Chùa Hải-Đức in Jacksonville
|
TRONG ĐỘNG TUYẾT SƠN TENZIN PALMO và CUỘC SUY TẦM CHÂN LƯ
Nguyên tác: Cave in The Snow Tenzin Palmo and The Quest For Enlightenment Tác Giả: Vickie Mackenzie Người Dịch: Thích Nữ Minh Tâm
Dianne Perry, (sau này được biết đến qua pháp danh Tây Tạng của cô là Tenzin Palmo) là một vị ni cô người Anh đầu tiên, đă ẩn cư thiền định suốt 12 năm trong một hang động cao 12.300 bộ trên dăy Hy Mă Lạp Sơn, cách ngăn khỏi thế giới trần tục bởi những rặng núi phủ đầy tuyết trắng quanh năm. Tenzin Palmo đă sống một ḿnh và tu tập trong động tuyết này. Cô đă chạm trán với những thú rừng hoang dă, đă vượt qua những cơn lạnh khủng khiếp, những cái đói giết người, và những trận băo tuyết kinh hồn; cô tự trồng lấy thực phẩm và ngủ ngồi trong cái hộp gỗ rộng cỡ 3 bộ vuông (theo truyền thống Tây Tạng, các vị tu sĩ đều tọa thiền trong một cái hộp gỗ như vậy). Cô không bao gị ngủ nằm. Mục đích của Tenzin Palmo là chứng đạo trong h́nh tướng một người nữ. Sanh vào năm 1943, Tenzin Palmo lớn lên ở trung tâm khu London's East End. Cô là con gái một người bán cá. Khi c̣n bé, Tenzin Palmo đă thích sống lặng lẽ một ḿnh. Cô đă t́m hiểu nghiên cứu các tôn giáo phương Đông và khát khao được giác ngộ chân lư. Năm 20 tuổi, thể theo tiếng gọi tâm linh, Tenzin Palmo đă bỏ việc làm tại thư viện và đáp tàu đi Ấn Độ. Năm 1964, sau ba tuần lễ diện kiến và học hỏi với một vị đạo sư, Tenzin Palmo đă trở thành vị ni cô Tây Phương đầu tiên xuất gia tại Ấn Độ. Cô sống trong một tu viện Phật Giáo Tây Tạng và cũng là người phụ nữ duy nhất trong số hàng trăm tăng sĩ. Do đó, cô đă kinh nghiệm sự đối xử cách biệt đối với hàng nữ tu. Cô đơn và đau khổ, cô đă thề nguyện sẽ chứng đạo trong h́nh tướng một người nữ, dù phải trải qua vô lượng số kiếp. Với tư tưởng đó, năm 1970, cô bắt đầu cuộc sống độc cư tại một nơi tĩnh mịch vắng vẻ; và 3 năm sau, cô t́m đến một động tuyết cao chót vót trên dăy Hy Mă Lạp Sơn để ẩn cư thiền đĩnh. Năm 1988, cô rời khỏi động Tuyết Sơn với ư định sẽ thành lập một nữ tu viện ở miền Bắc Ấn để giúp cho các phụ nữ khác đạt tới cảnh giới giác ngộ. Từ lúc bắt đầu sống đời ẩn sĩ chỉ với 80 Anh kim một năm, Tenzin Palmo đă trở thành một người nổi tiếng với những cuộc du thuyết toàn cầu; và tổ chức quyên góp xây nữ tu viện của cô càng lúc càng hoạt động sôi nổi. Tenzin Palmo đă đến với cuộc đời này, rời bỏ nó, và rồi lại trở về một lần nữa để giúp đỡ mọi người. Tenzin Palmo đă kể lại cuộc sống ẩn cư của cô cho Vickie Mackenzie với tất cả ḷng nhiệt thành cởi mở. Cô nói về những trở ngại, gian nan cô đă vượt qua, những thôi thúc thử thách mănh liệt, và những xúc cảm tâm linh mà cô đă chứng nghiệm. Cô cũng có đủ can đảm để trung thực diễn tả những dằng co khắc khoải mâu thuẫn giữa t́nh yêu trai gái và tiếng gọi nội tâm đầy ân sủng. "Trong Động Tuyết Sơn" là một kiệt tác phẩm diễn tả sự can đảm, khí phách, và trí tuệ của một vị ni cô Tây Phương đầu tiên đầ đối phó và vượt qua một cách dũng mănh những chướng ngại thiên nhiên; cũng như sinh lư và tâm lư để đạt tới cảnh giới giác ngộ giải thóat. Qua những sự kiện và kinh nghiệm chứng đạt của cô, Tenzin Palmo đă chứng tỏ cho chúng ta thấy cô là một nữ anh hùng của thời đại chúng ta,một ngọn đuốc sáng đốt cháy hàng rào cản ngăn bước tiến của giới phụ nữ, và san bằng mọi ranh giới phân chia cách biệt giữa người và người, giữa nam và nữ từ ngàn xưa cho đến tận thế kỷ 20 này.
Vickie Mackenzie
Tenzin Palmo và tác giả Vickie MacKenzie
Tôi nhớ lại lần hội ngộ đầu tiên với Tenzin Palmo tại Pomaia, một thành phố nhỏ của Ư nằm giữa những ngọn đồi hùng vĩ của Tuscany khoảng một giờ đường lái xe từ Pisa. Đó là một buổi xế trưa mùa hè và không khí ngột ngạt hơi nóng và mùi nhựa thông. — đó, chúng ta thấy những ṭa lâu đài một thời nguy nga tráng lệ với những bức tường chạm trổ tinh xảo, những cửa cái có ṿm cao, mái nhà kiểu tháp nhọn lấp lánh phản chiếu ánh mặt trời tháng Tám, và chỉ có tiếng côn trùng rỉ rả phá tan bầu tĩnh lặng của buổi trưa hè. Nhưng chỉ độ vài giờ nữa thôi, cuộc sống dưới phố kia sẽ náo nhiệt ồn ào vào buổi tối. Những cửa tiệm bán thực phẩm, giầy dép, bánh ngọt, và bia rượu sẽ mở cửa đón khách; và bọn đàn ông sẽ tụm năm tụm ba tán dóc đủ mọi chuyện từ chính trị, kinh tế, đến những hoạt động của các tổ chức phe nhóm địa phương. Tuy nhiên, lần đó, nét lộng lẫy gợi cảm nồng nàn của xứ Ư, nơi mà thiên hạ đua chen nhau hưởng thụ dục lạc, đă phải nhường bước cho ánh sáng thế giới nội tâm của Tenzin Palmo. Lần đầu tiên, tôi gặp Tenzin Palmo khi cô đang đứng dưới bóng các cây cổ thụ trong một ṭa lâu đài. Đó là một phụ nữ mảnh khảnh vào độ tuổi trung niên, với làn da trắng và lưng hơi kḥm. Cô mặc áo nữ tu Tây Tạng mầu đỏ xậm và tóc cạo sát đầu. Đứng vây quanh cô là một đám đông phụ nữ. Chúng ta có thể thấy đó là một buổi nói chuyện rất hào hứng, và bầu không khí rất thân mật, cởi mở. Đúng ra th́ họ không được phép nói chuyện như vậy; tuy nhiên, sau cả một tháng trời tu học giáo lư và thực tập thiền định, th́ buổi nói chuyện ngoại lệ đó cũng là điều tất yếu thôi. Tôi và khoảng 50 người nữa cũng tham dự vào buổi nói chuyện đó. Những sinh hoạt hào hứng ngoại lệ như thế đă trở thành quen thuộc nhưng quan trọng đối với tôi, sau khi tôi gặp các vị Lạt Ma ở Nepal từ năm 1976 trở về trước và khám phá ra tính chất đặc biệt phong phú trong những thông điệp của các ngài. V́ thế, những buổi nói chuyện sống động như tôi đang chứng kiến đây, là một phương pháp thư giăn xả hơi sau những giờ dài ngồi kiết già thiền định hay lắng nghe các vị tu sĩ trùng tuyên lại lời dạy của Đức Phật. Tối hôm đó, mọi người quây quần ăn uống ngoài trời. Một người đàn ông ngồi bên cạnh, th́ thầm vào tai tôi, và chỉ vào Tenzin khiến tôi đặc biệt chú ư. Tenzin Palmo lúc đó đang ngồi ở bàn ăn bên kia và nói chuyện vui vẻ, hăng say với đám đông vây quanh cô. - "Đó là Tenzin Palmo, một phụ nữ Anh Quốc đă sống 12 năm trong một hang động cao hơn 12.000 bộ trong dăy Hy Mă Lạp Sơn đó. Cô ta sống một ḿnh ở đó và vừa mới rời khỏi động tuyết." Bây giờ, sự chú ư của tôi đối với Tenzin Palmo không c̣n là một sự ṭ ṃ nữa, mà là một sự chú tâm đặc biệt. Nhiều năm qua, tôi đă đọc, đă nghe về những nhân vật kỳ đặc - những bậc đạo sư du già ở Tây Tạng, Ấn Độ hay Trung Hoa. Những bậc đại nhân này đă ĺa bỏ những tiện nghi sung măn vật chất của đời sống con người để ẩn cư thiền định tại những núi rừng hoang vu tĩnh mịch hết năm này qua năm khác. Con đường của họ đi thật khó khăn và cô độc làm sao! Hoàn toàn cô đơn, trên người chỉ có một tấm vải thô hay một chiếc áo mỏng manh, họ dấn thân vào cuộc chiến đấu với bản thân và những cơn đói lạnh khủng khiếp ghê hồn. Thân họ chỉ c̣n da bọc xương, râu tóc họ mọc xồm xoàm rậm rạp đến tận lưng. Họ đối diện với thú rừng hung dữ và những tên cướp của giết người không gớm tay. Những tên cướp này không có lương tâm, không có một chút t́nh nhân loại. Chúng không cần biết đó chỉ là những vị đạo sĩ vô sản; khi không t́m thấy được một vật ǵ, chúng đánh đập dă man các vị đạo sĩ này không chút nương tay, có khi gần chết. Tuy nhiên, những khổ sở đau đớn của ngoại cảnh không làm cho các đạo sĩ này nao núng lùi bước; cũng không thể nào so sánh với những chướng ngại nội tâm mà các đạo sĩ cần phải vượt qua để đạt tới giác ngộ giải thoát. Những lớp sóng ngầm độc hại của nội tâm như sân hận, chấp thủ, tham luyến... v.v... sẵn sàng trổi dạy và trào dâng úp chụp lấy họ không biết lúc nào. Họ phải vượt qua tất cả - và ngay cả khi chiến thắng chúng th́ các vị đạo sĩ này cũng phải dẹp tan sự phấn chấn hứng khởi đó th́ mới có thể gọi là Vô Ngă được. Cảnh giới giải thoát đó rộng răi thênh thang, vượt qua biên giới nhị nguyên - không Ngă - không Nhân - Đó là cảnh giới thanh b́nh an lạc tối thượng, không có ǵ so sánh được. Đó là trạng thái tinh thần sung măn cao nhứt mà con người có thể chứng được nếu muốn. Tôi đă đọc, đă nghe; nhưng hôm nay, tại Pomaia Ư đại Lợi, tôi đă gặp, đă chứng kiến một con người thực sự chứ không phải trong huyền thoại truyền thuyết; một con người bằng xương bằng thịt đang ngồi trước mặt tôi - và hơn thế nữa, đó không phải là một đạo sĩ người Á Đông, mà là một phụ nữ Tây Phương tân tiến thời đại. Một phụ nữ Tây Phương thời đại! Đầu óc tôi quay ṃng ṃng với hàng trăm câu hỏi. Cái ǵ đă xui khiến người phụ nữ Anh này rời bỏ được những tiện nghi văn minh vật chất để rút vào độc cư thiền định nơi núi thẳm rừng sâu như vậy? Làm sao cô có thể sống sót qua những cơn gió lộng băo tuyết kinh hồn? Cô ăn ǵ, tắm làm sao, ngủ thế nào, và không có cả điện thoại nữa? (đời sống người Tây Phương gắn liền với máy điện thoại; không có nó, họ cảm thấy thiếu thốn, có thể chết đi được). Làm sao cô có thể tồn tại khi không có một chút hơi ấm của t́nh người, của một người bạn đồng hành qua nhiều năm như vậy? Cô đă chứng đạt được ǵ? Và, ṭ ṃ hơn nữa, làm sao cô có thể chịu đựng nổi sự cô đơn và im lặng tuyệt đối giữa cảnh núi tuyết lạnh lùng hoang vắng, khi chính cô xuất thân từ một hoàn cảnh tương đối tốt đẹp? Nhưng tất cả sự ṭ ṃ nóng nảy đó của tôi đă vội nhường bước cho ḷng kính trọng pha lẫn sự ngạc nhiên đối với một người phụ nữ đă can đảm kiên tŕ phiêu lưu đến một nơi chốn mà tôi chưa hề biết và cũng không thể tưởng tượng ra được. Sự khao khát t́m cầu chân lư của cô, hoàn toàn khác tôi, đă đẩy cô vượt qua những khóa tu tập b́nh thường để dấn thân vào một cuộc chiến đầy cam go và thử thách, cốt làm sao vượt qua khỏi sanh tử luân hồi. "Nhập Thất", theo kiến thức nông cạn của tôi, là một việc làm lâu dài đ̣i hỏi tánh bền bỉ chịu đựng ngày này qua ngày khác; những thời khóa tu tập, tụng kinh, ngồi thiền, niệm chú, v.v... cứ lập đi lập lại dài vô tận; hay đối phó với những khủng hoảng dao động tâm lư chợt đến, chợt đi, khuấy phá nội tâm hành giả - và hành giả phải kiên tŕ, tin tưởng, can đảm đi đến cuối con đường ḿnh đă chọn. Ngày hôm sau, tôi lại gặp cô ta ở ngoài vườn, và chỉ ngồi một ḿnh. Thấy có cơ hội, tôi tiến lại gần. Không biết cô có chịu tiếp chuyện với tôi không? Nhưng nụ cười rộng mở, nét mặt khả ái của cô, và đôi mắt xanh trong sáng đă thúc giục tôi tiến bước. Từ người cô tỏa ra một sự b́nh an, hoan hỷ, tự tại, và thản nhiên; nhưng tính chất nổi bật nhất của cô là sự tinh khiết trong sáng hoàn toàn không chút vẩn đục của thân tâm.
CHƯƠNG HAI
Tenzin Palmo sinh ra tại căn nhà truyền thống lịch sử Woolmers Park ở Hertfordshire. Đúng ra đó là một thư viện nổi tiếng. Không phải v́ Tenzin thuộc ḍng dơi quư tộc nên cô được sanh ra ở đó; mà bởi v́ đúng vào ngày sanh của cô, 30 tháng 6 năm 1943, nhà độc tài Đức quốc xă Hitler Luftwaffe đă tấn công Luân Đôn trong trận Đệ Nhị Thế Chiến. Những bệnh viện đều trở thành hầm trú ẩn, cứu thương, và tạm cư. Khi mới sanh ra, Tenzin trông rất xấu xí, không có tóc, không có lông mi, và cả móng tay nữa; nhưng người mẹ vẫn cưng yêu đứa bé gái và âu yếm đặt tên con là Diane. Tenzin lớn lên trong cửa tiệm bán cá của gia đ́nh số 72 đường Old Bethnal Green Road, khu London East End. Ngày nay, khu phố này không c̣n nữa; nhưng vào thập niên 40, khu phố này rất đông đúc, chật hẹp, và ám khói. Tenzin kể lại: "Từ bé, tôi đă có cảm giác rất mạnh mẽ là nơi này không thích hợp với tôi. Ngay bây giờ, tôi vẫn có các cảm giác là Anh Quốc không phải là đất sống của tôi." Cha của Tenzin, ông George Perry, là chủ của cửa hàng bán cá. Ông là một người nhỏ con, và lớn hơn vợ ông đến 20 tuổi; v́ thế, ông rất cưng ch́u vợ con. Ông hay lui tới những trường đua ngựa, nuôi chó, và các nhà hát kịch. Năm Đại Thế Chiến thứ I, ông gia nhập quân đội, và khi tàn chiến tranh, ông trở về với căn bịnh viêm phế quản nặng. Làm việc trong cửa hàng bán cá vừa ướt vừa lạnh, căn bệnh quái ác đó đă tàn phá cơ thể ông và ông đă chết lúc 57 tuổi khi Tenzin chỉ mới lên 2. Tenzin kể lại rằng: - "Thật đau buồn v́ tôi không biết ǵ về cha tôi; nhưng tôi nghe nói lại rằng ông là một người rất tử tế và dễ thương. Tôi nhớ là người ta nói rằng mẹ tôi trẻ hơn cha tôi đến 20 tuổi, và bà thường đi khiêu vũ với các bạn nhẩy của bà. Cha tôi luôn khuyến khích mẹ tôi vui hưởng tuổi xuân của bà. Ông thường dọn đồ ăn sẵn để dành cho bà mỗi lần bà đi chơi khuya về. Tôi biết là cha tôi rất muốn có đứa con gái v́ ông đă có hai đứa con trai với người vợ trước. Nhưng đối với tôi, ông chỉ c̣n trong tấm ảnh mà thôi." Khi cha của Tenzin mất, mẹ của Tenzin, bà Lee Perry, một người nội trợ, phải vất vả lắm mới nuôi nổi hai con, Tenzin và anh trai của cô, Mervyn lớn hơn cô 6 tuổi. Mẹ của Tenzin là một phụ nữ vui tánh, lạc quan, phóng khoáng, và giúp đỡ Tenzin trong mọi hoàn cảnh suốt cả cuộc đời bà. Họ rất thương yêu và gần gũi nhau. - "Mẹ tôi thật đáng yêu. Tôi vô cùng tôn trọng bà." Tenzin nói. "Mẹ tôi đă làm việc rất vất vả và luôn luôn để ư đến ư kiến hay tư tưởng mới lạ. Bà là người có đầu óc tân tiến, cởi mở. Khi bà gặp cha tôi, ông đă sống ly thân nhưng chưa ly dị. Mẹ tôi không cho điều đó là quan trọng và đă sống với cha tôi và có 2 con với ông. Thời bấy giờ, việc một ngườI phụ nữ lấy một người đàn ông chưa ly dị vợ là một sự kiện khó chấp nhận. Nhưng đến khi cha tôi ly dị người vợ trước rồi, mẹ tôi cũng không công khai kết hôn với ông; v́ bà thích tự do và độc lập của riêng ḿnh." Dù lớn lên trong một môi trường ồn ào, náo nhiệt của dân cư vùng đông Luân Đôn với bản tánh dí dỏm, khôi hài của họ; và dù ngay cả khu East End là một thị trấn đáng yêu, dễ sống, Tenzin Palmo, ngay từ hồi c̣n bé, đă là một cô bé thích sống yên tĩnh và đầy nội tâm. Tenzin cũng có bạn nhưng không hề dẫn bạn về nhà chơi. Cô nói: "Tôi không bao giờ quan tâm về chuyện bạn bè cả. Tôi biết có một cái ǵ khác mà tôi cần phải làm hơn. Tôi chỉ thích ngồi yên lặng và đọc sách. Tôi nhớ là các thầy giáo của tôi thường cho tôi mượn sách. Các bạn tôi th́ không bao giờ được như vậy." Tenzin rất chú tâm đến những ǵ liên quan đến phương Đông, mặc dầu lúc bấy giờ, đối với người dân Anh và gia đ́nh Tenzin, Đông Phương là một cái ǵ hoàn toàn xa lạ. - "Tôi đă bỏ nhiều th́ giờ một ḿnh ngồi vẽ các cô gái Nhật Bản duyên dáng xinh tươi trong tà áo kimono. Tôi c̣n nhớ từng chi tiết nhỏ nhặt tôi đă vẽ họ. Khi người Trung Hoa đầu tiên đến khu vực West End mở tiệm ăn, tôi đă năn nỉ mẹ tôi dẫn tôi đến đó để xem mặt mũi người phương Đông thế nào." Và cô nói rằng: "Nhất là đối với giới nữ tu và tông phái Thiền, tôi cảm thấy có một cái ǵ hấp dẫn, lôi cuốn tôi không thể giải thích được." "Tôi rất thích các ḍng tu kín. Nếp sống khổ hạnh, giản dị, những buổi cầu nguyện không dứt và lời thề dâng trọn đời cho hạnh phúc mọi người thực sự làm tôi rung động và ngưỡng mộ. Có lần một người bán hàng thực phẩm đă hỏi tôi sau cùng muốn làm ǵ, tôi trả lời không do dự "Làm nữ tu". Bà ta phá lên cười và nói rằng tôi sẽ đổi ư khi tôi lớn lên. Tôi nghĩ thầm "Bà lầm rồi"; nhưng lúc đó, tôi không hiểu là tôi muốn trở thành nữ tu tôn giáo nào." C̣n vài sự kiện khác thường nữa như Tenzin Palmo luôn luôn nghĩ là ḿnh đă sanh lầm làm con gái. "Người lớn nói với tôi rằng thân thể con người sẽ thay đổi khi họ trưởng thành, và tôi rất thích thú khi suy tưởng tôi sẽ thành con trai khi tôi lớn lên" Ngay từ tấm bé, Tenzin là một đứa trẻ yếu đuối, ốm đau luôn. Cô sanh ra đă bị dị dạng; xương sống bị vặn vẹo về phía trái và do đó, cả cơ thể lệch hẳn đi, không ngay thẳng. Năm cô độ vài tháng tuổi, cô bị viêm màng năo, nằm bịnh viện chữa khỏi độ ít lâu, sau lại bị đau lại. Cứ vài tháng, cô lại vào nhà thương chữa trị; một tuần độ 3, 4 lần đi điều trị dược liệu pháp. Tenzin ốm yếu bịnh hoạn luôn đến nỗi nhà trường tài trợ cho cô bé được đi dưỡng bịnh ở một vùng ven biển để dưỡng sức. - "Không một ai có thể t́m ra nguyên do xác đáng, nhưng cứ một năm độ 2, 3 lần, tôi lại bị những cơn sốt cao độ quật ngă và chứng bịnh đau đầu kinh khủng lại hành hạ tôi kịch liệt. Sau này, khi lớn lên, tôi tự biết đó là quả báo của những kiếp trước của tôi, bởi v́ những căn bịnh đó từ từ biến mất theo thời gian và nhất là tôi không hề bị bịnh nặng lúc tôi ở trong động tuyết." Cuộc sống của ba mẹ con Tenzin không được sung túc cho lắm; v́ sau khi cha cô qua đời, mẹ cô không biết quản lư cửa hàng cá nên bị người anh họ gạt sạch tiền. Nợ nần ngập lụt đầu, mẹ Tenzin phải làm việc cật lực ngày đêm mới xoay sở nổi qua ngày và trả nợ. Mặc dù mất cha và sống thiếu thốn như vậy, anh em Tenzin vẫn vui vẻ an ổn trong t́nh thương của mẹ và tuổi thơ anh em họ êm đềm trôi qua. Cô học rất giỏi, nhất là về môn Anh văn, Lịch sử, và những môn trắc nghiệm tâm lư hay trí thông minh; nhưng cô kể lại rằng cô vẫn không thích thú các môn học này bởi v́ cô biết chúng không ích lợi ǵ cho mục dích cô đă chọn. Mẹ của Tenzin, bà Lee Perry, là một người sùng đạo và rất tin về thuyết linh hồn có thực sau khi chết. Hàng tuần vào tối thứ tư, lúc 8 giờ, những người hàng xóm thưỡng tụ tập tại nhà của Tenzin để cầu cơ gọi hồn. Cô kể lại: - "Chúng tôi thường ngồi quanh một cái bàn tṛn bằng gỗ rất nặng, và người ngồi ở giữa sẽ là người cầm cơ để chuyển đạt lại những ǵ người chết nói. Tôi nhớ có một đêm nọ, mẹ tôi đùa nói là những người chết không có sức mạnh đâu và họ đánh cá với nhau xem ai thắng. Họ mời bà chủ tiệm tạp hóa rất nặng kư ngồi lên bàn và họ yêu cầu người chết nhấc bàn lên. Thật dễ sợ, cái bàn gỗ nặng nề và người phụ nữ mập mạp đó như được bàn tay vô h́nh nào đó nhấc bổng lên một cách nhẹ nhàng và từ từ di động xung quanh căn pḥng." "Từ những buổi cầu cơ đó, mẹ con chúng tôi thường nói chuyện với nhau về thế giới vô h́nh bên kia. Có nhiều người sợ không dám nói, thâm chí không dám nghĩ đến cái "Chết"; nhưng đối với chúng tôi, "Chết" là một cái ǵ tự nhiên và tất yếu sẽ xảy đến cho mọi người. "Tôi nghĩ "Chết" chỉ là một t́ến tŕnh, là bước kế tiếp sau sự sống. Chúng ta đă trải qua không biết bao nhiêu sự kiện trong các đời quá khứ và sẽ tiếp tục như vậy trong tương lai. Chết cũng như là thay đổi một lớp áo mà thôi. Lối suy nghĩ thực tiễn như vậy sẽ làm con người bớt lo sợ về cái Chết và hăng hái hơn trong hiện tại. Như một giọt nước nhỏ trong đại dương, kiếp sống này chấm dứt, một cuộc đời khác xuất hiện. Chúng ta hăy làm những ǵ chúng ta cần làm bây giờ." "Ngay từ hồi c̣n nhỏ, tôi cũng không phải hạng người dễ tin. Tôi không thích những buổi cầu cơ vô ích như vậy. Người ta không hỏi những vấn đề quan trọng, cần thiết, mà chỉ đưa ra những câu hỏi ấm ớ để tán dóc với người chết mà thôi. Thật vô ích và phí th́ giờ!" Những vấn đề làm bận tâm cô bé Tenzin thật sâu xa, quan trọng, và có vẻ nghiêng nặng về triết thuyết Phật giáo: "Tôi luôn luôn tự hỏi con người tái sanh như thế nào và làm sao rút được kinh nghiệm trong kiếp sống nhiều đau khổ này?" Một sự kiện rất quan trọng xảy đến trong thời niên thiếu của Tenzin và đă khiến cô suy nghĩ thật nhiều: - "Lúc đó tôi khoảng 13 tuổi và đang trên đường trở về nhà với mẹ tôi sau khi ghé thăm các bà con. Chúng tôi đă trải qua một buổi chiều thú vị với nhau, và sau đó giă từ họ hàng, hai mẹ con ra về bằng xe buưt. Ngồi trên xe buưt, tôi chợt có một cảm nghĩ lạ lùng - cảm nghĩ này đến với tôi như làn điện chớp - rằng tất cả con người đều phải chết; nhưng trước khi chết, họ phải trải qua cảnh ốm đau hay già nua. Tôi nh́n những chuyến xe buưt chạy lên xuống và những hành khách cười nói ồn ào trước mặt: "Họ có biết là cái ǵ chắc chắn sẽ xảy đến cho họ không nhỉ? Họ suy nghĩ ǵ và thế nào để đón nhận cái chết chắc chắn sẽ tới với họ?" "Tôi nói với mẹ tôi rằng: "Cuộc đời thật đáng buồn và nhiều đau khổ"; nhưng mẹ tôi, dù đang sống một cuộc đời đầy thử thách, thiếu thốn, và nhiều bất hạnh, đă vui vẻ trả lời: - "Đúng vậy, cuộc đời tuy có nhiều đau khổ nhưng nó cũng có nhiều thứ đáng yêu thú vị nữa chứ!" Tôi nghĩ rằng: - "Những ẩn chứa đằng sau cái bóng hạnh phúc giả tạm đó là ốm đau, già yếu và chết chóc." "Tuy nhiên, người ta không nhận thức ra điều đó, mà họ cũng không quan tâm đến những chi tiết quan trọng như vậy. Tôi không thể hiểu tại sao họ lại không thấy cái bẩy đáng ghê sợ đó nhỉ?" "Riêng tôi, tôi thấy rất rơ, thấy tận cùng thâm tâm tôi. Nhưng tôi biết mọi người không ai thèm chú ư đến những ǵ tôi nói, dù đó là sự thật, v́ thế, tôi không bàn đến vấn đề đó nữa." Thật là một sự trùng hợp lư thú. Những ǵ cô bé Tenzin suy tư t́m hiểu cũng chính là những vấn đề làm nhức nhối trái tim chàng Thái Tử trẻ tuổi Sĩ Đạt Ta cách đây hơn 2500 năm, khi chàng dạo chơi 4 cửa thành trông thấy một người già, một người bịnh, và một thây chết. Những cảnh tượng đau buồn chết chóc đó đă gây ấn tượng sâu đậm trong ḷng Thái Tử; và người vương giả uy quyền kia, một đêm, đă rời bỏ hoàng cung kiêu sa lộng lẫy, dấn thân vào đời sống khổ hạnh chốn rừng sâu để mong t́m ra giải đáp bài toán hóc búa của kiếp nhân sinh. Sau nhiều năm suy tầm chân lư, trắc nghiệm nhiều phương pháp tu học, Bồ Tát Sĩ Đạt Ta đến ngồi tham thiền dưới cội cây Bồ Đề suốt 49 ngày đêm. Chiến đấu không ngừng với nội tâm, cuối cùng, Ngài đă xô xập những thành tŕ chướng ngại tâm linh do "Vô Minh", "Tham Ái" và "Chấp Thủ" gây ra, và chứng đạt giải thoát giác ngộ. Ngoài ra, c̣n một câu hỏi lớn nữa xâm chiếm đầu óc Tenzin Palmo khi cô c̣n bé. Đó cũng là một vấn đề then chốt trong đạo Phật. Đó là "Làm sao con người trở nên 'toàn thiện'?" Tenzin kể lại: - "Khi tôi c̣n bé, tôi đă tin tưởng rằng bản tánh con người vốn sáng suốt, thánh thiện, nhưng v́ một lư do nào đó, bản tánh đó đă bị che lấp đi, và người ta cứ măi luân hồi tái sanh bất tận." Tôi hỏi mẹ tôi rằng "Bà có tin vào thuyết Tái Sanh không?" Bà đă trả lời "Thuyết Tái Sanh có vẻ rất xác tín." Tenzin Palmo đi t́m câu giải đáp nơi các vị cha xứ, linh mục. Cô kể lại:
- "Tôi hỏi một vị cha xứ: Cô lại đi t́m cha Hetherington, cha xứ nhà thờ nơi cô cư ngụ, nguời mà cô cho là phạm hạnh và thanh cao. Ông ta cũng trả lời: "Con cần phải sống thiện và thương yêu". Lẽ dĩ nhiên, người ta phải sống thánh thiện, và thương yêu mọi loài; nhưng "sự giác ngộ hoàn toàn" không phải chỉ có vậy. Phải có một cái ǵ khác xa hơn nữa. "Tôi biết nhiều người cũng sống tốt đẹp, tử tế và giúp đỡ thương yêu mọi loại, nhưng họ đâu có giải thoát, giác ngộ!" "C̣n một cái ǵ hơn thế nữa", tôi biết chắc như vậy, "c̣n một cái ǵ hơn thế nữa". Tôn giáo chính của xứ sở Tenzin là Công Giáo; nhưng thực ra, Tenzin nhận Công Giáo có nhiều giáo điều hơn là phương pháp giải đáp vấn đề. Nó bắt người ta phải chấp nhận, phải tin tưởng tuyệt đối, và không cần phải thắc mắc, t́m hiểu. Tenzin nói: - "Tôi không tin là Chúa sáng tạo ra tất cả. Tôi nhớ những bài thánh ca tôi đă hát ở trường học: "Chúa đă sáng tạo ra tất cả, từ những vật thể nhỏ bé xinh đẹp cho đến bộ óc thông minh sắc sảo ... Chúa là người đă sáng tạo ra thế giới này". Nhưng ngay lúc đó, tôi thắc mắc "Vậy Chúa cũng là người đă tạo ra đau khổ, nghèo đói, thù hận, chiến tranh, và hạn hán v.v... và v.v..." Tenzin tiếp tục t́m hiểu và t́m hiểu không mỏi mệt. Cô t́m đọc kinh Koran, giáo lư Ấn Độ giáo, nhưng cô vẫn không t́m ra được giải đáp về sự thắc mắc của ḿnh. Cô lại quay ra đọc các triết thuyết phương Tây như thuyết Hiện Sinh của Jean Paul Sartre, Kierkegărd, và Albert Camus, nhung theo cô, các triết gia Tây Phương đă chạm trán với bế tắc và khủng hoảng. Họ chẳng t́m ra được câu giải đáp hoàn toàn. Một ngày kia, thầy giáo cho cô mượn đọc một quyển sách của Heinrich Harrer "Bảy năm sống ở Tây Tạng" (Seven years in Tibet). Heinrich viết về chuyến hành tŕnh đến xứ tuyết của ông và t́nh bạn thân mật giữa ông và Ngài Đạt Lai Lạt Ma. Tenzin bắt đầu mơ về đất nước tuyệt vời đó, và h́nh ảnh Đức Phật bắt đầu ngự trị tâm hồn cô khi cô đọc một chương tŕnh giới thiệu những cảnh chùa ở Thái Lan.
CHƯƠNG BA
Nỗi thắc mắc tâm linh của Tenzin đă được giải tỏa khi cô và mẹ sắp sửa đi Đức để hưởng mùa Giáng Sinh với Mervin, anh của cô. Mervin gia nhập vào Không Quân và đóng quân ở Đức. Đó là năm 1961, và Tenzin tṛn 18 tuổi. Cô đă thôi học và xin làm tại thư viện Hackney, một nơi lư tưởng thích hợp với thú đọc sách của cô. Mẹ cô không thể chu cấp cho cô theo đuổi đại học được, nên Tenzin đă tự an ủi ḿnh bằng cách cố gắng kiếm tiền để rời khỏi Anh quốc. Cô rất khao khát được du hành về phương Đông. Khi sắp đi Đức, cô rút đại ba quyển sách để giết th́ giờ trong những ngày ở Đức. Một quyển của Sartre, một quyển của Camus và một quyển về Phật giáo với h́nh b́a Đức Phật, nhưng chính tựa sách mới hấp dẫn cô. Tựa sách là "The Mind Unshaken" (Tâm Trí Bất Động). Nhưng khi ở Đức, cô đă quên không đọc sách này. Chuyến máy bay từ Đức về Anh quốc đă bị trở ngại và trễ tới 8 tiếng đồng hồ. Ngồi ở phi trường, Tenzin chán nản lật sách ra xem. Đọc được vài trang thôi, Tenzin hớn hở quay lại nói với mẹ "Con là Phật tử". Bà Lê ôn tồn đáp: - "Được rồi, cứ đọc hết sách đi và cho mẹ biết trong sách nói những ǵ". - "Thật ngạc nhiên biết chừng nào, Mẹ ạ. Những ǵ con thắc mắc hay con tin tưởng đều nằm trong sách này hết. Tất cả những ǵ con nghĩ, con cảm thấy đều có hết, và cùng với những lư thuyết, c̣n có một phương pháp, một con đường để đưa chúng ta về cảnh giới tâm linh tuyệt hảo". Quyển sách đó tŕnh bày khúc chiết rơ ràng mọi thắc mắc của Tenzin về sanh, lăo, bịnh, tử, theo quan điểm Phật giáo. Một điều lư thú nữa mà Tenzin t́m thấy trong sách là thuyết Tái Sanh và không có một đấng thần linh nào chỉ huy giựt dây cả. Tenzin kể: - "Khi tôi t́m hiểu về Ấn Độ giáo, tôi nhận thấy đạo giáo này chủ trương về "Thần Ngă" (Atman) nhiều quá. Phật giáo, trái lạí chủ trương "Vô Ngă". Đối với tôi, danh từ Vô Ngă đó hàm chứa một sự tự do tuyệt đối vô cùng. Cuối cùng, tôi đă t́m được cho tôi một tôn giáo, một con đường tâm linh tuyệt vời để đi theo." Quyển sách "The Mind Unshaken" đă thay đổi đời tôi hoàn toàn. Tôi nhớ lại ba ngày sau khi đọc xong quyển sách; vừa đi đến sở làm, tôi vừa suy nghĩ "Tôi đă là Phật tử được bao lâu rồi. Ba ngày thôi sao? Không, tôi đă là Phật tử từ vô lượng kiếp rồi vậy."Một khi đă thấy con đường ḿnh phải đi, Tenzin Palmo không bỏ lỡ cơ hội để đi đến đích. Cô nói "Khi bạn muốn làm ǵ, bạn phải làm ngay, đừng phí phạm th́ giờ." Đó là tiêu chuẩn sống của Tenzin. Nhưng đó không phải là chuyện dễ dàng thực hiện ở Anh quốc, nhất là vào thập niên 60. Ngày nay, Phật giáo đă lan rộng khắp năm châu; hàng trăm thiền viện mọc lên như nấm và tài liệu nhan nhăn khắp nơi; người ta t́m hiểu Phật giáo dễ dàng - nhưng vào những năm 60, th́ quả là một việc rất khó khăn. - "Tôi luôn luôn nhớ trong ḷng là Đạo Phật dạy con người phải nên diệt dục - nghĩa là diệt trừ bớt những ham muốn thô thiển, thấp hèn - v́ thế, tôi đă dẹp bỏ hết quần áo và chỉ mặc một lọai áo dài mầu vàng, một chiếc thắt lưng và mang vớ đen. Tôi không trang điểm, và không hẹn ḥ với đám thanh niên nữa. Tôi cố gắng hết sức để diệt trừ những ham muốn b́nh thường của một con người." Ít lâu sau, Tenzin khám phá được một hiệp hội Phật giáo ở Eccleston Square, do ngài Chánh Án Christmas Humphreys sáng lập vào năm 1924. Humphreys là người đầu tiên giới thiệu tư tưởng triết lư phương Đông đến người Tây Phương. Ông đă làm quen, và học hỏi với những triết gia nổi tiếng thời đại như Carl Jung, học giả thiền sư Suzuki và các hoàng thân Thái Lan; ông cũng là một trong những người ngoại quốc đầu tiên đến tham vấn Đức Đạt Lai Lạt Ma khi Ngài vừa lưu vong ra khỏi Tây Tạng. Nhưng, mặc dù Hiệp Hội Phật giáo này đă thành lập lâu năm, nó cũng vẫn chỉ là một căn nhà nhỏ với số thành viên rất hạn chế. "Khi bước vào căn pḥng chính của Hiệp Hội này, tôi rất ngạc nhiên v́ không có ai mặc áo dài mầu vàng cả. Có lẽ tôi đă sai lầm khi vứt bỏ hết quần áo của tôi." "Tôi nói chuyện với mẹ tôi và bà lặng lẽ đưa ch́a khóa tủ quần áo cho tôi. Bà không vứt đi một cái nào hết. Bà cũng chẳng hỏi tại sao, bà chỉ thản nhiên chờ đợi. Mẹ tôi rất nhạy bén và hiểu tôi rất nhiều." - Eccleston Square, Tenzin Palmo đắm ḿnh vào kho tàng giáo lư Nguyên Thủy Phật giáo. Tông phái này đang phát triển tại Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Việt Nam, và Cam Bốt. Cô học Tứ Diệu Đế và thấu suốt được nguyên nhân đau khổ của con người và phương pháp diệt trừ đau khổ. Cô t́m hiểu Bát Chánh Đạo và Thiền học. Cô cũng tập tŕ niệm 6 chữ "Án Ma Ni Bát Dị Hồng", mặc dù cô chẳng hiểu thần chú ấy có ư nghĩa ǵ - nhưng với ḷng nhiệt thành và niềm tin sắt đá, Tenzin nói là đă cảm thấy có hiệu lực kết quả khi cô luôn thầm niệm "Án Ma Ni Bát Dị Hồng." Tuy nhiên, giáo lư Nguyên Thủy Phật giáo vẫn chưa thỏa măn được Tenzin. Cô vẫn thấy có một cái ǵ thiêu thiếu như một lỗ hổng trong giáo lư Nguyên Thủy với sự tu chứng của các vị A La Hán. "Tôi rất ngưỡng mộ sùng kính Đức Phật; những ǵ Ngài dạy đều hoàn toàn minh bạch và tùy duyên, căn cơ của chúng sanh. Đối với tôi, quả vị A La Hán không phải là con đường tôi muốn theo. Với tŕnh độ hiểu biết của tôi lúc đó, tôi chỉ nhận thấy giáo lư Nguyên Thủy không thích hợp với tôi." Vài tháng sau, t́nh cờ cô đọc được một quyển sách của ngài Long Thọ, vị hiền thánh và triết nhân Phật giáo nổi tiếng ở thê kỷ thứ 2. Trong sách, Ngài Long Thọ luận giải về quả vị Bồ Tát. Lư tưởng hành "Bồ Tát Đạo" cứu giúp chúng sinh đă hấp dẫn Tenzin Palmo và cô nhận thức ngay rằng đây mới chính là con đường cô muốn đi. Đại thừa Phật giáo và lư tưởng Bồ Tát do ngài Long Thọ khai phá và luận giải, đă phát triển nhanh chóng, thu hút nhiều tín đồ; nhất là ở Tây Tạng. Nhưng Phật giáo Tây Tạng vào những năm 60 th́ hầu như không có ai biết đến và cũng khác hẳn những ǵ người ta biết về Phật giáo. Những huyền thoại hay chuyện hoang đường bao phủ xứ Tây Tạng và được thêu dệt thêm lên do những tay du hành t́m cách len lỏi vào vùng "Đất Cấm" này. Những câu chuyện đầy thần bí đó càng lúc càng hấp dần người nghe hơn - "những vị Lạt Ma có thể bay trên hư không, tùy ư biến hóa đồ vật hay hóa thân ra đủ mọi loài, hoặc vượt qua những khoảng cách, chướng ngại một cách tự tại." Họ kể lại rằng "— Tây Tạng, người ta thờ rất nhiều vị thần; có những ngẫu tượng có nhiều tay nhiều chân, răng nanh và mắt lồi ra thật hung dữ." Tuy nhiên, theo đa số các học giả trong hội London Buddhist Society, th́ Phật giáo Tây Tạng là một cái ǵ huyền bí và không có sự truyền thừa; khác với truyền thống chính phái Thiền và Nguyên Thủy Phật giáo. Lúc đó, không một ai nghĩ rằng Phật giáo Tây Tạng có thể phát triển mạnh được. — điểm này, Tenzin Palmo, một thành viên mới của hội, lại nghĩ khác và thiên về Phật giáo Tây Tạng nhiều hơn. Cô bắt đầu t́m hiểu kỹ thêm về Phật giáo Tây Tạng và một hôm, t́nh cờ cô đọc một quyển sách nói về 4 trường phái cổ của Phật giáo Tây Tạng : 1) phái Nyingmapa: thế kỷ thứ 8 trước Công Nguyên là trường phái cổ về Mật Tông bí thuật, 2) phái Sakya thế kỷ thứ 11 trước Công Nguyên là phái pha lẫn cả hai ḍng mới và cổ về Mật Tông, 3) phái Geluppa vào thế kỷ thứ 14 trước Công Nguyên là trường phái triết học, và 4) phái Kargyupa vào khoảng thế kỷ thứ 8 trước Công Nguyên là phái ẩn sĩ ở núi cao hang thẳm. "Khi tôi đọc đến chữ "Kargyupa", h́nh như có một giọng nói vô h́nh nói với tôi rằng "Con là Kargyu". Tôi hỏi "Kargyu là ǵ?" "Điều đó không quan trọng" "Con chỉ biết đích thực con là Kargyupa." Tim tôi cơ hồ như ngưng đập trong giây lát. Trở thành một tín đồ Phật giáo Tây Tạng là ước muốn cuối cùng của tôi." Theo sự chỉ dẫn của Tiếng Nói Nội Tâm vô h́nh, Tenzin Palmo t́m gặp một người duy nhất ở Luân Đôn mà cô biết là ông ta rất am tường về Phật giáo Tây Tạng. Ông ta đưa cho cô ta đọc một quyển sách viết về Milarepa, một vị cao tăng ẩn sĩ của Tây Tạng. Ngài là một bậc thi nhân hiền triết nổi tiếng đồng thời cũng là người sáng lập ra tông phái Kargyupa. Milarepa là một hiện tượng phi phàm, là một biểu tượng về trí tuệ xuất chúng ở thế kỷ thứ 11. Khi c̣n trẻ, Milarepa đă tu luyện tà thuật và đă giết một số người. Sau khi nhận rơ sự sai lầm của ḿnh, Milarepa đi t́m một vị đạo sư và tỏ ư cầu đạo. Trải qua những cuộc thử thách kịch liệt, có lần suưt mất mạng, Milarepa được Thầy thâu nhận và truyền dạy bí mật chân truyền. Một ngày kia, chỉ một tấm y, một bát, Milarepa đă biến mất trong đỉnh núi Cô Đơn phủ đầy tuyết trắng. Thân thể Ngài chỉ c̣n da bọc xương và trở thành xanh xám như rong rêu. Ngài vẫn an nhiên thiền định trên tuyết, và khí hậu dưới 0o độ kia hầu như không ảnh hưởng ǵ được tới Ngài cả. Toàn thân Ngài như có luồng hỏa hầu tỏa ra khiến chung quanh chỗ Ngài ngồi thiền không thể đông đặc lại. Các cư dân vùng cao độ đă kể lại rằng chính họ đă chứng kiến Ngài phi hành qua những đồng bằng thung lũng phía dưới núi. Sau vài năm tinh cần hành tŕ, Milarepa bắt đầu du hóa thuyết giảng, và mỗi lần Ngài đăng đàn thuyết pháp, hoa trời rơi xuống như mưa và cầu vồng ngũ sắc xuất hiện trên bầu trời. Khi Tenzin Palmo đọc xong, cô hoàn toàn bị chinh phục. "Tôi không thấy lạ lùng về những điều ghi trong sách. Những quan niệm về Cực Lạc, thiên giới hay địa ngục rất quen thuộc với tôi. Thiền Tông và phái Nguyên Thủy Phật giáo không đề cập đến những hiện tượng siêu phàm này. Tôi không phải là người mê tín, trái lại, tôi là người có đầu óc lư luận của phương Tây; tuy nhiên, khi tôi t́m hiểu về Phật giáo Tây Tạng và những điều huyền bí ngoài tầm suy luận của con người, tôi nhận thấy rất xác tín và khoa học". "Bước kế tiếp là tôi phải đi t́m một vị đạo sư cho tôi. Tôi nghĩ vị đạo sư đó chắc phải ở Ấn Độ, nơi mà tất cả các dân Tây Tạng lưu vong đều chạy đến. Tôi suy nghĩ và quyết định phải đi Ấn Độ để t́m thầy dẫn đường cho tôi". Nhưng cùng lúc đó, trong tâm của Tenzin Palmo nổi lên những tư tưởng chống đối kịch liệt. Cô đang trong tuổi thanh xuân, đầy nhựa sống; bọn con trai thấy cô đều hấp dẫn bởi mái tóc dải quăn tự nhiên và đôi mắt xanh to của cô. Mọi người đều đặt cho cô biệt danh là "Bubbly" (cô gái hấp dẫn đáng yêu). Cô có nhiều bạn trai và cũng hẹn ḥ với vài người. Đời sống ở Luân Đôn thật náo nhiệt ồn ào. Đó là những năm đầu 60, thời đại của vua nhạc rock Elvis Presley, Ricky Nelson, Beatniks, Radio Luxembourg và loại nhạc Rock 'n Roll. Tenzin Palmo vui sướng hưởng thụ tuổi xuân của ḿnh và cô hoàn toàn đắm ḿnh vào những cuộc ăn chơi đó. "Tôi mang giầy cao, mặc quần áo đẹp, nghe nhạc jazz và đến vũ trường, hộp đêm. Tôi thần tượng mê say Elvis Presley. Khi tôi xuất gia, có thể nói Elvis Presley là "sự rũ bỏ" lớn nhất của tôi. Tôi có nhất nhiều bạn trai và tất cả bọn họ là người Á Đông. Thật lạ lùng và buồn cười là tôi không có duyên với đàn ông Tây Phương. Một điều chắc chắn nữa là tôi không bao giờ có ư lập gia đ́nh. Tôi rất rơ về điều đó. Tôi nhớ lại năm tôi 16 tuổi, tôi đă làm phụ dâu 3 lần. Có một người bạn đă nói với tôi là "Đừng làm phụ dâu nữa! Làm phụ dâu 3 lần th́ khó lấy chồng lắm!" Tôi không tin vào điều mê tín đó và tôi cũng không quan tâm đến nó. Tôi thích độc lập. Tôi không thích bị ràng buộc và mất tự do, kềm hăm tư tưởng v́ bất cứ người đàn ông nào". Tuy nhiên, trong Tenzin Palmo vẫn có hai luồng đối kháng mănh liệt làm cô bứt rứt, khó chịu. Một bên là sự tự do ăn chơi, vui thích thỏa thuê với dục lạc, một bên là đời sống nghiêm túc, thanh khiết và thánh thiện. "Tôi có lần lo sợ là bản năng thấp kém của con người tôi sẽ thắng. Nhưng ngay lúc tôi lo sợ đó th́ giọng nói vô h́nh trong tâm tôi lại khuyến khích "Đừng lo sợ về điều đó. Khi thời cơ thuận duyên đến, bạn sẽ rời bỏ tất cả. Bạn c̣n trẻ, hăy tự nhiên hưởng thụ tuổi trẻ của bạn; và một khi thời điểm tốt đến, bạn sẽ sẵn sàng rời bỏ tất cả". Nghe như vậy, tôi cảm thấy yên ổn và thư thái rất nhiều". Tenzin tiếp tục vui chơi nhưng vẫn không quên mục đích t́m đạo của ḿnh. Một ngày kia, cô nghe thấy có một phụ nữ người Anh tên là Freda Bedi. Bà này lấy chồng người Ấn, và sau đó trở thành một Phật tử thuần thành. Bà lập ra một ni viện nhỏ cho những ni cô thuộc tông phái Kargyupa, và một học viện nhỏ cho những vị Lạt Ma tái sanh ở Dalhousie, Bắc Ấn. Tenzin vội viết thơ cho Freda Bedi và giải thích ư nguyện của cô. Freda Bedi trả lời: "Đừng lo ǵ cả. Hăy đến đây!" Cánh cửa cơ hội đă mở nhưng vẫn c̣n khó khăn. Tiền vé máy bay sang Ấn rất mắc và đối với Tenzin Palmo ngày đó, số lương ít ỏi hàng tháng của cô làm việc tại thư viện Hackney quả là c̣n lâu lắm mới dành dụm nổi. Cô quyết định đi t́m một việc làm khá lương hơn. Một lần nữa, cô lại nhận thấy có một mănh lực siêu h́nh nào đó giúp cô toại nguyện. - "Tôi t́m thấy có một việc làm ở Khoa Nghiên Cứu Đông Phương và Phi Châu ở Blơmsbury và tôi lập tức đi gặp ông Pearson, Quản Thủ thư viện. Ông này vừa từ Miến Điện và Ấn Độ về Anh. Ông ta hỏi tôi có muốn thi ngành thư viện không; tôi liền đáp rằng: - "Không, tôi chỉ muốn kiếm đủ tiền vé máy bay sang Ấn để giúp cho dân tỵ nạn Tây Tạng". Tôi nghĩ rằng chắc tôi sẽ không được làm. Nhưng vài ngày sau, ông Pearson điện thoại cho tôi. Ông nói: "Tôi quên là không hỏi cô cần bao nhiêu tiền sang Ấn để sắp xếp giờ làm việc cho cô. Chúng tôi rất hoan nghinh cô đến làm việc tại thư viện chúng tôi". Ông Pearson tận t́nh giúp đỡ Tenzin Palmo. Ông sắp xếp công việc cho Tenzin có th́ giờ học thêm tiếng Tây Tạng với nhà ngôn ngữ học nổi tiếng David Snellgrove. Vào những năm 1960, David Snellgrove là một trong rất ít người Tây Phương biết đến Tây Tạng. Những bài học vỡ ḷng này rất hữu ích cho Ten zin sau này khi cô gia nhập vào cộng đồng người Tây Tạng và tụng đọc kinh sách bằng tiếng Tây Tạng. Qua ông David, Tenzin được gặp ba vị Lạt Ma tây Tạng đầu tiên. Họ thuộc phái Bon (một giáo phái xưa trước thời Phật giáo du nhập vào Tây Tạng). Trong ba vị, có ngài Rato Rinpoche, hiện nay đang quản lư ""Tibet House" ở Nữu Ước (New York) và đă góp mặt trong bộ phim "The Little Buddha" do Bertolucci đạo diễn, và một vị Lạt Ma trẻ tuổi, hoạt bát, học thức cao Chögyam Trungpa. Trungpa hoạt động trong nhiều lănh vực và rất thành công. Ông cũng đă giúp cho Tenzin tu học và t́m hiểu Phật Pháp. Tuy nhiên, một thời gian sau đó, v́ say mê danh vọng, Trungpa đă sa ngă và mang tai tiếng rất nhiều ; cac tổ chức hiệp hội do ông ta dựng lập lên cũng đều tan ră. Nhưng đó là chuyện sau này. C̣n năm Tenzin gặp Chögyam Trungpa th́ ông ta đang t́m kiếm một người đệ tử. Trungpa quả là một "từ điển sống". Ông ta thông thạo và thành công trong nhiều lănh vực từ học đường đến chính trị, tôn giáo. Tenzin đă học hỏi nơi ông ta rất nhiều, nhưng cô vẫn không muốn trở thành đệ tử của Trungpa. Tháng 2 năm 1964, Tenzin Palmo được 20 tuổi và cô đă để dành được 90 Anh kim đủ để mua vé tàu đi Ấn Độ. Đó là giá vé hạng rẻ nhất, nhưng tiền lương mỗi tuần chỉ có 8 Anh kim, th́ đối với Tenzin, cô đă phải làm việc và dành dụm rất lâu vậy. Chuyến tàu cô đi, có tên là "Le Vietnam", sẽ khởi hành từ Marseille phía Nam nước Pháp, và cô phải đi thêm vài chuyến xe lửa nữa và vượt qua eo biển Manche trước khi chuyến du hành qua Ấn chính thức bắt đầu.
Tenzin không khóc khi chuyến xe lửa lăn bánh, bỏ lại sau lưng mẹ cô, quê hương cô, và cũng không biết bao giờ cô mới trở lại; c̣n hai người bạn gái của cô là Ruth Tarling và Christine Morris th́ lệ rơi đầm đ́a. Cả ba cô gái đều trực chỉ tới tu viện của bà Freda Bedi. - "Tôi cũng không hiểu tại sao tôi không cảm thấy buồn ǵ khi xa gia đ́nh, xa đất nước tôi như vậy. Tôi chỉ cảm thấy vô cùng sung sướng. Đây là giây phút tôi đă mong đợi từ bao năm qua." Con tàu "Le Vietnam" là con tàu cũ từ thực dân Pháp. Thủy thủ đoàn gồm có người xứ Ethiopie, Vịêt Nam, Sudan, và Algérie. V́ là tàu cũ nên gía vé đi Ấn Độ rất rẻ. Trên tàu chẳng có quầy rượu hay hồ bơi ǵ cả; chỉ có một dúm hành khách mà thôi. Chuyến đi mất hai tuần, dừng lại Barcelona, Port Said Aden, và Bombay trước khi dong buồm thẳng về hướng đông. Trên tàu, Tenzin quen với một thanh niên người Nhật. Chàng thanh niên này vừa thấy Tenzin đă choáng váng và yêu ngay người thiếu nữ duyên dáng, xinh đẹp này; và Tenzin cũng có cảm t́nh với anh chàng Phật tử người Á Đông này. Một đêm đẹp trời, Tenzin đang ngồi hóng mát trên boong th́ anh ta tiến đến gần và ngỏ lời cầu hôn cô. Tenzin cười phá lên và cho anh ta đùa cợt. Nhưng không, anh ta có vẻ đứng đắn thật sự. - "Tôi không hề nghĩ tới chuyện bất ngờ đó cả. Nhưng tôi cảm thấy hơi phân vân nghĩ ngợi. Thực ra anh ta rất đẹp trai và nồng hậu vô cùng. Các bạn tôi đều nói, nếu tôi không lấy anh ta th́ có lẽ không bao giờ tôi kiếm được một người chồng tử tế đáng yêu như vậy. Tuy nhiên, tôi đă cân nhắc thật kỹ trước khi quyết định. Đức Phật đă dạy "Đời là bể khổ" - một ngày nào đó, anh ta sẽ chán tôi, và cuộc sống gia đ́nh thực tế cũng chẳng có ǵ hay ho thơ mộng cả. Tôi sẽ là một ni cô - Cuộc đời xuất gia mới đúng là cuộc đời của tôi." Tenzin ước hẹn với chàng thanh niên Nhật Bản là Tenzin sẽ ở lại Ấn một năm thử thách, và nếu cô không tu được, cô sẽ đi Nhật để gặp anh ta. Tenzin và hai người bạn gái đến Dalhousie, Bắc Ấn vào tháng 3. - "Khi tôi đến Dalhousie, tôi gặp cả ngàn vị tăng sĩ Tây Tạng đang ở đó; và tuyết , tuyết rơi trắng xóa phủ khắp nơi, nổi bật trong nền trời xanh lơ. Tuyệt vời quá! Đẹp quá! Cô kể tiếp tục: - "Chúng tôi thấy bà Bedi đang nấu ăn trong bếp. Bedi là một phụ nữ to lớn, đẫy đà, với đôi mắt xanh to, mũi cao thẳng, và tóc đă hoa râm. Trông bà độ khỏang 50 tuổi. Trong chiếc áo cổ truyền Tây Tạng mầu đỏ xậm, bà Bedi trông c̣n to lớn kinh khủng hơn; nhưng bà ấy rất cởi mở và thân thiện." Cuộc đời bà Bedi kể ra cũng rất lư thú. Bà thuộc ḍng dơi qúy tộc Anh quốc; và cuộc t́nh giữa bà và người sinh viên gốc Ấn tại đại học Oxford (sau này là chồng bà) đă chấn động cả thành phố bà đang ở với gia đ́nh. Bà quyết định lấy người bà yêu và chống lại thành kiến phân biệt giai cấp và chủng tộc của chế độ phong kiến Anh quốc. Bà và người chồng rời khỏi xứ Anh, nơi đă đem lại cho bà nhiều đau khổ hơn là sung sướng. Năm 1959, khi dân Tây Tạng lưu vong theo chân Đức Đạt Lai Lạt Ma chạy trốn qua Ấn, bà Bedi xin xuất gia và được Ngài cho pháp danh là Khechock Palmo. Bà đă giúp đỡ người Tây Tạng thật nhiều và ngay cả Trungpa cũng đă theo học Anh văn cơ bản tại học viện do bà sáng lập. Tuy nhiên, bà Bedi không biết nắm lấy thời cơ; khi thị trường đất đai tại Ấn sụt giá, bà lại đi mua những thứ không cần thiết - v́ thế, khi giá cả thay đổi, bà Bedi đă mất sạch tiền. Nhưng dù sao đi nữa, Bedi vẫn là người cống hiến rất nhiều cho Phật giáo Tây Tạng trong những năm đầu lưu vong tại Ấn. Dalhousie là vùng đồi núi đẹp phủ đầy thông xanh. Hàng ngàn con khỉ đủ loại đang chen chúc nhau ở tại đó. Khi Tenzin đến Dalhousie, cô thấy vẫn c̣n những ngôi nhà thờ Chính Thống giáo Anh quốc, vài trụ sở, và những căn nhà cổ kiểu Anh với trần nhà cao, hành lang rộng và vườn hoa đầy hoa hồng, hoa thược dược. Khi ta leo lên tới độ cao 7.000 bộ, Dalhousie không những cống hiến cho ta một cảm giác sảng khoái lâng lâng tuyệt đỉnh của tâm hồn, mà c̣n phơi bầy trước mắt ta một phong cảnh thần tiên diễm lệ tuyệt vời của những cánh đồng xanh mướt chân trời xứ Ấn và dăy Hy Mă Lạp Sơn hoành tráng sừng sững như một vị thần linh đầy uy quyền đang dang tay che chở toàn dân Tây Tạng. Đứng trước quang cảnh hùng vĩ đó, Tenzin cảm thấy con người thật nhỏ bé, quá yếu đuối trước thiên nhiên. Qua bà Bedi, Tenzin biết rằng Dalhousie là trạm dừng chân đầu tiên của 5.000 dân lưu vong Tây Tạng. Sau đó họ di chuyển xuống vùng Dharamsala, đi Nam Ấn và vài vùng định cư khác; nhưng năm 1963, khi dân số lưu vong Tây Tạng đă lớn rộng, các vị Lạt Ma cao cấp đă quyết định dựng tu viện như các tu viện lớn Sera và Drepung tại Tây Tạng, và họ cố gắng tái tạo và ǵn giữ những di tích cổ truyền hay phong tục Tây Tạng tại xứ người. Tenzin nhớ lại: - "Dalhousie là nơi tu học lư tưởng, tuyệt vời. — đó, không có xe hơi và bụi bặm dơ bẩn. Không khí trong lành, mát mẻ. Sáng và chiều, mọi người đều ra đồng làm việc, các vị Lạt Ma tụng đọc kinh điển. Ai nấy đều vui vẻ tự do, ca hát sảng khoái." Là một phụ nữ Tây Phương đầu tiên trong số rất ít người ngoại quốc đến Dalhousie, Tenzin được sự lưu ư đặc biệt của dân Tây Tạng cũng như các vị Lạt Ma. Lần đầu tiên được gọi đến chào hỏi ngài Karmapa, vị Lạt Ma cao cấp nhất của tông phái Kargyu, Tenzin thấy run sợ trước vẻ nghiêm khắc của Ngài. Ngài Karmapa được tôn sùng không kém Đức Đạt Lai lạt Ma. Ba tháng sau ngày Tenzin đến Dalhousie, cô được diện kiến Đức Đạt Lai Lạt Ma, "Phật Sống" của dân Tây Tạng. Tenzin mặc quốc phục của người nữ Tây Tạng để vào đảnh lễ Đức Đạt Lai Lạt Ma. Vừa thấy cô, Ngài nói: - "Ồ, trông cô giống như người ở vùng Lhasa. Thế nào, ni cô, sự tu tập của cô có tiến bộ chút nào không?" Câu hỏi của Đức Đạt Lai Lạt Ma làm Tenzin sửng sốt. - "Tôi không hiểu sao Ngài lại gọi tôi là "Ani-la" (ni cô) giống như cách của hai vị tu sĩ gặp nhau và chào hỏi nhau. Không lẽ Đức Đạt Lai Lạt Ma thấy được quá khứ và tương lai của tôi?" Tenzin nh́n Đức Đạt Lai Lạt Ma và tự nhiên cô buột miệng nói: "Không, tôi không phải đến từ Lhasa. Tôi là Khampa, người xứ Kham." (Khampa là một sắc dân thuộc miền Đông Tây Tạng) - "Cô có những kế hoạch, phương án như thế nào?" Đức Đạt Lai Lạt Ma hỏi tiếp. - "Những chương tŕnh dự án, dù vĩ đại đến đâu, cũng đều tan thành tro bụi. Ngài biết rơ như vậy." Tenzin bướng bỉnh trả lời. Cô biết là Đức Đạt Lai Lạt Ma chỉ hỏi đố vậy thôi. Vạn vật đều vô thường. Cô không có một chương tŕnh dự án ǵ cả; ngoài sự nỗ lực đi t́m chân lư. Một tuần lễ sau, Tenzin gặp được người quan trọng nhất đời cô - người mà cô đă bỏ xứ sở để qua Ấn Độ t́m kiếm.
Khamtrul Rinpoche là một vị Lạt Ma hóa thân đời thứ 8. Ngài đă đến Ấn Độ sau những ngày vượt biên giới đầy gian nan khổ sở. Một đêm, Ngài đă rời bỏ tu viện của Ngài ở Kham, miền Đông Tây Tạng, cải trang thành một người lái buôn cùng một số ít đệ tử và tùy tùng, vượt biên giới Tây Tạng để trốn khỏi sự áp bức của Cộng Sản Trung Quốc. Khampagar là một tu viện đồ sộ nguy nga như một ṭa lâu đài với những bức tường mầu vàng và mái nhà dát vàng thật lấp lánh chiếu dưới ánh mặt trời xứ Tây Tạng. Khampagar là thế giới của ngài Khamtrul Rinpoche gần suốt 30 năm. Nếu chúng ta đi ngược ḍng thời gian 450 năm trước, từ năm 1548, suốt 8 đời hóa thân trước của đức Khamtrul Rinpoche, th́ có thể nói, Khampagar là mái ấm, là hơi thở, là sự sống của Khamtrul Rinpoche. Khi ngài Khamtrul Rinpoche ra đời khoảng vào năm 1930, tu viện Khampagar đă là một trung tâm Phật học sầm uất và ảnh hưởng rộng lớn trên 200 tu viện lớn nhỏ khác, đă đào tạo hàng trăm ngàn tăng sĩ, và cả một ḍng truyền thừa những vị đạo sư nổi tiếng khắp Tây Tạng. Ngoài ra Khampagar c̣n là trung tâm nghệ thuật nổi tiếng Tây Tạng và vũ thuật cổ truyền của các vị Lạt Ma. Khi Cộng Sản Trung Quốc xâm chiếm Tây Tạng, họ đă phá hủy biết bao chùa chiền, tu viện, và các di tích lịch sử của xứ này cùng giam cầm tra tấn hàng ngàn vị sư và dân chúng. Ngài Khamtrul Rinpoche bắt buộc phải rời bỏ tu viện dấu yêu và gạt nước mắt ra đi lưu vong qua Ấn Độ.
|