Chùa Hải-Đức in Jacksonville
|
|
Truyện Tích Phật Giáo Tác giả: Phật Giáo Cố Sự Đại Toàn Dịch giả: Diệu Hạnh & Giao Trinh 1 - 10
Giáo pháp của Đức Phật vô cùng b́nh đẳng, không có sự chênh lệch giai cấp, không có sự sai biệt giàu nghèo.Lúc Đức Phật thuyết pháp tại Kỳ Viên tinh xá, đến bữa ăn là phải ôm bát ra ngoài hành hóa. Lúc Ngài khất thực, không phân biệt giàu nghèo, sang hèn, khôn ngu, đẹp xấu, Ngài xem tất cả đều b́nh đẳng khiến cho nhà nào cũng có được cơ hội gieo trồng hạt giống phúc đức.Mỗi khi Đức Phật dẫn đầu đoàn đệ tử đến thành Xá Vệ khất thực, th́ sau lưng Ngài có rất nhiều người ăn mày đi theo. Nhờ uy đức của Đức Phật, họ cũng được mọi người phát tâm từ bi bố thí. Thời gian chầm chậm trôi qua, những người hành khất trong thành Xá Vệ nhờ thế mà kéo dài được mạng sống hạ tiện của họ. Có một hôm, người đầu sỏ trong đám ăn mày ấy nói với đồng bạn rằng : - Chúng ta thuộc về hạng chúng sinh bị tội khổ, tuy nương dựa vào ánh sáng từ bi của Đức Phật để được mọi người bố thí mà kéo dài mạng sống, nhưng cứ tiếp tục như thế này măi chẳng bao giờ đi tới đâu. Tôi thiết nghĩ rằng, hay là tất cả mọi người trong bọn chúng ta kéo nhau đến chỗ của đức người xin xuất gia, y Pháp mà tu hành, tương lai không phải là được giải thoát cả hay sao? Các bạn nghĩ như thế n ào?Tất cả mọi người trong đám ăn mày đều tán thành ư kiến này, thế là họ kéo nhau đến Kỳ Viên tinh xá , cầu xin Đđức Phật cho họ xuất gia để tiêu trừ tội khổ.Đức Phật nói: - Pháp của ta b́nh đẳng, bất kể kẻ trí hay người ngu, người sang hay kẻ hèn, ai cũng có thể được truyền trao giáo pháp, được pháp quang chiếu dọi. Pháp của ta là pháp thanh tịnh, người tốt hay xấu ai cũng có thể bỏ sự Ô uế để được trong sạch, hồi phục lại chân tính căn bản. Hôm nay cái ông xin xuất gia, đó là do thiện duyên của các ông, các ông chỉ cần tuân theo giáo pháp của ta th́ ta cho phép các ông gia nhập tăng đoàn, thành những vị tỳ kheo.Các vị hành khất nghe Đức Phật nói xong hết sức vui mừng, cạo hết râu tóc và khoác pháp y vào. Từ đó họ nỗ lực ra công, diệt trừ tham sân si trong tâm, hiểu rơ căn nguyên của sinh tử, nên có nhiều vị đă chứng được quả A La Hán.Lúc Đức Phật cho phép đoàn người hành khất xuất gia, trong dân chúng có rất nhiều người nghi ngờ, vẫn c̣n ôm giữ tà kiến nên dùng lời oán than phản đối, cho rằng tăng đoàn vốn tôn quư thanh tịnh, không nên để cho bọn ăn mày ấy được phép gia nhập. Quan niệm giai cấp trong đầu những người n ày hăy c̣n rất nặng nề.Có một hôm, thái tử Kỳ Đà làm một cỗ chay cúng dường Đức Phật và chư tăng, nhưng ông dặn rơ ràng rằng:- Thế Tôn! Ngày mai con rất hoan hỉ mà cung thỉnh đức Phật và chư tăng đến nhà con thọ cúng, nhưng không có chỗ cho mấy ông tỳ kheo hành khất nọ, xin Thế Tôn đừng mang họ theo.Ngày hôm sau, lúc lên đường đến nhà thái tử Kỳ Đà thọ cúng, Đức Phật nói với các vị tỳ kheo đ ă có thời làm hành khất nọ :- Hôm nay ta nhận lời thỉnh của thái tử Kỳ Đà đến nhà ông ấy dùng cơm. Các ông hăy đi về phía bắc, đến nước Uất Đan Việt, hái thức ăn như lúa canh v.v... tới nhà thái tử Kỳ Đà rồi tùy ư t́m chỗ mà ngồi ăn.Các vị tỳ kheo hành khất hiểu ư của Đức Phật, tuân lệnh lên đường. Họ dùng thần thông nên đến nước Uất ĐanViệt trong nháy mắt, hái đầy b́nh bát lúa canh đă chín mang về. Về tới chỗ, họ làm thành một nhóm 500 người, xếp hàng thành chữ "nhất", từ không trung bay xuống, uy nghi, chỉnh tề, trang nghiêm, khiến ai nh́n thấy cũng phải tỏ ḷng tôn kính tán thán. Khi họ đến cung điện của thái tử Kỳ Đ à, 500 người theo thứ tự an nhiên ngồi xuống, mỗi người mở bát lấy lúa canh mang theo mà dùng.Thái tử Kỳ Đà nh́n thấy các vị tỳ kheo này rất lấy làm lạ, bèn hỏi Đức Phật:- Bạch Thế Tôn, các vị đại A La Hán mới từ không trung bay xuống, thái độ uy nghi lẫm lẫm khiến ai nh́n thấy cũng phải tôn kính ấy, chẳng hay từ đâu mà đến? Thỉnh Phật từ bi nói nhân duyên của họ cho con được biết. Đức Phật nh́n đại chúng, nh́n sang thái tử Kỳ Đà rồi sau đó mới nói một cách ôn ḥa: - Thái tử Kỳ Đà! Ông hăy nghe ta nói: các vị tỳ kheo ấy chính là những vị tỳ kheo hành khất mà hôm qua ông nhất định không muốn cúng dường. V́ ông không mời họ nên hôm nay họ phải đến nước Uất ĐanViệt hái lúa canh đă chín mang về đây dùng.Thái tử Kỳ Đà nghe thế lấy làm vô cùng xấu hổ, biết ḿnh đă có lỗi khinh mạn và tà kiến, buồn rầu hối hận mà tự trách rằng:- Con thật là ngu si, không biết đâu là thánh đâu là phàm, có mắt đứng trước núi Thái Sơn mà không thấy, thật là đáng tội!Nói xong vội vàng bày bàn cỗ thức ăn, thỉnh 500 vị La Hán vào bàn rồi hỏi Đức Phật rằng: - Bạch Thế Tôn, 500 vị La Hán được Phật giáo hóa không lâu đă chứng đắc quả vị, ĺa khổ được vui. Đă được một phúc báo to lớn như thế, th́ tại sao lúc ra đời lại sinh ra trong nh à hạ tiện? Thỉnh Thế Tôn từ bi khai thị cho con!Đức Phật nắm lấy cơ hội này mà giảng giải cho đại chúng nghe: - Ngày xưa thật là xưa, có một thế giới to lớn gấp bội lần thế giới hiện tại của chúng tạ Trong thế giới ấy có một quả núi cao, trên ấy có nhiều vị tu hành và tiên nhân tu đạo cư ngụ. V́ thế người ta bèn đặt tên cho quả núi ấy là Tiên Sơn.Trong núi, lúc ấy có hơn 2 000 vị tu đạo sinh sống, vị nào cũng đă chứng quả thánh.Có một n ăm, trời không mưa trong một thời gian rất lâu nên nạn hạn hán lan tràn, không có cách nào canh nông trồng trọt trên núi, v́ thế đời sống trở nên vô cùng khó khăn. Vừa may có một nhà buôn cự phú tên là Tán Đàn Ninh, làm cỗ cúng dường hơn 2 000 vị thánh nói trên. Vị trưởng giả rất thành tâm, không hề có ư niệm lẫn tiếc nào, c̣n bảo mấy trăm gia nhân trong nhà phải mỗi ngày phục dịch hầu hạ các vị thánh nhân ấy. Ban đầu th́ những gia nhân này làm việc hăng hái chăm chỉ, nhưng về sau họ đâm ra chán nản, thốt những lời trách oán, thái độ càng ngày càng lơ là, lười biếng. Nhưng trưởng giả Tán Đàn Ninh không hề hay biết ǵ về sự việc này.Một hôm trời đổ mưa, nhà nông vui mừng như bắt được vàng. Hai ngàn vị thánh nhân lên núi trở lại lo việc làm ruộng, trưởng giả cũng bảo gia nhân bắt đầu gieo hạt. Mọi người lấy nông cụ ra, từ sáng đến tối ngoài đồng làm việc, lúa mạch, lúa ḿ, đậu, ngũ cốc v.v... không đâu là không có. Những ǵ họ khổ công gieo trồng mọc lên rất mau, chín vàng, ra quả to như quả dưa. Trưởng giả rất vui mừng, bảo họ phải cố gắng thêm, tưới tẩm thêm, bón phân thêm, đến lúc gặt hái th́ thu hoạch càng thêm phong phú, kho vựa đầy ăm ắp. Chỗ c̣n dư th́ đem chia cho mọi người và bố thí cho dân chúng trong nước.Lúc ấy, những người đă phục dịch thánh chúng lúc trước cảm thấy ân hận, xấu hổ, biết lỗi của ḿnh nên từ đó phát nguyện "mấy trăm người chúng ta đây, lúc trước đă tạo khẩu nghiệp, bây giờ biết sám hối sửa lỗi, từ bây giờ trở đi nguyện làm nhiều việc thiện, phụng sự người khác, cầu mong kiếp tới gặp được thánh hiền, tu hành giải thoát".Thái tử Kỳ Đà! Mấy trăm người làm công ấy, v́ đă tạo khẩu nghiệp nên kiếp này phải chịu cái khổ sinh ra làm ăn mày. Nhưng nhờ biết hối lỗi, nên nửa quăng đời c̣n lại họ đă được gặp Phật. Trưởng giả Tán Đàn Ninh chính là ta trong kiếp trước. Nhờ những nhân duyên như thế nên kiếp này họ mới được độ.Đức Phật nói xong, thái tử Kỳ Đà và những người cùng nghe đều hoan hỉ không kể xiết, tất cả đều phát tâm chuyên cần tu hành, sám hối tội lỗi, cầu được vô thượng Bồ Đề. Ngày xưa ở nước Kế Tân,Tây Vực, có một vị cao t ăng tên gọi là Ly Việt, lúc trẻ xuất gia, ở trong hang động trên một đỉnh núi hoang vắng học đạo, công phu tu hành thiền định rất chuyên cần, chứng được quả A La Hán và lục thần thông. V́ thế nên người người xa gần biết tiếng, t́m đến xin bái ngài làm sư phụ.Dưới sự chỉ dẫn khéo léo và từ bi của ngài, đệ tử ngài cũng chứng quả A La Hán rất mau, chứng quả xong họ phân tán khắp nơi để lo việc hoằng pháp.Tuy ngài Ly Việt đă chứng thánh quả nhưng vẫn không ngừng tinh cần tu tŕ, rất ít khi nghỉ ngơi. Một hôm có chút giờ nhàn rỗi, ngài mới nhân đó dọn dẹp hang động, chợt thấy tấm y màu xám mà ngài thường mặc đ ă theo thời gian mà ngả sang màu bạc trắng.Không biết tại sao hôm ấy ngài lại nổi hứng lên núi hái rễ cỏ và vỏ cây làm thuốc nhuộm rồi đem tấm y trăm mảnh ra nhuộm lại. Bỏ tấm y trong nồi thuốc nhuộm rồi, ngài dùng một nhánh dương liễu khuấy nước để trộn thuốc nhuộm cho đều, th́ quái lạ thay, tấm y bỗng dưng biến thành một tấm da trâu! Chưa hết, thuốc nhuộm trong nồi đang đen như mực, bỗng biến thành màu đỏ như máu, và mấy cái rễ cỏ vỏ cây lại biến thành những miếng thịt trâu. Quái dị hơn nữa là mùi thịt trâu c̣n bốc ra từ cái nồi đang sôi, khiến ngài cứ trố mắt ra nh́n một cách kinh ngạc.Đúng lúc ấy một người nông phu từ chân núi chạy lên, thấy ngay miếng thịt trâu trong nồi, bèn la hét giận dữ: - A, ông thật là to gan! Hôm nay ông khai giới sát nên mới đem con trâu của tôi ra giết phải không! Sáng sớm tôi dắt trâu lên núi ăn cỏ, mấy phút sau không thấy nó nữa, đi t́m khắp nơi mà t́m không ra, may mà có mùi thịt dẫn đường nên tôi mới t́m được tới đây! Th́ ra là ông, một kẻ xuất gia, đă ăn trộm con trâu của tôi đem ra làm thịt! Bây giờ ông có ǵ nói để tự biện hộ không? Đi! Đi với tôi đến gặp vua ngay!Người nông phu nóng nảy không chịu nghe lời phân trần, lôi Ly Việt xềnh xệch đi đến gặp vuạ Thời ấy không có toà án, không có pháp đ́nh, dân chúng hễ có việc ǵ bất b́nh là kéo nhau đi gặp vua, nhờ vua phân xử. Khi người nông phu kể lể hết sự t́nh cho vua nghe, vua bèn hỏi Ly Việt có lời nào biện bạch không? Chứng cớ đă rành rành ra đó, c̣n có ǵ để nói nữa, do đó vua xử Ly Việt ngồi tù 12 năm. Mười hai năm, tức là bốn ngàn ba trăm tám chục ngày hơn chứ có phải ít đâu! Ly Việt La Hán trong suốt thời gian tù tội phải đảm nhiệm công việc quét dọn nhà lao và chùi rửa cầu xí cho sạch sẽ. Buổi tối, ngài dụng công chuyên cần tu thiền định, không bao giờ nằm xuống. Ngài từ bi nhẫn nại như thế nên đến cả mấy người cai ngục, người nào cũng hết sức cảm động. Thời gian 12 năm tù đă măn hạn, những người đệ tử ngày xưa tham thiền với ngài bỗng không hẹn mà cùng một lúc nhớ nghĩ đến sư phụ trong núi, tất cả bèn dùng thần thông quan sát, biết là sư phụ bị tù oan trong 12 năm trường. Họ cưỡi gió bay về cung vua, trong không trung khua trống pháp để tỏ sự bất b ́nh. Nhà vua nghe thế hết sức kinh ngạc, vội vàng tự tay phóng thích Ly Việt La Hán ra khỏi nhà giam.Sau 12 n ăm tù đày, Ly Việt tóc th́ dài râu th́ trắng, nhưng khi ngài vừa bước chân ra khỏi cửa ngục th́ râu tóc tự động rụng xuống đất, rồi c̣n bay lên không trung, biến hiện vô lượng hóa thân, mỗi hóa thân phóng ra ánh sáng rực rỡ. Thái độ an nhiên của ngài không giống một người mới được thả ra khỏi tù chút nào.Lúc ấy, chư vị A La Hán muốn ra tay trừng phạt nhà vua làm việc không công minh, nhưng ngài Ly Việt ng ăn lại:- Các con không được ra tay, đây l à nghiệp chướng của ta, không thể oán trách bất cứ ai khác.Trong một kiếp quá khứ, ta là một người nông phu, có một con trâu đi lạc. Ta lên núi t́m nó, đi cùng hết núi t́m cũng không ra, mà lại gặp một vị xuất gia tu hành. Không suy nghĩ ǵ thêm, ta liền nghi ngờ chính vị này ăn cắp trâu của tạ Trong suốt 12 tiếng đồng hồ ngày hôm đó, trong tâm ta khởi đầy vọng niệm, ta muốn đuổi vị ấy ra khỏi núi, ta muốn bắt vị ấy đưa lên vua để vị ấy bị giam cầm vào ngục tối... Ta đă tạo nghiệp ác, khiến kiếp này phải bị 12 năm tù oan.Giống như chuyện cho vay ăn lăi, thời gian càng lâu th́ tiền lăi càng cao, quả báo ta phải bồi thường lên tới 8 000 lần số "nợ" ta đă mượn.Ta chỉ hận tại sao lúc đó không làm ǵ ích lợi cho người khác, không phát tâm bố thí rộng răi, có phải là kiếp này đă tiêu nghiệp chướng rồi không?Các vị mới chứng quả A La Hán, nhà vua và đại thần nghe Ly Việt kể lại chuyện xưa như vậy, ai nấy đều tỉnh ngộ và đều hiểu rằng nguyên tắc nhân quả là một nguyên tắc bất di bất dịch, không một ai có thể đứng ngoài nguyên tắc này.A Xà Thế đích sám hối (496)Sau khi giết cha là vua Tần Bà Sa La rồi, một hôm A Xà Thế nằm mộng thấy cha về mỉm cười mà nói với ông rằng: - A Xà Thế! Ta là cha của con. Tuy con đă giết ta, nhưng ta không oán hận con. Là đệ tử của Đức Phật nên ta nguyện dùng đức từ bi của Phật mà tha thứ cho con. Dầu sao con cũng đă là con của ta, nên ta chúc con một điều, chúc con sớm sám ngộ mà bước đi trên con đường ánh sáng.A Xà Thế rất buồn, dầu sao cũng nghĩ đến ḷng thương của cha, nghĩ đến việc ḿnh đă giết cha một cách vô lư, ông cảm thấy vô cùng ân hận việc đ ă làm.Có một hôm, vua A Xà Thế cùng mẹ là phu nhân Vi Đề Hi ngồi cùng bàn ăn cơm. Không thấy con trai của ḿnh là Ưu Đà Gia vào bàn ăn, ông hỏi người thị tùng:- Ưu Đà Gia đâu, kiếm nó về đây cùng ăn cơm...Người hầu cận đáp rằng: - Ưu Đà Gia đang nghịch với chó. Khi người hầu cận gọi Ưu Đ à Gia về, chú c̣n ôm một con chó nhỏ trong taỵ A Xà Thế hỏi con rằng:- Tại sao con không ăn cơm?Ưu Đ à Gia nũng nịu trả lời:- Không cho con ở chung với chó th́ con không ăn cơm đâu!A Xà Thế thành phải ch́u ư con và tất cả cùng ăn cơm chung bàn. Sau một lúc, vua A Xà Thế nói với Vi Đề Hi phu nhân rằng : - V́ thương con mà vua phải ăn cơm chung với chó, thật l à khó coi!Quốc thái phu nhân Vi Đề Hi trả lời:- Ăn cơm chung với chó th́ có chi là đặc biệt! Thiếu chi người ăn thịt chó nữa kià! Hiện nay vua thương con, chịu ngồi ăn chung với chó mà vua đă chua chát. Sự thật tiên vương, tức là phụ vương của vua, đối với vua c̣n làm nhiều chuyện khó làm hơn nữa, nhưng vua không biết đó thôi. Lúc vua c̣n rất nhỏ, trên ngón tay có mọc nhọt, đau đớn vô cùng, làm cho vua đêm ngày không ngủ được. Tiên vương ôm vua đặt lên đầu gối, dùng miệng ngậm nhọt độc trên ngón tay cho vua bớt đau. Có khi, khí ấm trong miệng làm cho nhọt bể ra và chảy mủ, tiên vương sợ giấc ngủ của vua bị kinh động nên phải nuốt chỗ mủ ấy. Tiên vương thương vua như vậy đó, v́ thương con nên đă làm những điều mà người khác không làm được. Vua A Xà Thế nghe phu nhân Vi Đề Hi kể, yên lặng đặt chén cơm xuống, đứng dậy bước qua pḥng bên cạnh. Từ đó trở đi, ông không c̣n cảm thấy làm vua là vinh quang và sung sướng nữa, trong tim ông dường như có một tảng đá thật lớn đang đ è nặng.Nghiệp báo của vua A Xà Thế hiện tiền, thân ông lại bị nổi mụn nhọt đầy người, tâm ông lại không lúc nào là không bị hối hận dày ṿ. Ông bèn nói với quần thần rằng :- Bây giờ cả thân lẫn tâm của ta bị lâm bệnh nặng, nhất định là do cái tội mưu đồ giết hại cha mà ra, ai có thể chữa lành cho ta?Giữa các đại thần có nhóm lục sư ngoại đạo Nguyệt Xưng, muốn an ủi vua nên dùng đủ thứ tà giáo để chứng minh rằng v́ nước mà giết cha th́ không có tội, nhưng vua A Xà Thế nghe họ nói không hề động tâm mà c̣n nặng thêm ḷng hối hận. Lúc ấy có một vị danh y tên là Kỳ Bà bước lên khám bệnh cho vua, tâu rằng :- Đại Vương, hiện giờ đại vương cảm thấy trong người như thế nào?Vua A Xà Thế lắc đầu bảo rằng:- Kỳ Bà! Bệnh của ta rất trầm trọng, không những thân ta mang bệnh mà bệnh khổ trong tâm cũng rất nặng. Ta nghĩ rằng ngay cả lương y, thuốc thần, chú thuật cũng đều không chữa lành cho ta được! Ngày đ êm nằm trên giường ta ưu sầu khổ năo, rên xiết kêu la, không tài nào nhắm mắt. Kỳ Bà! Tuy ông là bậc danh y trong thiên hạ, nhưng lần này ngay cả ông cũng sẽ phải bó tay thôi!Kỳ Bà nói một cách trang trọng: - Đại vương! Xin ngài đừng thất vọng bi thương như vậy. Hiện nay, trên thế giới này, ngoài Đức Phật ra, thần nghĩ rằng đúng là không có một người thứ hai có thể cứu bệnh cho đại vương.Khi Kỳ Bà thốt lên những lời ấy, các tùy tùng của vua A Xà Thế đều biến sắc, họ rất sợ Kỳ Bà đă chọc giận vua. Nhưng lần này vua A Xà Thế không hề nổi giận, chỉ yên lặng nhắm mắt. Kỳ Bà quan sát biết được tâm của vua rồi, b èn nói tiếp:- Đại Vương, thần là một thầy thuốc, thầy thuốc tuy có thể chữa bệnh của thân thể, nhưng tuyệt nhiên không chữa trị được bệnh của tâm. Đức Phật là vị y sĩ vô thượng, chỉ cần đại vương bằng ḷng đến bái kiến Ngài, chắc chắn Ngài sẽ đón tiếp đại vương. Đức Phật giống như biển cả mênh mông, có thể dung nạp tất cả mọi ḍng sông. Bệnh khổ của đại vương do tâm mà sinh, cần phải trị dứt bệnh căn của tâm, sau đó mới trị được bệnh cuả thân.Vua A Xà Thế gật đầu nói rằng: - Phải rồi Kỳ Bà, ông nói rất đúng. Ta cũng rất muốn bái kiến Đức Phật, song ta sợ Ngài sẽ không tiếp ta v́ ta là người tội lỗi. Đó là chưa kể những ǵ ta đă làm với Đề Bà Đạt Đa... Ta rất có lỗi với Đức Phật... Kỳ Bà biết được tâm của vua A X à Thế ngay trong giờ phút ấy nên tiến thêm một bước nữa, nói rằng :- Đại vương, thần nghe nói rằng ngay trong giây phút lâm chung, tiên vương đă tha tội cho đại vương rồi. Tiên vương là đệ tử của Đức Phật, đệ tử của Phật mà c̣n tha thứ cho đại vương, không lẽ một đấng đức độ viên măn, tâm đại bi trùm khắp như Đức Phật mà lại không biết tha thứ sao?Thần nghe Đức Phật thuyết giảng rằng, nếu có người tạo tội ác mà biết khởi tâm tàm quư, khẩn thiết chí thành sám hối trước Tam Bảo th́ có thể tiêu trừ tội lỗi ấy được và nghiệp chướng cũng nhẹ đi. Tuy có một thời đại vương không hiểu luật nhân quả mà tạo nghiệp ác, nhưng nếu nh́n theo pháp môn tàm quư và sám hối của Đức Phật, th́ đại vương vẫn có thể được cứu. Thần thấy nay đại vương đă có tâm tàm quư và sám hối th́ đại vương đă bắt đầu bước đi trên một con đường mới rồi đó!Thần lại đă từng nghe Đức Phật giảng rằng, người có trí huệ th́ không dám tạo tội, nếu không cẩn thận mà tạo tội th́ sau đó biết sám hối. Người ngu si là người tạo tội mà không hối cải, hay là tạo tội xong lại c̣n che dấu. Nếu đại vương đến được trước mặt Đức Phật để mà cáo bạch sám hối, nói rơ là sẽ không tái phạm nữa, th́ ánh sáng từ bi của Ngài sẽ phù hộ che chở cho đại vương. Đại vương, người trí không che dấu tội của ḿnh. Đức Phật thường nói, làm người phải tin sâu nhân quả, tin chắc chắn rằng không ai thoát được nghiệp báo dẫu trong đường tơ kẽ tóc. Trên thế giới này chỉ có siển đề là không thể cứu được, đại vương không phải là siển đề, th́ chắc chắn là sẽ được Đức Phật cứu độ.Ḷng từ ái của Đức Phật vô lượng vô biên, tất cả chúng sinh đều được Ngài đoái hoài tới. Đức Phật không phân biệt kẻ oán người thân, kẻ thương người ghét, người giàu kẻ nghèo, kẻ sang người hèn. Ngài cứu độ tất cả mọi người một cách b́nh đẳng. Đức Phật cho phép ông Bạt Đề tôn quư xuất gia, th́ cũng cho phép ông Ưu Ba Ly hạ tiện xuất gia. Đức Phật tiếp nhận sự cúng dường của phú ông Tu Đạt Đa trưởng giả, cũng không từ chối sự bố thí của kẻ bần c ùng.Đức Phật đă cảm hóa ngài Đại Ca Diếp vốn trốn tránh dục nhiễm gia nhập vào tăng đoàn, nhưng Ngài cũng đă dùng phương tiện khuyến hóa được một người đầy tham dục như Ngài Nan Đà và cho xuống tóc. Quỷ mẹ cùng Ương Quật Ma La, ai nghe tên cũng hăi hùng nhưng Đức Phật đă t́m đến họ để độ hóa. Đối với ai đi nữa, Đức Phật cũng coi họ như La Hầu La, xin đại vương không nên nghi ngại ǵ cả. Thật ra nói lên những lời này thần rất e ngại, nhưng thần không thể không nói ra với đại vương. Bây giờ Đức Phật đang đưa các vị đệ tử của Ngài đến vườn lê của hạ thần và sẽ thuyết pháp nơi đó, xin đại vương hăy mau đến tham bái Ngài, xóa tan màn mây đen tối trong tâm và để chỗ cho bầu trời quang đăng sáng lạn. Đây là một cơ hội ngàn vàng, thần khẩn khoản xin đại vương đừng bỏ lỡ!Vua A Xà Thế nghe xong, trong mắt phát ra những tia hy vọng lẫn hối hận, ông đáp: - Nghe khanh nói trẫm rất vui mừng, vậy khanh hăy về chọn ngày lành tháng tốt, trẫm nhất quyết đến tham bái đức Phật để van cầu sám hối. Kỳ Bà lắc đầu không đồng ư: - Đại vương, trong giáo pháp của Đức Phật, không có những sự mê tín như ngày lành tháng tốt. Đức Phật thường dặn ḍ các vị đệ tử của Ngài rằng không nên bói toán, bốc quẻ hung kiết. Tu học chính pháp và hành động theo chính pháp th́ ngày nào cũng lành và tháng nào cũng tốt cả. Tốt nhất là đại vương n ên khởi hành ngay!Vua A Xà Thế rất vui ḷng, cho chuẩn bị thật nhiều phẩm vật cúng dường, và đưa một đại đội tùy tùng rầm rộ ào ạt hướng đến vườn lê của Kỳ Bà.Nhưng trên đường đi, A Xà Thế bỗng cảm thấy lo sợ và bất an. Ông ra lệnh cho voi lớn kéo đoàn xe ngựa phải ngừng lại, nói với Kỳ Bà rằng:- Kỳ Bà, ta nghĩ rằng Đức Phật đă ĺa mọi nhiễm ô, Ngài có nhân cách thanh tịnh như trăng tṛn. Tăng đoàn của Ngài toàn là những vị thánh nhân đă đoạn diệt phiền năo. Một người như ta và Đề Bà Đại Đa đă phản nghịch Đức Phật, th́ làm sao Ngài lại bằng ḷng tiếp kiến một kẻ cực ác vô đạo như ta? Làm sao Ngài lại chịu đưa bàn tay cứu độ ra cho một kẻ tội lỗi như ta? Ta nghĩ hay là thôi vậy, chúng ta nên quay về!Kỳ Bà nghiêm sắc mặt mà nói rằng: - T́nh của cha mẹ cho con cái vốn b́nh đẳng, nhưng phần lớn cha mẹ thường đặc biệt lo lắng cho những đứa con có bệnh. Từ bi của Đức Phật cũng b́nh đẳng đối với tất cả chúng sinh, nhưng dối với người có tội, Ngài đặc biệt quan tâm hơn. Đối với siển đề Đức Phật c̣n thuyết chính pháp, đại vương không phải là siển đề th́ lư do ǵ mà Đức Phật không từ bi cứu độ.Vua A Xà Thế c̣n đang do dự, th ́ trong không trung bỗng nhiên có âm thanh vang lên:- A Xà Thế, ta la Tần Bà Sa La phụ vương của con. Con hăy mau tin nghe theo lời của danh y Kỳ Bà, đến chỗ của Đức Phật mà van cầu sám hối. Ta muốn nói với con một điều, đèn pháp sắp tắt, thuyền pháp sắp ch́m, cây pháp sắp gẫy, hoa pháp sắp tàn rồi. Mặt trời Phật có ngày lặn về Tây, Đức Phật sắp nhập Niết Bàn. Lúc ấy th́ căn bệnh trầm trọng của con, ai sẽ cứu chữa? Tội nặng ngũ nghịch mà con đă phạm khiến cho trong không bao lâu nữa con sẽ đọa địa ngục. Ta thương con nên mới khuyên con hăy mau đến chỗ của Đức Phật mà cầu cứu. Trừ Đức Phật đại giác, đời đời kiếp kiếp không ai có thể độ con được!A Xà Thế nghe được âm thanh từ ái của cha, đau khổ quá, ngă xuống đất bất tỉnh. Khi tỉnh dậy th́ danh y Kỳ Bà dẫn ông xuống xe đến chỗ Đức Phật đang tĩnh tọa trong giảng đường. Đức Phật ngồi ngay ngắn trên ṭa sư tử, bốn bề có đệ tử vây quanh, ánh lửa sáng rực, hương khói cuồn cuộn bay, mọi người đang an tĩnh tọa thiền. Vua A Xà Thế rửa chân bước vào giảng đường, Kỳ Bà đưa ông đến trước ṭa của đức Phật, chắp hai tay trước ngực mà thưa rằng:- Thế Tôn, thỉnh Ngài quán sát tâm con! Đức Phật mở đôi mắt trong sáng ra, quay đầu lại hiền từ đáp rằng: - Đại vương! Ông tới đúng lúc. Ta đợi ông đă lâu.A Xà Thế kinh ngạc trước sự ưu ái của Đức Phật, vội vàng quỳ xuống, cúi đầu thật thấp nói một cách hổ thẹn:- Thế Tôn từ bi! Con không xứng đáng, con là người cực ác vô đạo, nếu được Thế Tôn quát mắng con đă thấy vô cùng hạnh phúc, nay lại c̣n được Thế Tôn d ùng lời từ ái như thế, con rất cảm kích!Tâm đại bi của Thế Tôn không chừa một chúng sinh nào, hôm nay con mới được thấy tận mắt. Thế Tôn là bậc cha lành của chúng sinh chúng con, con rất hối hận đă sát hại người cha vô tội. Bây giờ thân tâm con bất an, nguyện Thế Tôn từ bi cứu vớt!Đức Phật nhẹ nhàng nói: - Trên thế gian có hai loại người có thể có hạnh phúc chân chính : một là người tu thiện pháp không tạo tội, hai là người tạo tội mà biết sám hối. Nay cơ duyên hối lỗi của đại vương đă thành thục. Trên đời này có ai là không phạm tội ? Biết lỗi th́ sửa đổi, đó là cách cư xử của người tốt. Pháp môn của ta quảng đại vô biên, đại vương cứ luôn luôn sám hối là được.Đại vương, tội lỗi vốn không có bản thể, vốn Không, huyễn, nếu tâm ư mà hết bám giữ th́ tội lỗi cũng tiêu diệt. Hiểu rơ rằng tâm và tội bản thể là Không, không có thật, th́ đó là sám hối một cách chân chính. Từ nay đại vương hăy lấy chính pháp trị dân, đừng làm điều phi pháp nữa. Nên lấy đức cải hóa dân, đừng nên bạo tàn. Nếu đại vương nhân từ th́ danh thơm tiếng tốt sẽ lan truyền bốn phương, đại vương sẽ được chúng sinh tôn kính, không muốn phục tùng cũng không được. Chuyện quá khứ đă qua rồi, chẳng c̣n ǵ để bàn căi đến nữa. Từ nay trở đi, việc quan trọng là làm sao sửa đổi. Đại vương mà làm việc thiện th́ sẽ được an ổn, sung sướng. Tiến thêm một bước nữa th́ hăy học pháp môn Không trong của Phật đạo, chứng quả Không để giải thoát và được độ.A Xà Thế nghe đức Phật giáo huấn rồi, cảm thấy đầy hy vọng và tin tưởng trong cuộc sống mới. Ông vô cùng hoan hỉ, tất cả mây đen mê vọng đă được quét sạch, quỳ trước bảo toà ông cảm động rơi nước mắt. "Lăng tử hồi đầu kim bất hoán" (kẻ chơi bời phóng túng mà biết quay về th́ c̣n quư hơn vàng), cuối cùng A Xà Thế quy y với đức Phật và đă được cứu độ.
Ngày xưa có một ông trưởng giả rất giàu có, tiền muôn bạc triệu, tài sản xài suốt đời không hết, vợ lại vừa xinh đẹp vừa hiền đức, nên đă hạnh phúc ông lại càng hạnh phúc hơn. Nhưng niềm vui của ông ngắn ngủi, hạnh phúc thật vô thường, người ta chẳng thường nói "hoa không nở ba tháng, người không sướng ba năm" hay sao? Chẳng bao lâu sau, vị phú ông này từ từ bước vào hố thẳm của khổ đau. Không ai c̣n thấy ông với vẻ mặt hân hoan của những ngày hạnh phúc xưa nữa, tại sao vậy? V́ đứa con trai của ông mà ra cả.Ông lập gia đ́nh một thời gian lâu mới sinh được một đứa con trai, ngày đứa bé ra đời ông vui mừng không kể xiết. Nhưng bất hạnh thay, con ông mới oe oe chào đời là đă mắc bệnh nặng. Theo lời thầy thuốc chẩn bệnh th́ đó là những mụn nhọt độc hại mọc trên da đứa bé khiến nó khóc cả ngày, thế mà danh y nào mời đến cũng đều lắc đầu chịu thuạ V́ thế mà nét mặt ông càng ngày càng ủ dột buồn rầu.Tội nghiệp đứa bé, rất nhiều thầy thuốc đă bó tay rồi, nó chỉ c̣n biết đêm ngày khóc la kêu đau, cuộc sống thật là khổ sở.Tiếng khóc gào rên rỉ của nó làm náo động tới làng xóm, nên người ta đặt tên cho nó là thằng "Khóc Gào". Ngày qua như nước trôi, cuốn đi những năm tháng thơ ấu của Khóc Gào, chẳng bao lâu cậu đă lớn khôn, nhưng bệnh tật trên người th́ vẫn chẳng hề bớt chút nào, đêm ngày cậu vẫn đau đớn, ai nghe tiếng rên khóc của cậu cũng phải buồn cho cậu. Gần nhà cậu có một ông hàng xóm già, nghe tiếng rên la đau đớn của Khóc Gào, trong ḷng thấy bất nhẫn, bèn t́m đến nhà cậu thăm hỏi và nói với cậu rằng :- Tôi nghe rất nhiều người về khen ngợi tán thán rằng tại Kỳ Viên Tinh Xá có một vị Đại Y Vương, bệnh trên thân hoặc bệnh trong tâm của chúng ta Ngài đều có thể chữa trị được hết. Ngài có phương tiện thần thông nhiệm mầu, bệnh của cậu có trầm trọng đến đâu cũng sẽ tức khắc lành, cậu nên mau mau t́m đến Ngài cầu xin chữa bệnh.Khóc Gào nghe người hàng xóm nói thế, vui mừng vô kể, vội mang tấm thân bệnh hoạn t́m đến Kỳ Viên Tinh Xá xin được gặp Đức Phật.Khi Khóc Gào nh́n thấy 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp và thân của Phật uy nghi sáng chói, cậu hân hoan tán thán ngaỵ Những đau đớn khổ năo của cậu giảm thiểu đi rất nhiều, lập tức gieo năm vóc xuống đất lễ bái Đức Phật. Đức Phật từ bi chưa từng bỏ rơi bất cứ chúng sinh bệnh khổ nào, nên khi thấy Khóc Gào tới, Ngài rất hoan hỉ, bèn tuyên thuyết cho cậu những pháp môn thù thắng có năng lực diệt trừ tất cả mọi khổ năo. Khóc Gào nghe Đức Phật thuyết pháp xong bèn sám hối tội lỗi. Lúc ấy nhọt độc đă hành hạ cậu trên mười năm qua lập tức tan biến, bệnh khổ của cậu hoàn toàn được tiêu trừ nên tâm cậu sinh khởi niềm cung kính hoan hỉ chân thành, cậu bèn cầu xin Đức Phật cho phép cậu được xuất gia làm tỳ kheo. Cậu tu hành tinh tiến, chẳng bao lâu đắc quả A La Hán. Các vị tỳ kheo khác thấy t́nh cảnh của Khóc Gào như thế, thấy đó là điều rất hy hữu, bèn thỉnh Thế Tôn nói về nhân duyên khiến cho cậu phải chịu quả báo lúc trước. Đức Phật giảng cho các đệ tử nghe rằng: - Vô lượng kiếp về trước, ở thành Ba La Nại có hai vị phú ông nọ. B́nh thường hai người đă không ưa nhau và đố kỵ nhau, nên một trong hai người đem rất nhiều vàng bạc châu báu lên dâng tặng nhà vuạ Khi nhà vua nhận những vật cống hiến của ông này rồi, th́ rất quư trọng ông. V́ thế khi ông này phê b́nh ông kia trước mặt nhà vua, nói rằng "người ấy vô cùng hiểm ác, thường dùng mưu độc ám hại tôi, xin đại vương hăy nghiêm trị người ác để bảo vệ dân lành", th́ nhà vua vốn đă nhận vật cống hiến rồi nên không c̣n sáng suốt nhận định, nhất nhất tin lời ông này và ra lệnh bắt giam, không đếm xỉa tới những lời biện hộ của người kia, c̣n đem ra tra tấn tàn khốc. Người này phải chịu tất cả những h́nh phạt đau đớn nhất, thương tích đầy thân như vẩy cá, phải nhờ gia đ ́nh xuất tiền chuộc tội mới thả cho ông về nhà.Về tới nhà ông suy nghĩ không ngừng, thấy rằng con người v́ có thân cho nên mới có khổ, mới bị lắm tai nhiều họa, ḿnh và người kia không hề có oán thù chi mà họ lại có thể hại ḿnh đến mức thân tàn ma dại như thế này. Không lâu sau, ông bỏ vào núi tu hành và thành Bích Chi Phật. Vị Bích Chi Phật phát tâm đại từ bi, sợ rằng người kia kiếp sau sẽ chịu quả báo đau khổ nên tới nhà người ấy thị hiện đủ loại thần thông, khiến người kia thấy những biến hóa bất khả tư ngh́ như thế, sinh tâm kính ngưỡng, lập tức thỉnh Bích Chi Phật lên ṭa ngồi và chuẩn bị đủ loại thực phẩm đặc biệt để cúng dường và sám hối tội cũ của ḿnh đối với Ngài.Đức Phật nói đến đây, ngừng một lúc rồi nói tiếp: - Các ông phải biết cái người sàm tấu với vua chính là tỳ kheo Khóc Gào đă chịu khổ trong kiếp này. Sau, nhờ ân huệ của Bích Chi Phật, sám hối tội lỗi cũ, và nhờ công đức thành kính quy y Tam Bảo nên ngày nay được Như Lai cứu độ, mau đắc quả thánh.Đừng nghĩ rằng những lời sàm tấu nói ra mà không ai biết. Nghiệp tội không trốn được, dẫu trong đường tơ kẽ tóc. Nhưng đă phạm tội như thế rồi mà biết sám hối th́ có thể được cứu độ.
Ngày xưa trong thành Xá Vệ có một người nhà rất giàu, tên gọi là Sư Chất, đă hơn 40 tuổi rồi mà chưa có con. Hai vợ chồng rất lo lắng, đến nhà Bà La Môn xin bốc một quẻ bói xem sau này có sinh được đứa con trai hay con gái nào không? Nhưng họ vô cùng thất vọng nghe thầy bói trả lời rằng suốt đời họ sẽ không có con.Sư Chất nghe thế không chịu tin, lại đi t́m một ông thầy tướng số khác, cao tay ấn hơn, nhiều kinh nghiệm hơn xin bốc quẻ. Lạ thay, vị thầy tướng này vốn được mọi người tôn kính v à khen ngợi là bói linh như thần, lại cũng làm cho Sư Chất thất vọng.Sư Chất đi về mà ḷng phiền muộn, bỗng sực nhớ đến bậc đại thánh Thích Ca Mâu Ni, tự nghĩ:- Đức Phật là giáo chủ của trời và người, là bậc Nhất thiết trí, không có ǵ là Ngài không biết, không có ǵ là Ngài không hiểu, tại sao ta lại không đến gặp Ng ài xin chỉ giáo?Nghĩ đến đây ông bèn nhắm hướng Kỳ Viên tinh xá mà đi. Cung kính đảnh lễ Đức Phật xong, ông chắp tay bạch :- Bạch Đức Thế Tôn đại bi, xin Ngài thương xót chúng sinh ngu si mà chỉ giáo: con có chút ưu tư, năm nay đă hơn 40 mà chưa có đứa con trai nối dơi, đó là do nhân duyên ǵ, cúi xin Đức Phật khai thị. Đức Phật trả lời: - Không lâu nữa ông sẽ có một đứa con trai, vừa có phúc lại vừa có đức, chỉ có điều là khi nó vừa lớn nó sẽ xin xuất gia.Nghe tin này Sư Chất rất đỗi vui mừng, thành tâm đảnh lễ chân Phật, rồi thỉnh cầu:- Cầu xin Thế Tôn và chư tăng cho phép chúng con được cúng dường vào trưa mai, để chúng con được kết th êm thiện duyên và trồng chủng tử vào ruộng phước của Như Lai.Đức Phật nhận lời rồi, Sư Chất hoan hỉ quay về chuẩn bị đàn trai. Hôm sau ông dẫn đầu gia nhân, chân thành cúng dường những món ăn thức uống ngon lành đẹp mắt nhất. Đức Phật nhận cúng dường xong, thuyết một thời pháp rồi dẫn đầu tăng chúng quay về tinh xá. Đi được nửa đường, Đức Phật và tăng chúng ngồi dưới một gốc cây bên bờ sông nghỉ ngơi. Bỗng từ trên cây, một con khỉ nhẩy xuống xin mượn b́nh bát của Đức Phật. Nó ôm b́nh bát chạy đi thật xa rồi quay về, trong b́nh bát chứa đầy mật ngọt. Nó dùng hai tay kính cẩn dâng b́nh bát lên Đức Phật, Ngài nhận lấy và chia cho chư tăng dùng để con khỉ được nhiều phúc đức. Con khỉ thấy thế mừng rỡ nhẩy nhót.Không lâu sau nó đến ngày tận số, đầu thai l àm người, sinh vào nhà của Sư Chất.Lúc nó sinh ra, trong nhà phàm có vật dụng ǵ có thể chứa đựng thức ăn, th́ vật dụng ấy bỗng đầy ắp mật và đường. Vợ chồng Sư Chất thấy điều quái dị, bèn do nhân duyên này đặt tên con là Mật Thắng.Thời gian vùn vụt trôi mau như tên bắn, hơn mười n ăm trôi qua như trong nháy mắt, Mật Thắng nay đă lớn khôn. Chú bé chán ngán chuyện thế tục, xin phép cha mẹ cho ḿnh được xuất gia, cha mẹ hết sức vui mừng mà trả lời:- Lúc con chưa ra đời, Đức Phật đă biết sẽ có ngày hôm nay. Bây giờ con muốn xuất gia, cha mẹ rất hoan hỉ. Không bao giờ cha mẹ ngăn chận con một cách vô lư.Được cha mẹ hoan hỉ cho phép rồi, Mật Thắng đến Kỳ Viên tinh xá xin xuất gia với Đức Phật. Nhờ có tiền duyên, Mật Thắng chứng quả rất mau. Một hôm, thầy đang trên đường đi độ hóa với các bạn đồng tu, cảm thấy vừa nóng vừa khát lạ thường, ai nấy đều ao ước có một cái ǵ uống. Tỳ kheo Mật Thắng bèn cầm bát tung lên trời rồi sau đó dùng hai tay tiếp lấy bát trở về. Bấy giờ trong bát đựng đầy mật ngọt, Mật Thắng bèn chia cho chúng tăng giải khát.Về tới tinh xá, một vị tỳ kheo đi t́m Đức Phật xin thỉnh giáo: - Trong quá khứ tỳ kheo Mật Thắng đă tu được phúc đức ǵ mà bây giờ bất cứ lúc nào, ở đâu cũng có thể có đường v à mật?Đức Phật trả lời: - Các ông có nhớ có một lần lâu lắm rồi, có một con khỉ đem mật ngọt đến cúng dường Như Lai và chúng tăng không? Nhờ bố thí với thiện tâm, chết rồi nó được sinh ra làm người và nhờ nó chân thành cúng mật ngọt cho Phật nên kiếp này nó có thể được mật bất cứ lúc nào và ở đâu.Đức Phật nói xong, vị tỳ kheo nọ hỏi tiếp: - Bạch Thế Tôn! Thế th́ tiền kiếp Mật Thắng do nhân duyên ǵ mà bị đọa xuống làm khỉ?Lúc ấy xung quanh Đức Phật có rất nhiều đệ tử vân tập, Ngài nh́n họ một lúc rồi đáp:- Thầy ấy bị đọa xuống làm khỉ là do một nhân duyên xẩy ra cách đây 500 kiếp trước, thời Ca Diếp Như Lai c̣n tại thế. Lúc đó có một vị tỳ kheo trẻ tuổi, t́nh cờ thấy một vị tỳ kheo khác đang băng qua một con suối nhỏ, vị trẻ tuổi bèn cười chế nhạo, bảo là dáng điệu của vị tỳ kheo kia giống hệt như con khỉ. Vị tỳ kheo trẻ tuổi đă phạm tội ác khẩu nên bị đọa xuống làm khỉ, nhưng sau đó thầy ấy biết lỗi lầm của ḿnh, đến xin sám hối với vị tỳ kheo mà ḿnh đă chế nhạo. Nhờ thắng duyên ấy mà kiếp này mới được gặp Phật và được Phật độ, chứng quả A La Hán một cách mau chóng. Nghe đức Phật giảng xong, các vị tỳ kheo đều nhận ra rằng một câu nói ác cũng có thể chiêu cảm nghiệp khổ, v́ thế không c̣n ai dám ác khẩu, ngay cả đến một câu nói đ ùa cũng không dám nói.Bởi v́ nhân quả không nhường bất cứ một người nào.
Đời xưa có một người tốt bụng, thích làm việc thiện, và cũng là một vị Phật tử thuần thành. Ông thường thường lập đàn trai trong nhà để cúng dường chư tăng, cho nên thường thân cận nhiều vị thiện tri thức và các vị cao tăng. Nhà ông ở ngay ven bờ sống Hằng, cách thành Xá Vệ chừng 30 dặm đường. V́ ông là người từ thiện, thích bố thí, nên người ở xa tới đâu cũng đến xin ông cứu giúp, và họ chưa bao giờ trở về tay không, v́ thế nên người người xa gần đều tán thán ông. Nhưng ông lại có một người cha chỉ thích kiếm tiền một cách bất thiện, lăo làm cái nghề táng tận lương tâm là mổ lợn bán thịt. Dầu con của lăo vẫn thường hay khuyên can nhưng lăo không hề có chút kiêng dè, trái lại c̣n trách con sao lại hay lập đàn trai cúng dường, sao lại thường cứu giúp người cùng khốn.Bước tiến của thời gian chính là sự thử thách tốt nhất của cuộc đời, v́ sau một thời gian dài, tội ác nào của con người cũng đều được phơi bày ra hết. Hành vi sát sinh của ông lăo nọ đồn tới tai mọi người rất mau, ai cũng thấy rằng lăo không nên tạo nghiệp sát như thế nữa. Rất nhiều vị tỳ kheo thường hay qua lại nhà lăo cũng biết được việc này, cũng muốn đến khuyên can lăo, nhưng v́ cả nể lại muốn giữ t́nh giao hảo, nên không ai dám mở miệng nói câu nào.Không lâu sau, lăo sinh bệnh, và tuy mời nhiều vị thầy thuốc đến nhưng không ai chữa được, cho nên một buổi sáng sớm nọ, lăo ĺa đời trong một cơn đau đớn cùng cực.Lăo chết rồi, v́ cái tội ác sát sinh nên đọa làm thân ác quỷ trên sông Hằng, đời có bao nhiêu thống khổ lăo đều phải chịu hết.Có một hôm, các vị tỳ kheo vẫn được con trai lăo cúng dường lấy thuyền băng qua sông Hằng, ác quỷ bèn hiện ra nửa thân h́nh trên mặt nước đuổi theo bén gót, rồi chạy ra phía trước chận thuyền lại m à nói:- Chúng bây là một phường tồi bại! Tao sẽ lật úp con thuyền này cho chúng bây chết ch́m hết không đứa nào sống sót!Các vị tỳ kheo ngồi trên thuyền nh́n thấy con ác quỷ quái dị như thế đă lấy làm lạ rồi, nay c̣n nghe hắn tuyên bố những lời trên lại càng không hiểu ǵ hết. Trong số các vị ấy, có một vị tuổi cao hơn hết, đứng dậy hỏi:- Nguyên do ǵ mà ngươi nói chúng ta là phường tồi bại? Tại sao lại c̣n muốn lật úp con thuyền chúng ta đang ngồi? Ác quỷ lớn tiếng gầm lên trả lời: - Lúc tao c̣n sống, con trai tao thường thường cúng dường chúng bây. Tao mổ lợn bán thịt, chúng bây biết tao làm việc phi pháp, mà không đứa nào răn bảo tao khiến bây giờ tao phải chịu bao nhiêu thống khổ như thế này. Tao muốn đ̣i mệnh chúng bây để chúng bây cùng chịu khổ với tao ở đây, có thế tao mới hả niềm căm hận!Vị tỳ kheo lớn tuổi kia rất cảm thương mà trả lời rằng: - Bây giờ ngươi đang chịu khổ, đúng là do nghiệp sát chiêu cảm! Ngươi nói muốn đoạt mệnh của chúng ta, nhưng làm như thế có ích lợi ǵ? Ngươi giết người, không phải chỉ có tác dụng làm cho nghiệp tội của ngươi thêm nặng mà thôi sao? Nếu ngươi bằng ḷng sám hối, chúng ta có thể giúp cho ngươi được siêu dộ.Ác quỷ nghe ra và hiểu được những lời khuyên dạy của vị tỳ kheo, bèn ẩn thân bỏ đi. Con thuyền nhờ đó được thoát hiểm mà tiếp tục đoạn đường.Về đến nhà, các vị tỳ kheo ấy cùng người con trai của ác quỷ làm công đức hồi hướng v à cầu siêu cho hắn.Dựa vào pháp lực của Đức Phật, con ác quỷ được siêu sinh lên cơi trời, hưởng những phúc lạc của thiên giới.Ở Ấn Độ có một ngôi chùa, bên cạnh chùa có một cây tùng thuộc giống tùng Ông Uất Bà Sa, v́ thế nên người ta lấy cây đặt tên cho chùa, gọi là "chùa cây tùng".Trong chùa có hơn một tr ăm vị tăng cư ngụ, mỗi ngày tu tập chỉ quán, họ tu hành rất tinh tiến dũng mănh, v́ thế thánh nhân đă chứng quả trong chùa không phải là ít.Cách chùa cây tùng khoảng hai, ba dặm đường, có một bà cư sĩ tu tại gia. Bà thành tâm cung kính cúng dường các vị xuất gia đến mức cùng cực. Bà phát nguyện mỗi ngày thỉnh một vị tỳ kheo đến nhà cho bà được cúng dường, v́ thế chư tăng trong chùa cây tùng luân phiên nhau đến nhà bà thọ cúng. Cúng dường xong, bà c̣n muốn được nghe chư tăng thuyết pháp khai thị cho, nên cái vị tỳ kheo tuổi cao đức trọng, tinh thông liễu giải Phật pháp th́ hoan hỉ chấp nhận, nhưng v́ bà cư sĩ này cũng có thông hiểu Phật pháp đôi chút, nên các vị tỳ kheo sức tu học ít ỏi thiếu sót th́ lại không mấy ǵ muốn đến nhà bà.Trong chùa cây tùng có một vị tỳ kheo tên là Ma Ha Lô, cuối đời mới xuất gia, tuy tuổi rất cao nhưng sự hiểu biết về Phật pháp rất là ít ỏi, chỗ thâm sâu của pháp th́ cố nhiên là mù tịt, nhưng ngay cả chỗ cơ bản tối thiểu ông cũng không biết.Một hôm, đến phiên ông đi thọ cúng, ông dĩ nhiên không hề muốn đi chút nào v́ tự biết ḿnh không biết thuyết pháp khai thị cho ai. Ông từ chối, đẩy người khác đi thế, nhưng đẩy tới đẩy lui mà chẳng ai nhận lời đi thế ông, ai cũng bảo rằng :- Tới phiên ông th́ ông đi đi chứ, đẩy người khác đi thế l à nghĩa thế nào?Cuối cùng ông thầm nghĩ rằng: - Ta là t ăng sĩ, là phúc điền, lẽ ra phải nhận sự cúng dường của người ta, khiến cho người ta được dịp vun bồi ruộng phước và trưởng dưỡng gốc thiện. Tuy ta không biết thuyết pháp, nhưng không ai chịu đi th́ tốt nhất là chính ta đi vậy.Vị tỳ kheo già bèn chống gậy lần ṃ từng bước chầm chậm lên đường. Bà cư sĩ ở nhà chờ thật lâu, ḷng nóng như lửa đốt v́ đă đúng ngọ rồi mà vẫn chưa thấy ai tới. Khó khăn lắm lăo tỳ kheo mới lại tới, bà cư sĩ ngắm ông lăo từ xa dáng điệu đạo mạo nghiêm trang, da dẻ hồng hào, đầu tóc bạc phơ, trong l ̣ng cảm thấy vô cùng tôn kính, vội vàng lễ lậy thưa hỏi:- Ngài là bậc trưởng lăo tuổi cao đức trọng, được ngài quang lâm tệ xá, đệ tử cảm thấy vô cùng vinh hạnh!Bà một ḷng nghĩ rằng vị lăo t ăng này nhất định phải là một vị trí huệ thâm sâu, sẽ có thể bố thí cho bà những bài pháp vi diệu vô thượng, v́ thế bà hoan hỉ không kể xiết, vội vàng bày ra những món ăn tuyệt mỹ nhất cúng dường lăo tỳ kheo.Cúng dường xong, bà thỉnh lăo tỳ kheo ngồi lên toà cho bà đảnh lễ, và quỳ dưới đất, bà thỉnh ngài thuyết pháp khai thị.Vị tỳ kheo đăng bảo ṭa rồi, trong ḷng xấu hổ muôn phần, thấy ḿnh thật là ngu si một cách đáng thương v́ không hề biết ǵ về Phật pháp. Không có cách nào khác, ông thở dài một tiếng nói nhỏ:- Cái ngu si của con người đúng là gốc rễ của muôn phiền năo!Nói xong, ông bước xuống bảo toà bỏ đi. Bà cư sĩ đang quỳ dưới đất, cảm thấy đây là bài pháp vô thượng vi diệu nhất mà bà được nghe từ trước đến naỵ Bà suy nghĩ kỹ lưỡng như sau: ngu si có nghĩa là vô minh, mà vô minh là căn bổn của mười hai nhân duyên; v́ có cái căn bổn vô minh này nên con người ở măi trong bể khổ, sinh sinh tử tử triền miên không ngừng trong luân hồi, tất cả mọi khổ năo đều do đây mà phát khởi. Bà cứ măi tinh tiến tư duy như thế không ngừng nên ngay lúc ấy chứng quả A La Hán.Chứng được quả vị rồi, bà cư sĩ muôn phần hoan hỉ, vào kho lấy ra một tấm thảm dạ lớn màu trắng để cúng dường vị lăo tỳ kheo, nhưng bà t́m khắp nơi không thấy vị này. Sự thật là vị này xuống toà xong là bỏ về chùa cây tùng ngay, nhưng bà cư sĩ t́m không thấy nên đinh ninh là ông có thần thông, vội đem lễ vật cúng dường lên chùa.Lăo tỳ kheo về chùa rồi, có người vào báo có bà cư sĩ đến t́m, ông nghĩ bà này lại muốn nghe pháp nữa nên không chịu ra tiếp. Bà cư sĩ cứ khăng khăng muốn gặp, nên người vào thông báo lúc năy rất lấy làm khó xử, hỏi bà:- Chẳng hay bà nhất định gặp vị ấy để làm ǵ vậy?- Ngài ấy đă giúp tôi giải thoát căn bổn của khổ, v́ thế tôi muốn cúng dường cảm tạ.Khi lăo tỳ kheo biết bà không đến để đ̣i nghe pháp mới chịu ra nhận cúng dường.Nghe thế mới biết, một pháp hay tất cả pháp, khi nhân duyên tụ tập đầy đủ, chỉ cần một hai câu là người nghe có được lợi lạc lớn, một đời thọ dụng cũng không hết. Nhân duyên chưa đầy đủ th́ dẫu lời nói như hoa sen tuôn khỏi miệng cũng chỉ phí công vô ích.
Trưởng giả Tu Đạt tại thành Xá Vệ nước Ấn Độ là một vị "đại thí giả", hễ có người nghèo khổ bần cùng đến cầu xin ông cứu giúp, ông liền làm cho người ấy được toại ư. Nhất là đối với Tam Bảo th́ ông lại càng cung kính tôn thờ, thường thường cúng dường Đức Phật và chư tăng.Trong nhà ông trưởng giả Tu Đạt có một bà lăo bộc làm công, rất trung thành với chủ và làm việc rất siêng năng, nên được trưởng giả một ḷng tín nhiệm. Ch́a khóa nhà kho, vựa lúa đều do một tay b à nắm giữ.Bà lăo bộc này tính nết rất keo kiết, mỗi khi thấy chủ nhân lấy từ kho ra bao nhiêu là tiền bạc của cải để bố thí cho người là trong ḷng bà không khỏi cảm thấy tiếc rẻ.Nhưng điều làm cho bà bất măn hơn cả là lúc bà thấy Đức Phật và chư vị đệ tử đến nhà trưởng lăo thọ cúng dường. Bà thấy lúc đó trưởng giả vô cùng nhiệt thành, hoan hỉ nghênh tiếp và cúng dường Đức Phật. Tâm ganh tị như thiêu như đốt khiến bà ghét Đức Phật thậm tệ. Có một hôm bà c̣n lập ác nguyện rằng:- Tôi vĩnh viễn không muốn thấy mặt Phật, không muốn nghe ông ta thuyết pháp cũng không muốn thấy mặt mấy ông tỳ kheo. Thật là chuyện tốt không ai hay, mà chuyện xấu th́ ai cũng biết, nên tin bà lăo bộc phát ác nguyện chẳng mấy chốc lan truyền khắp mọi nơi. Lúc ấy, hoàng hậu Mạt Lợi nghe kể lại, rất lấy làm phật ư. Hoàng hậu biết trưởng giả Tu Đạt là một vị Phật tử thuần thành, th́ làm sao lại dung dưỡng trong nhà một bà nô bộc bất kính Tam Bảo như thế? Do đó, hoàng hậu hạ lệnh bắt trưởng giả phải cho bà mượn bà lăo bộc đến hoàng cung giúp việc nhân dịp bà lập đàn trai cúng dường Đức Phật.Trưởng giả Tu Đạt dĩ nhiên không dám trái lệnh hoàng hậu, đằng này mục đích lại là giúp cho việc cúng dường đức Phật th́ ông lại càng t́nh nguyện hơn nữa. Trưởng giả lập tức dùng mâm vàng đựng đầy trân châu, sai bà lăo bộc đem đến hoàng cung để cúng dường đức Phật. Hoàng hậu ra ư, chủ nhân truyền lệnh, bà lăo bộc đâu dám không tuân! Khi Mạt Lợi phu nhân thấy bà lăo bộc này, bà nghĩ phải thỉnh Đức Phật dạy dỗ con người tà kiến như thế mới được! Bà lăo bộc đem trân châu đến dâng lên hoàng hậu rồi, vừa mới quay người tính lui đi th́ Đức Phật từ cửa chính bước vào, theo sau là các vị đệ tử của Ngài. Bà lăo thấy Đức Phật bước vào đâm ra bối rối, cất bước lên tính trốn bằng cửa sau, th́ quái lạ thay, Đức Phật cũng lại từ cửa sau bước vào. Lần này bà cuống cuồng lên, tính chạy bằng cửa bên hông nhà, nhưng cũng lại thấy Đức Phật đứng ngay ở ngưỡng cửa bên hông. Bà lăo bộc thấy tứ phương tám hướng đâu đâu cũng có Đức Phật và chư vị đệ tử đứng, bà tiến hay lùi ǵ cũng khó khăn, đành phủ phục xuống đất. Nhưng trên mặt đất, bà vẫn thấy tôn tượng của Thế Tôn. Bà vội vàng dùng hai bay bịt kín lấy mắt, để mắt ḿnh không gặp h́nh ảnh của Đức Phật nữa nhưng trong khoảnh khắc, mười ngón tay của bà đều hiện lên h́nh Phật. Bà không cần biết hậu quả ra sao, ba chân bốn cẳng chạy về, trốn vào một căn nhà nhỏ, những tưởng là sẽ không c̣n thấy Đức Phật nữa. Nhưng như trước, trong gian pḥng đen tối ấy, đâu đâu cũng có Đức Phật nên bà lăo bộc rất lấy làm đau khổ. Lại nói đến Đức Phật Thích Ca Mâu ni ở hoàng cung, Ngài không nói ǵ về thái độ vô lễ của b à lăo bộc, chờ thọ cúng xong xuôi mới nói với La Hầu La:- Bây giờ con có thể đi hóa độ cho bà lăo ban năy. Bà ấy với con có nhân duyên lớn, bà ấy sẽ tiếp đón con nồng hậu và sẽ chấp nhận sự giáo hóa của con.Tôn giả La Hầu La tuân lệnh Đức Phật đi ngay, ngài từ biệt Như Lai rồi đến nhà bà lăo bộc nọ, đứng trước nhà kêu cửa.Bà lăo đang trốn trong nhà, chợt nghe một giọng nói ḥa nhă thân thiết bèn vội vàng chạy ra mở cửa nh́n xem là ai. Có lẽ trong ḷng c̣n hoảng hốt, lại hoa mắt nên thấy ngài La Hầu La, bà ngỡ là người từ cơi trời xuống.Bà lễ lậy và đối xử với La Hầu La như thần thánh, tôn giả bèn dùng thái độ trang nghiêm thuyết cho bà lăo nghe pháp thập thiện.Bà lăo nghe rồi, hối hận những lỗi lầm đă tạo trong quá khứ, và nói:- Ngài là chúa tể cơi trời, ngài quả là cao cả, v́ thế nhân chúng con mà thuyết thiện pháp vi diệu để lợi lạc chúng sinh, ngài thật là phi thường hơn mấy ông tỳ kheo kia nhiều!Lúc ấy, La Hầu La biết bà đă bớt tâm ngă mạn, mới trả lời:- Pháp của Phật mới là thanh tịnh, mới là từ bi quảng đại. Pháp mà tôi mới nói ban năy là do thầy tôi dạy. Phận tôi nhỏ nhoi không đáng kể, làm sao so sánh với bậc đại thánh Như Lai được?Lăo bà nghe những lời ấy, định thần nh́n kỹ lại ngài La Hầu La, lúc đó mới tàm quư hổ thẹn không biết làm sao để chui xuống đất. Bà hối hận, bà tự trách, rồi bà khẩn cầu ngài La Hầu La giúp bà sám hối với Đức Phật và can thiệp cho bà được xuất gia. Phật pháp vốn b́nh đẳng, giữa người cao sang như vua chúa hay người bần tiện như nô tỳ không hề có sự sai khác. Bà lăo bộc nọ, sau khi đến trước mặt Phật sám hối rồi, b èn xuống tóc xuất gia làm tỳ kheo ni.Bà chuyên tâm tu học nên chứng được quả vị rất mau lẹ. Có người thấy thế, bèn đến xin Đức Phật thuyết giảng về nhân duyên quá khứ của bà lăo bộc này.- Xa xưa kia, thời Phật Bảo Cái Đăng Vương có một vị thái tử xuất gia học đạo với Như Lai. Thật ra, vị hoàng tử này tu hành tŕ giới rất tinh chuyên, nhưng lại lầm lạc theo đường tà. Về sau hoàng tử gặp một vị tỳ kheo, vị tỳ kheo này thuyết pháp dẫn đạo rất hay, nhưng hoàng tử không những không tán thán c̣n đem lời phỉ báng, bởi v́ tuy tŕ giới nhưng lại rất ngă mạn tà kiến. Do đó chết rồi đọa ác đạo, chịu đủ hết mọi sự thống khổ trong địa ngục, nay tuy sinh thân người nhưng lại chịu phận nô bộc.Vị hoàng tử thời nọ chính là bà lăo bộc trong kiếp này và vị tỳ kheo bị hủy báng kia chính là ta trong quá khứ. Các vị đệ tử của Đức Phật nghe xong, họ thấy rơ ràng là không thể tạo khẩu nghiệp, nhất là hủy báng người khác, v́ quả báo xấu xa của tội này, dẫu có tu hành tŕ giới cũng không ngăn chận được.
9- Ba luồng ánh sáng trắng Trong quá khứ có một người sống tại một vùng núi non hẻo lánh, nên từ nhỏ không hề được giáo dục, chưa từng nghe Phật pháp, chỉ biết cần kiệm làm bổn phận cho qua kiếp con người. Bởi v́ phước báo quá ít ỏi nên cho đến già mà vẫn c̣n nghèo nàn cùng khổ.Lên tới 60 tuổi, sau nửa n ăm bệnh hoạn, ông tiều tụy yếu ớt hẳn, biết trước sẽ không c̣n sống lâu trên đời nên gọi hai đứa con đến bên giường bệnh cho ông dặn ḍ lần cuối. Ông bảo đứa con trưởng rằng:- Em con c̣n nhỏ lắm, con th́ đă biết làm việc rồi, con phải cẩn thận chăm lo cho em, con phải giữ trách nhiệm của người anh cả. Vài ngày sau, ông rời bỏ nhân thế, rời bỏ khổ năo khiến hai đứa con buồn khóc một thời gian. Ba năm sau, người anh cưới một thiếu nữ cùng thôn làm vợ. Cô này cũng không có giáo dục, không biết t́nh nghĩa huynh đệ. Thấy chồng hậu đ ăi em, cô không bằng ḷng. Cô thường nói với chồng rằng:- Hay là chúng ta cho em của anh một vài thứ trong nhà rồi bảo nó tự lập kế mưu sinh. Hiện giờ nó hăy c̣n nhỏ, đương nhiên không làm sao được, mai mốt nó lớn lên phiền lắm, anh muốn đuổi nó đi, chưa chắc nó đă chịu đi!Nhưng người anh vẫn c̣n cái t́nh nghĩa chất phác của người miền núi, lại c̣n nhớ rơ lời di chúc của cha nên mỗi khi nghe vợ nói như thế lại bịt tai lắc đầu lia lịa. Tục ngữ nói rất đúng, gần đèn th́ sáng gần mực th́ đen. Sống cả ngày gần một người vợ tâm địa xấu xa, cứ thừa mọi dịp nói đi nói lại măi những lời độc ác, dần dà người anh bị huân tập, làm sao không biến thành ác độc? Lời nói giả dối mà cứ lập đi lập lại măi cũng trở thành chân thật, cuối cùng người anh cũng giống như vợ, bắt đầu ghét bỏ người em. Một hôm, người anh nghe lời vợ, đem người em tới nghĩa địa rất xa thành phố. Đó là một nơi rất ghê rợn, v́ theo tập tục Ấn Độ, cứ người chết đi th́ đem tử thi vứt vào đấy cho chim chóc thú vật tới mổ rỉa mà ăn. Nghĩa địa rất u ám, xương trắng ngổn ngang, luôn luôn có tiếng chim kêu thê lương như tiếng quỷ khóc trong địa ngục. Vào bên trong th́ cái khí âm u của nghĩa địa làm cho người ta lạnh run lên. Vào sâu bên trong nữa có một ngọn cây tùng bách cao lên tới từng mây, cành lá chằn chịt che trùm cả khe núi. Người anh lấy ra một sợi dây thừng đ ă mang theo, trói thúc người em lại rồi treo lên một cành cây to lớn, vừa trói vừa bảo em:- Không phải anh tàn nhẫn, nhưng nói thật em làm cho anh phiền lo nhiều quá. Em hăy ở đây suy nghĩ cho kỹ anh nói có đúng không, vài bữa nữa anh tới đón em về.Nói xong, người anh quay đầu chạy mau trở về nhà, không màng tới tiếng kêu van xin bi thảm của em. Thật ra người anh rất mâu thuẫn, ḷng thương em rất mực đă bị bà vợ dùng giọng nói nét mặt nghiêm khắc đàn áp xuống. Anh ta rất đau khổ nhưng không đủ sức chống đối lại vợ. "Thôi, để cho nó đánh cuộc với định mệnh xem sao! Nếu nó thoát được miệng hổ lang th́ đó là nó có phúc báo, c̣n nếu không th́ coi như là số của nó đă định như vậy. Ta đối với nó như thế đă là từ bi lắm rồi, thay v́ nghe lời vợ cầm dao giết nó!" Trên đường về, người anh nghĩ như thế để tự trấn an m ́nh.Trời dần dần tối. Trong màn đêm đen kịt, tiếng chim kêu thê thảm càng ngày càng nhiều. Rồi lại có thêm những âm thanh kỳ quái hỗn tạp cũng vọng lại, như báo hiệu yêu quỷ sắp xuất hiện. Đêm sâu dần, hổ, báo, sư tử, chó sói cũng lục tục kéo đến, rống lên từng hồi như muốn bắt hết hồn phách của người tạ Những tia mắt màu xanh lè, tham lam hung ác đổ dồn về phía gốc cây cổ thụ. Trên cây, người em cố hết sức dăy dụa khóc la:- Cứu tôi với! Trời ơi! Thần thánh ơi! Cứu tôi với! Cứu tôi với! Nó la hét như một người điên cho đến nỗi máu tươi từ trong miệng trào ra.Ngay lúc ấy, tại thành Vương Xá xa xôi, Đ ức Phật Thích Ca Mâu Ni đang trụ trong Kim Cương Tam Muội. Ngài nghe tiếng kêu cầu của đứa trẻ đáng thương, và nh́n thấy rơ t́nh cảnh nguy ngập mà nó đang lâm phải, nên Ngài dùng thần lực phóng ra một luồng ánh sáng từ giữa hai lông mày.Trong nghĩa địa, bỗng nhiên có một luồng ánh sáng trắng kỳ dị chiếu tới khiến khe núi u ám rợn người ấy chợt rực sáng lên. Những con dă thú hung hăng bị luồng ánh sáng trắng chiếu tới, lùi dần từng bước, từng bước, có con quay ḿnh chạy chí tử.Lại có một luồng ánh sáng màu trắng khác mạnh mẽ hơn chiếu thẳng tới sợi dây thừng trên người đứa em, như thể bị chạm phải một ngọn lửa mạnh hay một lưỡi dao bén, sợi dây kêu lên răn rắc và đứt đoạn từng khúc một.Tiếp theo lại có một luồng ánh sáng trắng thứ ba, dịu dàng chiếu lên thân đứa em. Nó như bị tê liệt rơi xuống đất, đau đớn nhức nhối ngất lịm đi. Bỗng nó cảm thấy như có người đang nhẹ nh àng vỗ về nó khiến cho nó cảm thấy thư thái lạ kỳ.- Con thật là đáng thương, con phải làm sao đây?Một giọng nói dịu dàng từ ái vang lên bên tai. Nó tỉnh lại và có một cảm giác lạ lùng khiến bao nhiêu đau đớn trong người tan biến hết. Ngẩng đ& |