Chùa Hải-Đức in Jacksonville

[Home] [Up] [Điểm Sách] [Sutras] [Dharma Talks] [GĐPT] [Sinh Hoạt] [Our Activities] [Kinh] [Pháp Thoại audio mp3] [Tin Tức Phật Giáo] [Thuyết Pháp] [Thơ Văn] [Ngoại Điển] [Phật Học] [Tụng Kinh] [Nghi Lễ - Rituals]

 

Truyện  Tích  Phật  Giáo

Tác giả: Phật Giáo Cố Sự Đại Toàn

Dịch giả: Diệu Hạnh & Giao Trinh

21 - 30

 

21- Cô gái lọ lem

Ngày xưa ở Ấn Độ có một quả núi tên là Trú Ám, trên núi, có những gốc cổ thọ vươn lên tới trời, có kỳ hoa dị thảo, bóng người lại thưa thớt, thật là một khung cảnh lư tưởng cho việc tu hành.

Từ xưa đă có rất nhiều vị tu đạo lên núi Trú Ám tịch tĩnh này để tu luyện nên chẳng bao lâu núi đă trở thành một đạo tràng thánh thiện và thanh khiết, được muôn người ngưỡng mộ t́m tới, nhất là người từ xa xôi đến thiết trai cúng dường cầu phước th́ lại d́u dập không ngớt lai văng.

Một hôm có một vị trưởng giả chuẩn bị thật nhiều cao lương mỹ vị và đưa người nhà lên núi để cúng dường chư tỳ kheo. Trên đường, có một cô gái ăn xin vừa tṛn 18 tuổi trông thấy được, cô không khỏi nghĩ rằng "Hôm nay trưởng giả đem nhiều thức ăn như thế để cúng dường các sư phụ xuất gia, nếu ta đi theo xin ăn, thế nào lại chẳng được muột bữa cơm no nê thỏa thích, mấy bữa nay đă không có ǵ vào bụng..." Nghĩ thế xong, cô vui tươi tung tăng chạy lên núi. Nhưng khi cô lên đến núi, thấy trưởng giả bày ra những thức ăn trân quư ngon lành th́ cảm xúc mà nghĩ rằng:

- Kiếp trước trưởng giả đă tu phúc nên kiếp này được quả báo giàu sang phú quư, bây giờ lại có thiện tâm như thế, lập đàn trai cúng dường chư tăng, tạo nhiều công đức, phúc báo kiếp sau chắc chắn sẽ c̣n to lớn hơn kiếp này nhiều!

C̣n ta sao mà đáng thương! Kiếp trước không biết tu phúc nên kiếp này nghèo khổ, nếu bây giờ lại cũng không biết tu phúc, th́ kiếp sau sẽ c̣n nghèo khổ biết bao nhiêu! Mấy bữa trước bươi đống rác lượm được hai đồng tiền, tại sao hôm nay lại không đem hai đồng ấy lên cúng dường cho các sư phụ xuất gia? Dầu với hai đồng ấy ta có thể mua được hai cái bánh để ăn, nhưng nếu đem cúng quư thầy chắc cũng không đến nỗi chết đói !

Nghĩ xong, chờ các vị tỳ kheo dùng bữa xong xuôi, với cái tâm cực kỳ cung kính, cô hai tay nâng hai đồng tiền lên hiến tặng các ngài. Theo tục lệ của núi ấy, khi có người đến cúng dường th́ vị thầy tri khách sẽ ra chúc phúc cho thí chủ. Nhưng hôm ấy, chính đại hoà thượng trụ tŕ thân hành ra chúc phúc cho cô gái nghèo khổ nọ:

- Trong tâm cô bé này, có bao nhiêu bảo vật trên thế gian cô đều đă đem ra cúng dường cho người xuất gia. Con bố thí là v́ muốn tu phúc, nên nay ta chúc con vĩnh viễn không c̣n nghèo khổ bần cùng nữa.

Cô gái nghèo nghe ḥa thượng trụ tŕ chúc phúc như vậy, ḷng cảm thấy rất vui mừng và an ổn, chưa kể cô c̣n được đại chúng cho ăn một bữa cơm. Lúc ấy cô thật sự đắc được pháp lạc vô thượng.

Ăn no rồi, cô rời khỏi cổng núi không lâu th́ ngồi xuống một gốc cây lớn nghỉ ngơi. Lúc ấy, mặt trời từ từ hướng về phía tây mà bóng mát của cây ấy không hề chuyển động, và bên trên c̣n có đám mây ngũ sắc che phủ nữa, thật là một hiện tượng vô cùng lạ lùng!

Cũng chính ngay lúc ấy, vua của quốc gia nọ nhân v́ hoàng hậu mới qua đời nên tâm tư buồn bă không nguôi, ông bèn lên xa giá đi dạo một ṿng sơn thủy cho khuây khoả. Trên đường đi, lại đi ngang gốc cây cô gái nghèo đang nghỉ ngơi. Vua nh́n thấy cô gái đang ngủ dưới đám mây ngũ sắc, giật ḿnh ngỡ rằng là tiên nữ cơi trời, lẩm bẩm tự bảo:

- Thiếu nữ này là tiên hạ phàm, thân h́nh sao mà kiều diễm, khuôn mặt sao mà tuyệt vời, ai thấy mà không thương!

Thế rồi bèn hạ lệnh:

- Các ngươi hăy bồng nàng lên xe cho ta!

Cô gái nghèo giật ḿnh thức giấc, ngơ ngác mở to đôi mắt, thấy hai bên có đàn ông đang vực ḿnh lên th́ kinh hoàng la thất thanh:

- Ôi! Các ông là ai? Có chuyện ǵ vậy?

- Cô đừng sợ! Chúng tôi không có ư hại cô, chính đại vương muốn đưa cô về hoàng cung đấy thôi!

Cô gái được đỡ lên xe rồi, nhà vua ngồi xuống cạnh nàng và dịu dàng hỏi:

- Năm nay nàng được bao nhiêu tuổi rồi?

- Mười tám tuổi.

- Nàng xinh đẹp và dễ thương quá, ta rất thích nàng, ta muốn đưa nàng về cung làm đệ nhất phu nhân, chẳng hay nàng có bằng ḷng không?

Cô gái nghèo liếc nh́n nhà vua rồi e thẹn cúi đầu mỉm cười. Cô như bị mê hoặc, không dám tin ḿnh lại may mắn dường ấy. Một cô gái nghèo ăn xin, làm sao mà một bước trở nên một vị đệ nhất phu nhân của cả một nước? Cô suy nghĩ như thế nên đờ đẫn cả người.

- Sao? Nàng không bằng ḷng ư? Tại sao không nói một lời nào?

- Đại vương! Thiếp không biết ḿnh đang mơ hay tỉnh.

- Nàng không mơ đâu, đây là sự thật.

Về tới hoàng cung, nhà vua lập tức hiệu triệu toàn dân, giới thiệu cho họ đệ nhất phu nhân mới.

Khi nàng được lên làm đệ nhất phu nhân rồi, th́ cơm no áo ấm, cuộc sống vô cùng sung sướng. Nhưng trong tâm tư nàng không ngớt suy nghĩ:

- Nếu hôm nay ta được may mắn như thế này là nhờ lúc trước có cúng dường hai đồng bạc. Như vậy quư sư phụ trên núi không phải là đại ân nhân của ta sao?

Nghĩ thế xong nàng bèn thưa với vua rằng:

- Đại vương! Thiếp vốn là một cô gái con nhà hạ tiện, nay được đại vương đoái tưởng cho làm đệ nhất phu nhân, cố nhiên ân huệ ấy thiếp cảm tạ không cùng. Nhưng thiếp cũng muốn cảm tạ các vị xuất gia trên núi đă nhận hai đồng tiền của thiếp, thiếp muốn đem vài thứ lên cúng dường các ngài để tỏ ḷng biết ơn, chẳng hay đại vương thấy thế nào?

- Tốt lắm, nàng muốn ǵ th́ cứ làm, tùy ư.

Hoàng hậu bèn cho chuẩn bị thật nhiều trân bảo và cao lương mỹ vị, phải dùng tới mấy chiếc xe chở lên núi Trú Ám cúng dường.

Cúng dường xong, đến giờ chúc phúc, th́ vị đại hoà thượng trụ tŕ ngày nào, hôm nay không hề xuất hiện, lại cử vị thầy tri khách thế ngài ra chúc phúc. Hoàng hậu thấy thế không khỏi lấy làm lạ:

- Xưa kia tôi chỉ cúng dường có hai đồng tiền, mà ḥa thượng trụ tŕ đích thân ra chúc phúc cho tôi. Hôm nay tôi đem bao nhiêu là thức ăn và trân bảo đến cúng dường, mà tại sao ḥa thượng không ra chúc phúc cho tôi?

Tất cả mọi người ai cũng thắc mắc điều ấy. Hoà thượng trụ tŕ biết được mối nghi vấn của đại chúng nên mới triệu tập mọi người lại mà dạy rằng:

- Xưa kia, cô ấy chỉ cúng có hai đồng tiền, vật cúng tuy ít ỏi nhưng cô cúng với cả một cái tâm kính cẩn chân thành. Đó là điều cao quư cùng tột. Nay cô đến với hằng mấy chiếc xe chở đầy cao lương mỹ vị và bảo vật quư giá, nhưng cô lại cúng dường với cái tâm ngă mạn. Phật Pháp không trọng vật chất mà chỉ trọng sự phát tâm, v́ thế lần này ta không đích thân ra chúc phúc cho cộ Qúy vị hăy hiểu cho rơ việc cúng dường trong Phật Pháp.

Hoàng hậu và chúng tỳ kheo nghe hoà thượng trụ tŕ nói như thế rồi, th́ ḷng cảm thấy vừa tàm quư nhưng lại vừa rất vui mừng, lúc bấy giờ họ mới hiểu rơ ràng thế nào là ư nghĩa chân chính của sự cúng dường hay bố thí.

 

22- Có làm có chịu

Lúc Đức Thích Ca Mâu Ni trụ tại thành Vương Xá, một hôm có một người lái buôn tên gọi là Phất Ca Sa muốn đi mua hàng hóa, nên sáng sớm đi đến thành La Việt, nhưng vừa tới cổng thành th́ đă bị một con trâu húc chết.

Chủ con trâu thấy thế, sợ nếu giữ con trâu hung ác này lại th́ về sau thế nào cũng sẽ xẩy ra chuyện không lành, nên bèn đem con trâu đi bán với một giá rẻ mạt.

Người chủ mới mua trâu xong bèn dắt trâu về nhà. Đi được nửa đường gặp một con sông, ông muốn cho trâu uống nước. Không ngờ không những trâu không uống nước, mà bản tính hung bạo dữ dằn của nó th́nh ĺnh nổi dậy, nó dùng sừng húc người này chết tươi.

Người nhà của nạn nhân thấy thế mới nổi giận đem con trâu ra giết, rồi đem thịt ra chợ bán. Có một người nông phu tham giá rẻ, mua đầu trâu về, lấy dây cột sừng trâu lại rồi xách về nhà.

Ấn Độ là một nước nhiệt đới, vô cùng nóng bức. Người nông phu đi được một đoạn đường th́ vừa nóng vừa khát, bèn treo đầu con trâu lên một cành cây rồi ngồi dưới gốc cây này nghỉ ngơi.

Quái lạ thay, sợi dây cột đầu con trâu mắc lên cành cây bỗng dưng vô cớ đứt đoạn, khiến đầu con trâu rơi xuống, trúng ngay đầu người nông phu khiến ông này bị trọng thương mà chết ngay tại chỗ.

Chỉ trong ṿng một ngày mà con trâu này đă giết chết hết ba người.

Vua Tần Bà Sa La nghe tin này rất lấy làm lạ, biết rằng bên trong phải có nguyên do ǵ đây. Ông bèn dẫn một số đại thần, đem hoa quả hương đèn tới núi Linh Thứu lễ Phật rồi thỉnh Ngài thuyết giải cho nghe.

Đức Phật kể cho vua Tần Bà Sa La nghe rằng:

- Hồi xưa có ba người lái buôn đi qua nước láng giềng làm ăn mua bán. Họ muốn để dành tiền nên chiều hôm ấy, thay v́ đi t́m khách sạn, th́ lại ghé đến nhà một bà lăo xin mướn một căn pḥng. Hai bên thỏa thuận giá cả xong, họ Ở lại nhà bà lăo ngủ qua đêm ấy. Sáng hôm sau, bà lăo có việc phải đi ra ngoài, ba người thừa cơ hội bà vắng mặt lẻn trốn đi mất.

Về tới nhà thấy thế, bà lăo tức giận vô cùng, đuổi theo họ đ̣i tiền. Ba người phải gánh vác hành lư nặng nề nên đi chưa được xa đă bị bà lăo bắt kịp. Họ thấy bà lăo già cả, dễ ức hiếp, nên nặng lời nhục mạ chưởi mắng bà. Bà lăo không làm ǵ được họ, phẫn uất mà nói:

- Mấy người chỉ là một phường vô lại, thấy tôi già cả nên mới ức hiếp nhục mạ tôi. Nhưng hành động này của mấy người thế nào cũng có ngày trả báo. Kiếp này tôi không làm ǵ mấy người được, nhưng kiếp sau, dầu tôi có sinh ra làm người hay dầu có mất thân người đi nữa, tôi cũng quyết sẽ báo thù. Tôi sẽ giết hết cả ba người, có thế mới hả được niềm căm hận này.

Đức Phật thuyết câu chuyện nhân duyên ấy quả báo xong, Ngài nói tiếp:

- Con trâu hung ác chỉ nội trong một ngày mà giết hại hết ba mạng người chính là bà lăo tái sinh. Ba người lái buôn đă khinh miệt bà lăo trong kiếp xưa, kiếp này đă lần lượt bị trâu húc chết trong ṿng một ngày.

Tội phúc như chiếc bóng đi theo mỗi người, nếu ḿnh khinh miệt người khác mà làm việc trái với lương tâm, th́ cũng chỉ có ḿnh tự chịu lấy quả báo đau khổ về sau mà thôi!

23- Con chim gõ kiến

Trong một khu rừng nọ, có một con chim gơ kiến thực hành từ bi tâm và Bồ Tát đạo.

Con chim gơ kiến này khác với mấy con chim khác, bẩm sinh nó thông minh sáng láng, lại lông cánh tuyệt đẹp. Khi nó bay, trông nó uy nghi trang trọng, thật là vua của loài chim rừng!

Trong rừng có những thân cây bị mọt ăn thủng lỗ, th́ loài chim gơ kiến hay đi t́m bắt sâu mọt trong những lỗ thủng ấy ăn để mà sống. Nhưng con chim gơ kiến này nhân từ quá nên chỉ ăn các mầm chồi non mềm hay uống nước các thứ trái cây, chứ không nỡ mổ những con mọt nhỏ bé kia để mà nuôi thân. Đồng thời, nó cũng mà một vị y sĩ rất thông minh, nó có thể trị bệnh cho loài chim và cho cả loài thú đi trên mặt đất nữa.

Có một lần, chim gơ kiến bay qua cánh rừng, gặp một con sử tử nằm dài bên vệ đường, lớn tiếng kêu rống, rên rỉ đau đớn. Chim gơ kiến ngừng xuống hỏi:

- Hỡi vua của loài thú! Ai làm cho bạn đau đớn như thế? Có phải là bị tên của thợ săn bắn trúng? Hay mắc phải một chứng bệnh nguy ngập? Hay là mới gây hấn với loài voi? Hay tại đói quá nên đau đớn? Xin bạn hăy nói cho tôi biết, không chừng tôi có thể giúp bạn được!

- Hỡi vua của loài chim! Tôi không phải bệnh, cũng không phải gây hấn với voi, mà chỉ tại tôi mắc xương ngang cổ họng. Cái đau đớn cùng cực này, so với cái đau bị trúng tên cũng không thấm ǵ. Nó làm cho tôi không nuốt vào được, nhổ ra cũng không được, nếu bạn có thể giúp tôi th́ xin bạn hăy ra tay làm phúc!

- Tôi có thể giúp bạn, miễn là bạn nghe lời tôi dặn bảo.

Sư tử gật đầu ưng thuận, chim gơ kiến bèn đi t́m một cành cây thật chắc chắn, bảo sử tử há miệng thật to, to đến mức không há nổi nữa mới thôi, rồi mới kê nhánh cây vào miệng sử tử. Xong đâu đó, chim mới bay vào miệng sư tử, khôn khéo làm cho hai đầu miếng xương nông ra một chút, rồi dùng hết sức lực ngậm xương trong mỏ kéo ra. Sau đó, nó từ từ xê dịch khúc cây ra khỏi miệng sư tử. Con chim gơ kiến hoàn thành sứ mạng trong ḷng rất khoan khoái, lúc ấy mới cáo biệt sư tử mà bay đi.

Sư tử không c̣n đau đớn nữa, trong ḷng cũng rất cảm khái, tạ Ơn chim gơ kiến rồi cũng từ biệt mà quay về.

Một thời gian sau, chim gơ kiến kiếm không thấy thức ăn được nữa v́ mấy ngày trước đó trời hạn hán, không có lấy một giọt mưa, chồi cây và hoa quả cháy sém khô cằn, chim gơ kiến kia đói quá ngày một tiêu ṃn, chỉ mấy ngày nữa nếu cứ thế này măi th́ chắc là chết đói mất!

Toàn thân ră rời, nó mệt mỏi t́m kiếm cái ǵ ăn th́ đột nhiên thấy dưới một gốc cây to, con sư tử mới cứu hôm nọ, đang mải miết ăn một con cừu béo mập săn được. Nó ngấu nghiến nhai nhai nuốt nuốt, không màng tới bất cứ chuyện ǵ khác.

Con chim gơ kiến bay xuống, khép nép đứng bên cạnh sư tử, nh́n nó bằng cặp mắt cầu khẩn như xin ăn mà không mở miệng nói một lời nào. Nhưng con sư tử vô t́nh vẫn nhồm nhoàm nhai nuốt miếng thịt cừu của ḿnh, không thèm ngó ngàng ǵ tới con chim gơ kiến, giả vờ như không thấy.

- Chắc anh chàng này không nhận ra ḿnh.

Chim gơ kiến nghĩ như thế, mới bèn tiến tới gần con sử tử, cầu cứu một cách khiêm tốn:

- Hôm nay tôi đến gặp bạn như một kẻ ăn mày, xin bạn cho tôi một chút ǵ ăn, tôi đói quá rồi bạn ạ. Nếu bạn thuận ḷng thí xả một chút thức ăn cho một kẻ sắp chết đói, th́ công đức của bạn rất lớn!

Con sư tử hung dữ gầm lên:

- Mi to gan thật, trong lúc ta đang dùng bữa th́ mi táo bạo dám đến gần, ư mi muốn hiến thân làm thức ăn cho ta phải không? Cái lúc mi bay vào miệng ta lấy miếng xương ra khỏi họng, là do v́ ta cho phép mi làm, chẳng có ǵ đáng kể công hết! Ta không có ḷng nhân từ, mi có cút đi không!

Con chim gơ kiến không nói không rằng, lặng lẽ ôm nỗi thất vọng trong ḷng, sửa soạn bay đi.

Thần cây thấy con sư tử vong ân bội nghĩa như thế, trong ḷng hết sức bất b́nh, bèn hỏi chim gơ kiến:

- Tại sao bạn không mắng cho vào mặt của cái phường vong ân ấy? Không lẽ bạn không đủ sức đối phó với hắn hay sao? Bạn là ân nhân của hắn mà hắn lại đối xử vói bạn một cách hung dữ như thế, tại sao bạn không tới mổ vào hai con mắt của hắn, mà lại chấp nhận cho hắn tàn nhẫn ngược đăi bạn?

- Đừng nhắc tới hắn nữa. Xử phạt con sử tử vong ân bạc nghĩa ấy không phải là việc của tôi. Trong tương lai, hắn sẽ tự nhiên lănh lấy hậu quả của sự vong ân bạc nghĩa ấy. Nếu có một ngày nào đó gặp nạn, sẽ không ai đến cứu hắn nữa. Nhưng tôi không bao giờ ân hận đă thi ân cho hắn. Nếu như tôi nghĩ đến sự báo đáp rồi mới thi ân, th́ đó là một việc mua bán vay trả, chứ không phải là một hành động đạo đức cao cả.

Thần cây nghe chim gơ kiến nói như thế, cảm động mà khen ngợi rằng:

- Bạn thật là một người nhân từ, đạo đức cao thượng. Bạn không giống như một con chim, mà lại giống một con người khoác lên một bộ lông cánh tuyệt đẹp. Trí huệ phúc đức của bạn sẽ vĩnh viễn không bao giờ thiếu sót!

Thần cây tán thán xong cáo biệt mà đi. Con chim gơ kiến cũng rời bỏ con sử tử vong ân bạc nghĩa. Một vài ngày sau, con sư tử bị thợ săn bắn chết.

Không bao lâu, trời rưới xuống một trận mưa pháp cam lồ, làm cho khắp mặt trái đất được tưới nhuần tươi tốt, hoa nở, lá non, và con chim gơ kiến nhân từ kia được cả trái đất ca tụng và khen ngợi.

24- Con chó biến thành bà Hoàng

Thời Phật pháp thịnh hành ở trung Ấn Độ, trong một toà thành nọ, có một vị đệ tử tại gia của Đức Phật phát tâm cúng dường một vị tỳ kheo, đi t́m hỏi khắp nơi mới t́m được một vị tỳ kheo đă chứng quả A La Hán, bèn thỉnh vị này mỗi ngày đến nhà ḿnh để nhận cúng dường.

Trong nhà vị cư sĩ nói trên có nuôi một con chó, khi vị tỳ kheo dùng cơm, th́ con chó ngồi xổm bên cạnh bàn. Vị tỳ kheo thuận tay nắm một viên cơm cho con chó ăn. Con chó được ăn, nên có rất nhiều thiện cảm với vị tỳ kheo.

Vị tỳ kheo mỗi ngày đến ăn cơm, th́ con chó cũng mỗi ngày được ngài cho ăn. Con chó nhớ tưởng đến vị tỳ kheo, vị tỳ kheo cũng biết được tâm niệm của con chó nên cứ tới giờ là cho nó một nắm cơm. Do đó con chó càng có thêm thiện cảm đối với vị tỳ kheo.

Cứ thế trong suốt một năm trời, con chó tới số chết, đầu thai trong hoàng cung của vua nước An Tức làm công chúa. Sinh ra, cô đă biết kiếp trước của ḿnh, lúc c̣n làm chó trong nhà một vị cư sĩ và ngày ngày chia cơm với vị tỳ kheo, sự việc ra sao cô đều nhớ rơ ràng. Một hôm, vua nước Nguyệt Đê phái Sử Tiết đến nước An Tức. Vua nước An Tức thấy Sử Tiết là người hiền lại có tài, và c̣n rất thông minh nên bèn gả công chúa cho Sử Tiết, bảo đưa công chúa về nước Nguyệt Đê.

Công chúa theo chồng về nước Nguyệt Đê, mỗi lần gặp một vị tỳ kheo xuất gia là trong ḷng cô rất vui mừng. Cô hồi tưởng lại lúc trước đội lốt con chó, v́ được một vị tỳ kheo cho ăn cơm, có thiện cảm đối với ngài, kiếp này mới có được thân người. Để tỏ ḷng tri ân báo ân, cô nghĩ tốt nhất là nên lập đàn trai thật lớn để cúng dường tăng chúng.

Phật pháp tại nước Nguyệt Đê rất hưng thịnh, tỳ kheo xuất gia rất đông. Mỗi ngày công chúa đem thức ăn đến cúng dường cho từ 400 đến 500 vị, tất cả đều một tay cô lo liệu, tuyệt đối không mượn tay khác nào làm. Lo việc cúng dường hoàn tất rồi, cũng chính tay cô lo việc chùi rửa dọn dẹp. Người hầu, nô tỳ trong nhà đều một ḷng tán thán cô, và phong cho cô tước hiệu "vương thí":

- Công chúa tới chỗ này mà c̣n mỗi ngày tự tay lau chùi sạch sẽ th́ chúng ta cũng nên gia công nỗ lực!

Sau đó, bọn nô tỳ lén dấu chổi đi, nghĩ rằng họ sẽ tự lo việc chùi rửa, không nên để công chúa làm những việc như thế nữa. Công chúa đ̣i lại chổi măi không được, bèn lấy từ trong rương một chiếc áo mới mặc hôm trước, cuộn tṛn lại làm cái chổi quét đất. Người chồng thấy công chúa lấy áo làm chổi quét đất, bèn nói:

- Tại sao nàng không dùng chổi lại dùng áo quét đất, như thế không uổng phí lắm sao?

Công chúa trả lời:

- Trong tiền kiếp thiếp không hề có lấy một vật ǵ có thể dùng để bố thí, chỉ có thiện tâm đối với một vị tỳ kheo thôi mà kiếp này được hưởng phúc báo, sinh ra làm công chúa. Thiếp chưa bao giờ phải lo mưu cầu sinh sống, tự nhiên có được áo, th́ dùng nó làm chổi có ǵ đâu là uổng phí?

- Nàng tuy lễ kính Phật pháp, cúng dường tỳ kheo, nhưng ta chưa hề thấy mấy ông tỳ kheo cho nàng được một đồng một chữ nào, trong khi đó áo nàng mặc là do ta lao lực kiếm tiền mà có.

Người chồng nói để khuyên bảo công chúa. Công chúa bèn giải thích cho chồng hiểu:

- Thiếp nghe một vị A La Hán nói, kiếp trước thiếp là một con chó, được nuôi trong nhà một vị đệ tử của Đức Phật. Mỗi ngày có một vị tỳ kheo đến nhà người này dùng cơm, thiếp bèn ngồi ở dưới bàn đợi vị tỳ kheo nọ bốc một nắm cơm cho thiếp ăn. Thiếp rất có thiện cảm với tỳ kheo, do nhân duyên ấy mà kiếp này đầu thai vào trong nhà quốc vương. Thiếp xin hỏi chàng, tất cả những ǵ thiếp có hôm nay không phải là do vị tỳ kheo ấy ban cho thiếp hay sao?

Người chồng nghe xong, thấy vợ nói rất có lư, bèn nói:

- Nàng chỉ có mỗi một sự là đem thiện tâm đối xử với một vị tỳ kheo mà được phúc báo to lớn như vậy, Phật pháp quả là không thể nghĩ bàn!

Sự thật th́ người chồng này hơi có chút bủn xỉn, nhưng khi được nghe công chúa kể cho nghe chuyện nhân quả phúc báo th́ tâm liền biến chuyển, từ đó biết bố thí cho người nghèo, cúng dường chư tăng mà không sinh ḷng tiếc rẻ, giúp cho Phật pháp được hoằng dương trong dân gian.

 

25- Công chúa lột xác

Vua Ba Tư Nặc nước Kiều Tát Di La ở Ấn Độ, là một ông vua nhân từ, gần gũi dân chúng, hết ḷng chăm lo việc nước và trị v́ quốc gia rất khéo léo. V́ thế tên của vị vua hiền này lan xa khắp bốn phương, ai ai cũng ngưỡng mộ. Nhưng ngay bản thân ông, có một điều làm cho ông vô cùng buồn tiếc.

Vua Ba Tư Nặc và hoàng hậu tức là Mạt Lợi phu nhân sinh được một cô con gái tên là Ba An Lạ Công chúa Ba An La bất hạnh nên sinh ra đă vô cùng xấu xí, da dẻ sần sùi, khó coi giống như quỷ Dạ Xoa mẫu không khác. V́ sợ bị chê cười nên vua dặn ḍ người trong cung phải cẩn thận giữ ǵn, người ngoài không ai được thấy mặt công chúa. V́ thế công chúa bị nhốt trong cung cấm từ nhỏ, chưa hề gặp mặt một người lạ nào.

Tuy mặt mày cô xấu xí nhưng dầu ǵ cô cũng là con gái của Mạt Lợi phu nhân vốn là một hoàng hậu nhân từ, thương người, nên không ai dám coi thường cô và lơ là trong việc chăm sóc cho cô.

Con người sống trên dương thế ví như khách lên xe và xuống xe : lúc nhảy lên xe là lúc bắt đầu cuộc sống, và cứ thế cho đến lúc xuống xe là lúc trút hơi thở cuối cùng. Trong khoảng giữa, con người sẽ phải sống qua mọi nỗi vui buồn thương ghét của cuộc đời ḿnh. Một khi xe chuyển bánh là cứ hướng thẳng về phía trước mà chạy không bao giờ ngừng, mỗi phút mỗi giây đưa khách dần dần về tới trạm chót. Khách lên xe, không cần biết là giàu hay nghèo, quư phái hay hạ tiện, đẹp hay xấu, khôn hay ngu, không ai là không phải trải qua cái lúc lên và xuống xe ấy. Công chúa Ba An La, con gái của Mạt Lợi phu nhân cũng theo ḍng tiến hóa của thời gian mà trưởng thành. Khi cô tới cái tuổi thanh xuân tươi đẹp nhất của đời người con gái, nhưng với một khuôn mặt như thế, vua Ba Tư Nặc rất lấy làm lo lắng cho việc hôn nhân của cộ Con gái lớn phải có chồng, dầu sao công chúa cũng không thể vĩnh viễn sống cô quạnh ở chốn thâm cung. Nhưng điều làm cho vua và hoàng hậu khó xử nhất chính là địa vị của ḿnh : đường đường là vua của một nước mà lại không thể gả công chúa cho người ḿnh chọn. Vua và hoàng hậu bàn bạc măi về vấn đề này nhưng không t́m ra được một giải pháp nào khả dĩ gọi là tốt đẹp. Cuối cùng, họ chỉ c̣n cách bí mật gởi sứ giả đi ra ngoài thành ḍ xét, xem có nhà nào có con trai thuộc hạng danh gia vọng tộc nhưng cảnh nhà sa sút, đời sống khó khăn khiến người con trai ấy không thể kiếm vợ, đưa người thanh niên ấy về cung. Vài ngày sau, sứ giả đưa về một thanh niên quần áo rách mướp nhưng mặt mũi sáng sủa thanh tú. Vua thay đổi thường phục, ra vườn sau gặp người này ở một nơi vắng vẻ và nói:

- Nói thật với ngươi, ta có một đứa con gái đă đến tuổi lấy chồng nhưng rất xấu xí. Nếu ngươi ưng thuận th́ ta sẽ gả công chúa cho ngươi, bù lại ta sẽ cung ứng tất cả các thứ như nhà cửa, ăn uống vật dụng cho hai người sau này. Vậy ư kiến của ngươi ra sao?

Người thanh niên nghe nhà vua nói thế bèn quỳ xuống đất khấu đầu trả lời:

- Tâu bệ hạ, tổ tiên hạ thần tuy thuộc gịng hào phú, nhưng nay cảnh nhà đă sa sút nhiều. Bệ hạ không ghét bỏ, giả như có đem tỳ nữ gả cho hạ thần, hạ thần c̣n phải mang ơn mà bái tạ thay, huống hồ bệ hạ có ḷng thương đem công chúa gả cho hạ thần, th́ hạ thần đâu có lư do ǵ mà không tuân lệnh!

Bao nhiêu ưu tư từ bao nhiêu năm nay, vua Ba Tư Nặc coi như đă giải quyết xong v́ con gái của ḿnh đă có nơi nương tựa. Mọi sự quyết định đâu đó rồi, vua bèn xây cho công chúa một toà cung điện tráng lệ, phía trong có 7 lớp cửa. Các lớp cửa này sẽ được khóa chặt măi măi, ch́a khóa sẽ do pḥ mă đeo trong thân không lúc nào rời. Trong nhà có khoảng trăm cô nô tỳ, nhưng ai ở đâu th́ phải ở măi đó, người trong nhà không được đi ra ngoài và người từ bên ngoài cũng không được vào trong, mọi chi phí trong nhà đều do hoàng cung đài thọ. Lại sợ pḥ mă bị người ta coi thường nên vua c̣n phong cho pḥ mă một tước vị cao quư. Tới đây th́ nhà vua coi như mọi vấn đề đă được giải quyết ổn thỏa.

Ở Ấn Độ thời ấy, có phong tục là những người nhà giàu phải luân phiên nhau tổ chức một buổi lễ họp mặt hằng tháng, gọi là "ngu lạc hội" và mời nhau đến tham dự để cùng nhau gặp gỡ, liên kết cảm t́nh.

Trong các buổi lễ ấy, ai ai cũng đều có đôi có cặp, chỉ riêng pḥ mă là lúc nào cũng đến một thân một ḿnh. Sau hơn một năm trời, mọi người đều thấy như có điều chi khả nghị Họ nghĩ rằng pḥ mă và công chúa kết hôn chưa được bao lâu, không lẽ t́nh cảm đă sứt mẻ rồi hay sao? Hay công chúa sợ bị người khác nh́n thấy? Vậy th́ chắc công chúa phải là một tuyệt sắc giai nhân, hay là quỷ dạ xoa đội lốt, nếu không th́ tại sao chưa ai được thấy mặt bao giờ? Họ muốn biết công chúa là người như thế nào nên bèn nghĩ ra một kế : trong một buổi ngu lạc hội, mọi người đặc biệt chăm sóc pḥ mă. Lúc uống rượu, họ bày ra cuộc chơi đố rượu (ai thua th́ phải uống rượu phạt), và họ gạt pḥ mă uống rượu cho đến say mèm. Sau đó họ lục trong người pḥ mă lấy xâu ch́a khóa và một số người được cử đi đại diện, chạy bay đến cung điện để nh́n mặt công chúa.

Lúc đó, công chúa An Ba La bị cấm cung, theo lệ thường chờ chồng đi dự hội, một ḿnh ở nhà âu sầu áo năo. Cô tự hận ḿnh đă tạo tội nghiệp đời trước nên bây giờ mới bị vua cha giam cầm, bị chồng ghét bỏ, suốt đời bị nhốt trong cung cấm, không bao giờ được thấy ánh mặt trời, không bao giờ được thở không khí trong lành. Sống một cuộc đời đen tối như thế, th́ hỏi sống có ư nghĩa ǵ? Nghĩ đến đây, nước mắt cô như một gịng châu tuông lả chả. Bỗng cô nhớ lại lời dặn của mẹ "Đừng tuyệt vọng, nghiệp chướng có sâu dày tới đâu đi nữa, chỉ nên thành tâm cung kính Tam Bảo khẩn cầu sám hối. Đức Phật từ bi thường làm lợi ích chúng sinh, có thể giải trừ khổ nạn".

Câu nói của mẹ cô đă làm cho công chúa khởi lên một niệm thiện tâm chí thành. Mỗi khi chồng cô đi ra ngoài, cô lại bày hương án hướng lên không trung lễ bái, thiết tha khẩn cầu sám hối, xin cho ḿnh có thân tướng đẹp đẽ để được thấy ánh mặt trời. Ngay lúc đó, một luồng quang minh tỏa sáng và kim thân Đức Phật hiện ra trước mắt cộ Nh́n hào quang tướng hảo của Đức Phật, công chúa vui mừng, ḷng tôn kính lại càng gia tăng bội phần, cô phủ phục xuống đất quỳ lậy, nước mắt tuông thành ḍng, cầu xin Thế Tôn:

- Duy nguyện Phật tổ từ bi thương xót con, khuyên dạy con, phá trừ nghiệp chướng cho con, giải thoát con ra khỏi cảnh thống khổ đang trói cột. Con nguyện từ nay trở đi, đời đời kiếp kiếp hộ tŕ Tam Bảo.

Công chúa cầu xin như thế xong, ngước mắt lên chiêm ngưỡng thánh nhan, từ quang của Đức Phật chiếu sáng tâm cang của cô.

Thật là bất khả tư ngh́, ngay lúc ấy, khuôn mặt xấu xí của công chúa từ từ trở nên xinh đẹp thanh tú, làn da sần sùi đen đúa trở nên mịn màng phơn phớt hồng. Từ khuôn mặt, thân thể, chân tay, toàn thân công chúa Ba An La đă thay đổi, bây giờ tướng mạo cô tuyệt diệu y như một thiên nữ cung trời. Đức Phật ở trên không trung c̣n thuyết pháp cho công chúa nghe, khiến tinh thần cô phấn chấn lên, bao nhiêu buồn thảm trước kia tan biến hết. Công chúa hân hoan sung sướng và an ḷng rồi, Đức Phật c̣n dạy thêm:

- Ba An La công chúa! Bây giờ tuy công chúa tuy đă chứng quả Tu Đà Hoàn, nhưng vẫn phải tăng gia tinh chuyên tu tŕ. Kiếp người ngắn ngủi lắm, ta mong công chúa đừng để cuộc sống luống qua vô ích.

Đức Phật nói xong liền từ từ biến mất trong bầu không gian xa thẳm. Công chúa không c̣n phiền năo âu sầu, ḷng sùng kính tin tưởng vào Đức Phật tăng thêm gấp bội.

Bây giờ nhắc đến những người đă lén lấy ch́a khóa cung điện, giả mạo thừa lệnh pḥ mă mở từng lớp từng lớp cửa để vào tới thâm cung. Trong tay họ có cầm xâu ch́a khóa nên họ không gặp trở ngại nào và cứ thế đi thẳng vào gian nhà sau cùng. Họ nh́n qua khe cửa, thấy công chúa như phóng ánh sáng, xinh đẹp như một thiên nữ nên rất lấy làm kinh dị, không hiểu tại sao trên trần thế lại có thể có người nhan sắc tuyệt vời đến như thế! Họ không dám nấn ná lâu, khóa kỹ lại các lớp cửa rồi vội vàng quay trở về. May quá pḥ mă chưa tỉnh, họ trả ch́a khóa về chỗ cũ rồi đem những ǵ đă thấy ra kể cho mọi người nghe khiến ai nấy đều xôn xao bàn tán.

Hôm ấy, như mọi lần, pḥ mă về nhà thật khuya. Nhưng khi vào tới lớp cửa thứ bảy, ông kinh dị thấy một mỹ nhân đang ngồi bên giường.

- Cô là ai? Làm sao cô vào được nhà của chúng tôi? Công chúa đi đâu rồi?

- Phu quân không nhận ra thiếp cũng phải. Thiếp chính là Ba La An công chúa, vợ của phu quân đây!

Công chúa mỉm cười, tha thướt yêu kiều tiến tiến đến gần pḥ mă nhưng pḥ mă lùi lại mấy bước, hoang mang không hiểu chuyện ǵ đă xảy ra. Công chúa bèn đem chuyện gặp Đức Phật ra kể cho pḥ mă nghe, rồi nói:

- Từ khi sinh ra đến giờ, thiếp chưa từng được thấy mặt bố mẹ một cách kỹ càng nên thiếp rất ao ước được gặp bố mẹ. Phu quân hăy v́ thiếp mà về cung trước, xin phép phụ vương cho thiếp được diện kiến.

Dĩ nhiên pḥ mă hoan hỉ thực hành ngay lời yêu cầu của công chúa. Nhưng nhà vua vừa mới nghe nói công chúa đ̣i gặp liền cau mày, tỏ vẻ khó xử:

- Thôi khanh hăy về giữ cửa cho kỹ, nói với công chúa bỏ ư nghĩ ấy đi, đừng đi ra ngoài.

Pḥ mă biết ngay tại sao nhà vua cự tuyệt lời thỉnh cầu của công chúa nên đem chuyện công chúa lột xác cải dạng kể cho vua nghe. Vua nghe xong vô cùng mừng rỡ, lập tức gởi xe hoa và cung nữ đi nghênh tiếp công chúa hồi cung.

Sự thay đổi toàn diện của công chúa khiến cho nhà vua, hoàng hậu và pḥ mă vui mừng không kể xiết. Họ biết hạnh phúc gia đ́nh này hoàn toàn nhờ tâm từ bi của Đức Phật, nên để báo Phật ân, họ đến Kỳ Viên tinh xá với rất nhiều phẩm vật cúng dường Tam Bảo. Vua Ba Tư Nặc đảnh lễ Đức Phật xong, chắp tay bạch:

- Bạch Thế Tôn, xin Ngài từ bi khai thị cho chúng con! Con gái chúng con đă tạo nghiệp ǵ mà kiếp này tuy được sinh ra nơi vương cung thọ hưởng mọi điều phú quư, nhưng lại xấu xí đen đúa như thế? Ngưỡng mong Thế Tôn giải thích cho chúng con nỗi thắc mắc này.

Đức Phật bèn đem chuyện quá khứ ra kể:

- Con người sinh ra đời, đẹp đẽ hay xấu xí đều do nghiệp quá khứ mà ra. Tội báo hay phúc báo đều như bóng theo h́nh, không có điều ǵ là ngẫu nhiên cả. V́ thế phải nói lư nhân quả báo ứng không mảy may hư dối, sai trật.

Trong quá khứ nước Ba La Nại là một quốc gia phồn thịnh, nơi ấy có một vị trưởng giả rất giàu, giàu đến nức đố đổ vách. Ông có tâm từ thiện và biết cung kính Tam Bảo, v́ thế nên thường xuyên mời người xuất gia đến nhà cho ông được cúng dường. Trong số những người này, có một vị đă chứng quả A La Hán là hay lui tới nhất. Vị này chuyên tu khổ hạnh, thấy rơ lư vô thường khổ không trong thế gian nên rất lơ là trong vấn đề ăn mặc. Ông chỉ khoác trên thân một tấm cà sa rách nát, không biết mặc đă bao nhiêu năm mà vá trước rách sau, không có chỗ nào là lành lặn, coi được. V́ ông tiều tụy rách rưới như thế nên cô con gái ông trưởng giả rất chán ghét ông. Vốn là một thiên kim tiểu thư, nên trong vấn đề ăn mặc, cô chỉ dùng những thứ sang trọng đẹp đẽ nhất. V́ thế nên h́nh tướng xấu xí của vị A La Hán khiến cô khởi tâm khinh bỉ, cho đến nỗi có lúc cô đă thốt lời nhục mạ vị này.

Vị A La Hán tuy biết rơ điều ấy nhưng vẫn tiếp tục lui tới nhà cô nhận lănh cúng dường trong mấy năm liền. Một hôm, vị La Hán ấy lại đến nhưng dùng cơm xong, ông liền bay lên hư không, thị hiện thần thông biến hóa đủ cách. Từ người ông, giữa hai lông mày phóng lửa và nước, hoặc ông nằm ngang giữa hư không mà không rơi xuống đất. Người nào nh́n thấy sự thị hiện kỳ diệu xuất thần như thế cũng thích thú kính phục. Cô tiểu thư con gái ông trưởng giả từ trước đến nay vốn coi thường vị La Hán, nay thấy thần thông vi diệu của ông bèn sinh ḷng kính trọng, không ngờ một vị xuất gia với cái bề ngoài xấu xí ấy lại có công phu tu hành to lớn đến dường ấy, không thể nào trông mặt mà bắt h́nh dong được! Trước kia cô thật đă tỏ ra ngu xuẩn, thường xuyên oán trách một vị thánh tăng như thế, đúng là tội tày trời đáng chết! Cô bèn quỳ xuống đất nh́n lên vị A La Hán trên không trung mà sám hối, xin ngài khoan thứ cho cái tội ác khẩu kiêu mạn của ḿnh trong quá khứ. Vị A La Hán trên không trung nh́n thấy cô tiểu thư đang sám hối như thế, chỉ mỉm cười nhẹ gật đầu, rồi biến mất trong nháy mắt. Từ đó vị A La Hán ấy không c̣n đến nhà ông trưởng giả nhận cúng dường nữa. Cô tiểu thư nọ cũng từ đó thường lập đàn trai cúng dường chư tăng, làm việc thiện, bố thí rộng răi để sám hối tội ác của ḿnh lúc trước.

Đại vương, cô tiểu thư thời ấy chính là Ba An La công chúa hôm naỵ V́ cái tội khinh mạn thánh tăng trong quá khứ nên sinh ra xấu xí khó coi, nhưng lại nhờ biết cúng Phật kính tăng nên được sinh ra trong vương gia, lại được gặp Phật để lột xác biến h́nh.

Lời nói của Đức Phật khiến tín tâm của đại chúng tăng tiến thêm lên. Họ không c̣n một mảy may tâm niệm nghi ngờ công đức và phước báo của việc cúng dường và tôn kính Tam Bảo.

26- Cúng dường được phước

Thuở xưa có một cặp vợ chồng rất nghèo khổ, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, sống rất khổ sở, thường bị đói lạnh bức bách, mà không làm ǵ khác hơn để thay đổi t́nh thế được. Tuy họ đi khắp nơi t́m việc khó nhọc để làm, nhưng việc làm quá khó kiếm, nh́n thấy thiên hạ giàu có dư dả c̣n ḿnh th́ cùng khốn như thế, hai vợ chồng không ngừng cùng nhau than vắn thở dài. Trở về căn nhà rách nát của ḿnh, người chồng tên Kệ Di La ngồi trước mặt vợ nói rằng:

- Đức Phật có nói: người ta nghèo khổ là v́ kiếp trước bủn xỉn tham lam. Tuy giàu có, gia tài vạn ức mà nếu không tu phúc, không bố thí th́ kiếp sau chắc chắn không thể sống sung túc được.

Kệ Di La ngừng một chút rồi lại nói tiếp:

- Than ôi! Chúng ta kiếp trước không tu phúc, không biết gieo trồng phúc điền nên kiếp này mới cùng khốn như thế này.

Vợ Ông nghe thế, vọt miệng nói mà không suy nghĩ:

- Thế th́ bây giờ ḿnh tu phúc đi! Đời này ḿnh không giàu có, th́ hy vọng đời sau khá hơn!

- Đúng vậy, tôi cũng nghĩ như bà. Nhưng hiện tại ba bữa ăn một ngày ḿnh c̣n kiếm không ra, lấy tiền đâu mà bố thí với cúng dường đây?

Nói tới tiền thường làm cho người ta nhức đầu, không biết phải làm cách nào để đào cho ra. Nhưng đàn bà thường nhanh trí nên người vợ nghĩ ra ngay một giải pháp, nói với chồng rằng:

- Đừng lo! Ông hăy đem tôi đi bán làm đầy tớ cho người ta, lấy số tiền đó làm phúc, khó ǵ?

Bà thấy giải pháp của ḿnh rất hay, nhưng Kệ Di La lắc đầu thở dài:

- Không! Không thể làm như thế được! Tôi đem bà đi bán cho người ta rồi, làm sao tôi sống nổi đây!

V́ cặp vợ chồng này tuy nghèo khổ nhưng t́nh cảm của họ với nhau rất mặn nồng. Người vợ lại nói:

- Nếu ông không bỏ tôi ra được, th́ cả hai chúng ta đều cùng đem thân ḿnh đi bán lấy tiền làm Phật sự, th́ việc thiện đó lại càng có giá trị chứ sao!

Hai vợ chồng bàn tính và quyết định rồi, bèn đến nhà một phú ông kể rơ ngọn nguồn. Phú ông ưng thuận mua họ, hai bên ngă ngũ giá cả, kỳ hạn cho họ 7 ngày để lập hội trai tăng cúng dường, sau 7 ngày ấy hai vợ chồng sẽ trở lại nhà phú ông làm đầy tớ trả nợ.

Cầm số tiền trong tay, hai vợ chồng Kệ Di La mừng rỡ vô cùng, chạy mau đến chùa lập hội trai tăng cúng dường. Hai người quên hết tất cả mọi khổ sở, hết ḷng hết dạ phụng sự đại chúng, họ cảm thấy rằng đó là những ngày quư giá nhất đời họ, và cũng là những cuối cùng thuộc về họ. Trong số 7 ngày ấy, họ muốn thay đổi vận mệnh của ḿnh và tu nhân phước đức cho đời vị lai.

Sáu ngày trôi qua, đến ngày cuối bỗng nhiên nhà vua cũng đến chùa mở hội trai tăng. Theo tục lệ th́ khi vua đến, bất kỳ người nào cũng phải nhường chỗ cho vua cúng dường trước, những Kệ Di La nhất định không chịu nhường. Nhà vua không bằng ḷng, cho triệu Kệ Di La đến. Trước mặt nhà vua, Kệ Di La thật t́nh tâu rằng:

- Tâu bệ hạ, xin bệ hạ tha lỗi hạ thần vô lễ. Chỉ v́ hôm nay là ngày cuối cùng thuộc về hạ thần, ngày mai hạ thần sẽ thuộc về người khác mất rồi, cho nên hạ thần không thể nhường cho bệ hạ ngày cuối cùng của hạ thần để làm việc trai tăng.

Nhà vua nghe thế bèn hỏi Kệ Di La nhân duyên ǵ lại đến đây làm lễ trai tăng cúng dường, và nhất là tại sao bắt đầu từ ngày hôm sau lại thuộc về người khác?

Kệ Di La kể hết mọi sự cho vua nghe, vua cảm thấy tội nghiệp họ và khen ngợi tinh thần không tiếc tiền, không tiếc thân, không tiếc mạng sống của họ. V́ vậy vua ban cho họ rất nhiều quần áo, của cải quư giá, và c̣n cắt cho rất nhiều đất để họ lấy đó kiếm sống.

Nhân quả không bao giờ lừa dối ai, người nào chân thành phát tâm bố thí cúng dường sẽ tự nhiên gặp những cơ hội phát tài không thể nào ngờ được!

 

27- Đại Ca Diếp quy y

Có một hôm, Đức Phật thị hiện tướng bệnh, ngài lặng lẽ nghỉ ngơi tịnh dưỡng. Vua Tần Bà Sa La nghe tin ấy, vội gọi ngự y là Kỳ Bà đi gặp Thế Tôn để trị bệnh cho Ngài.

Khi Đức Phật đă lành bệnh, ngự y Kỳ Bà cứ muốn đem một lễ vật nào để cúng dường Ngài, nhưng nghĩ tới nghĩ lui hoài, ông không biết phải tặng lễ vật nào mới thích hợp. Cuối cùng, ông nhớ đă có lần chữa bệnh cho vua nước láng giềng, và vị vua này đă đền ơn ông bằng cách tặng một bộ quần áo thượng hảo hạng. Loại quần áo này phải là bậc đế vương mới dùng, duy chỉ có Đức Phật mới xứng đáng mặc mà thôi. Ông đem bộ quần áo nói trên lên tŕnh dâng Đức Phật và nói:

- Thế Tôn, từ khi con bái kiến Như Lai cho đến nay, trong ḷng cứ thắc mắc một chuyện. Thế Tôn thường nói, trên thế gian này thân thể của chúng ta khả dĩ đáng quư trọng, thế nhưng con thấy các vị đệ tử của Thế Tôn thường mặc quần áo rách rưới, dơ bẩn. Đứng trên cương vị của một y sĩ, con thấy có giải thích như thế nào đi nữa, làm như thế vẫn không hợp vệ sinh. Bộ quần áo này là do vua nước láng giềng thưởng tặng cho con, xin cho con được đem cúng dường lại cho Phật, cho con được trồng chút ít hạt giống phúc đức. Con cũng cúi xin Thế Tôn hăy nói với chư tỳ kheo, từ nay đừng mặc quần áo dơ bẩn rách rưới nữa.

Đức Phật không hề chấp trước một điều ǵ, nên đón nhận ư kiến của Kỳ Bà một cách vui vẻ, và cho người đi truyền nói với chư đệ tử tỳ kheo rằng:

- Mặc quần áo, không cần biết cũ hay mới, đều phải đơn sơ và sạch sẽ, và nhất định phải được khử trùng bằng ánh sáng mặt trời. Nếu ái nhiễm những bộ quần áo đẹp đẽ sang trọng là một điều không phải, th́ mặc y phục dơ bẩn rách rưới để tỏ ra ḿnh là người học đạo cũng không đúng pháp.

Lời Đức Phật được truyền ra rồi, dân chúng Vương Xá Thành bèn tranh nhau may rất nhiều quần áo đem tặng chư tỳ kheo. Người cúng dường Đức Phật và chư tỳ kheo rất đông, nên tin đồn ấy truyền đến tai một vị đại phú hào.

Vị phú hào ấy tên là Đại Ca Diếp, ở thôn Ma Ha Sa La Dà cách Vương Xá Thành không xa lắm. Ông thông minh học rộng, giàu có nhất thiên hạ, là nhân vật xuất chúng nhất của giai cấp Bà La Môn. Mỗi khi Đức Phật thuyết pháp tại Trúc Lâm Tinh Xá, ông đều đến nghe giảng. Cuối cùng tâm ông từ từ tiêm nhiễm những lời giảng của Như Lai, ông c̣n nghĩ đến việc theo Đức Phật xuất gia nữa.

Một hôm trên đường về, ông vừa đến gần tháp Đa Tử ở thành Vương Xá trong một vùng có rất nhiều gốc cây to cành lá xum xuê giao nhau, th́ lạ thay, Đức Phật cũng đang ngồi ngay tại đấy mà tĩnh tọa. Ông nh́n măi Đức Phật trang nghiêm, uy nghi dường ấy, và thấy rằng không thể nào không đến lễ lậy Ngài được. Ông đến trước toà Như Lai chắp tay đảnh lễ xong, khẩn khoản cảm động mà nói:

- Thế Tôn, Thầy của con! Xin chấp nhận cho Đại Ca Diếp này quy y, từ nay Đại Ca Diếp là đệ tử của Phật.

Đức Phật thấy rơ tín tâm của Đại Ca Diếp nên nói:

- Đại Ca Diếp, ông là đệ tử của ta, ta là thầy của ông. Trên thế gian này, nếu chưa chứng được chính đẳng chính giác th́ không thể thu nhận ông làm đệ tử. Ông hăy cùng ta đi nhé.

Đức Phật lẳng lặng đứng dậy, hướng về phía Trúc Lâm Tinh Xá mà đi, Đại Ca Diếp đi sau lưng Đức Phật một cách cung kính mà nước mắt ṛng ṛng tuông xuống. Đức Phật quay đầu lại nh́n Đại Ca Diếp rồi nói:

- Hôm nay ta biết cơ duyên được độ hóa của ông đă đến. Tốt lắm, sau này việc lưu truyền Phật pháp sẽ cần đến ông rất nhiều.

Đức Phật hóa độ Đại Ca Diếp rồi, Phật pháp tại Vương Xá Thành đă có cơ sở vững chắc, tinh xá ở núi Linh Thứu cũng đă được thành lập vào thời điểm này. Vua chúa, người trí thức đến quy y rất đông, và sự giáo hóa của Đức Phật càng được phổ biến thêm.

 

28- Đại y vương

Trong đời quá khứ, lúc Đức Phật c̣n hành bồ tát đạo, đă có nguyện từ bi cứu thế rất thâm sâu. Ngài thấy con người trên thế gian bị tâm bệnh rất nặng, như thể đó là một cơn bệnh dịch lan tràn, ai cũng mắc phải, chỉ khác nhau ở chỗ nặng hay nhẹ mà thôi.

Trị tâm bệnh th́ cũng khó khăn như trị cái đau đớn của thân xác vậy. Trên thủa ruộng dất tâm của rất nhiều người, cần phải nhổ tận rễ của căn bệnh, rồi gieo xuống những hạt giống thiện lành mới. Muốn làm như thế, trước hết phải làm sao cho mỗi người phát ḷng tin.

V́ chúng sinh nào cũng mắc phải hai chứng bệnh rất ngặt nghèo là ngă kiến và ngă chấp, ai cũng thương và tiếc thân mạng của ḿnh, cho nên muốn trị tâm bệnh, phải tùy bệnh mà cho thuốc.

Đức Phật đă phát đại nguyện như sau:

- Nguyện tôi ở lâu dài trên thế gian để trị hai căn bệnh lớn là tâm và thân bệnh cho chúng sinh, làm vua thuốc cho họ, khiến tất cả các loại bệnh đều được chữa lành.

Có một quốc gia nọ, vua tên là Ma Hy Tư Na, thống lănh một cơi nước to rộng, gồm tám vạn bốn ngàn toà thành lớn. Vua trị quốc rất anh minh, việc nước không bao giờ rối loạn, nên danh tiếng lẫy lừng và được dân chúng rất tôn sùng.

Hoàng hậu cũng mà một người phụ nữ tốt bụng, hiền thục, thông minh và thương dân. Bồ tát v́ thế mà chọn nhà của vua Ma Hy Tư mà thác sinh. Có điều kỳ lạ là, lúc hoàng hậu mang thai, tuy trước đó không biết chút ǵ về y thuật, nay bỗng có tài chữa bệnh cho người khác. Cách chữa bệnh của bà cũng rất đặc biệt, bà không cần dùng thuốc, chỉ cần dùng tay xoa vuốt lên chỗ đau của người bệnh là bệnh tức khắc lành lặn. V́ thế trong hoàng cung, bất kỳ ai dẫu lâm phải một chứng bệnh nguy kịch đến đâu, thầy thuốc bó tay, trăm phương ngh́n thuốc đều vô hiệu chỉ c̣n chờ thần chết, th́ đến cầu cứu hoàng hậu, không ai là không được chữa lành. V́ thế, chuyện hoàng hậu ra tay trừ bệnh đă thành một giai thoại lưu truyền một thời.

Khi hoàng tử mới sinh ra đă biết nói, mà nói những ǵ?

- Ta không có sở trường nào khác, chỉ biết chữa bệnh. Ai có bệnh hăy mau đến nơi này, ta sẽ chữa cho.

Nói xong câu này, hoàng tử trở lại giống tất cả các hài nhi khác, không biết nói câu nào nữa.

Chư thiên và quỷ thần trên thế giới cũng bí mật loan tin này ra, chỉ dẫn cho người trong lúc họ nằm mộng, bảo rằng vua mới sinh được một vị đại y vương, ai có bệnh cứ đến xin chữa. Một vị thầy thuốc khi khám bệnh xong, nhất định phải cho thuốc uống, chỉ có đại y vương chữa bệnh mới không bắt người ta uống thuốc. Người nào có bệnh, chỉ cần tiếp cận với hoàng tử là tự nhiên lành bệnh. Chỉ cần có ngón tay của hoàng tử chạm đến là người mù thấy được, người điếc nghe được và người què đi được. Chuyện hoàng tử dùng ngón tay trị bệnh cho tất cả mọi người được loan truyền đi trong toàn quốc. Từ đó, hoàng tử được đặt tên là "Nhân Dược" (người thuốc). Có người c̣n bán tín bán nghi, hoàng tử bèn gọi những ai có bệnh hăy lần lượt đến chữa.

Ngoài dùng bàn tay để trị bệnh, hoàng tử c̣n dùng thân nữa. Chỉ cần được hoàng tử chạm đến là bệnh cũng được lành ngaỵ Bệnh tật dù có nguy kịch tới đâu hoàng tử cũng trị được, làm cho mọi người được an ổn, hết khổ được vui, danh tiếng truyền xa, nên người nào ở đâu hễ có bệnh là đến xin chữa. Hoàng cung từ trước vốn là nơi nghiêm cấm, bỗng trở nên không khác ǵ một cái chợ hay một bệnh viện!

Nhân Dược hoàng tử sinh xuống nhân gian chữa bệnh được chừng mười năm, trị cho không biết bao nhiêu người rồi. Đại nguyện trị bệnh của ngài đă hoàn măn, nay ngài phải hóa thân đi nơi khác. Mọi người nghe tin, bỗng như những đứa con mồ côi, không ai là không khóc thương bi thảm, họ nói từ nay về sau sẽ không c̣n ai chữa bệnh khổ cho họ.

- Tuy Nhân Dược hoàng tử không c̣n ở với chúng ta nữa nhưng di cốt của ngài vẫn c̣n đây, chắc chắn di cốt của ngài cũng có năng lực chữa bệnh cho chúng ta được!

Một người tương đối có trí huệ nhất nói. Họ t́m được di cốt của hoàng tử bèn lấy lửa đốt, nghiền thành phấn, người có bệnh chỉ cần lấy chút phấn ấy chấm vào chỗ đau cũng được lành bệnh như trước.

Vật ǵ dùng măi cũng có ngày hết, phấn thuốc nói trên cũng vậy. Người bị bệnh trở lại bèn đi đến chỗ di cốt hoàng tử bị thiêu và nghiền thành phấn, trong đầu chỉ niệm qua tên ngài là bệnh cũng được lành, v́ vậy trong phạm vi ấy, người nào xa hay gần, cứ niệm đến tên ngài là hết bệnh.

Nhân Dược hoàng tử nay đă thành đạo, chính là Đại Y Vương Thích Ca Mâu Ni Phật vậy!

 

29- Đói và no

Có một hôm, Đức Phật dẫn 500 vị tỳ kheo trên đường từ nước Tu Lại Bà đi về thôn Tỳ Lan Nhă, mới t́m chỗ trú ngụ trong một khu rừng ở ven đường.

Thôn trưởng của thôn Tỳ Lan Nhă ngày xưa vẫn tin tưởng phụng thờ đạo Bà La Môn, về sau nghe và biết được Đức Phật có đủ 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp, thân phóng ánh sáng và diễn thuyết diệu pháp về vũ trụ nhân sinh, mới đổi qua tin tưởng Phật giáo.

Hôm ấy, nghe Đức Phật sắp đến thôn của ḿnh, bèn nắm lấy cơ hội ngàn năm khó gặp này đến khu rừng nơi Đức Phật đang an trụ, đảnh lễ mà thưa rằng:

- Thế Tôn, con là thôn trưởng của thôn Tỳ Lan Nhă cách đây không xa, nghe Đức Phật giáng lâm con vô cùng vinh hạnh. V́ thế con vội vàng đích thân đến đây cung thỉnh Thế Tôn và chư tỳ kheo đến thôn của con cư trú trong ba tháng an cư mùa mưa, con nguyện đảm trách tất cả mọi sự cúng dường, xin Đức Phật từ bi nhận lời!

- Ta biết ông có ḷng thành nhưng đệ tử của ta quá đông, ta không muốn làm gánh nặng cho ông, nên ta nghĩ tốt nhất là thôi vậy, không phiền đến ông.

- Thưa không đâu, bạch Thế Tôn! Tuy làng con rất nhỏ, nhưng con tin rằng cũng đủ sức để cúng dường Thế Tôn và chư tỳ kheo, xin Thế Tôn đừng bận tâm, dầu sao đi nữa cũng xin cho con được phép cúng dường.

Thôn trưởng một mực năn nỉ van xin, Đức Phật chỉ c̣n cách gật đầu ưng thuận. Thôn trưởng vui mừng cưỡi ngựa về làng lo chuẩn bị mọi thứ.

Ngoại đạo biết được chuyện này, vừa sợ hăi vừa oán hận, bèn dùng nữ sắc đưa vào nhà của thôn trưởng, bày hoa thơm cỏ lạ, hương thơm ngào ngạt, rồi lại bày cỗ bàn rượu thịt ê hề, thắp đèn ánh sáng mờ ảo, người đẹp như mây trời khiến thôn trưởng một khi bước chân vào nhà là tâm trí hoàn toàn ám độn. Trải qua một đêm, sáng hôm sau thôn trưởng căn dặn người nhà rằng:

- Đương lúc thiên hạ thái b́nh, từ hôm nay cho tới hết ba tháng mùa mưa ta sẽ ở trên lầu cao này nghỉ ngơi, bất cứ chuyện ǵ, dầu vui hay buồn ta cũng đều không muốn nghe đến.

Thôn trưởng bị lọt vào bẫy của ngoại đạo nên hoàn toàn quên bẵng chuyện phải tiếp đăi Đức Phật.

Nhân duyên của làng này đối với Đức Phật hăy c̣n cạn cợt, lại trúng nhằm một năm mà côn trùng làm hại mùa màng, cả làng bị sa vào cảnh thiếu thốn nên không có một người nào chịu bố thí cho Đức Phật hay chư Tỳ kheo một chút gạo hay một chút nước. Đức Phật và chư tỳ kheo chỉ c̣n biết nhẫn nhục chịu đựng ở phía bên ngoài thôn Tỳ Lan Nhă.

Lúc ấy có một người buôn ngựa dẫn theo 500 con ngựa từ nước Ba Lợi đi ngang qua đấy, thấy vậy bèn thưa với các vị tỳ kheo rằng:

- Con không có bao nhiêu lương thực để cúng dường quư thầy, chỉ có xác lúa mạch cho ngựa ăn, quư thầy có dùng được không?

- Chúng tôi rất cảm tạ thịnh t́nh của ông, nhưng chưa được Đức Phật hứa khả th́ chúng tôi không dám nhận thức ăn của ngựa. Xin đợi chúng tôi vào thỉnh ư Đức Phật rồi mới dám quyết định.

Đức Phật tán thán rằng:

- Đă lâm vào cảnh đói khát như thế này mà các ông c̣n ít mong cầu và biết đủ, không dám làm ngược lại lời giáo huấn của ta, ta rất an ḷng. Các ông có thể thọ nhận thức ăn của ngựa mà ông lái buôn cúng dường.

Lúc ấy các vị tỳ kheo mới nhốn nháo lên mà tiếp nhận thức ăn của ngựa. A Nan cũng được một phần, bèn đem lúa mạch ra nghiền thành bột ḥa với nước nấu thành cháo đem lên cúng dường Đức Phật. Các vị tỳ kheo cũng xay xác lúa mạch ra rồi nấu lên mà ăn.

Mục Kiền Liên thấy t́nh trạng đáng thương ấy bèn tâu lên Đức Phật rằng:

- Thế Tôn! Con suy nghĩ thật kỹ rồi, ở chỗ này không thể có thức ăn được, con muốn dùng thần thông đi chỗ khác mang ít lúa gạo về!

- Mục Kiền Liên! Không nên làm như thế. Tuy ông có thể dùng thần lực mang thức ăn về, nhưng nhân duyên túc nghiệp không thể trừ diệt được. Chỉ có nhẫn nhục là điều quan trọng nhất.

Mục Kiền Liên nghe lời chỉ thị của Đức Phật, cúi đầu lui đi.

Ba tháng nhẫn nhục chịu đựng cực khổ đă trôi quá, Đức Phật và chư tỳ kheo đói khát nên tiều tụy thấy rơ, nhưng dẫu bị đói khát bức bách đến đâu đi nữa, ḷng tin của các vị ấy vẫn không bị lay chuyển mảy may nào. Chư tăng đoàn kết, ḥa hợp biết bao!

Qua hôm sau, Đức Phật bảo A Nan:

- A Nan! Hăy cùng ta đi gặp thôn trưởng thôn Tỳ Lan Nhă xem sao!

- Thưa vâng, bạch Thế Tôn!

Thôn trưởng thôn Tỳ Lan Nhă đang ch́m đắm trong hoan lạc ngũ dục, vừa vặn đứng trên lầu cao nh́n xuống, thấy vẻ tiều tụy của Đức Phật và A Nan trên đường đi tới. Thoạt đầu ông hoang mang như thể không hiểu tại sao, rồi trong chớp mắt, ông thấy đầu óc choáng váng, mặt mày xây xẩm. Chờ tỉnh táo lại, ông chạy như bay đến trước mặt Đức Phật, khóc lóc thảm thiết:

- Thế Tôn! Thật là đáng sợ! Con bị quỷ vương mê hoặc nên mới dám dối trá lừa gạt thánh nhân, con đă gieo trồng vô lượng vô biên hạt giống ác quả! Xin Thế Tôn từ bi lân mẫn con, con không hề muốn điều ấy xảy ra, xin cho con sám hối!

Đức Phật trầm tĩnh đáp rằng:

- Đúng vậy! Ông đă trồng hạt giống tội ác, thỉnh đại chúng mà không cúng dường, không phải là ngu si lắm sao? Nhưng ta đă thấy ông phát tâm lúc ban đầu ra sao rồi, nên nếu ông chân thành sám hối th́ chỉ có giá trị của sự sám hối ấy là đáng chú trọng mà thôi.

- Nay con đứng trước Đức Phật tối tôn mà sám hối, xin Thế Tôn quan sát tâm con, từ hôm nay trở đi xin cho con được cúng dường trong ṿng một tháng, cho con được lấy công chuộc tội.

- Thôn trưởng, ba tháng vừa qua ta an cư ở phía ngoài thôn này không hề dời chỗ. Bây giờ mùa mưa đă qua rồi, có rất nhiều chúng sinh đang chờ mong ta cứu độ, ngay hiện giờ ta đă nghe họ kêu gào tên ta, nên ta phải rời khỏi nơi này lập tức.

- Xin Thế Tôn niệm t́nh con!

Vừa nói, thôn trưởng vừa hướng cặp mắt van nài nh́n sang A Nan đang đứng gần bên Đức Phật, nói tiếp:

- Tôn giả A Nan! Xin ngài vào nói hộ con một tiếng! Ít nhất cho con được cúng dường ngày mai, làm một bữa cơm đạm bạc để tiễn biệt, và cho con cơ hội sám hối với chư tỳ kheo!

Đôi mắt từ bi của Đức Phật phóng ra một tia sáng thương xót, Ngài chấp thuận lời cầu xin cuối cùng của thôn trưởng thôn Tỳ Lan Nhă.

Suốt ngày và suốt cả đêm hôm ấy, thôn trưởng thôn Tỳ Lan Nhă đă chuẩn bị một bữa cơm tiễn biệt rất thịnh soạn, rồi hôm sau dùng tâm tri ân và tâm cung kính đi thỉnh mời Đức Phật và chư tỳ kheo vào thôn. Cơm nước xong, thôn trưởng đem bốn tấm y bằng vải rất đẹp, cùng một đôi dép cỏ cúng dường lên Đức Phật, và 2 tấm y vải cùng một đôi dép cỏ cúng dường mỗi vị tỳ kheo.

Thôn trưởng và tất cả mọi người trong thôn đưa tiễn Đức Phật và chư tỳ kheo, tay vẫy mà nước mắt ràn rụa, tự than rằng thiện căn của ḿnh quá mong manh nên không cúng dường được Đức Phật cho tử tế đàng hoàng.

Khi Đức Phật muốn ra đi th́ không có thế lực, không có lời nói nào có thể ngăn trở được Ngài. Cũng như khi Đức Phật không muốn đi, th́ khốn khó nào bức hại đi nữa, Ngài cũng có thể nhẫn nhục mà chịu đựng được.

 

30- Đồng tiền gây phiền lụy

Ngày xưa một vị bà la môn ở Ấn Độ sinh hạ được một cậu con trai tuấn tú đoan chính, nên được cha mẹ hết mực cưng ch́u. Cậu bé từ nhỏ đă thông minh lạ thường, hoàn toàn không giống với những đứa trẻ khác. Cậu đă trải qua quăng đời thơ ấu sung sướng hạnh phúc trong nhung lụa, không chút ưu phiền.

Thường thường con người hay bị dục lạc mê hoặc, khi sống một cuộc sống sung sướng th́ không thể nào nghĩ đến cái mặt trái đau khổ của cuộc đời, chỉ có bậc siêu nhân mới không bị đọa lạc mà thôi. Th́ chính đứa bé con nhà bà la môn ấy có trí huệ của một vị cao nhân, tuy lớn lên trong hoàn cảnh giàu có, nhưng cũng hiểu rơ thế nào là đau khổ, là tội ác của nhân sinh. V́ thế khi cậu thành niên, bèn từ biệt cha mẹ xuất gia làm tỳ kheo.

Một hôm trên đường giáo hóa về, trong một khu rừng cành lá che khuất, thầy gặp một đoàn người đi buôn, họ là những người trên đường ra nước ngoài để làm ăn buôn bán, đi ngang qua chỗ ấy. Lúc ấy trời chạng vạng tối, mặt trời đă vội lặn về tây, đoàn người đi buôn bèn đóng trại để qua đêm tại đấy. Vị tỳ kheo nọ nh́n thấy những cỗ xe lớn nhỏ của họ nhưng không nói lời nào, chỉ chậm răi đi bộ qua lại ở gần doanh trại mà thôi.

Lúc ấy, từ đầu phía kia của khu rừng rậm, có một lũ cướp kéo đến rất đông. Chúng nghe ngóng biết được có đoàn thương gia sẽ đi ngang chỗ này, nên tính lợi dụng ban đêm để ùa vào cướp bóc tài sản của họ. Nhưng khi chúng đến sát gần doanh trại nơi các thương gia đang ngủ, th́ lại thấy có người quanh quẩn dạo chơi ở bên ngoài lều. Những tên cướp sợ đoàn thương gia này có đề pḥng, nên nghĩ phải chờ mọi người ngủ say hết mới dễ động thủ. Nhưng cái người ở ngoài đi qua đi lại ấy suốt đêm lại không vào lều nghỉ ngơi. Trời đă từ từ sáng, bọn giặc núi không làm sao t́m được một lúc sơ hở để ập vào doanh trại cướp bóc, bèn tức giận to tiếng chửi rủa rồi kéo nhau đi. Đúng lúc ấy, bọn người đi buôn trong trại vừa ngủ dậy, th́nh ĺnh nghe tiếng ồn ào ở bên ngoài th́ vội vàng chạy ra xem, chỉ thấy một bọn cướp núi rất đông tay cầm chùy sắt, gậy gỗ, đang hướng về núi mà chạy đi. Phía ngoài trại chỉ duy nhất có một vị xuất gia, bọn người đi buôn khiếp đảm chạy đến hỏi :

- Đại sư! Ngài có thấy bọn cướp núi không?

- Có chứ! Tôi thấy họ ngay từ đầu.

Vị tỳ kheo trả lời.

- Đại sư, đoàn người đi buôn lại hỏi, bọn chúng đông như thế, ngài không sợ hay sao? Ngài đơn độc chỉ có một ḿnh, làm sao có thể địch nổi chúng nó?

Vị tỳ kheo chẳng lộ vẻ chút ǵ sợ hăi hay lo lắng, điềm tĩnh trả lời:

- Người có tiền thấy giặc cướp mới lộ vẻ sợ hăi. Tôi chỉ là một người xuất gia, trong thân không có lấy một đồng một chữ, th́ tôi sợ cái ǵ? Cái mà bọn cướp muốn là tiền tài và bảo vật, tôi không có một vật ǵ gọi là đáng giá, th́ dẫu có ở rừng sâu hay núi thẳm, cũng không hề có tâm sợ hăi.