi chắc chắn sẽ đọa địa ngục, chịu đủ những thống khổ của dầu sôi lửa đỏ ở dưới ấy!- Đúng thế. Ta thương xót hoàng tử Dũng Quân, do v́ sống cuộc sống quá đỗi bê tha nên chỉ c̣n lại có 7 ngày để sống. Nếu không biết sửa đổi và sám hối, 7 ngày nữa chết đi tất nhiên sẽ đọa địa ngục. A Nan, bây giờ ông hăy đến nh à của hoàng tử, khuyên ông ấy xuất gia.A Nan vâng lệnh Đức Phật, đến nhà hoàng tử Dũng Quân. Dũng Quân thấy A Nan đến nhà, vô cùng mừng rỡ chạy ra đón chào và nói:- Mừng tôn giả quang lâm! Lâu lắm mới gặp lại ngài. Xin tôn giả thuyết giảng cho tôi nghe giáo pháp vi diệu của Đức Phật.Chờ mọi người ngồi xuống, uống trà xong xuôi, A Nan mới lấy thái độ nghi êm chỉnh, dùng một giọng nói trang trọng nói với Dũng Quân rằng:- Hôm nay tôi vâng lệnh từ bi của Đức Phật, đặc biệt đến đây t́m hoàng tử.Nói tới đây, A Nan dùng ánh mắt sáng quắc của ḿnh nh́n khuôn mặt của Dũng Quân, nhưng hoàng tử không hề thay đổi nét mặt, vẫn như thường, chẳng chút sầu lo. A Nan nói tiếp:- Đức Phật biết đại nạn của hoàng tử sắp tới, hoàng tử chỉ c̣n có 7 ngày để sống nữa mà thôi. Cho nên, lúc c̣n hơi thở, Thế Tôn muốn hoàng tử hăy dứt bỏ mọi dục niệm, xuất gia tu hành, th́ tương lai mới có thể thoát khổ được. Hoàng tử nghe những lời nói này th́ khuôn mặt lập tức trở nên trắng bệch, vừa sợ hăi vừa khủng hoảng, nhất thời bỗng cảm thấy trở tay không kịp. Một lúc sau chàng từ từ trấn tỉnh trở lại. Phải nói rằng ngựa đă quá quen đường cũ, không thể nào trong một lúc mà thay đổi được, tuy chỉ c̣n có 7 ngày để sống, chàng vẫn không đ ành ḷng buông thả tất cả, nên nh́n A Nan cầu khẩn:- Tôn giả! Tôi rất sợ xuống địa ngục chịu khổ, nên thế nào cũng sẽ theo Đức Phật xuất gia. Tuy nhiên, tôi van cầu ngài hăy phương tiện mà cho phép tôi hưởng thụ dục lạc trong 6 ngày c̣n lại.A Nan biết bẩm tính hoàng tử quá thấp hèn, chỉ đành chấp thuận.Đến ngày thứ sáu, hoàng tử từ giă tất cả những người trong cung rồi, dành nguyên cả ngày cuối của đời ḿnh theo Đức Phật xuất gia. Đức Phật đại từ bi, chấp nhận phương tiện mà khai thị và truyền giới cho chàng trong một ngày một đêm. Quả nhiên qua ngày thứ 7, hoàng tử Dũng Quân bị bệnh th́nh ĺnh và qua đời.Lúc ấy A Nan hỏi Đức Phật: - Thế Tôn ! Hoàng tử Dũng Quân hiện giờ đang ở đâu? - Tuy hoàng tử Dũng Quân chỉ tu tŕ tịnh giới trong vỏn vẹn có một ngày một đêm, nhưng nay đă thác sinh ở cơi trời Tứ Vương, làm con trai của Tỳ Xa Môn Thiên Vương. Ở đây thọ mệnh của ông ta sẽ là 500 năm, sau đó sinh ở cơi trời Đao Lợi, thọ 1 000 năm. Rồi lại sinh ở cơi trời Dạ Ma, thọ 2 000 năm. Đó là không kể những thọ mệnh trên cả vạn năm ở các cơi trời khác như Đâu Suất thiên, Hóa Lạc thiên, Tha Hóa Tự Tại thiên v.v.. Đến khi hưởng hết phúc đức cơi trời, cuối cùng sẽ sinh xuống làm người, xuất gia học đạo, đắc A La Hán quả. Xuất gia tu hành chỉ trong có một ngày một đêm mà công đức đạt được thật là không thể nghĩ bàn. Đức Phật nói xong về những chỗ mà hoàng tử Dũng Quân sẽ sinh về, rất nhiều người bằng ḷng xuất gia, theo Đức Phật tinh tiến tu h ành, thọ tŕ tịnh giới.Có một lần, lúc Đức Phật đang tuyên thuyết pháp Đại thừa tại thành Vương Xá, trong đạo tràng của Ngài có một người đàn bà hiền đức tài giỏi tên là Tỳ Lâu.Bà Tỳ Lâu không những là một người vợ đảm đang, một người mẹ hiền trong gia đ́nh, mà ngoài xă hội cũng được tiếng là một người đàn bà gương mẫu. V́ thế, một khi bà lên tiếng kêu gọi ai làm chuyện ǵ, th́ lời kêu gọi của bà có hiệu lực rất lớn.Trong pháp hội ngày hôm ấy, bà đă tập họp được hằng trăm, hằng ngàn người đàn bà khác đến nghe pháp.Tuy họ toàn là những người sơ phát tâm, nhưng ai cũng bắt chước Tỳ Lâu chắp tay nghe thuyết pháp. Đức Phật đang giảng kinh, bỗng ngừng lại, hướng về tôn giả A Na Luật đang ngồi giữa đại chúng mà hỏi: - A Na Luật ! Ông đă thấy được chuyện ǵ? Có thấy điều chi đặc biệt và lạ lùng không?Ngài A Na Luật được Đức Phật hỏi đến như thế, liền đứng dậy cung kính trả lời:- Bạch Thế Tôn, mọi người yên tịnh lắng nghe pháp âm của Phật th́ đương nhiên tự động chắp tay kính cẩn lắng nghe. Con nay lại thấy thai nhi mà tín nữ Tỳ Lâu đang mang trong l ̣ng mà cũng chắp tay nghe pháp, con rất lấy làm lạ!Lúc ấy, quả thật Tỳ Lâu đang mang thai, và đứa bé gái trong bào thai hấp thụ tính hiền ḥa của mẹ, cộng với thiện duyên của chính ḿnh nên tuy hăy c̣n ở trong bụng mẹ mà cũng biết chắp tay nghe kinh.Tôn giả A Na Luật là một vị A La Hán đă chứng đắc được thiên nhăn thông, nên bất cứ vật ǵ dầu trong dầu ngoài, ngài cũng đều có thể thấy hết.Đức Phật lại nói: - Lành thay! Lành thay! Trong số đông những vị A La Hán ở đây, A Na Luật, ông là người có thiên nhăn thông, có thể thấy được những việc hiếm có mà người khác chưa từng thấy. Đó là điều khiến ông hơn tất cả mọi người.A Na Luật, ông thấy không, trong mười phương thế giới, chim bay thú chạy, ngay cả trong loài côn trùng, chưa hề có một đứa bé c̣n trong bụng mẹ mà đă biết chắp tay nghe kinh như mẹ vậy. Đó chính là v́ âm thanh viên măn của Phật có năng lực thấu suốt qua tất cả mọi cảnh giới, khiến cho chúng sinh nào nghe được cũng đều phải chắp tay cung kính. Đức Phật nói xong, muốn cho mọi người hiểu biết một chút về những sự kiện hy hữu trên thế giới, nên từ thân Ngài phóng ánh sáng làm cho bốn phương tám hướng, từ trên xuống dưới, tất cả được chiếu sáng không có ǵ trở ngại. Trong ánh từ quang sáng chói của Phật, không c̣n sự phân biệt giữa trong và ngoài, đâu đâu cũng y như nhau. Như thể được chiếu dọi bởi một tấm kính lớn đằng trước, không có vật ǵ có thể che dấu được. Lúc ấy, những người trong pháp hội nghe kinh, trượng thừa pháp lực của Đức Phật, đă có thể thấy được những ǵ mà từ trước đến nay họ chưa hề được thấy nên ai nấy đều vui mừng vô kể. Bà Tỳ Lâu lúc ấy cũng biết rằng đứa con ḿnh đang mang trong bụng sắp sửa ra đời, v́ thế bà bèn đứng dậy, đảnh lễ Đức Phật rồi lui xuống phía dưới, và chính lúc đó bà hạ sinh một đứa bé gái. Khi đứa bé chào đời, trong không trung vang lên thiên nhạc tuyệt vời và những đóa hoa ngũ sắc lả tả rơi xuống. Rất nhiều người đàn bà vội vàng đem đến một bộ quần áo mới phủ lên thân thể hài nhi, tránh cho đứa bé bị lơa thể khi đối diện với đại chúng. Vị đệ tử thượng thủ của Đức Phật là Tôn giả Xá Lợi Phất thấy mọi chuyện xẩy ra như thế, bèn đứng dậy hỏi rằng - Bạch Thế Tôn! Nữ hài nhi này từ quốc độ nào đến? Kiếp trước đă tạo phước báo nào mà lại có thể ở giữa pháp hội cao quư này mà chào đời? Đức Phật dịu dàng giảng cho Xá Lợi Phất và đại chúng biết lai lịch của đứa bé sơ sinh: - Đứa bé sơ sinh này đến từ một nơi cách đây rất xa ở phía đông nam, nước ấy tên là Diêm Phù Đàn. Rất nhiều kiếp về trước, cô luôn luôn cúng dường Phật và trai tăng, và c̣n phát nguyện tương lai sẽ sinh ra đời nơi pháp hội của Phật đang thuyết pháp, v́ thế nên kiếp này cô được như nguyện và chào đời tại nơi đây.Pháp âm của Phật cùng tất cả những điềm lành lúc đứa bé sinh ra đời làm cho thính chúng ngày hôm đó vô cùng hoan hỉ, họ phát nguyện đời đời kiếp kiếp quy y thánh pháp, cứu độ chúng sinh.
Ngày xưa, trong xă hội Ấn Độ, sự chênh lệch giữa người và người quả là rất nhiều. Vương Xá Thành ở miền nam nước Ấn, dân chúng rất giàu có nhưng không khỏi có sự phân biệt giai cấp.Họ c ăn cứ vào tài sản ít hay nhiều mà phân thành 9 giai cấp, giữa các giai cấp, sự khác biệt vô cùng rơ rệt. Nhất Ức Lư là giai cấp của người dân thành thị giàu có nhất, dư giả nhất , gia sản phải lên tới cả ngàn vạn, cả trăm vạn ; duy chỉ có những người giàu có như thế mới đủ tư cách để thuộc vào giai cấp Nhất Ức Lư ấy. Dĩ nhiên, giai cấp của họ là giai cấp đứng đầu nên không có người nào là không hâm mộ, ao ước.Lúc ấy có một người thuộc về giai cấp chót hết của 9 giai cấp nói trên, rất ngưỡng vọng sự vinh quang phú quư của giai cấp Nhất Ức Lư, ông hy vọng sẽ có ngày vọt lên được địa vị của những người mà ông hâm mộ đó, nhưng không có điều kiện thiết yếu là một gia sản đáng giá trăm vạn. V́ muốn có đủ điều kiện, ông không ngại công lao khó nhọc, ngày đêm t́m đủ cách để buôn bán kiếm lời. Sau mười năm lao lực, ông chỉ gom góp được có 9 phần mười gia sản phải có để đạt được lư tưởng của ḿnh. Nhưng than ôi, ông vương phải một cơn bạo bệnh, bệnh t́nh nguy ngập, ông biết sẽ không c̣n sống lâu nữa nên gọi vợ đến căn dặn rằng:- Tôi sẽ không lành bệnh được đâu, chỉ ân hận là nguyện vọng ôm ấp suốt cả một đời chưa đạt được. Con chúng ta nay chỉ mới 8 tuổi, chưa thể thừa kế được sự nghiệp của tôi. Tôi mong bà nuôi nấng cho nó thành người, nói cho nó biết điều tôi mong mỏi, và bảo nó kinh doanh sự nghiệp của chúng ta cho khéo léo hầu vào được giai cấp Nhất Ức Lư, th ́ lúc ấy ở suối vàng tôi cũng ngậm cười mà an nghỉ.Đợi việc mai táng xong xuôi, người mẹ gọi con đến trước mặt dạy rằng: - Cha con mất đi có để lại di ngôn, hy vọng con làm ăn buôn bán cho khéo léo, hầu có đủ điều kiện gia nhập vào giai cấp Nhất Ức Lư, để hoàn thành nguyện ước của cha con lúc sinh thời.Đứa con nhỏ tuổi mà đă có trí huệ của một vị cao nhân, đă biết rơ một cách chân chánh thế nào là họa là phúc. Nó biết rằng tiền bạc châu báu của thế gian như một con rắn độc, từ xưa đến nay, biết bao nhiêu người đă v́ tham cầu nó mà phạm vào đủ điều gian ác, không lùi bước trước bất cứ một thủ đoạn nào để làm tổn hại cho người, lợi ích cho ḿnh, để rồi chiêu cảm trùng trùng điệp điệp quả báo đau khổ, chỉ v́ không hiểu rành lư nhân quả.Thiên hạ không hiểu rơ rằng phúc báo của một người không phải từ trên trời rớt xuống, không trồng trọt mà đ̣i gặt hái được sao? Phú quư có con đường của nó, chỉ có đi theo con đường bố thí mới đến được cung thành phú quư.Nhưng thằng bé biết rằng mẹ nó chưa đủ sức hiểu những lư lẽ ấy nên chỉ lựa lời thưa rằng:- Con có một cách này rất hay, không cần đợi tương lai, mà ngay hiện tại có thể nhập vào giai cấp Nhất Ức Lư, chỉ cần nhà có bao nhiêu tiền của, mẹ giao hết cho con.Người mẹ nghe thế nửa tin nửa ngờ, nhưng bà thương con rất mực và muốn nương tựa vào con, nên đưa ch́a khóa ngân khố tài bảo giao cho con.Đứa bé đem toàn bộ gia sản, cả ngày ở ngoài đường mướn người khắc, nặn tượng Phật, xây dựng tháp miếu, cúng dường chư tăng, làm tất cả mọi sự để hoằng dương Phật pháp, rồi c̣n xuất ra một số tiền để cứu giúp người nghèo khổ. Chưa tới nửa năm, tài sản của người cha trọn đời dành dụm đă bị tiêu tan sạch bách!Người mẹ tuy có phúc báo nhưng chưa thông hiểu được trí huệ của Pháp Phật. Bà không biết con ḿnh là Bồ Tát tái sinh, không giống phàm nhân, mà trái lại có trí huệ cao siêu, có thần thông thâm diệu, đi lại tự tại trong ba cơi. Bà không biết rằng thí xả tài sản là con đường tắt để được phúc đức, được giàu sang phú quư, cứ làm theo lời Phật dạy th́ sinh vào giai cấp Nhất Ức Lư là một điều quá dễ dàng!V́ bà không thể biết những điều ấy, lại mắt thấy tải sản cứ ngày theo ngày mà tiêu hao, nên trong ḷng rất lo lắng. Không những không làm được dân của giai cấp Nhất Ức Lư, mà c̣n không biết sẽ lấy ǵ mà sống nữa ! Nhưng t́nh thương con khiến cho bà không nỡ trách mắng, cũng không nỡ ngăn cấm, v́ đứa con hay lựa lời giải thích mỗi khi thấy mẹ quá lo lắng.Không ngờ phước chưa được hưởng mà họa đă giáng lên đầu, thằng con trai thông minh, kháu khỉnh của bà sau một đêm lâm bệnh nặng, bác sĩ không đến kịp, đă ĺa khỏi ṿng tay của bà mà đi mất. Tài sản không c̣n, thằng con duy nhất cũng đă chết, người mẹ đau khổ chỉ muốn kết liễu đời ḿnh cho xong, hận tại sao không được theo con m à chết!Dục vọng con người sao mà nhiều thế, không tài nào kể xiết. Có một vị phú ông ở giai cấp Nhất Ức Lư, giàu có bậc nhất, tài sản lên tới tám tr ăm vạn, nhưng suốt ngày lại khổ năo v́ chưa có con trai nối dơi tông đường, gia sản kếch sù kia rồi ai sẽ là người thừa kế?Ông suốt ngày ngồi kiệu, có chùa chiềng miếu tự nào ông cũng vào cúng bái cầu xin sinh được một đứa con trai phúc huệ song toàn. Quả nhiên ít lâu sau, bà vợ cả của ông sinh cho ông một đứa con trai.Đứa bé sinh ra rất kháu khỉnh, song có một điều nó không giống người thường, ai thấy cũng phải thấy lạ. Mới sinh được ba hay bốn ngày, thằng bé cứ đối với mẹ như người lạ : lúc mẹ nó bồng lên th́ nó rống lên khóc, mẹ cho bú, nó cũng khóc. Đút vú vào miệng th́ nó không khóc cũng quay đầu chỗ khác, do đó hễ nó cất tiếng khóc là cả nhà quưnh quáng lên, v́ không bú sữa th́ làm sao mà sống? Cả ngày cứ rống lên mà khóc th́ làm sao sống? Hai điểm ấy làm cho cả nhà ai nấy cũng lo sợ bất an.C̣n phú ông lại càng khổ sở hơn nữa, thằng con cầu tự, khó kh ăn lắm mới có một đứa, ông xem nó quan trọng hơn sinh mệnh của ḿnh. Ông bèn tuyên bố: hễ ai mà dỗ được cho con ông hết khóc, hay là làm cho nó chịu bú sữa th́ ông sẽ đem lễ vật đến xin người ấy về làm gia quyến của ông.Biết bao nhiêu người đàn bà đến xin thử, nhưng muốn vào nhà của đệ nhất phú ông thật không phải dễ! Người nào đến bồng đứa bé nó cũng chỉ có tài làm cho nó khóc to hơn, ôm nó c̣n không ôm nổi, huống ǵ cho nó bú!Một vài ngày trôi qua, bao nhiêu người đàn bà đă thất vọng và đă quay về, duy chỉ có một người không biết tu hành từ đời nào mà đời nay được phúc báo, là được giữ lại.Đó chính là người đàn bà vừa mất con vừa mất tài sản nọ. Chính bà cũng không hiểu rơ tại sao, bà nào hề có ư định đến xin thử, chỉ v́ thấy có đông người và quang cảnh trước mắt vui vui, khêu lên tính hiếu kỳ của bà, bèn nhắm mắt đi theo đoàn người vào thử một phen. Có ai ngờ, khi thấy bà đứa bé như thấy người thân, ngừng ngay tiếng khóc ngang ngược của m ́nh, lại c̣n nh́n bà nhoẻn miệng cười qua những giọt nước mắt!Người làm công trao cho bà b́nh sữa, khi bà đút vào cái miệng nhỏ xíu của đứa bé th́ ô ḱa, nó bèn bú lấy bú để một cách ngon lành.Tối đến trong nhà ai nấy đều đă ngủ saỵ Bà không tài nào nhắm mắt, cứ ôn đi ôn lại từng việc đă xảy ra trong ngày hôm đó. Bà thật t́nh khó có thể tin được là ḿnh đă bước vào giai cấp Nhất Ức Lư.- Ta đang nằm mơ chăng? Bà lẩm bẩm tự hỏi.- Không nằm mơ đâu mẹ!Có người đang trả lời bà, nhưng người đó l à ai? Bà ngồi bật dậy trên giường, nhớn nhác nh́n quanh t́m kiếm.- Mẹ, con đây mà!Th́ ra chính đứa bé đang nằm bên cạnh bà, con trai của lăo phú ông đang nói chuyện với bà. Lăo phú ông đă mời bà về làm vú em cho con ḿnh, và giao đứa bé cho bà chăm sóc.- Con? Bà vô cùng kinh dị, một đứa bé sơ sinh làm sao đă biết nói chuyện, lại c̣n gọi bà bằng "mẹ" nữa?- Đúng rồi, con là đứa con mà mẹ đă mất, nay tái sinh về đây! Mẹ đă không từng nói với con là ước vọng của ba trước khi mất, là muốn mẹ con ḿnh vào giai cấp Nhất Ức Lư hay sao? Th́ bây giờ mẹ con ḿnh đang ở trong gia đ́nh giàu có nhất của giai cấp Nhất Ức Lư đây!Bà ôm chầm lấy đứa con, gịng nước mắt từ từ lăn xuống má. Bây giờ th́ bà hiểu rồi: gieo rắc tài sản chính là nhân của sự phát tài làm giàu về sau vậy.
Trong đời người, từ lúc đầu sinh ra, phải trải qua lăo và bệnh để rồi đi thẳng tới cái chết. Ai ai cũng phải đi qua quăng đường ấy, không có ai có thể thoát được. Có sinh th́ nhất định phải có tử, chuyện sinh tử vô thường của đời người là một thật tướng vậy.Thời xưa ở Ấn Độ, trong thành Xá Vệ có một ông phú hộ, khổ nỗi phú quư không được vẹn toàn nên gia tài tuy kếch sù, nhưng tuổi đă gần 50 mà trong nhà chưa có tiếng trẻ khóc, v́ thế ông đi cầu tự khắp nơi. Quả nhiên trời xanh không phụ ḷng người có chí, chẳng bao lâu phu nhân hoài thai và 10 tháng sau sinh hạ được một cậu bé bụ bẫm trắng trẻo, hai vợ chồng mừng rỡ vô hạn.Cha mẹ già sinh con muộn, nên đứa bé là con vàng con ngọc của họ, ngày nó đầy tháng, họ bèn mời rất đông quyến thuộc đến nh à uống rượu mừng, thật là nhộn nhịp vô cùng.Đứa bé may mắn ấy lớn lên trong t́nh thương yêu tŕu mến của mẹ cha, năm cậu 20 tuổi th́ kết duyên với một cô gái xinh đẹp trong làng. Hai vợ chồng trẻ thương nhau đằm thắm, và cha mẹ cậu cũng rất đẹp ḷng. Nhưng trong đời, "người không sướng ba năm, hoa không nở ba tháng", tai họa đă giáng xuống gia đ́nh đang an vui êm ấm ấy.Một ngày xuân đẹp trời, gió hiu hiu thổi, trăm hoa nở rộ, cặp vợ chồng son cùng nhau đi dạo trong khu vườn sau nhà. Trong lúc chuyện tṛ dưới gốc cây vô ưu, người vợ trẻ bỗng thấy một đóa hoa đang nụ sắp nở trên một cành cây, bèn nũng nịu bảo chồng:- Phu quân yêu dấu! Chàng có thể hái đóa hoa sắp nở kia xuống cho thiếp được không?Nghe người vợ thân yêu ngỏ lời yêu cầu, người chồng đương nhiên vội vàng trèo lên cây hái hoa cho nàng. Nhưng khi chàng vừa đưa tay lên về phía đóa hoa th́ vô phúc thay, có âm thanh răng rắc của tiếng cây gẫy, trong thoáng chốc người và cành hợp thành một khối mà rơi xuống, vừa chạm đất th́ tính mệnh người chồng cũng không c̣n! Tai nạn xẩy ra quá đột ngột khiến người vợ trẻ kinh ho àng ngất xỉu.Khi hai vợ chồng phú hộ nghe tin bất hạnh này, họ không thể nào tin được đó là sự thật. Đứa con trai của họ mới thấy mặt đây c̣n mạnh khoẻ, sinh động, th́ làm sao bây giờ lại có thể trở thành một cái xác không hồn được? Nhưng sự thật hiển nhiên trước mắt, làm sao có thể không tin!Hai vợ chồng già hoảng kinh, đau khổ, c̣n người vợ trẻ th́ tuyệt vọng muốn tự vẫn theo chồng, ai biết chuyện cũng phải rơi lệ thương cảm cho họ.May sao, chính lúc đó Đức Phật đi ngang qua ngôi làng này để giáo hóa, khi biết được tin này, Ngài bèn t́m đến nhà ông phú hộ, an ủi một cách vô cùng từ bi:- Đời người trên thế gian, có sinh tức phải có tử, có thịnh th́ phải có suy, không ai có thể làm khác được. Trong cơi thế giới Ta Bà này không làm sao có chuyện có sống mà không có chết. Không có sức người nào có thể đi ngược lại ḍng sinh tử. Con của ông bà chết đi, không phải là do Trời quyết định, cũng không phải do ai làm hại. Cậu ấy sống là do v́ các nhân duyên ḥa hợp lại, cậu ấy chết là do v́ các nhân duyên phân tán đi, thế thôi. Giống như một người lữ khách, không biết lúc nào đến và không biết lúc nào đi. Ông bà không nên quá thương tâm, hăy để cho tâm trí thư giăn một chút.Nhưng những thánh ngôn chí lư của Đức Phật, người phàm phu ngu si không lănh hội được hoàn toàn. Con người luôn luôn thấy rằng con cá nào ḿnh câu hụt cũng vĩ đại, đứa con nào yểu mệnh cũng thông minh và ông chồng nào chết sớm cũng chung t́nh! V́ thế Đức Phật bèn dùng phương tiện nói với họ rằng:- Được rồi, ông bà đừng buồn khóc nữa, ta sẽ cứu sống con của ông bà.Nghe hai chữ "cứu sống", hai vợ chồng già mừng rỡ khấu đầu quỳ xuống đất lạy tạ, Đức Phật đỡ hai người dậy mà nói:- Cứu sống cậu ấy th́ không có ǵ khó, chỉ có điều phải đến nhà nào chưa từng có người chết để thắp ba cây hương th́ mới có kết quả.V́ muốn cho đứa con đă chết được sống trở lại, hai vợ chồng già bèn chia nhau đi t́m. Nhưng trên thế gian, t́m ở đâu ra nhà nào chưa từng có người chết? Hai người đành tuyệt vọng cúi đầu trở về. Đức Phật lại thuyết giảng cho họ nghe:- Hai người phải hiểu cho rơ. Làm người trong thế gian này, có sinh th́ phải có tử. Thương yêu nhau ai hơn mẹ với con, gần gũi nhau ai hơn vợ với chồng, thế mà có được sống vĩnh viễn với nhau đâu? Người nào tráng kiện tới mấy, mạnh khoẻ tới mấy rồi cũng có ngày phải chết. Nếu hôm nay con trai của ông bà không chết th́ tương lai cũng có lúc đôi b ên phải chia ĺa.Lời của Đức Phật như hé mở cánh cửa trí huệ của hai vợ chồng già, cuối cùng họ giác ngộ rằng ở thế gian chuyện ǵ cũng vô thường, nên họ không c̣n quá bi lụy nữa.Thuở xưa có hai anh em cha mẹ mất sớm, để lại một gia sản to lớn. Không hiếu dưỡng được song thân, họ rất lấy làm buồn tiếc.Thời gian vùn vụt trôi, hai anh em từ chí hướng đến ư thích khác biệt nhau rất xạ Người anh th́ mến đạo nghĩa, thường thường làm việc thiện như bố thí của cải, do đó gia sản càng ngày càng tổn giảm; c̣n người em th́ mê tài sản, trổ tài mánh lới làm các thứ kinh doanh, nên gia sản càng ngày càng tăng thêm. V́ thế, người em rất bất măn đời sống của anh ḿnh. Một hôm, không chịu đựng được nữa, người em gọi anh ra lên mặt dạy dỗ:- Anh em chúng ta bất hạnh nên cha mẹ mất sớm. Cha mẹ để lại gia tài cho chúng ta, chúng ta làm con, th́ phải nhớ nghĩ đến từ tâm của cha mẹ, mau mau nỗ lực làm ăn buôn bán để giữ ǵn và phát triển cái vốn gia sản sẵn có ấy khiến hương hồn của cha mẹ Ở cơi trời được an ủi, thế mới đúng đạo làm con. Đằng nay, anh từ sáng tới tối cứ lo chạy theo mấy ông sa môn xuất gia để nghe kinh Phật, không lẽ mấy ông ấy có thể cho anh áo quần tiền tài hay sao? Gia đ́nh anh càng ngày càng nghèo khó, tài sản càng ngày càng hao hụt, không những có lỗi với hương hồn cha mẹ mà c̣n làm cho làng xóm chê cười.- Những ǵ chú nói, anh đă biết rơ hết, nhưng đó chỉ là những ư nghĩ thiển cận của thế tục. Chú nghĩ rằng ḿnh phải bảo tŕ và khuếch trương sản nghiệp của cha mẹ mới là tận hiếu. Nhưng anh th́ hoàn toàn không nghĩ như chú. Làm như thế chẳng qua chỉ cho chú có thêm điều kiện hưởng thụ, chứ vong hồn cha mẹ được lợi ích ǵ trong đó? C̣n anh th́ lại lo giữ ngũ giới một cách nghiêm chỉnh, chuyên cần thực hành mười điều thiện, cúng dường Tam Bảo, lấy đạo cả mà cứu cha mẹ, khiến hương hồn cha mẹ được xa ĺa nẻo khổ mà sinh về đường thiện, dần dần tiến đến chỗ giải thoát vĩnh hằng, đây mới là con đường báo hiếu chân chính.Đạo và đời vốn tương phản nhau, cái mà đạo cho là sung sướng và quư giá th́ đời lại chê là thấp hèn, đáng ghét. Những ǵ chú cho là khoái lạc hôm nay, chính là gốc rễ của phiền năo về sau. Anh không muốn đuổi theo những khoái lạc huyễn ảo như thế, cái khoái lạc mà người có trí huệ mong cầu là cái khoái lạc vĩnh hằng ḱa! Người em nghe anh nói, cảm thấy ḿnh không có lư lẽ để tranh căi nhưng trong tâm th́ không phục, bèn nén giận cúi đầu.Người anh biết em ḿnh không thể nói một lần mà hiểu, bèn phát biểu tâm chí muốn cầu học đạo của ḿnh. Người em biết anh ḿnh tâm đă cương quyết hướng về đạo nên im lặng, nén hận mà bỏ đi. Không lâu sau, người anh muốn cho việc học đạo của ḿnh được chuyên tâm nên ĺa bỏ gia đ́nh, khoác y ôm b́nh bát làm sa môn, ngày đêm tinh tiến tu thiền, cẩn thận từng lời nói từng ư nghĩ, về sau chứng được quả A La Hán. Người em nghe tin này, không những không vui mừng mà ḷng phiền năo giận hờn anh càng gia tăng thêm. Người này từ sáng đến tối lo làm ăn để tăng trưởng sự nghiệp cho đến mức đầu óc choáng váng, c ̣n việc nhân sinh giải thoát th́ không mảy may chú ư.Cuối cùng, gia tài ức triệu nọ cũng không kéo dài được đời sống vốn có giới hạn. Quả thật là chết đi không đem theo được bất cứ vật ǵ, chỉ có cái nghiệp là theo sát bên thân.Trong lúc sống người em quá ư tham dục nên bị đọa xuống kiếp súc sinh, đầu thai làm trâu. Con trâu sinh ra mạnh khoẻ mập mạp, liền bị một người nhà buôn mua về kéo xe muối.Kéo xe trèo dốc đường dài, lao khổ không phút nào ngừng nghỉ, con trâu mất sức, gầy ṃn, mỗi lần lên dốc thở ph́ pḥ mà vẫn bị roi vọt, trông thật là thê thảm, thương tâm. Vừa đúng lúc ấy, người anh đi ngang dùng đạo nhăn quán sát con trâu, biết đây là em ḿnh nên nói để khai mở trí huệ cho em:- Chú một đời khổ cực, gia tài sản nghiệp chú gom góp được tính ra không biết bao nhiêu mà kể, bây giờ gia tài ấy đâu rồi? Trước kia, chú nói đạo cả là vô dụng v́ không đem lại quần áo ăn uống, tiền tài mới đáng quư v́ nó giúp chú thỏa măn được mọi dục lạc. Bây giờ đạo cả lại làm cho anh giải thoát được luân hồi, chứng được quả thánh, c ̣n tiền tài mà chú quư trọng tại sao lại không cứu chú thoát kiếp trâu mà sinh về nẻo thiện?Nói xong, người anh vận dụng thần thông khiến con trâu thấy được kiếp trước của ḿnh. Con trâu tuy không nói được nhưng đau khổ rơi nước mắt, biết ḿnh kiếp trước có được thân người nhưng lại làm nhiều điều bất thiện, tham lam, ganh ghét, không tin Phật pháp, khinh chê thánh chúng, không nghe lời khuyên bảo thiện lành của anh, cho đến nỗi bây giờ đọa làm thân trâu, hối tiếc th́ đă quá muộn.Người anh biết em ḿnh đă có tâm niệm hối hận và tự trách liền xin người chủ mua lại con trâu này, và đem mối quan hệ giữa ḿnh và con trâu kể cho người chủ nghe. Người chủ trâu nghe xong tóc gáy dựng đứng rùng ḿnh ghê sợ, không đ̣i tiền mà đem trâu dâng tặng cho người anh. Người anh dắt trâu về chùa phóng sinh, cho nó quy y Tam Bảo và dạy nó niệm Phật. Không lâu sau, con trâu chết đi, sinh lên cơi trời Đao Lợi.Về sau, người chủ con trâu nghĩ đến vấn đề sinh tử luân hồi, cũng xả tỏ tất cả chuyên tâm t́m học đạo, cuối cùng được măn nguyện, chứng được thánh quả, giải thoát phiền n ăo.Nỗ lực kiếm tiền cho chính bản thân ḿnh th́ tiền ấy không hề thuộc quyền sở hữu của ḿnh; c̣n dùng tiền tài để đem lại hạnh phúc cho xă hội, ích lợi cho chúng sinh, th́ tiền tài ấy mới chính thật thuộc về ḿnh. Có nhân th́ tất nhiên phải có quả, đây là một đạo lư bất di bất dịch.
Ngày xưa có hai anh em nhà nọ, từ nhỏ sống chung với nhau, t́nh huynh đệ hết sức sâu đậm. Trưởng thành rồi, tuy cha mẹ đă tạ thế từ lâu, nhưng họ vẫn sống chung với nhau một cách ḥa thuận, thân ái. Ngay cả gia tài cha mẹ để lại, cũng không ai nghĩ tới chuyện dành phần của người kia để chiếm hữu làm của riêng cho ḿnh.Một hôm trong lúc chuyện văn, hai người t́nh cờ nhắc tới gia cảnh, họ thấy phải chấn hưng và t́m cách phát triển thêm sự nghiệp của tổ tiên để lại. Họ suy nghĩ, nhận thấy từ khi thừa kế gia nghiệp cho đến nay, họ không làm ǵ hơn là duy tŕ gia tài cho khỏi suy suyển mà thôi. Nhưng làm cho nếp nhà vẻ vang là trách nhiệm của nam nhi, nếu thành công trên phương diện kinh doanh làm giàu th́ cha mẹ sẽ được yên tâm nơi chín suối.Do đó hai người bàn tính với nhau ra xứ ngoài làm ăn. Họ thu xếp chuyện nhà đâu đó xong xuôi, mỗi người đem theo 10 cân vàng do mẹ để lại cho lúc c̣n sinh tiền, rồi chọn ngày lành tháng tốt sửa soạn hành trang lên đường. Hai người đi bộ trên một quăng đường khá xa, vượt qua những đỉnh núi cao chót vót. Trên đường đi họ gặp rất ít người, cũng chẳng ai kết bạn đồng hành với họ. Trước mặt họ là một giải đất mênh mông hoang vắng, tịch lặng.Khi hai người đến một vùng thâm sơn hoang vu, người anh bỗng khởi lên một niệm ác trong tâm : hay là ḿnh giết thằng em này đi, đoạt lấy vàng của nó? Nếu số vốn được nhân lên làm đôi th́ công việc buôn bán chắc chắn sẽ thuận lợi hơn, và ḿnh sẽ kiếm nhiều tiền hơn, làm giàu dễ dàng hơn.Cũng đồng một lúc ấy, người em cũng có những ư nghĩ bất ngờ trong đầu: sao không giết anh đi, lấy tiền của anh thêm vào phần của ḿnh, th́ mọi sự không dễ dàng và thoải mái hơn sao?Tuy nhiên, cũng gần như đồng thời, trong tâm của cả hai người lại khởi lên tiếp những suy tưởng giống nhau: Không! Đó là tội ác nặng nề to lớn nhất, kim tiền tài sản đều là những khí giới độc hại đối với lương tâm và nhân cách của con người, như một vũng bùn sâu, một khi vấp ngă vào đó th́ khó có thể trèo lên.Sự cách biệt giữa thiện và ác chỉ vỏn vẹn trong có một niệm, nhưng nhân quả của chúng th́ lại cách xa nhau vô biên diệu vợi. Đồ tể buông dao xuống là có thể thành Phật. Người tốt không nhất định phải có toàn những ư nghĩ thiện, cũng như người xấu cũng không phải là vĩnh viễn không có lúc thiện, tất cả chỉ do nơi sự chọn lựa của họ, và sự định đoạt chỉ nằm trong một cái sát na ấy thôi.Sau đó hai người có vẻ rất nhẹ nhàng thư thái, v́ cả hai đều chọn cách suy nghĩ thứ nh́. Niệm giác ngộ khởi lên th́ trong tâm cảm thấy thanh thoát bội phần, bước chân của họ nhanh nhẹn hơn, và họ vượt qua được rặng núi hiểm ngh èo kia.Đi chưa được xa lắm, họ đến bên bờ một hồ nước xanh biếc, người anh móc trong người ra số vàng mang theo vứt xuống hồ một cách quyết liệt. - Đúng!Cùng với tiếng nước bị bắn lên tung toé, tiếng khen ngợi của người em vang lên một cách rơ ràng. - Bơm! Thêm một lần nữa, những giọt nước như những cánh hoa bay lên tứ phía. - Đúng!Người anh cũng vui vẻ tán thán khi thấy người em vứt số vàng của ḿnh xuống nước, nhưng lại nghĩ thầm trong đầu: "Lạ quá, không lẽ chú ấy và ta cùng có một ư nghĩ hay sao?" Nghĩ thế rồi, người anh không ngăn được câu hỏi: - V́ đồng tiền vàng mà anh đă có những ư nghĩ ác độc muốn hăm hại em, may mà anh đă giác tỉnh kịp thời, v́ vậy mới vứt vàng xuống hồ để diệt tuyệt hoạn nạn về sau. C̣n em, tại sao lại vứt bỏ vàng của ḿnh đi? Người em trả lời: - Đúng thế, em cũng có cùng một ư nghĩ làm tội ác như anh vậy, v́ thế mới đem vàng vứt bỏ đi. Nhưng bây giờ hai anh em ta an ổn rồi!Vừa nói, hai anh em vừa khoác tay nhau, vai sánh vai tiến bước, mắt nh́n lên bầu trời thăm thẳm bao lạ Tâm họ nhẹ nh àng và an vui như áng mây trắng bềnh bồng trong khoảng thiên không mênh mông ấy.Vàng bạc có khác nào con rắn độc, chỉ khi nào biết rơ vàng bạc là ǵ mới có thể bảo vệ được nhân tính của ḿnh.Trong một ngôi làng ở ngoài thành Xá Vệ, có khoảng chừng sáu, bẩy chục ngôi nhà tụ lại, trong số ấy có nhà một cặp vợ chồng rất nghèo khổ, người chồng phải đi làm thuê cho người khác kiếm ăn.Sau đó người vợ sinh đôi được hai đứa bé trai, tướng mạo đoan chính không ai b́ kịp. Hai vợ chồng thương yêu hai đứa bé vô cùng, đặt tên cho một đứa là Song Đức, đứa kia l à Song Phước.Một hôm, người chồng đi chăn trâu chưa về c̣n người vợ th́ lên núi nhặt củi khô, để hai đứa bé nằm trên giường. Hai đứa bé ở nhà một ḿnh, cùng nhau than vắn thở dài, một đứa nói:- Phải chi lúc đầu thời c̣n tu hành ḿnh đừng phát những ư tưởng ngu si, mà cho rằng đời sống có thể kéo dài, th́ có phải bây giờ khỏi bị đọa vào con đường sinh tử luân hồi không! Huynh coi, sinh trong cái gia đ́nh nghèo hèn như thế này, ngủ th́ ngủ trong rơm rạ, ăn th́ ăn rau cải thô thiển, chỉ có thể miễn cưỡng giữ thân mạng, không biết sau này làm sao mà sống qua ngày đây? Đứa kia nói: - Hồi trước lầm lỡ có một chút, không chịu tinh tấn tu hành, hôm nay mới gặp khổ nạn, đó là tự ḿnh bê trễ th́ tự ḿnh chịu lấy. Bây giờ chỉ c̣n biết ngậm bồ ḥn làm ngọt, chứ c̣n ǵ để nói năng nữa?Hai đứa bé đang cùng nhau tâm sự nói ra những phiền năo trong ḷng th́ cha mẹ chúng về tới và nghe thấy hết. Hai đứa bé mới sinh sắp đầy tháng mà đă biết nói chuyện làm cho họ sửng sốt, nghi rằng đây là quỷ quái sinh vào nhà họ, nên bàn với nhau là nên đem hai đứa bé ấy giết đi. Người cha lập tức ra ngoài đi nhặt củi, người mẹ b èn hỏi: "Ông tính làm ǵ vậy?" Chồng bà trả lời:- Tôi muốn đem chúng đi thiêu để dứt tuyệt hậu hoạn!Người vợ nghe thế trong ḷng sầu muộn, t́m đủ cách ngăn chận chồng lại. Ngày hôm sau, hai vợ chồng cùng đi ra ngoài, Song Đức và Song Phước lại thở than vói nhau như hôm trước. Thấy thế hai vợ chồng bèn quyết tâm trừ khử chúng đi, nên cùng mang củi về nhà chất thành một đống, sửa soạn ném con vào lửa để không bị phiền n ăo về sau.Đức Phật có thiên nhăn nên biết được việc này, bèn hiện thân trong làng, hào quang chiếu cả ngàn dặm, núi, sông, cây, rừng, tất cả đều phủ lên ánh sáng hoàng kim. Đức Phật đến trước nhà hai đứa bé sinh đôi, đứa bé thấy hào quang của Ngài, bèn quơ tay múa chân tỏ vẻ hết sức mừng rỡ. Cha mẹ chúng thấy thế rất đỗi kinh ngạc, mỗi người ôm một đứa bé đến trước Đức Phật thỉnh ư:- Thế Tôn! Hai đứa bé này sinh ra chưa đầy tháng mà đă biết mở miệng nói chuyện, thật là không sao hiểu nổi! Thế Tôn! Chúng con phải làm sao với chúng nó đây? Xin Ng ài từ bi chỉ dạy cho chúng con!Đức Phật thấy hai đứa bé tỏ lộ sự hân hoan không cùng của ḿnh khi thấy được kim dung của Ngài th́ mỉm cười, miệng phóng ra ánh sáng 5 mầu mà nói: - Hai đứa bé này không phải là yêu quái đầu thai, mà là hai đứa bé rất có phước đức.Và Đức Phật kể cho họ nghe nhân duy ên quá khứ như sau:- Lúc Đức Phật Ca Diếp c̣n tại thế, th́ hai đứa bé này đă là sa môn. Hai đứa bé lúc nhỏ đă chơi thân với nhau, tâm đầu ư hợp nên cùng nhau xuất gia học đạo.Hai người tu hành rất chuyên cần tinh tiến, th́ ngay cái sát na sắp chứng đạo, đột nhiên tà kiến khởi dậy, v́ thế mà bị đọa lạc không thể giải thoát được. Họ trầm luân trong bể khổ sanh tử thật lâu, đời nào kiếp nào cũng sinh ra làm anh em sinh đôi. Sinh ra lần này, do bởi đă từng cúng dường Như Lai và nghiệp tội cũng vừa hết, nên phải được độ hóa. Hôm nay ta đặc biệt đến đây để độ hai người n ày.Hai vợ chồng nghe lai lịch hai đứa bé xong, mừng rỡ vô hạn, tự nguyện sẽ hết ḷng nuôi dạy chúng cho đến lớn khôn.Đức Phật đến cứu hai đứa bé này là v́ chúng đă từng có quan hệ phúc đức với Ngài. V́ thế, dầu tu không chứng quả được trong một đời, nhưng phúc đức của người tu hành không hề mất, tai ương sẽ tự nhiên biến thành cát tường.Có một lần Đức Phật đi dạo ở thành La Duyệt. Trời đương độ mùa xuân, cảnh xuân tươi đẹp, thời tiết lư tưởng. Đức Phật thong thả từ thành trong đi ṿng ra thành ngoài, nh́n cảnh sông nước tươi tốt, đồng cỏ mơn mởn xanh, ngài thấy trong ḷng thơ thới, an nhiên. Bỗng dưng từ xa vọng lại tiếng ca, tiếng ca sao mà ai oán, sao mà bi thảm đến thế! Lúc ấy, Đức Phật yên tịnh ngồi bên bờ suối.Không lâu sau, một đoàn người đủ cả già trẻ nam nữ, trong tay ôm một bó hoa tươi, im lặng tiến đến gần.Từ xa, họ đă thấy Đức Phật uy nghi, tướng hảo, như mặt trời mọc buổi b́nh ḿnh, như trăng sáng giữa bầu trời đầy sao, c̣n có rất đông các vị đệ tử bồ tát vây quanh trước sau, trong ḷng họ, ai nấy đều cảm thấy như ḿnh bắt được một kho tàng quư báu, nên không ai bảo ai, như ong vỡ tổ, họ chạy đến trước mặt Đức Phật, đảnh lễ Ng ài và nói:- Thế Tôn! Chúng con thấy Ngài tướng hảo trang nghiêm, biết ngay Ngài chính là Đức Phật tối tôn, chỉ có Ngài mới là bậc cứu thế chân chính mà thôi. Chúng con phụng mệnh quốc vương, mỗi ngày phải ra ngoài thành hái hoa để chưng bày trong vương cung, ngày nào không hái được hoa th́ sinh mệnh chúng con khó có thể bảo toàn, chúng con sẽ bị chịu khổ h́nh roi vọt trút trên đầu trên cổ không thương xót. Hôm nay chúng con có may mắn lớn gặp được Ngài là bậc Đại Thánh, giống như người bệnh được thuốc, thật không ai có thể h́nh dung được niềm vui mừng của chúng con. Thỉnh Thế Tôn tiếp nhận những bó hoa tươi chúng con xin cúng dường.Đức Phật mỉm cười, xót thương họ mà nói: - Không nên làm như thế. Các người phụng mệnh nhà vua mà hái hoa, nếu đem hoa tặng ta th́ các người sẽ chịu sự trừng phạt của nhà vua, làm sao ta có thể nhẫn tâm lấy hoa của các người!- Thế Tôn! Xin Ngài quan sát rơ tâm của chúng con. Được gặp Phật xuất thế là chuyện ức kiếp khó mà có được. Chúng con thà xả bỏ cái thân mệnh ngắn ngủi đau khổ, đem hoa cúng đường Phật gieo trồng nhân duyên thiện lành và thoát khỏi cái thân phận đớn đau này.- Nếu quả thật các người bị nhà vua xử phạt th́ các người sẽ phải làm thế nào? - Thế Tôn! Chúng con quyết không ân hận v́ dù cho có bị sát hại đi chăng nữa, th́ nhờ nương vào công đức của Phật, chắc chắn sẽ không rơi vào nẻo ác, cuối cùng cũng sẽ sinh vào chỗ tốt đẹp an vui.Người nào biết rơ rằng sống là khổ đau mới phát tâm muốn giải thoát một cách chân thật. Đức Phật mỉm cười, im lặng gật đầu. Những người ấy bèn lấy hoa rải lên thân Phật và chúng đệ tử Bồ Tát xung quanh Ng ài. Không trung lập tức ngát lên hương thơm ngào ngạt.Những người hái hoa thấy tôn nhan của đức Phật lộ vẻ hoan hỉ, họ bèn nhảy nhót vui mừng và xin thọ tam quy ngũ giới.Sau đó, Đức Phật c̣n thuyết pháp Đại thừa Lục độ cho họ nghe. Những người hái hoa này đều phát tâm đạo vô thượng, hiểu rơ sâu xa ư nghĩa Phật pháp, đắc được vị bất thối chuyển.Đức Phật hoan hỉ thọ kư cho họ: - Các người sau này sẽ thành Phật, đều có tên là Diệu Hoa.Những người háo hoa đảnh lễ Đức Phật xong, vui vẻ lui đi.Cúng dường Phật bằng tâm chân thành, dù chỉ một đóa hoa cũng được Phật thọ kư, Phật pháp quả thật là không thể nghĩ bàn!
Lúc Đức Phật c̣n tại thế, chư tăng phải ôm bát đến nhà của tín chúng mà khất thực món ăn thức uống của ḿnh, v́ theo quy tắc của tăng đoàn Ấn Độ lúc bấy giờ, chư tăng không được nhóm lửa nấu ăn.Có một hôm, Đức Phật đưa chúng đệ tử ôm bát vào thành, đến trước cửa nhà vợ chồng người Bà La môn nọ, Ngài đứng yên bất động. Đúng lúc ấy, trong nhà, người vợ đang nấu bếp, bỗng nhiên thấy bốn phía ánh sáng rực ngời, mà ánh sáng này không giống với ánh sáng mặt trời hay mặt trăng, v́ chiếu tới thân th́ tự nhiên có cảm giác êm ả, khoẻ khoắn. Ngựi đàn bà quay đầu lại nh́n mới biết là Đức Phật và chư đệ tử đang đứng trước cửa nhà ḿnh. Bà thấy tướng hảo trang nghiêm của Đức Phật cùng dáng điệu uy nghi của chư tỳ kheo, tức thời sinh ḷng hoan hỉ tôn kính, muốn đem nồi cơm mới nấu dâng lên các Ngài nhưng chợt nhớ lại người chồng ngu muội không tin Phật, nếu ông này thấy bà cúng dường Như Lai th́ chắc chắn sẽ không vui.Bà cảm thấy buồn rầu, ân hận nghiệp chướng ḿnh đă tạo nên khiến kiếp này sinh làm thân đàn bà, đâu đâu cũng bị người khác chỉ huy điều khiển, không tự do, không tự sinh sống được.Khi buồn than như thế ḷng tin và dũng khí của con người thường tăng trưởng lên. V́ thế ḷng tin của người đàn bà Bà La Môn nọ đối với Đức Phật càng thêm kiên cố. Bà nghĩ ra một cách, bèn lấy chén đựng cơm ra chắt lấy nước, và đem một th́a nước chắt cơm ấy lên cúng dường Phật. Đức Phật hoan hỉ đón lấy v à nói kệ rằng:Đem trăm voi trắng Cúng dường Như Lai Một th́a nước chắt. Lúc ấy người chồng Bà La Môn từ trong nhà bước ra, thấy nghe mọi sự, lấy làm quái lạ bèn hỏi Đức Phật rằng: - Một th́a nước cơm chắt ấy th́ trị giá được bao nhiêu, có cái ǵ quư báu đâu? Ông nói như thế tức là khi dối người ta, làm sao bảo người ta tin ông được? Đức Phật ḥa nhă đáp: - Ta từ lâu xa đến nay tu lục độ chưa lúc nào ngừng, nên điều ǵ ta làm hay nói ra đều là chân thật, không hư dối, ông nên tin ta là Phật, đă chứng thánh quả.Đức Phật ngừng một lúc rồi nói tiếp: - Tại đường La Duyệt trong thành Xá Vệ, ông đă từng thấy cây Ni Câu Đà cao hơn mười trượng chưa?- Tôi biết, đó là một ngọn cây rất lớn, mùa hè là nơi duy nhất mà người ta có thế tới trốn nắng.Đức Phật lại hỏi: - Ông đă biết ngọn cây ấy lớn tới đâu, bây giờ ta hỏi ông, lúc ban đầu hạt mầm gieo xuống to cỡ chừng nào?- To chừng một hạt giới tử thôi. Người Bà La Môn trả lời không cần suy nghĩ. - Hạt mầm chỉ to chừng một hạt giới tử, mà có thể mọc thành một ngọn cây đa che nửa bầu trời, ông có thể nói đó là một điều kỳ dị hay không? Không có ǵ kỳ dị trong ấy cả, đó là định luật tự nhiên, là luật tuần hoàn nhân quả. Hôm nay, hai vợ chồng ông đem th́a nước chắt cơm ra bố thí th́ kết quả thu hoạch được ở tương lai không phải là không tính lường được hay sao? Huống chi ta là ruộng phước lớn của công đức vô thượng, có đủ pháp bảo thù thắng. Các người cung kính cúng dường Phật, th́ phước báu trong tương lai không có hạn lượng.Đức Phật thuyết lời thành thật ấy khiến hai vợ chồng Bà La Môn hết sức sùng kính khâm phục, từ đó hai người rất nhiệt thành trong việc thiết trai cúng dường. Khi kết liễu mạng sống, họ được sinh lên cơi trời, hưởng phúc lạc lâu dài của cơi ấy. Không nhất thiết phải giàu có mới bố thí được, v́ trong Phật giáo, không phải chỉ có đem tiền tài ra cho mới gọi là bố thí. Nếu bạn thấy một người thực hành bố thí mà trong tâm không sinh ḷng ganh ghét, sân hận mà trái lại sinh tâm hoan hỉ, th́ công đức của bạn cùng với công đức của người bố thí kia ngang nhau. Điều thiện ấy thật quá dễ làm, sao chúng ta lại không chịu làm?Đức Phật nói với mọi người rằng: - Hai vợ chồng Bà La Môn bố thí một th́a nước cơm chắt ấy không những hiện tại sinh cơi trời hưởng phúc, mà vĩnh viễn sẽ không đọa ác đạo nữa. Rồi sau 30 kiếp, họ sẽ giáng sinh xuống nhân thế và sẽ thành Phật giữa loài người.
|
|
|