

Phật Lịch 2551
Sức Mạnh Của Ḷng Từ
(The Power of
Compassion)
Nguyên tác: His
Holiness Dalai Lama
Tỳ Kheo Thích
Nguyên Tạng
soạn dịch
Nhà
Xuất Bản Quảng Đức 2007
|
Lời
ngỏ
Từ ngày 6 đến ngày 16 tháng 6 năm 2007 này, Đức Đạt Lai Lạt Ma sẽ
viếng thăm Úc Châu, đây là chuyến thăm Úc lần thứ năm của Ngài để
giảng dạy Phật Pháp. Mọi người đang trông đợi sự xuất hiện của ngài.
Bốn lần viếng thăm Úc trước đây đă diễn ra vào các năm 1982, 1992,
1996, 2002, đặc biệt trong lần viếng thăm và hoằng pháp lần thứ tư
năm 2002, đă có trên 110. 000 người trên khắp các thủ phủ như
Melbourne, Geelong, Sydney, và Canberra đến lắng nghe ngài thuyết
giảng để thay đổi và thăng hoa đời sống tâm linh của ḿnh. Có thể
nói Đức Đạt Lai Lạt Ma là nhà hoằng pháp vĩ đại nhất của PG trong
thời hiện đại, và được xem là người có nhiều tác phẩm Phật học được
người Tây Phương tiếp nhận và t́m đọc nhất. Tập sách nhỏ này được ấn
hành trong mùa Phật Đản năm nay, là một món quà khiêm tốn kính dâng
tặng đến Đức Đạt Lai Lạt Ma nhân chuyến viếng thăm Úc năm nay và
cũng để chia sẻ bức thông điệp từ bi của Ngài đến với mọi người
trong biển đời phiền lụy và khổ đau này. Xin chắp tay nguyện cầu cho
xứ sở Tây Tạng sớm t́m lại được nền độc lập tự do, để mang lại hạnh
phúc ấm no cho người dân Tây Tạng và cũng để Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ
14 có cơ hội trở về cố hương sau nhiều thập niên sống lưu vong ở
nước ngoài.
Nam Mô A Di Đà Phật
Viết tại Tu Viện Quảng Đức, Melbourne, Australia
Mùa Phật Đản lần thứ 2631- Đinh Hợi – 2007.
Dịch giả,
Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng
|
Translator’s note
From the 6th
to 16th of June 2007, His Holiness the Dalai Lama will
visit Australia. This is his fifth trip here to teach the
Buddha-Dharma. Everyone here is anxiously waiting for His arrival.
His first four visits occurred in 1982, 1992, 1996 and 2002. In
2002, there were approximately 110,000 people (from cities like
Geelong, Melbourne, Sydney and Canberra) who came to listen to his
preaching, in order to change and develop their spiritual lives. It
can be said that His Holiness the Dalai Lama is the greatest
Buddhist preacher in the modern age and has written many books on
Buddhism, These have attracted many western readers to read about
Buddhism.
This book, published in the year of Lord Buddha’s 2631st
birthday, is a humble gift, offered to His Holiness the Dalai Lama
on the occasion his Australian trip, and this Vietnamese translation
also shares his message of compassion to all sentient beings in this
suffering world.
May
the Lord Buddha bless that Tibet regain their freedom and
independence and may His Holiness the Dalai Lama return back to his
homeland in the near future after many decades in exile.
Nam Mo Amitabha Buddha,
Quang Duc Monastery, Melbourne, Australia
Buddha’s 2631st Birthday, the year of fire Pig, 2007
Translator, Ven. Thich Nguyen Tang
|
|
1
Phật sống Tây Tạng
Pico Lyer (ghi
chép)
Đêm
Hy Mă Lạp Sơn vang lên tiếng chó sủa. Ánh sáng lập ḷe bên kia sườn
đồi. Dưới ṿm trời sao, trên lối ṃn tăm tối giữa những hàng thông,
một nhóm người hành hương trong y phục tả tơi đang bước đi, miệng
lẩm bẩm cầu kinh. Ngay trước lúc rạng đông, khi những đỉnh núi tuyết
ở phía sau nhuộm màu hồng đậm, đám đông ở bên ngoài ngôi chùa
Namgyal ba tầng ở Dharamsala, miền Bắc Ấn Độ, trở nên yên lặng. Một
người có tướng mạo mạnh mẽ, lưng hơi kḥm bước vào đưa đôi mắt sáng
nh́n khắp mọi người, khuôn mặt hoan hỷ với nụ cười rộng không tắt
trên môi. Tháp tùng theo sau ngài là các tăng sĩ mặc áo đỏ thẫm và
đầu đội măo màu vàng. Vị mới đến đi thẳng lên điện Phật. Nơi đó, các
vị phụ tá ngồi nghiêm trang phía trước ngài. Khi mặt trời ló dạng,
tiếng tù và vang vọng cả một vùng thung lũng ở bên dưới, Đức Đạt Lai
Lạt Ma chủ tŕ một nghi lễ đón mừng năm mới, năm con Rồng Đất.
Vào
ngày mùng hai Tết Losar, hội mừng xuân mới của Tây Tạng, vị Phật
sống của khoảng mười bốn triệu người về tiếp kiến công chúng. Đến
tám giờ sáng, đoàn người đến viếng thăm ngài đứng thành một hàng dài
nửa dặm dọc theo con đường núi quanh co ở bên ngoài ngôi nhà gỗ
thoáng khí của ngài ở vùng núi. Họ là những người sơn cước phong
trần trong những chiếc mũ rộng vành, những người Tây Phương để tóc
dài, những bé gái mặc những bộ áo lụa đẹp nhất, tất cả sáu ngàn dân
làng, và hàng ngàn người khác nữa. Tiếp đó là ba mươi người khách
với y phục bám bụi đường vừa rời khỏi Tây Tạng đứng chen chúc ở bên
trong ngôi nhà. Khi trông thấy vị lănh tụ lưu vong của ḿnh lần đầu
tiên sau gần ba mươi năm, họ liền oà lên khóc nức nở, rồi những
tiếng sụt sịt sau đó. Trong suốt những khoảnh khắc đó, Tenzin Gyatso,
nhà lănh đạo thế quyền và giáo quyền của Tây Tạng, hóa thân của Bồ
Tát Quán Thế Âm qua danh hiệu Đạt Lai Lạt Ma thứ 14, một ḍng truyền
thừa không gián đoạn kể từ 597 năm qua, vẫn trầm tĩnh an nhiên.
Sau
đó ngài giải thích rằng, ở Tây Tạng lễ Losar thường được cử hành
trên sân thượng của cung điện Potala cao mười ba tầng, với những cái
bánh nướng được bày ra cho mọi người. “Mỗi năm tôi lại thực sự lo
ngại khi nh́n người ta cứ nhào tới lấy bánh. Thứ nhất là toà nhà lâu
đời có thể sụp đổ bất cứ lúc nào và thứ hai, có thể có một người nào
đó rơi từ trên nóc nhà xuống dưới đất. Bây giờ việc đó diễn ra ở đây
lặng lẽ hơn nhiều”. Giọng nói của ngài trở nên trầm ấm thân t́nh.
Từ
năm 1959, cuộc nổi dậy của người Tây Tạng chống lại những lực lượng
chiếm đóng của Trung Quốc đă đưa đến việc Đức Đạt Lai Lạt Ma phải
sống lưu vong ở Ấn Độ, nhưng tinh thần của nền tín ngưỡng cổ truyền,
có tính chất như truyện cổ tích, vẫn c̣n sống mạnh mẽ ở Dharamsala
này -- nơi trước kia vốn là đồn lính của chính quyền thuộc địa Anh
Quốc, cách thủ đô New Delhi 250 cây số về hướng Bắc. Ở đây, với một
nhà tiên tri quốc gia, một lạt ma có quyền năng làm mưa, một số y sĩ,
mấy nhà chiêm tinh và một nội các gồm bốn người, Đức Đạt Lai Lạt Ma,
là hóa thân của tất cả những ǵ mà ngài đă làm kể từ khi bước lên
ngai sư tử ở Lhasa vào năm lên bốn tuổi.
Nhưng dù “Người bảo hộ xứ tuyết” (Protector of the Land of
Snows) có tất cả những nét huyền bí của vương quốc huyền diệu mà
người Tây Phương tưởng tượng lại và đặt tên là Shangri-la, ngài vẫn
là một nhà lănh đạo trong cơi giới trần tục này. Từ năm mười lăm
tuổi ngài buộc phải lo toan với những nhu cầu của nhân dân ngài
trước những mưu đồ đối nghịch của Bắc Kinh, Washington và New Delhi.
T́nh trạng luôn luôn nóng bỏng đó đă đi tới cực điểm trong mùa thu
vừa qua khi người Tây Tạng nổi dậy ở Lhasa, chính quyền Trung Quốc
đă giết chết ba mươi hai người, Đức Đạt
Lai Lạt Ma mở cuộc họp báo lớn đầu tiên của ngài ở Dharamsala, và
Quốc Hội Hoa Kỳ nhất trí lên án hành động của Trung Quốc. Những cuộc
nổi dậy đă bộc phát trong mấy tuần vừa qua, nhưng ngay cả trước đó,
vị tu sĩ Phật Giáo khiêm tốn này đă thấy ḿnh không chỉ là biểu
tượng tinh thần nối kết một trăm ngàn người Tây Tạng lưu vong với
sáu triệu người vẫn sống dưới ách thống trị của Trung Quốc mà c̣n là
một nhân vật lănh đạo về chính trị cho xứ sở nữa. Ngài cười vui vẻ
và nói “Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 có lẽ là người nổi tiếng nhất
trong tất cả các vị Đạt Lai lạt Ma. Nếu người Trung Hoa đă đối xử
với ngựi Tây Tạng giống như người anh em thực sự th́ có lẽ vị Đạt
lai Lạt Ma này không nổi tiếng như vậy. V́ thế, tất cả là nhờ có
người Trung Hoa”. Mắt ngài sáng lên một cách châm biếm.
Đức
Đạt Lai Lạt Ma được xem là hóa thân của Bồ Tát Quán Thế Âm, điều
hành một chính phủ lưu vong, là một tiến sĩ siêu h́nh học. Nhưng có
lẽ điều kỳ diệu duy nhất về ngài chính là tính nhân bản thành thực
và mạnh mẽ nơi ngài. Với phong thái riêng, vị Phật sống qua h́nh ảnh
quen thuộc với đôi giầy màu nâu cùng bộ y mầu đỏ thẫm của ḿnh, và
cặp mắt vẫn có nét tinh nghịch mà thuở ấu thời từng làm cho các
lạt ma của ḿnh phải hốt hoảng v́
tài chơi tṛ trốn t́m nghịch ngợm. Ngài thích chăm sóc vườn hoa,
ngắm bầy chim rừng, sửa chữa những chiếc đồng hồ, máy thu thanh và
nhất là hành thiền tĩnh tọa. Và ngay cả đối với những kẻ đă giết tới
một triệu hai trăm ngàn người dân của ngài và phá hủy sáu ngàn hai
trăm năm mươi bốn ngôi tự viện của Tây Tạng, ngài vẫn tha thứ cho họ.
Ngài nói: “Là những hành giả tu theo giáo lư Đại Thừa, chúng ta
cầu nguyện mỗi ngày để phát triển một loại tâm từ bi vô giới hạn. V́
vậy không có lư do ǵ để nuôi dưỡng ḷng thù hận người Trung Quốc.
Chúng ta hăy phát khởi đại bi tâm đối với họ”.
Vị
Phật vương thứ mười bốn của Tây Tạng ra đời trong một gia đ́nh nông
dân ở ngôi làng nhỏ Takster vào năm 1935. Khi ngài được hai tuổi,
một phái đoàn tăng sĩ t́m đến ngôi nhà nhỏ của ngài do có sự xuất
hiện của những dấu hiệu như: một xác chết có vẻ như cử động, linh
cảm từ hồ thiêng và những đám mây lành, cho thấy ngài là hóa thân
mới của vị thần chủ của Tây Tạng. Hai năm sau đó, sau khi trải qua
những cuộc trắc nghiệm phức tạp, chú bé đă được một phái đoàn gồm
mấy trăm người cung thỉnh về thủ đô Lhasa. Ở đó ngài sống xa gia
đ́nh cùng với người anh trai trong cung điện Potala rộng lớn với một
ngàn căn pḥng và học một khóa giáo lư kéo dài mười tám năm. Lên bảy
tuổi, ngài tiếp phái đoàn của Tổng Thống Mỹ Franklin Roosevelt và
cầu nguyện trước hai mươi ngàn tăng sĩ. Nhưng lúc đó ngài vẫn là một
lạt ma tí hon b́nh thường, thích chạy quanh cung điện trên chiếc xe
hơi đạp và đùa nghịch với các anh em ruột của ḿnh, Tenin Choegyal,
em trai của Đức Đạt Lai Lạt Ma nhớ lại “ Một ngày mùa hè, vào năm
tôi được bảy tuổi, mẹ tôi đưa tôi đến cung điện mùa hè Norbulingka
để thăm Đức Đạt Lai Lạt Ma. Khi chúng tôi tới nơi, ngài đang tưới
nước những cây kiểng của ḿnh, và ngài đă chỉa ngay ṿi nước vào tôi”.
Cũng trong khoảng thời gian đó, lạt ma tí hon tinh nghịch lần đầu
tiên biểu lộ những năng khiếu về khoa học của ḿnh. Ngài tự học
những nguyên tắc của động cơ nổ và tự sửa chữa cái máy phát điện của
Cung Điện Potala khi nào nó trục trặc. Ngài chỉ được phép nh́n ra
thế giới bên ngoài qua tấm màn lụa của chiếc kiệu bằng vàng của ḿnh,
v́ vậy ngài dùng máy chiếu để xem những cuốn phim mà ngài thích như
loạt phim “Tarzan”, phim “Henry V, vua Anh Quốc”, và nhất là những
cuốn phim thu h́nh chính thủ đô Lhasa. Ngài nhớ lại là ḿnh thường
trèo lên nóc điện Potala lấy ống viễn vọng kính và thích thú quan
sát những cư dân của thủ đô Lhasa đang sinh hoạt trong đời sống hằng
ngày của họ.
Năm
1950, sự cô lập của “viên ngọc như ư”(“Wish-Fulfilling
Gem”)
và vương quốc miền núi của ngài bị phá
hủy khi quân Trung Quốc tấn công từ tám hướng khác nhau. Bất ngờ nhà
lănh đạo nhỏ tuổi này phải học một khóa cấp tốc về chính trị, để rồi
đến Bắc Kinh thương thuyết với Chu Ân Lai (Zhou Enlai)
và Mao Trạch Đông (Mao Zedong).
Cuối cùng, vào tháng ba năm 1959, khi một cuộc đụng độ đẫm máu diễn
ra với ba mươi ngàn người Tây Tạng dũng mănh vùng lên chống lại sự
cai trị hung bạo của Trung Quốc, Đức Đạt Lai Lạt Ma đă quyết định
trốn khỏi cung điện mùa hè, hóa trang thành một người lính thường và
leo qua những rặng núi cao nhất thế giới. Hai tuần sau, bị bệnh tiêu
chảy và ngồi trên lưng một con trâu yak, “Vị thủ lĩnh hoa sen trắng”
(“Holder of the White Lotus) đă
đivào đất Ấn Độ như một người lưu vong cùng với tám chục ngàn người
dân Tây Tạng khác.
Kể
từ đó ngài đă phải sống với sự cố gắng giữ thăng bằng trên sợi dây
chính trị thế giới. Ngài là một vị khách của một quốc gia muốn ngài
giữ im lặng và là một kẻ địch của quốc gia mà nhiều nước trên thế
giới đang ve văn. Không nản chí, Đức Đạt Lai Lạt Ma đă tổ chức năm
mươi hai khu định cư của người Tây Tạng ở Ấn Độ và Nepal cũng như
thiết lập những viện bảo tồn nghệ thuật, kinh sách và y học truyền
thống của Tây Tạng. Trong mấy năm sau đó, ngài bắt đầu đi ṿng quanh
thế giới giống như một vị Giáo Hoàng của Phật Giáo để diễn thuyết ở
Đại học Harvard, Hoa Kỳ, tiếp kiến Đức Giáo Hoàng John Paul đệ nhị
và gặp các tín đồ PG trên khắp thế giới, dù họ là nông dân thất học
hay là diễn viên (diễn viên điện ảnh người Mỹ Richard Gere -- người
bắt đầu nghiên cứu PG từ năm 1982). Ngài muốn luôn luôn nh́n thấy
những phương diện tích cực của đời sống, ngài cảm thấy rằng sự lưu
vong cũng có những mặt tốt của nó. “Khi chúng tôi ở Tây Tạng, có
những hoạt động nghi lễ chiếm nhiều thời giờ mà thực chất không có ư
nghĩa ǵ nhiều. Tất cả những chuyện đó bây giờ không c̣n nữa. Tôi
nghĩ như vậy là tốt. Bây giờ th́ không cần đến những h́nh thức bên
ngoài nữa”.
Nhiều người Tây Tạng thuộc thế hệ trẻ muốn vị lănh đạo của họ có
nhiều tính chiến đấu hơn. Họ ủng hộ đường lối bạo động, v́ họ nhận
xét rằng có hơn ba ngàn tù nhân chính trị chỉ ở riêng miền trung Tây
Tạng và chính quyền Trung Quốc đă đưa ít nhất là ba trăm ngàn binh
sĩ đến để chiếm đóng “nóc nhà của thế giới”. Nhưng Đức Đạt Lai Lạt
Ma vẫn chủ trương đường lối ôn ḥa. Ngài tŕnh bày: “Khi tâm trí
bị sự sân hận ngự trị th́ nó có thể trở nên điên loạn. Người ta sẽ
không thể quyết định đúng và không thể trông thấy sự thật. Nhưng nếu
b́nh tĩnh và an định người ta sẽ trông thấy sự vật đúng như thật.
Tôi nghĩ rằng các nhà chính trị cần phải có loại kiên nhẫn này.
Chẳng hạn, so với các nhà lănh đạo trước đây của Liên Xô th́ ông
Gorbachev là người b́nh tĩnh
hơn nhiều và do đó hoạt động của ông hữu hiệu hơn”.
Tuy
nhiên, hiếu ḥa không có nghĩa là thụ động, ngài nói tiếp “rốt
cuộc người Trung Quốc sẽ phải nhận thức rằng Tây Tạng là một quốc
gia riêng biệt. Nếu Tây Tạng đă luôn luôn thật sự là một phần của
Trung Quốc th́ dù muốn hay không muốn, người Tây Tạng cũng phải sống
với sự kiện này. Nhưng sự thật không phải như vậy, do đó chúng ta có
tất cả những lư do để đ̣i hỏi quyền lợi của ḿnh”.
Đức
Đạt Lai Lạt Ma dành nhiều thời giờ để suy nghĩ về việc Phật Giáo Tây
Tạng có thể dạy như thế nào và có thể học như thế nào từ những nền
giáo thuyết khác. Chẳng hạn ngài tin rằng Phật Giáo có thể hướng dẫn
cho chủ nghĩa Marx biết cách thiết lập một chủ nghĩa xă hội đích
thực “không bằng vơ lực mà bằng lư luận, bằng một sự luyện tập
tâm trí rất nhẹ nhàng, bằng sự phát triển tâm từ bi”. Ngài nh́n
thấy nhiều điểm tương đồng giữa niềm tin của ngài và tâm lư học, vũ
trụ học, thần kinh học, khoa học, xă hội học và vật lư học. Ngài nói:
“Có nhiều điều mà người đệ tử Phật chúng ta nên học từ những phát
hiện mới nhất của khoa học. Và các nhà khoa học có thể học từ những
giáo lư của Phật Giáo. Chúng ta phải làm công việc nghiên cứu và rồi
tiếp nhận những kết quả. Nếu không phù hợp với những kết quả trắc
nghiệm th́ chính những lời giảng của Phật cũng phải bị loại bỏ”.
Sự
cấp tiến của ngài có khi làm cho người Tây Tạng hoang mang, dù họ là
những người sẵn sàng từ bỏ mạng sống v́ vị lănh đạo của ḿnh. Trong
bản hiến pháp sơ thảo mà ngài đă soạn vào 1963, vị Phật vương đă cho
vào đó một điều trái ngược với ước muốn của người dân Tây Tạng, có
thể làm cho ngài bị lên án. Đó là việc ngài đang xét lại cách thức
mới để chọn vị Dalai Lama kế tục, có lẽ bằng một cuộc bầu cử giống
như của Ṭa Thánh Vatican của Ky Tô Giáo vậy, hoặc chọn theo tuổi
tác, băi bỏ tất cả những tập quán t́m kiếm vị hóa thân tái sanh. “Tôi
nghĩ rằng đă đến lúc, dù không nhất thiết phải có quyết định thật
sớm, nhưng cũng phải có sự bắt đầu một cuộc thảo luận có tính cách
chính thức hơn, để người dân có thể chuẩn bị tư tưởng cho việc này”.
Trong lúc đó, nhà lănh đạo lưu vong tiếp tục sống một đời sống đơn
giản, vô vị kỷ, giống như giáo lư Trung Đạo của Phật Giáo, không
tranh chấp với thế gian và cũng không bị thế gian ảnh hưởng. Ngài
vẫn không chịu ngồi hàng ghế hạng nhất trên các chuyến bay và vẫn
luôn tự xem ḿnh là một “tăng sĩ đơn sơ” (simple Buddhist
monk). Dù là một trong những học giả uyên
bác nhất và là một trong những người trí tuệ nhất của tất cả các nền
triết học trên thế giới, ngài có tài thu tóm giáo thuyết của ḿnh
thành một điều thực dụng trong sáng, như đă kết tinh trong tựa đề
cuốn sách xuất bản năm 1984 của ngài “ Từ Bi, Quang Minh và Trí
Tuệ” (Kindness, Clarity and Insigh) do nhà xuất
bản Snow Lion ấn hành. Ngài nói “Tôn giáo thực sự của tôi là ḷng
từ bi” (My true religion is kindness). Đây là một điều không may
mắn cho chính phủ Trung Quốc khi họ đụng phải một người như Đức
Đạt Lai Lạt Ma. Bắc Kinh đă phỉ báng ngài
khi gọi ngài là “thây ma chính trị, thổ phỉ và phản bội” (political
corpse, bandit and traitor), “tên đồ tể
tay dính máu, sống bằng thịt người (red-handed butcher who
subsisted on people’s flesh). Nhưng bất cứ ai gặp Đức Đạt
Lai Lạt Ma cũng cảm thấy sự nồng ấm, nhân ái và từ bi của ngài.
Đối
với một người ngoài, đời sống của một vị Phật sống có vẻ rất cô đơn.
Thêm nữa, trong mấy năm qua gần như tất cả những người thân cận của
ngài, nhất là vị giáo sư của chính ngài, vị giáo sư phụ tá, mẹ và
anh của ngài, là người xưa kia đă chơi đùa với ngài, đều đă lần lượt
qua đời. Nhưng cũng như mọi điều khác, Đức Đạt Lai Lạt Ma chấp nhận
thực tại một cách sâu sắc nhất. Ngài nói: “Bạn cũ qua đời, bạn
mới xuất hiện. Điều này cũng giống như ngày tháng vậy. Ngày tháng cũ
trôi qua, ngày mới xuất hiện. Điều quan trọng là làm cho nó có ư
nghĩa: một người bạn đầy ư nghĩa hay một ngày đầy ư nghĩa”.
|
1
TIBET’S LIVING BUDDHA
By Pico Lyer
Dogs bark in the Himalayan
night. Lights flicker across the hillside. On a pitch-black path
framed by pines and covered by a bowl of stars, dew ragged pilgrims
shuffle along, muttering ritual chants. Just before dawn, as the
snowcaps behind take on a deep pink glow, the crowd, that has formed
outside the three storey Namgyal Temple, in northern India falls
silent. A strong, slightly stooping figure strides in, bright eyes
alertly scanning the crowd, smooth face breaking into a broad and
irrepressible smile. Followed by a group of other shaven-headed
monks, all of them in claret robes and crested yellow hats, the
newcomer clambers up to the temple roof. There, as the sun begins to
rise, his clerics seated before him and the solemn drawn-out summons
of long horns echoing across the valley below, the Dalai Lama leads
a private ceremony to welcome the Year of the Earth Dragon.
On the second day of Losar,
the Tibetan New Year, the man who is a living Buddha, to roughly
fourteen million people, gives a public audience. By eight A.M. the
line of petitioners stretches for half a mile along the winding
mountain road outside his airy bungalow. Leathery mountain men in
gaucho hats, long haired westerners, little girls in their prettiest
silks, all the six thousand residents of the village and the
thousands more. Later, thirty dusty visitors, just out of Tibet,
crowd inside and as they set eyes on their exiled leader for the
first time in almost three decades, fill the small room with racking
sobs and sniffles. Through it all, Tenzin Gyatso, the absolute
spiritual and temporal ruler of Tibet, incarnation of the Tibetan
god of compassion and fourteenth Dalai Lama in a line that stretches
back 597 years, remains serene.
In Tibet, he explains later,
Losar used to be conducted on the roof of the thirteen storey Potala
Palace, with cookies laid out for the masses. “Every year I used to
be really worried when the people rushed to grab the cookies. First,
that the old building would collapse, and second, that someone would
fall over the edge. “Now,” (the rich baritone breaks into a hearty
chuckle) “now things are much calmer.”
It was twenty-nine years ago
last week that the Tibetan uprising against China’s occupying forces
propelled the Dalai Lama into Indian exile. Yet the spirit of his
ancient, fairy-tale theocracy is still very much alive in Dharamsala,
a former British hill station 250 miles north of New Delhi. Here,
attended by a State Oracle, a rainmaking lama, various medicine men,
astrologers and a four-man Cabinet, the Dalai Lama, at fifty-two,
incarnates all he has done since first ascending the Lion Throne in
Lhasa at age four.
Yet even as the “Protector of
the Land of Snows” sustains all the secret exoticism of that
otherworldly kingdom reimagined in the West as Shangri-La, he
remains very much a leader in the real world. Since the age of
fifteen, he has been forced to deal with his people’s needs against
the competing interests of Beijing, Washington and New Delhi. That
always inflammatory situation reached a kind of climax last autumn,
when Tibetans rioted in Lhasa, their Chinese rulers killed as many
as thirty-two people, the Dalai Lama held his first major press
conference in Dharamsala, and the U.S Senate unanimously condemned
the Chinese actions. Riots have erupted in recent weeks, but even
before that, the modest man in monk’s raiment had found himself not
only the spiritual symbol linking 100,000 Tibetans in exile to the
six million still living under Chinese rule, but also, more than
ever, a political rallying point. “The Fourteenth Dalai Lama may be
the most popular Dalai Lama of all,” he says smiling merrily. “If
the Chinese had treated the Tibetans like real brothers, then the
Dalai Lama might not be so popular. So….,” (he twinkles impishly)
“all the credit goes to the Chinese!”
On paper, then, the Dalai Lama
is a living incarnation of a Buddha, the hierarch of a
government-in-exile and a doctor of metaphysics. Yet the single most
extraordinary thing about him may simply be his sturdy, unassuming
humanity. The Living God is, in his way, as down to earth as the
hardy brown oxfords he wears under his monastic robes, and in his
eyes is still the mischief of the little boy who used to give his
lamas fits with his invincible skills at hide-and-seek. He delights
in tending his flower gardens, looking after wild birds, repairing
watches and transistors and, mostly, just meditating. And even
toward those who have killed up to 1.2 million of his people and
destroyed 6,254 of his monasteries, he remains remarkably
forbearing. “As people who practice the Mahayana Buddhist teaching,
we pray every day to develop some kind of unlimited altruism,” he
says. “So there is no point in developing hatred for the Chinese.
Rather, we should develop respect for them and love and compassion.”
The Fourteenth God-King of
Tibet was born in a cow shed in the tiny farming village of Takster
in 1935. When he was two, a search party of monks, led to his small
home by a corpse that seemed to move, a lakeside vision and the
appearance of auspicious cloud formations, identified him as the new
incarnation of Tibet’s patron god. Two years later, after passing an
elaborate battery of tests, the little boy was taken amid a caravan
of hundred into the capital of Lhasa, “Home of the Gods.” There he
had to live alone with his immediate elder brother in the cavernous
thousand-chamber Potala Palace and undertook an eighteen-year course
in Metaphysics. By the age of seven, he was receiving envoys from
the President Franklin Roosevelt and leading prayers before twenty
thousand watchful monks; yet he remained a thoroughly normal little
boy who loved to whiz around the hold compound in a pedal car and
instigate fights with his siblings. “I recall one summer day, I must
have been about seven, when my mother took me to the Norbulingka
Summer Palace to see His Holiness,” recalls the Dalai Lama’s
youngest brother Tenzin Choegyal. “When we got there, His Holiness
was watering his plants. The next think I knew, he was turning the
hose at me!”
It was at this time too, that
the precocious boy first developed his prodigious gift for things
scientific, teaching himself the principles of the combustion engine
and fixing the palace’s generator whenever it went on the blink. To
satisfy his insatiable curiosity about a world he was permitted to
glimpse only through the silk-fringed curtains of his golden
palanquin, the young ruler set up a projector by which he eagerly
devoured Tarzan movies, Henry V and, best of all, home movies
of his own capital. Often, he recalls, he would take a telescope
onto the palace roof and wistfully gaze at the boys and girls of
Lhasa carelessly going about their lives.
In 1950 the isolation of the
“Wish-Fulfilling Gem” and his mountain kingdom was shattered as the
Chinese attacked from eight different directions. Suddenly the
teenage ruler was obliged to take a crash course in statesmanship,
traveling to Beijing to negotiate with Zhou Enlai and Mao Zedong.
Finally, in March 1959, when a bloody confrontation seemed imminent
as thirty thousand steadfast Tibetans rose up against Chinese rule,
the Dalai Lama slipped out of his summer palace, dressed as a humble
soldier and set off across the highest mountains on earth. Two weeks
later, suffering from dysentery and on the back of a dzo, (a hybrid
yak) the “Holder of the White Lotus” rode into exile in India.
Since then, his has been a
singularly delicate balancing act, the guest of a nation that would
prefer him to remain silent and the enemy of a nation that much of
the world is trying to court. Undeterred, the Dalai Lama has
organized fifty-three Tibetan settlements in India and Nepal and set
up institutes to preserve his country’s arts, its scriptures and its
medical traditions. In recent years he has begun to race around the
world like a Buddhist John Paul II; lecturing at Harvard, meeting
the Pope and attending to his flock, be they unlettered peasants or
the American actor Richard Gere (a student of Buddhism since 1982).
Always inclined to see the good in everything, he feels that exile
has in some respects been a blessing. “When we were in Tibet, there
were certain ceremonial activities that took up a lot of time, but
the substance was not much. All those exist no longer. That’s good,
I think. Also, because we are refugees, we have become much more
realistic. There’s no point now in pretending.”
Many young Tibetans would like
their leader to be more militant. Angrily noting that there are more
than three thousand political prisoners in central Tibet alone and
the Beijing has at least three hundred thousand troops on the
“Rooftop of the World,” they advocate violence. But the Dalai Lama
refuses to be intemperate. “Once your mind is dominated by anger,”
he notes thoughtfully, “it becomes almost mad. You cannot take right
decisions, and you cannot see reality. But if your mind is calm and
stable, you will see everything exactly as it is. I think all
politicians need this kind of patience. Compared with the previous
Soviet leaders I think for example, that Gorbachev is much calmer,
therefore more effective.”
Pacifism however, does not
mean passivity. “Ultimately …,” he continues, “… the Chinese have to
realize that Tibet is a separate country. If Tibet was always truly
a part of China then, whether Tibetans liked it or not, they would
have to live with it. But that’s not the case. So we have every
right to demand our rights.”
The Dalai Lama spends much of
his time reflecting on how Tibetan Buddhism can teach and learn from
other disciplines. He believes for example, that Buddhism can show
Marxism how to develop a genuine socialist ideal “Not through force
but through reason and through a gently training of the mind,
through the development of altruism.” He sees many points of contact
between his faith and psychology, cosmology, neurobiology, the
social sciences and physics. “There are many things we Buddhists
should learn from the latest scientific findings and that scientists
can learn from Buddhist explanations. We must conduct research and
then accept the results. If they don’t stand up to experimentation,”
he says, beaming subversively, “Buddha’s own words must be
rejected.”
Such quiet radicalism has at
times unsettled followers so devout that they would readily give up
their lives for their leader. In the draft constitution he drew up
in 1963, the God-King included, against his people’s wishes, a
clause that would allow for his impeachment. Now he is considering
new methods for choosing the next Dalai Lama; adopting an electoral
system similar to the Vatican’s perhaps, or selecting on the basis
of seniority, or even dispensing with the entire institution. “I
think the time has come, not necessarily to take a decision very
soon, but to start a more formal discussion, so that people can
prepare their minds for it.”
In the meantime, the exiled
leader will continue to pursue a simple, selfless life that is close
to the Buddhist ideal of the Middle Way. Neither hostile to the
world, nor hostage to it. Buddhism’s supreme living deity still
refuses to fly first class and thinks himself always, as he told the
press last autumn, as a “simple Buddhist monk.” Though he is one of
the most erudite scholars of one of the most cerebral of all the
world’s philosophies, he has a gift for reducing his doctrine to a
core of lucid practicality, crystallized in the title of his 1984
book, Kindness, Clarity and Insight (Snow Lion Publications).
“My true religion,” he has said, “is kindness.”
It is in fact, the peculiar
misfortune of the Chinese to be up against one of those rare souls
it is all but impossible to dislike. Beijing has felt it necessary
to call him a “political corpse, bandit and traitor,” a “red-handed
butcher who subsisted on people’s flesh.” Yet everyone who meets the
Dalai Lama is thoroughly disarmed by his good-natured warmth and by
a charisma all the stronger for being so gentle.
To an outsider, the life of a
living Buddha can seem a profoundly lonely one. In recent years,
moreover, nearly all the people closest to the Tibetan ruler; his
senior tutor, his junior tutor, his mother and the elder brother,
who in youth was his only playmate, have died. Yet this, like
everything else, the Dalai Lama takes in the deepest sense,
philosophically. “Old friends pass away, new friends appear,” he
says with cheerful matter-of-factness. “It’s just like the days. An
old day passes, a new day arrives. The important thing is to make it
meaningful; a meaningful friend or a meaningful day.”
Source: Sidney Piburn (1993), The Dalai
Lama, A Policy of Kindness, Snow Lion Publications, Ithaca, New
York, USA
|
|
2
Một ngày sinh
hoạt
của Đức Đạt Lai Lạt Ma
Vanya Kewley
ghi chép
Tôi thức dậy đúng bốn giờ, tôi
bắt đầu một thời công phu khuya thọ tŕ thần chú Ngagjhinlab. Tôi
nguyện hiến dâng những ǵ tôi làm được trong suốt một ngày qua hành
động, lời nói, ư nghĩ của tôi, tất cả như một sự cống hiến, một
phương cách sống tích cực để giúp đỡ người khác.Giống như những tăng
sĩ khác, tôi nghiêm tŕ một lời phát nguyện an bần thủ đạo, không sở
hữu bất cứ thứ ǵ thuộc về cá nhân. Pḥng ngủ của tôi chỉ có một cái
giường, và h́nh ảnh đầu tiên tôi nh́n thấy sau khi thức dậy là khuôn
mặt của Đức Phật từ pho tượng có từ thời Kyirong thế kỷ thứ 17, bức
tượng này là một trong số rất ít mà tôi mang theo được khi đào thoát
khỏi sự báng bổ của Trung Quốc. Khí trời lạnh khi tôi thức dậy, v́
chúng tôi đang ở trên độ cao 7000 bộ, nên tôi tập thể dục một chút
cho ấm, tiếp đó rửa mặt và khoác thật nhanh chiếc y vào người.
Cũng như tất cả tăng sĩ khác,
tôi mặc y màu nâu đỏ thẫm. Loại vải này không làm từ chất liệu tốt,
và chiếc y được chắp vá lại từ nhiều mảnh. Nếu vải được làm từ vật
liệu tốt và liền một mảnh th́ có thể bán để kiếm lợi, sự kiện này
không thể xảy ra cho các tăng sĩ. Điều đó củng cố thêm triết học của
chúng tôi trong việc loại bỏ sự đắm nhiễm vật chất của thế gian
trong đời sống tu tập của ḿnh. Tôi hành thiền cho đến năm giờ rưỡi
và lễ Phật sau đó. Chúng tôi có một pháp tu tập đặc biệt để nhắc nhở,
quán xét về những lỗi lầm của chính ḿnh trong đời sống và phát lồ
sám hối những ǵ đă vi phạm và cũng như nguyện cầu cho chúng sinh
được an lạc.
Trời hừng đông, nếu thời tiết
tốt, tôi ra thăm khu vườn. Đây là thời gian rất đặc biệt trong ngày
đối với tôi. Tôi nh́n lên bầu trời và thấy những ngôi sao ở xa xa,
tôi có một cảm giác thật kỳ lạ, nhận ra tính không của vũ trụ vạn
hữu. Sự nhận thức này được người đệ tử Phật gọi là vô thường. Tôi
cảm thấy dễ chịu và rất thư giăn. Đôi lúc tôi không suy nghĩ ǵ cả,
chỉ thích thọ hưởng cái không khí trong lành của buổi ban mai và
lắng nghe những ngôn ngữ của các loài chim.
Tiếp đó, Thầy Penjor hay Thầy
Loga, xuất thân từ Tu Viện Namgyal, những vị đă sống bên cạnh tôi từ
28 năm qua, mang thức ăn điểm tâm cho tôi. Thực đơn bữa sáng của tôi
thường pha trộn một nửa Tây Tạng và nửa kia là Tây Phương, Tsampa,
bánh ḿ làm từ lúa mạch và cháo. Tôi vừa ăn sáng và vừa bận rộn lắng
nghe tin tức thế giới qua chương tŕnh radio của đài BBC.
Sau đó khoảng sáu giờ tôi vào một pḥng khác và hành thiền đến chín
giờ. Xuyên suốt giờ hành thiền, tất cả đệ tử Phật đều nỗ lực và phát
triển ḷng từ bi, bao dung và tha thứ. Tôi hành thiền khoảng sáu
hoặc bảy lần trong một ngày.
Từ chín giờ cho đến trưa, tôi
đọc và học kinh Phật. Đạo Phật là tôn giáo rất uyên thâm, mặc dù tôi
đă nghiên cứu Phật điển suốt cả cuộc đời ḿnh, nhưng vẫn c̣n có
nhiều thứ để học. Đau đớn thay cho dân tộc của chúng tôi, những bản
kinh cổ và những bản kinh chép tay đă bị người Trung Quốc hủy diệt
hết sạch. Trước khi có sự xâm chiếm của người Trung Quốc, chúng tôi
đă có trên 6000 tự viện và Phật học viện. Bây giờ chỉ c̣n 37 tự viện
mà thôi.
Tôi cũng cố gắng đọc những tài
liệu về các bậc Thầy người Tây Phương. Tôi muốn học thêm về triết
học và khoa học Tây Phương. Đặc biệt là môn vật lư hạt nhân, thiên
văn học và sinh vật thần kinh học. Các nhà khoa học Tây Phương
thường viếng thăm và thảo luận cùng với tôi về mối liên hệ giữa
triết học Phật giáo và các ngành chuyên môn của họ, hoặc so sánh
công việc của họ trên chức năng trí óc và kinh nghiệm tu tập của
người Phật tử ở những tŕnh độ khác nhau.
Tôi thường thức dậy và sau giờ
hành thiền, tôi giải lao bằng cách đi làm những việc lặt vặt như nạp
điện cho máy thu thanh, sửa chữa một cái ǵ đó. Từ tuổi ấu thơ tôi
bị quyến rũ mănh liệt với những thứ thuộc về cơ khí, những đồ chơi
có gắn động cơ, những chiếc xe hơi nhỏ, những chiếc máy bay, những
đồ vật này thường được khảo sát rất tỉ mỉ qua bàn tay của tôi. Chúng
tôi có một máy chiếu phim tại thủ đô Lhasa, nó thuộc về Đức Đạt Lai
Lạt Ma thứ 13. Chiếc máy này được một lạt ma gốc người Trung Quốc
coi ngó, nhưng khi vị này viên tịch không ai biết sửa chữa.V́ thế
tôi phải tự học cách làm thế nào để chiếc máy có thể làm việc trở
lại. Nhưng cái học của tôi là tự mày ṃ, v́ đơn giản tôi không đọc
được bản hướng dẫn. Tôi chỉ nói được tiếng Tây Tạng. V́ thế, như một
thói quen tôi hay làm việc vặt như sửa những thứ linh tinh như đồng
hồ đeo tay, đồng hồ treo tường, đồng hồ để bàn hoặc trồng cây trong
nhà kính. Tôi yêu cỏ cây hoa lá nói chung, đặc biệt các loại hoa phi
yến, hoa uất kim hương và theo dơi chúng lớn lên mỗi ngày.
Đúng mười hai giờ rưỡi trưa,
tôi dùng ngọ trai. Tôi không phải là người ăn chay mặc dù tôi thích
ăn lắm. Tôi ăn những thứ mà tôi được cho. Đôi khi có món thupka, súp
với bánh ḿ, thỉnh thoảng có món momo, bánh bao với thịt hấp, và
skabaklep, bánh ḿ chiên với nhân thịt bên trong.
Buổi chiều tôi có cuộc họp
chính thức với các thành viên nội các của chính phủ Tây Tạng lưu
vong (Bka’zhag) hoặc các đại diện từ các cơ quan khác của chính phủ.
Nhưng thường th́ có những người đến từ Tây Tạng, có hoặc không có
giấy phép của chính quyền Trung Quốc. Hầu hết họ đều trốn chạy khỏi
Tây Tạng, họ đă dũng cảm băng qua những đường đèo cao vút của dăy Hy
Mă Lạp Sơn ở độ cao mười bảy ngàn bộ.
Đó là điều đau đớn cho tôi.
Tất cả những câu chuyện của họ là đau buồn và đầy nước mắt. Ai cũng
kể cho tôi nghe chuyện người thân của họ bị người Trung Quốc sát hại
hoặc chết trong lao tù hoặc chết ở những trại cải tạo lao động. Tôi
cố gắng khuyến khích họ và giúp đỡ một cách rất thực tế để họ ổn
định đời sống ban đầu, phần lớn họ đến đây đều thiếu thốn mọi thứ và
sức khỏe suy sụp.
Họ thường đem con cháu của họ
đến đây. Họ cho tôi biết đó là con đường duy nhất họ có thể học được
tiếng mẹ đẻ Tây Tạng, truyền thống văn hóa và tín ngưỡng ở nơi đây
mà thôi. Chúng tôi gởi những trẻ em vào làng thiếu nhi Tây Tạng.
Những thanh niên lớn hơn muốn trở thành tăng sĩ th́ được gởi vào tu
viện của chúng tôi ở miền nam Ấn Độ.
Mặc dù nhân dân Tây Tạng muốn
tôi trở về cố hương, nhưng tôi nhận được tin tức từ trong nước là
tôi không nên trở về quê nhà trong hoàn cảnh hiện tại. Họ không muốn
tôi làm một kẻ bù nh́n của người Trung Quốc như Lama Panchen. Ở đây
trong thế giới tự do, tôi có thể làm ích lợi hơn cho dân tộc tôi như
là một phát ngôn nhân, nói lên tiếng nói tự do cho dân tộc tôi. Tôi
có thể phục vụ tốt hơn cho xứ sở tôi từ nước ngoài.
Đôi khi Jetsun Pema, em gái
tôi, người hoạt động trong làng thiếu nhi Tây Tạng, đến để thảo luận
về công việc của làng. Như tất cả các tăng sĩ khác, tôi không gặp
nhiều thành viên trong gia đ́nh, cha mẹ tôi qua đời, người anh lớn
hơn tôi, Thubten Norbu, là một giáo sư Tạng Ngữ Đại Học Bloomington,
tiểu bang Indiana, Hoa Kỳ và Gyalo Thondup, một thương gia đang làm
việc ở Hồng Kông. Buồn thay, người anh kế tôi, Lobsang Samden (xem
h́nh bên dưới) đă mất cách đây hai năm. Chúng tôi rất thân với nhau.
Anh ấy từng sống, học và chia sẻ những vui buồn của cuộc sống cùng
với tôi ở cung điện Potala. Trước khi qua đời, anh từng làm việc ở
trung tâm y tế. Tôi nhớ anh ấy lắm.
Sáu giờ chiều tôi dùng trà.
Như một tăng sĩ, tôi không ăn tối. Bảy giờ tối tôi xem tivi, có bữa
không may họ phát chương tŕnh nghị luận. Như một người từ Amritsar
và một người khác từ Pakistan, không nghe ǵ được, tôi không biết
tiếng Punjab hoặc tiếng Urdu. Nhưng thỉnh thoảng có một phim tiếng
Anh. Tôi thích loạt phim tài liệu về văn minh Tây Phương của BBC và
các chương tŕnh về thế giới tự nhiên khác.
Sau đó tôi hành thiền lần cuối
trong ngày và đi ngủ lúc tám giờ rưỡi hoặc chín giờ tối. Nhưng nếu
có mặt trăng ở đâu đó, tôi nghĩ rằng nó đang nh́n xuống dân tộc của
tôi đang bị giam cầm bên trong xứ Tây Tạng. Tôi cảm ơn, dù rằng tôi
là một người tị nạn, tôi tự do ở đây, tự do nói tiếng nói để giúp đỡ
cho người dân của tôi. Tôi nguyện cầu Đức Hộ Pháp của xứ sở Tây Tạng,
Quán Thế Âm Bồ Tát (Avalokitesvara) từ bi gia hộ cho Tây Tạng sớm
thoát cảnh khốn cùng này. Không có giờ thức giấc nào mà tôi không
nghĩ đến hoàn cảnh của người dân nước tôi đang bị giam hăm trong
t́nh trạng bế tắc ngay bên trong thành lũy của họ.
Source: Sidney Piburn (1993), The Dalai
Lama, A Policy of Kindness, Snow Lion Publications, Ithaca, New
York, USA
|
2
A life in the Day: The Dalai Lama
As
told to Vanya Kewley
When I wake at four o’clock, I
automatically start reciting the Ngagihinlab mantra. It’s a
prayer that dedicates everything I do, my speech, my thoughts, my
deeds, my whole day, as an offering, a positive way to help others.
Like all monks, I obey a vow of poverty, so there are no personal
possessions. My bedroom has just a bed and the first thing I see
when I wake is the face of the Buddha on a holy seventeenth-century
statue from Kyirong, one of the very few that escaped the Chinese
desecration. It’s cold when I wake, as we are at 7,000 feet, so I do
some exercises, wash and dress quickly.
I wear the same maroon robe as
do all the monks. It’s not of good quality and it’s patched. If it
was of good material and in one piece, you could sell it and gain
something. This way you can’t. This reinforces our philosophy of
becoming detached from worldly goods. I meditate until five-thirty
and make prostrations. We have a special practice to remind
ourselves of our misdeeds and I make my confession and recite
prayers for the well-being of all sentient beings.
Then at daybreak, if the weather is fine, I go into the garden. This
time of day is very special to me. I look at the sky. It’s very
clear and I see the stars and have this special feeling of my
insignificance in the cosmos. The realization of what we Buddhists
call impermanence. It’s very relaxing. Sometimes I don’t think at
all and just enjoy the dawn and listen to the birds.
Then Penjor or Loga, monks from Namgyal monastery who have been with
me for 28 years, bring my breakfast. It’s a half-Tibetan,
half-Western mixture. Tsampa roasted barley flour and porridge.
While I have breakfast, my ears are very busy listening to the news
on the BBC World Service.
Then at about six, I move into
another room and meditate until nine. Through meditation, all
Buddhists try and develop the right kind of motivation, compassion,
forgiveness and tolerance. I meditate six or seven times a day.
From nine until lunch I read and study our scriptures. Buddhism is a
very profound religion and, although I have been studying all my
life, there is still so much to learn.
Unfortunately nearly all our ancient books and manuscripts have been
destroyed by the Chinese. It’s as though all the Gutenberg bibles
and Domesday books in the world had been destroyed. No record. No
memory. Before the Chinese invasion, we had over six thousand
functioning monasteries and temples. Now there are only
thirty-seven.
I also try and read Western masters. I want to learn more about
Western philosophy and science. Especially nuclear physics,
astronomy and neurobiology. Often Western scientists come and
discuss the relationship between our philosophy and theirs, or
compare their work on the brain function and Buddhist experience of
different levels of consciousness. It is an absorbing exchange, for
all of us!
I often get up and go and fiddle with things. Change batteries for
the radio, repair something. From childhood I have been fascinated
with mechanical things; toys, small cars, aeroplanes. Things I could
explore with my hands. We had an old movie projector in Lhasa that
belonged to the Thirteenth Dalai Lama. It was looked after by an
ancient Chinese monk. But when he died, no one else knew how to make
it work. So I learnt how to make it go, but it was trial and error,
as I couldn’t read the instructions. I only spoke Tibetan. So now
sometimes I work in my workshop repairing things like watches or
clocks or planting things in the greenhouse. I love plants,
especially delphiniums and tulips, and love to see them grow.
At twelve-thirty I have lunch, usually non-vegetarian, though I
prefer vegetarian. I eat what I’m given. Sometimes thupka soup with
noodles, occasionally momo steamed dumplings with meat and skabakled
deep fried bread with meat inside.
The afternoon is taken up with official meetings with the
Bha’zhag (Tibetan cabinet in exile), or deputies from the
Assembly of Tibetan People’s Deputies. But there are always people
coming from Tibet, with or without the permission of the Chinese.
Mostly brave people who escape over the 17,000ft Himalayan passes.
It is very painful for me. They all have sad stories and cry.
Practically everyone tells me the names of relatives who have been
killed by the Chinese, or died in Chinese prisons or labor camps. I
try to give them encouragement and see how I can help them
practically, as they arrive here destitute and in very bad health.
Very often they bring their children here. They tell me it is the
only way they can learn our language, faith and culture. We put the
younger ones in the Tibetan Children’s Village here or in Mussoorie.
Older ones who want to be monks we send for training in our
monasteries in South India.
Although Tibetans want me to return, I get a message from inside,
not to return under the present circumstances. They don’t want me to
be a Chinese puppet like the Panchen Lama. Here, in the free world,
I am more useful to my people as a spokesman. I can serve them
better from outside.
Sometimes Pema, my younger sister who runs the Tibetan Children’s
Village for orphans here, comes and discusses problems. Like all
monks, I don’t see much of my family; my parents are dead. My elder
brother, Norbu, is Professor of Tibetan studies in Bloomington,
Indiana. Thondup, a businessman, lives in Hong Kong.
Unfortunately my middle brother, Lobsang Samden, died two years ago.
We were very close. He lived and studied with me in the Potala where
we used to get up to all sorts of mischief. Before his death, he
worked here at the medical center. I miss him very much.
At six I have tea. As a monk, I have no dinner. At seven it is
television time, but unfortunately they transmit discussion
programs. And as one is from Amritsar and the other from Pakistan,
and I don’t know Punjabi or Urdu, it’s all talk to me. But
occasionally there is a film in English. I liked the BBC series on
western civilization, and those wonderful nature programs.
Then it’s time for bed and more meditation and prayers and by
eight-thirty or nine I fall asleep. But if there is a moon, I think
that it is also looking down on my people imprisoned in Tibet. I
give thanks that, even though I am a refugee, I am free here; free
to speak for my people. I pray especially to the patron deity of
Tibet, Avalokitesvara, for them. There is not one waking hour when I
don’t think of the plight of my people, locked away in their
mountain fastness.
Source: Sidney Piburn (1993), The Dalai
Lama, A Policy of Kindness, Snow Lion Publications, Ithaca, New
York, USA
|

Đức Đạt Lai Lạt Ma, năm 2
tuổi
|
3
Phỏng vấn Đức Đạt Lai Lạt Ma 14
Bài do kư giả John Avedon
phỏng vấn
|
3
HIS LIFE
An Interview by John Avedon
|
|
Lời người dịch:
Đức Đạt Lai Lạt Ma 14, tên thật là Tenzin Gyatso, là một nhà lănh
đạo thế quyền và giáo quyền của nhân dân Tây Tạng. Ngài chào đời tại
làng Taktser, vùng Đông Bắc Tây Tạng vào ngày 6 tháng 7 năm 1935 (Ất
Hợi) trong một gia đ́nh nông dân. Ngài được thừa nhận là Dalai Lama
vào năm 2 tuổi theo truyền thống Tây Tạng như là hóa thân của Đức
Đạt Lai Lạt Ma thứ 13. Ngài được tấn phong tước vị Dalai Lama vào
ngày 22 tháng 2 năm 1940 tại Lhasa, thủ đô của Tây Tạng, chính thức
là người lănh đạo chính trị và tôn giáo cho 6 triệu người Tây Tạng. Tuy
nhiên ngài đă thừa kế tước vị Dalai Lama trong một giai đoạn bấp
bênh nhất của toàn bộ lịch sử với danh hiệu cao quư này, v́ Trung
Cộng đă xâm chiếm Tây Tạng và ngài đă đến tỵ nạn ở tiểu bang
Dharamsala, miền Bắc nước Ấn Độ từ năm 1959. Từ đó, ngài đă ủng hộ
triệt để cho chính sách bất bạo động, ngay cả những lúc đối đầu với
những cuộc tấn công khủng khiếp nhất. Chính v́ thế mà năm 1989, ngài
được trao giải thưởng Nobel về ḥa b́nh. Hiện nay, cũng trong thân
phận người tỵ nạn, ngài thường xuyên đi đến nhiều miền đất trên thế
giới để kêu gọi ḥa b́nh, để rồi khi có thể, ngài nói lên tiếng nói
tự do giải phóng cho dân tộc Tây Tạng. Từ ngày 6 đến ngày 16 tháng 6
năm 2007 này, Đức Đạt Lai Lạt Ma sẽ viếng thăm Úc Châu, đây là
chuyến thăm Úc lần thứ năm của Ngài để giảng dạy Phật Pháp. Mọi
người đang trông đợi sự xuất hiện của ngài. Dưới đây là bài phỏng
vấn của John Avedon, một kư giả người Mỹ của tạp chí New York Time,
sẽ giúp quư độc giả biết thêm về cuộc đời của vị Phật vương này, bài
phỏng vấn này được thực hiện vào năm 1989 sau khi ngài lănh giải
thưởng Nobel về ḥa b́nh.
|
|
John Avedon: Khi
được công nhận là Đạt Lai Lạt Ma, cảm giác đầu tiên của ngài là ǵ?
Ngài thấy điều ǵ xảy ra cho ḿnh?
Dalai Lama: Tôi rất
hạnh phúc. Tôi rất thích sự kiện này. Trước khi người ta t́m tôi,
tôi đă thường nói với mẹ tôi rằng tôi sẽ đi tới Lhasa (thủ đô của
Tây Tạng). Tôi thường ngồi thả chân ở hai bên bậu cửa sổ, làm ra vẻ
như đang cưỡi ngựa đến Lhasa. Lúc đó tôi c̣n rất nhỏ, nhưng tôi nhớ
rơ chuyện này. Tôi muốn đi về Lhasa. Một chuyện khác mà tôi đă không
nói trong tập tự truyện (in lần đầu tiên năm 1961), là sau
khi tôi ra đời, có hai con quạ bay đến đậu trên mái nhà chúng tôi.
Chúng đến vào mỗi buổi sáng, đậu ở đó một lúc rồi bay đi. Điều này
rất đáng chú ư, v́ đă có những hiện tượng tương tự xảy ra trong thời
gian mới chào đời của các vị Đạt Lai Lạt Ma thứ nhất, thứ bảy, thứ
tám và thứ mười hai. Sau khi các vị đó ra đời, có hai con quạ bay
đến đậu ở trước nhà. Trong trường hợp của tôi, lúc đầu không có ai
để ư, nhưng mới đây, khoảng ba năm trước, khi tôi nói chuyện với mẹ
tôi, bà đă nhớ lại chuyện này. Bà đă nh́n thấy hai con quạ bay tới
đậu trước nhà vào mỗi sáng sớm và một lúc lâu chúng lại bay đi. Buổi
tối sau khi đức Đạt Lai Lạt Ma thứ nhất ra đời, bọn cướp đột nhập
vào nhà gia đ́nh ngài. Cha mẹ ngài bỏ chạy để lại đứa trẻ. Ngày hôm
sau, khi trở về nhà, họ t́m thấy em bé ở trong một góc nhà, có một
con quạ đứng trước nhà để bảo vệ. Về sau, khi Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ
nhất lớn lên và tu tập có kết quả, trong lúc thiền quán, ngài tiếp
xúc trực tiếp với các vị thần hộ pháp Mahakala (Đại Hắc Thiên). Lúc
đó ngài Mahakala đă nói rằng “Một người như ngài đang làm công
việc hoằng dương Phật pháp, cần phải có một vị bảo hộ như tôi. Ngay
trong ngày ngài ra đời, tôi đă bảo hộ ngài” (somebody like you who
is upholding the Buddhist teaching needs a protector like me. Right
on the day of your birth, I helped you). Như vậy chúng ta thấy
rơ ràng có sự liên quan giữa Mahakala, những con quạ và các vị Đạt
Lai Lạt Ma.
Một chuyện nữa xảy ra mà mẹ
tôi nhớ rất rơ là ngay sau khi tôi đến Lhasa, tôi đă nói rằng răng
của tôi ở trong một chiếc hộp ở trong ṭa nhà nào đó ở cung điện mùa
hè Norbulingka. Khi họ mở chiếc hộp đó ra, bộ răng của vị Đạt Lai
lạt Ma thứ 13 đang nằm ở đó. Tôi đă chỉ vào cái hộp và nói rằng răng
của ta đấy, nhưng bây giờ th́ tôi không c̣n nhớ ǵ về chuyện đó cả.
Những kư ức mới của thể xác này mạnh hơn. Quá khứ đă trở nên mờ nhạt
hơn, tôi không nhớ ǵ cả trừ khi đặc biệt ra sức gợi lại một kư ức
như thế.
John Avedon: Ngài có
nhớ lúc được sinh ra hay trạng thái ở trong bào thai trước đó không?
Dalai Lama: Tôi không
nhớ lúc đó. Khi c̣n nhỏ tôi cũng không nhớ ǵ. Nhưng h́nh như có một
dấu hiệu nhỏ bên ngoài. Trẻ sơ sinh thường ra đời với hai mắt nhắm,
c̣n tôi th́ ra đời với hai mắt mở, có thể điều này cho thấy chút ít
trạng thái tâm trí tỉnh thức trong bào thai.
John Avedon: Lúc c̣n
nhỏ ngài nghĩ ǵ về việc ḿnh được những người lớn đối xử như một
nhân vật quan trọng? Ngài có lo sợ v́ sự kính trọng như vậy không?
Dalai Lama: Người Tây
Tạng là một dân tộc thực tế, những người Tây Tạng lớn tuổi không bao
giờ đối xử với tôi như vậy. Tôi cũng rất tự tin. Trên đường đi đến
Lhasa lần đầu tiên, ở vùng đồng bằng Debuthang, vị Bốc Sư Nechung
tới để chứng thực thêm tôi là người được chọn đúng. Đi cùng với vị
này là một “geshay” già, rất được kính trọng và đă đạt chứng ngộ cao
ở Trường Loseling của Tu Viện Drepung. Vị tiến sĩ này rất quan tâm
đến việc tôi có phải đúng là người cần phải t́m hay không. Phạm sai
lầm trong việc t́m vị Đạt Lai Lạt Ma là điều nguy hiểm. Vị này là
một tăng sĩ nhưng không phải là một viên chức của chính phủ. Ông ấy
đi vào lều nơi tôi có mặt với một nhóm người tới thăm, và xác quyết
rằng tôi đúng là người cần t́m. Như vậy, dù có một số người già
nghiêm khắc, muốn sự việc phải chắc chắn, tôi cũng đă hành xử tốt và
đă chinh phục được họ (cười). Tôi không bao giờ cảm thấy khó chịu
trong vị trí của ḿnh.
John Avedon: Khoảng
giữa năm mười sáu tuổi đến mười tám tuổi, sau khi nắm quyền lực
chính trị thế tục, ngài có thay đổi ǵ không?
Dalai Lama: Có, tôi đă
thay đổi một chút. Tôi đă trải qua nhiều hạnh phúc cũng như đau buồn.
Từ sự trưởng thành của cuộc sống, từ những vấn đề nảy sinh để có
thêm kinh nghiêm, tôi đă thay đổi. Kết quả là con người mà ông đang
thấy bây giờ (cười).
John Avedon: Khi vừa
tới tuổi trưởng thành ngài có tâm trạng như thế nào? Nhiều người
trải qua một thời kỳ khó khăn khi nhận thấy ḿnh đă là một người lớn.
Điều này có xảy ra với ngài không?
Dalai Lama: Không, cuộc
đời của tôi trôi đi một cách đều đặn. Tôi học hai buổi mỗi ngày, c̣n
những lúc khác th́ chơi đùa (cười). Đến năm mười ba tuổi, tôi
bắt đầu học triết học, pháp số, tranh luận, và thư pháp. Tôi học
nhiều hơn trước. Tất cả đều là những việc hằng ngày và dần dần tôi
cũng quen với những việc này. Có khi tôi được nghỉ hè. Những kỳ nghỉ
này rất dễ chịu, hạnh phúc. Anh của tôi, Losang Samten luôn ở trường
học nhưng trong những thời gian đó anh cũng tới thăm tôi. Cũng có
khi mẹ tôi mang loại bánh ḿ đặc biệt ở quê hương, tỉnh Amdo, đến
cho tôi. Bánh này rất dày và ngon, do mẹ tôi tự tay làm.
John Avedon: Khi
trưởng thành ngài có dịp nào gặp cha của ngài hay không?
Dalai Lama: Cha tôi qua
đời năm tôi mười ba tuổi.
John Avedon: Có vị
tiền nhiệm nào ngài đặc biệt chú ư hay có một sự liên quan riêng nào
đến ngài không?
Dalai Lama: Đức Đạt Lai
Lạt Ma thứ mười ba. Ngài đă cải tiến nhiều những tiêu chuẩn học ở
các Phật học viện. Ngài khuyến khích rất nhiều những học sinh thành
tâm. Ngài ngăn cản những người thiếu năng lực mà lại muốn tiến thân
trong tăng đoàn, muốn trở thành sư trưởng hay những mục tiêu khác.
Về phương diện này ngài rất nghiêm khắc. Ngài cũng làm lễ truyền
giới cho mấy chục ngàn tăng sĩ. Đó là hai thành tựu tôn giáo chính
yếu của đời ngài. Ngài không ban nhiều lễ truyền pháp, cũng không
thuyết pháp nhiều. Đối với đất nước th́ ngài đă có những tư tưởng
lớn và đă quan tâm và cải cách về hành chánh, đặc biệt là đối với
những vùng ở xa, làm sao để công việc hành chánh ở những nơi đó được
tốt. Ngài rất chú trọng tới việc điều hành chính phủ một cách có
hiệu quả hơn. Ngài c̣n chú ư nhiều điều tương tự.
John Avedon: Trong
cuộc đời ngài những bài học riêng hay những thách thức nội tâm lớn
nhất của ngài là ǵ? Những chứng nghiệm nào có ảnh hưởng nhiều nhất
đến sự phát triển cá nhân của ngài?
Dalai Lama: Về chứng
nghiệm tâm linh th́ tôi có một sự chứng ngộ tánh không (sunya/emptiness)
nào đó, một thứ cảm giác, chứng nghiệm, và phần lớn là bồ đề tâm, từ
bi. Điều này giúp nhiều điều cho tôi. Có thể nói rằng nó đă làm cho
tôi trở thành một con người mới. Tôi vẫn đang tiến xa hơn, đang cố
gắng. Nó giúp tôi có thêm sức mạnh nội tâm, có can đảm và dễ chấp
nhận hoàn cảnh hơn. Đó là một trong những kinh nghiệm lớn nhất của
tôi.
John Avedon: Về mặt
bồ đề tâm th́ ngài đang nói đến sự tiến bộ thêm về chứng ngộ hay
ngài muốn nói đến nhân tố liên quan nào đó ở bên ngoài?
Dalai Lama:
Chính yếu là về sự tu tập bên trong. Cũng có thể có những nguyên
nhân hay hoàn cảnh bên ngoài. Những nhân tố bên ngoài có thể đă đóng
góp một phần trong việc gây dựng một cảm giác nào đó về bồ đề tâm.
Nhưng chính yếu là từ sự tu tập nội tâm.
John
Avedon: Ngài có thể kể ra một khoảnh
khắc đặc biệt nào đó trong quá tŕnh tu tập của ḿnh không?
Dalai Lama:
Về thuyết tánh không, thuyết tánh không trước tiên, rồi cảm giác bồ
đề tâm… vào khoảng 1965 hay 1966, trong khoảng thời gian đ | |