
Tây Du Kư
Nguyên Tác : Ngô Thừa Ân
Hồi 1
Khí thiêng kết tụ sanh khỉ
đá
Tâm thành tu niệm đạo nhân gian
Cứ theo truyền thuyết Trung Hoa th́
kẻ sanh trước loài người là ông Bàn Cổ làm
chúa thiên hạ. Kế đó là vua Thiên Hoàng , Địa Hoàng
và Nhơn Hoàng, gọi là Tam Hoàng. Rồi đến vua
Phục Hi, Thần Nông, Huỳnh, Nghiêu và Thuấn gọi
là Ngũ Đế .
Thuở ấy, Trung quốc chia làm
bốn châu: Đông Thắng Thần châu, Tây Ngưu Hạ châu,
Nam Thiện Bộ châu, Bắc Cư Lư châu.
Đặc biệt là nơi ven biển
lại có một nước tên Ngao Lai. Trong nước
ấy có một ḥn núi gọi là Hoa Quả Sơn (Núi có
nhiều thứ hoa quả lạ) đứng sừng
sững giữa trời, bao phủ đồi cây g̣ đất.
Trong cảnh hùng tráng âm u ấy có một tảng đá
rất lớn , bề cao ba mươi sáu thước năm
tấc, chu vi hai mươi bốn thước, trên mặt
có chín lỗ thông thiên, bốn bên có tám hang thông ra
rừng rậm!
Thật là một tảng đá dị
thường, "Cấu Tạo từ thuở khai thiên
lập địa" mà loài người không ai có
thể tưởng tượng nổi. Với chiều cao
vượt lên muôn vật trên mặt đất ấy
tảng đá không bị che khuất, hứng chịu
sức nóng và lạnh của nhật nguyệt, lần
lần tụ tinh nứt ra một viên trứng đá.
Trong lâu năm, trứng ấy tượng
h́nh, rồi gặp một trận gió lớn nở ra
một con Khỉ đá, giống tạc h́nh người,
đủ tai, mắt, miệng, mũi và tay chân rất lanh
lẹ.
Khỉ đá đi đứng khắp vùng,
cặp mắt chói ḷa như hai cái đuôi sao Bắc Đẩu
.
Gặp lúc Ngọc Hoàng đang ngự nơi
Linh Tiêu điện, thấy hào quang từ địa
giới chói lên lấy làm lạ, sai thiên thần đến
hỏi:
- V́ cớ ǵ lúc nầy nơi trần
gian lại có hào quang chói sáng?
Thiên thần không ai biết.
Ngọc Hoàng liền sai Thiên Lư Nhăn,
Thuận Phong Nhĩ ra cửa trời xem thử.
Hai thần tuân lệnh đi do xét
một lúc, trở về báo:
- Tâu Thiên Hoàng! Hào quang đó là đôi
mắt của một con Khỉ đá!
Ngọc hoàng ngạc nhiên nói:
- Cơi trần gian, sao có loài khỉ phi thường?
Hai thần tâu:
- Nơi Đông Thắng Thần Châu có
một ḥn đá trên núi Hoa Quả, cảm khí âm dương,
chứa hơi nhật nguyệt, nứt ra một trứng
đá . Trứng ấy nở ra một con Khỉ , đôi
mắt sáng quắc. Mỗi khi hắn ngó lên trời là hào
quang chói lọi.
Ngọc Hoàng hỏi:
- Thế th́ phải làm cách nào để
tiêu diệt luồng nhăn khí đó?
Hai thần tâu:
- Chẳng hề chi! Hiện nay nó đang
sống bằng hoa quả. Hạ thần tưởng
chắc một thời gian đôi mắt nó sẽ mờ
đi.
Ngọc Hoàng an ḷng bỏ qua câu
chuyện đó.
Thời gian qua trong cánh núi rừng hoang
vắng, Khỉ đá đói ăn trái cây khát uống nước
suối, ngày dạo khắp núi non, tối t́m hang động
ẩn thân, làm bạn với loài hươu nai , khỉ, vượn
khác.
Cái thời gian ấy cũng chẳng ai
biết là bao lâu, người ta chỉ thấy Khỉ
đá lúc ẩn, lúc hiện, từ nơi nầy đến
nơi khác, lúc ở nơi thanh vắng, lúc lại đến
gần những vùng lân cận làng mạc xa xôi, để
bắt chước lối sanh hoạt và tiếng nói
của loài người.
Cũng trong thời gian đó, Khỉ
đá gần gũi với bầy khỉ bạn, tập tành
nhau lối ăn nói, xử sự trong có vẻ giống người.
Ngày kia, gặp lúc khí trời nóng
bức, Khỉ đá dẫn cả đoàn ra hóng mát nơi
bóng cội tùng.
Gió rừng ào ạc, trộn lẩn
vối tiếng róc rách của ḍng suối chảy xa xa.
Khỉ đá bảo bầy khỉ
nhỏ:
- Chúng ta hăy t́m suối nước
tắm cho mát.
Bầy khỉ nhỏ tán thành , tung tăng
nhảy nhót về phía khe sâu. Đó là một con khe lớn,
nước trong vắt, uốn quanh theo rặng núi.
Bầy khỉ nhỏ nh́n làn nước
nhăn mặt bảo nhau:
- Chưa biết khe sâu cạn, sao dám
xuống tắm?
Khỉ đá nói:
- Đứa nào dám xuống trước ta
sẽ tôn làm vua.
Cả bầy khỉ đều lắc
đầu kinh sợ.
Khỉ đá nói:
- Để ta xuống đó cho mà xem.
Dứt lời, co chân nhảy ùm
xuống nước.
Nhưng lạ làm sao, vừa lặn
khỏi làn nước, Khỉ đá mở mắt ra trông
thấy dưới đó là một khoảng không gian
trống rỗng. Gần đó có một chiếc cầu
ẩn khuất trong kẹt đá. Bên cầu cũng cây cũng
trái xanh tươi, dưới cầu cũng nước
trong veo chảy nghe róc rách. Cảnh lạ đó gợi vào
tánh ṭ ṃ, Khỉ đá uốn ḿnh nhảy vọt lên
cầu, chạy ngược vào trong. Càng vào sâu, phong
cảnh càng thêm u nhă.
Bên trong, sừng sững một toà nhà
rộng lớn, trước cửa cổ một tấm
biển, khắc mấy ḍng chữ:
"Hoa Quả Sơn phước
địa
Thủy Liêm động, động
thiên"
Nghĩa là :
"Núi hoa quả đất phước
động Thủy Liêm hang
trời"
Vừa bỡ ngỡ vừa mừng
thầm, Khỉ đá trở lại cầu, tung ḿnh
nhảy lên mặt nước, mặt mày hân hoan, nh́n lũ
khỉ nhỏ khịt mấy cái .
Lũ khỉ nhỏ thấy Khỉ đá
ló đầu lên, đă vội xúm đến, quấn quít
hỏi:
- Suối nước sâu cạn? Có ǵ
lạ chăng?
Khỉ đá nói:
- Không sâu, không cạn, v́ dưới
đó không phải nước mà là một cảnh phi thường.
Lũ khỉ nhỏ ngạc nhiên, nhao
nhao hỏi:
- Cảnh thế nào mà phi thường?
Khỉ đá vừa đưa tay ra
dấu vừa giảng giải:
- Có một cái cầu rất đẹp,
bên cầu cỏ một ṭa nhà uy nghi, lộng lẩy .
Một con trong lũ khỉ nhỏ
hỏi :
- Trong ngôi nhà ấy có giêng ǵ chiếm
cứ chăng?
Khỉ đá nói:
- Không có ǵ cả! Chỉ có ḷ, chén, nồi, chảo, giường,
ghế. Tất cả đều bằng đá .
Nghe chuyện lạ, bầy khỉ nhỏ hớn hở nói:
- Thế th́ chúng ta đem nhau xuống đó làm chỗ
dung thân tránh cơn mưa gió phủ phàng nơi núi
rừng hoang lạnh.
Khỉ đá gật đầu:
- Đúng vậy! Trời đă dành riêng chỗ đó
cho chúng ta, bỏ qua uổng lắm.
Bầy khỉ nhỏ nói:
- Vậy anh nhảy xuống trước, chúng tôi theo sau.
Khỉ đá co chân nhảy ùm xuống, lũ khỉ con răm
rắp nhảy theo.
Chúng vừa nhảy xuống hang, vội vă lên cầu,
chạy qua toà nhà lớn.
Rồi cùng nhau vào, đứa bưng nồi, đứa
lấy chén, đứa lên giường, đứa
xuống bếp, lăn xăn ..phá phách một hồi
rồi ngồi lại rung đùi, nhịp vế.
Khi ấy Khỉ đá mới gọi cả lũ vào
hỏi:
- Lúc c̣n ở trên núi, chúng ta có hứa nhau, ai xuống trước
sẽ tôn làm vua, bây giờ bây quên lời đó sao?
Lũ khỉ nhớ trực lại, vội vàng đến
trước mặt Khỉ đá qú xuống, tôn làm đại
vương.
Khỉ đá mỉm cười truyền rằng:
- Từ nay, ta làm vua lấy hiệu là Mỹ Hầu Vương,
phong cho Vượn và Khỉ Đột làm tả, hữu
Thừa Tướng .
Khỉ đá cùng ở với các khỉ con, sống trong
cảnh thanh nhàn, sáng lên chơi núi Hoa Quả, chiều
về ngủ động Thủy Liêm, không c̣n chung chạ
với các thú nơi rừng núi hoang lạnh. Hưởng
phước lạc gần ba trăm năm.
Một hôm trời trong gió mát, lũ khỉ bày tiệc
linh đ́nh, vui chơi hỉ hả. Nhưng Khỉ đá
không vui, đôi mắt lờ đờ nh́n mây gió rồi
hai ḍng lệ tuôn ṛng. Lũ khỉ con ngạc nhiên
hỏi:
- Tiệc vui này, có điều ǵ làm cho Đại vuơng
buồn chán?
Khỉ đá gạt lệ nói:
- Ta nay tuy sung sướng nhưng c̣n lo nghĩ nhiều
về mai hậu.
Bọn khỉ cười nói:
- Thế này là chúng ta diễm phúc lắm rồi, có nhà
cao cửa rộng, có hoa quả bốn mùa, ấm no đầy
đủ, c̣n đ̣i ǵ hơn?
Khỉ đá nói:
- Các ngươi thấy sao mừng vậy, đâu nghĩ
ǵ đến ngày mai! Tuy ta sống ẩn náu nơi
động, không vướng phép vua, không sợ loài thú
dữ, nhưng rồi chúng ta có thể sống măi không già
chăng? Chừng đó tử thần chờ trước
cửa, làm sao giữ lại những ngày vui như
vậy?
Bầy khỉ nghe hỏi, đứa nào cũng sợ
chết ngồi khoanh tay rầu rĩ!
Giữa lúc ấy, một con vượn già ngồi
phắt dậy nói lớn:
- Đại vương biết trước lo xa, quả là
phi phàm vậy! Trên đời ai tránh khỏi chết,
trừ ba bậc: Tiên, Phật, Thánh Thần, có phép trường
sanh bất tử kia .
Hầu vương nghe nói, hỏi:
- Ba bậc ấy ở đâu, nhà ngươi có biết
chăng?
Vượn tâu:
- Bậc siêu phàm ấy thường ở nơi non tiên,
động đá.
Hầu Vương như nhẹ cơn buồn, khoan khoái nói
với các khỉ nhỏ:
- Mai nầy ta từ giă các ngươi, thả bước
phiêu lưu nơi chân trời, góc biển, t́m cho kỳ
được thuốc trường sanh bất tử.
Bầy khỉ rú lên khen:
- Hay lắm! Đại vương đi thành công, chúng ta
sẽ được sống măi, an hưởng nơi
động nầy.
Một con vượn già nói :
- Chúng ta hăy cùng lên núi Hoa Quả t́m nhiều trái quư
về thết tiệc tiễn hành Đại vương.
Lũ khỉ nhỏ gật đầu hy vọng vị Đại
vương của chúng sẽ t́m ra thuốc trường
sanh bất tử, cứu cho cả loài tránh khỏi cái
chết.
Sáng hôm ấy chúng rủ nhau lên núi Hoa Quả hái trái
đem về, nào là bàn đào, quả mận, nào là
hạ lê, hoài sơ, huỳnh tính đặt tiệc ê
hề .
Hầu vương ngồi trước, dưới là quan
chức, tiếp đến là khỉ con vừa ăn
vừa đàm luận suốt ngày, không qua câu chuyện trường
sanh bất tử .
Hôm sau, Hầu vương dậy
sớm, bảo lũ khỉ bẻ nhiều tre kết làm bè.
Rồi từ giă, chống bè ra biển cả, mặc cho
gió dập sóng dồi, đêm sương ngày nắng!
Trót mấy ngày bơ vơ trên mặt biển, Hầu vương
nh́n chân trời bát ngát bao la, không biết đến nơi
nào, đành nhắm mắt ngồi liều, phó mặc cho
trời đất! Gió ngàn vi vút thổi, khiến bè tre
tấp vào bến Nam Thiện Bộ Châu. Nghe tiếng chim kêu
lẫn với tiếng người văng vẳng, Hầu
vương mở bừng mắt, xem thấy đất
bằng, làng mạc lưa thưa, ḷng mừng khắp
khởi .
Hầu vương bỏ bè bước lên bờ, mấy
ngư phủ vừa thấy, ngỡ là loài yêu quái rùng rùng
bỏ chạy! Một ông lăo khiếp đảm, quưnh chân
nằm chết điếng trên băi biển. Hầu vương
chạy tới lột hết quần áo mặc vào,
giả người đồng nội, lần ṃ đến
tỉnh thành, học thêm tiếng người xứ
ấy.
Rồi Hầu vương lại tiếp tục cuộc hành
tŕnh ngày đi, đêm nghỉ cố t́m cho được
động Tiên, cửa Phật.
Nhưng than ôi! Đi măi chỉ gặp bọn đồ danh,
mưu lợi, không hề biết đạo là ǵ!
Hầu vương lưu lạc chín năm vất vả,
vượt núi băng ngàn mà chưa đem lại một
kết quả nào! Ḷng buồn chán ngán!
Mấy tháng sau, đi đến Tây Dương biển
cả. Hầu vương nh́n ra khơi mây nước bao
la, ḷng thầm nghĩ:
- Ta đi khắp bốn phương trời, sá ǵ mặt
biển này?
Nghĩ vậy, Hầu vương t́m cây kết bè
chống ra ngoài khơi, phó mặc cho mưa gào gió thét .
Sóng vỗ bè trôi, Hầu vương ngày nào cũng
chỉ thấy mây xanh và nước biếc! Thỉnh
thoảng một vài con cá rựa chạy sóng sượt
trên mặt nước. Hầu vương tưởng là
Hà thần hiện lên. Có lúc trời chớp lạch,
Hầu vương cũng ngỡ là thần tiên hiện
đến!
Mấy ngày sau, bè trôi đến miền Tây Ngưu Hạ
Châu, Hầu vương lại bỏ bè lên bờ, xảy
thấy núi cao chót vót, cây cối sum suê, hoa tươi xinh
đẹp liền dừng bước lẩm bẩm:
- Núi cao, may ra có "Thánh, Thần, Tiên, Phật"
Hầu vương quay lên núi, thoan thoát chuyển từ cây
này qua cây nọ, đu dây vượt suối, không bao lâu
đến đỉnh núi .
Nhưng nh́n quanh quất cũng chỉ
thấy toàn là cây núi mênh mông, gió rừng rào rạc, không
có bóng dáng "thần tiên".
Hầu vương ngồi lên tảng đá, ngước
mặt than:
- Thánh thần, Tiên, Phật nào hiểu được
ḷng ta, ḷng của kẻ chân thành đang ngày đêm mơ
ước!
Dứt lời, Hầu vương định xuống núi.
Bỗng có tiếng hát từ xa vọng lại:
Non xanh rừng rậm,
Gió vàng reo, lấm tấm lá khô bay
Mộng đời, vừng mây bạc
Ḷng đời, chung rượu say!
Nghêu ngao vui thú đêm ngày
Búa Tiên củi quế, miễn đầy gánh thôi.
Gặp Tiên thỏ thẻ đôi lời
Đâu nơi Cực lạc đâu nơi Huỳnh đ́nh
Nghe tiếng người hát, Hầu vương
mừng quưnh lên, lảm nhảm:
- Thần tiên đây rồi! May lắm!
Liền chạy men theo tiếng hát. Đến nơi, thấy
lăo tiều đang hái củi, Hầu vương bước
tới thi lễ và cung kính thưa:
- Đệ tử đến ra mắt, có điều chi
thất lễ xin thần tiên lượng thứ!
Lăo tiều vội bỏ búa, nói:
- Chao ôi! Ông lầm rồi, tôi vốn người nghèo
khổ, làm nghề hái củi đổi gạo nuôi thân,
có đâu được bậc phi thường ấy!
Hầu vương ngơ ngác nói:
- Lạ thật, người không phải thần tiên, sao
nói chuyện thần tiên lưu loát vậy?
Tiều phu ph́ cười, hỏi:
- Tôi nói chuyện thần tiên bao giờ?
Hầu vương nói:
- Tiếng ca vừa rồi, tôi có nghe ông hát:
Gặp Tiên thỏ thẻ đôi
lời
Đâu nơi Cực lạc đâu nơi Huỳnh đ́nh
Rơ ràng tiều ông là tiên vậy!
Tiều lăo cười, đáp:
- Tôi không giấu ǵ ông, bài ca
ấy của Tiên ông dạy tôi để hát cho khuây
khỏa trong giờ mệt nhọc, không ngờ lọt
đến tai ông, chắc tôi phải chịu lời
khiển trách!
Hầu vương hỏi tiếp:
- Vậy th́ Tiên ở đâu, xin tiều lăo chỉ hộ
cho.
Tiều phu nói:
- Tiên ông hiện ở tại xóm tôi . Cách đây không
xa mấy, có một dăy núi tên là Linh Đài phương
thốn sơn, trong có động Tà Nguyệt Tam Tinh, Tiên
ông hiệu là "Cu Bồ Đề Tổ Sư", ở
đấy thu nhận đồ đệ rất nhiều,
song các đồ đệ bị đuổi cũng không
ít, hiện nay chỉ c̣n ước độ ba bốn mươi.
Ông muốn đến đó phải theo đường
nhỏ qua hướng Nam, chừng bảy tám dậm, là
tới động.
Hầu vương nh́n ông tiều năn nỉ:
- Đường đi đến động ngoằn ngoèo
dễ lộn, mong ông thương đến, dẫn tôi cùng
đi về xóm, tôi xin hậu tạ.
Tiều lăo lắc đầu đáp:
- Giúp ông tôi không nệ công lao, ngặt v́ tôi c̣n cha
mẹ già, sớm chiều lo phụng dưỡng, phải
ở lại hái củi đổi gạo, không tiện làm
vừa ḷng ông!
Nghe lăo tiều than, Hầu vương cảm động,
đành phải bái biệt ra đi.
Núi rừng thăm thẳm, đá cao chồng chất, chông
gai hiểm trở. Hầu vương vốn quen miền sơn
dă , đi riết một hồi bảy tám dậm, quả
thấy một động lớn, cửa đóng kín
không có bóng người thấp thoáng. Trước đó,
một bia đá lớn đề mấy chữ "Linh
Đài phương thốn sơn Tà Nguyệt tam tinh động"
Hầu vương hớn hở, nhảy nhót tung tăng.
Nh́n thấy vườn đào xum trái, liền phóc lên hái
mấy quả ăn đỡ ḷng .
Giây lát có tiếng động. Một đồng-tử bước
ra hỏi:
- Ai cả gan dám vào đây ăn vụng đào?
Hầu vương vội vă nhảy xuống nói:
- Tôi từ xa t́m đến đây học đạo, không
phải kẻ trộm đào, xin tôn huynh hiểu cho.
Đồng-tử nghi ngờ Hầu vương, nói:
- Anh thật ḷng đến đây, t́m sư học đạo
sao?
Hầu vương thưa:
- Đường xa ngàn dặm, không ngại gian lao, ngày đêm
lặn lội, tôi chỉ mong được làm đệ
tử nơi nầy.
Đồng tử nh́n tướng mạo Hầu vương,
mỉm cười, nói :
- Sư phụ vừa thức dậy, sửa soạn
giảng kinh, dạy tôi ra rước người tu
niệm, có lẽ anh đây là phải?
Hầu vương mừng thầm, reo lên:
- Tiên ông quả là bậc tiên tri, xin tôn huynh đừng
ngần ngại. Chính là tôi vậy.
Đồng tử gật đầu bảo:
- Ngươi cùng tôi vào ra mắt sư phụ.
Hầu vương tươi cười, nhí nhảnh theo
đồng tử vào động, nh́n thấy quang cảnh
uy nghiêm, nào cung châu, điện ngọc, nào pḥng đọc
sách, nào chổ giảng kinh, đâu đó trang hoàng
rực rỡ. Thẳng đến trước Ngọc
đài, thấy Bồ Đề Tổ Sư ngồi trên
ghế cao, bên dưới đệ tử đứng
hầu hơn ba chục.
Hầu vương bước đến sụp lạy lia
lịa, và thưa:
- Tiện nhân mộ đạo đến đây, xin ra
mắt thầy.
Tổ Sư hỏi :
- Ngươi tên họ là chi ? Từ đâu đến ?
Hầu vương thưa:
- Tôi ở Đông Thắng Thần Châu, núi Hoa Quả, động
Thủy Liêm.
Tổ Sư nạt lớn:
- Kẻ ăn nói trớ trêu, tu hành sao được. Mau
đuổi nó đi!
Hầu vương sợ sệt vừa
lạy vừa nói:
- Ḷng thành thật đâu dám trớ trêu, kính mong thầy
thương xót.
Tổ Sư nói:
- Đường từ Đông Thắng Thần Châu đến
đây cách hai cửa biển, và một cơi Nam Thiên Hạ
Châu, làm sao nhà ngươi đi được?
Hầu vương thỏ thẻ thưa:
- Tôi dùng tre kết bè, vượt qua hai cửa biển, trèo
non lặn lội hơn chín năm trời mới đến
đây, cúi xin thầy đoái tưởng.
Tổ Sư nói:
- Ngươi đi lâu ngày là phải! Vậy nhà người
tên ǵ?
- Tôi không có danh tánh. Nhưng ai rầy tôi không giận, ai
đánh tôi không hờn.
Tổ Sư cau mày nói:
- Ta muốn biết danh tánh nhà ngươi, ngươi khai
chi về tính nết.
Hầu vương thưa:
- Thưa thầy, tôi không cha mẹ!
Tổ Sư nói:
- Người sao không có cha mẹ, không lẽ cây đá
sanh ngươi sao?
Hầu vương thưa:
- Đúng vậy! Nguyên nơi núi Hoa Quả có ḥn đá
lớn, kết tinh nhật nguyệt lâu ngày, rồi
một đêm mưa vang lên tiếng nổ, đá ấy
nứt hai, sanh ngay tôi từ lúc đó.
Nghe nói, Tổ Sư mừng thầm hỏi:
- Như vậy là thiên địa cấu tạo ra ngươi.
Thôi ngươi hăy đi qua lại cho ta xem nào.
Hầu vương đẹp dạ, đứng phắt lên
chạy qua lại vài lần, rồi quỳ xuống nghe
dạy.
Tổ Sư cười nói:
- Nhà ngươi bộ tịch hệt như khỉ. Để
ta xét theo diện mạo mà đặt tên cho.
Hầu vương sụp lạy tạ
ơn. Tổ Sư nói:
- Ta muốn theo h́nh dung nhà ngươi, đặt họ Hồ,
nhưng v́ chữ hồ bỏ khuyển bằng chỉ c̣n
chữ cổ, chữ nguyệt. Cổ nguyệt có nghĩa
là trăng già không tốt. Thôi ta đặt cho ngươi
họ Tôn, chữ tôn bỏ khuyển bằng c̣n
chữ tử, chữ hệ là c̣n trẻ, c̣n lớn, c̣n
khôn, tốt lắm!
Hầu vương mừng rỡ cúi đầu lạy
tạ và thưa:
- Mong thầy luôn tiện mở lượng từ bi đặt
tên luôn cho tôi, để dễ gọi lúc sai
khiến.
Tổ Sư nói:
- Trong đạo có mười hai chữ người ta thường
dùng "Quảng, Đại, Trí, Huệ, Chơn, Như, Tánh,
Hải, Đĩnh, Ngộ, Viên, Giác". Trong mười
hai chữ đó tính dồn tới ngươi nhằm vào
chữ Ngộ.Vậy ta đặt tên ngươi là Tôn
Ngộ Không.
Hầu vương khoái ư cười:
- Tốt lắm! Tốt lắm! Từ nay tôi mới
biết được tên, xin chịu gọi là Ngộ
Không.
Hết Hồi 1
Tây Du Kư
Nguyên Tác : Ngô Thừa Ân
Minh Quang posted December 24, 2001