Chùa Hải-Đức in Jacksonville
|
Nhẫn Tế
Thiền Sư
Phần thứ Tư
Ngày 14 Octobre 1936 – 29-8-â.l. Y lệ, 11 giờ ngọ bột, khoai lang, bún xào ướt. Ba giờ huynh Samdhen cùng Isess đi Dzêsbung, ba huynh đệ ở nhà. Tối 8 giờ trực nhớ cuối tháng mà quên cạo đầu vì ban ngày những mảng lo riêng phận sự mà quên ngày tháng lại qua. Chịu khó nhúm lửa hâm nước gội đầu rồi tự cạo như mấy tháng trước. Tối nay trong lúc cạo đầu rồi vào ngồi, phút tiếp quán điển về vấn đề trần thế giả cuộc, từ vua chí dân ăn xin, đều gánh vai tuồng nghiệp lực, thiện ác, hết lớp muôn điều trả lại thế gian. Bỗng tiếp quán một vị Vương đế băng hà, nằm ngay dứt hơi, cung điện đều phế, hậu cung nga, thiếp đều khóc lóc bơ vơ. Muôn ngàn sự nghiệp đều về tay khác. Bỗng quán tiếp lúc Phật tổ treo ấn Thái tử, cắt ái, ly cung, xa sướng, tìm khổ đạo, từ Kapila quốc kỵ bạch mã thẳng tới Già da, vào Dungarseri cùng Phạm chí học đạo, lục niên khổ hạnh, cho đến lúc hình khô vóc ốm, bỏ đạo khắc thân qua ngồi Tala thọ, chịu cô Sử-giả-ta dưng sữa, sau qua gốc bồ đề cách trăm thước ngoài ngồi 49 ngày, tới thành đạo đi Lộc-giả-viên chuyển pháp luân thứ nhứt độ ngũ tì-kheo, từ Bồ-đề-thọ đi Lộc-giả-viên xe lửa Grand Express chạy nửa ngày, xa lối 500 km. Tới đây phút động tâm thương Phật, thị hiện độ đời bèn ra thiền. Đoạn hữu ngọa đến khuya. Ngủ. Ngày 15 Octobre 1936 – mùng 1 tháng 9 â.l.
Nhựt thường lệ. Mười một giờ ngọ bột, khoai lang
nấu canh, 1 giờ coi tay giùm một người quen cùng Méchen. Mua 2 trăng nga
thuốc. Thần gió đã khởi, khí hậu đã lạnh lung rồi. Chót núi đã trắng tuyết.
Ngày 16 Octobre 1936 – mùng 2-9-â.l.
Tụng kinh mơi rồi sửa soạn đi chợ. Bữa nay không
trà điểm tâm, 10 giờ mới có sữa nấu trà, 11 giờ ngọ bột với cải bào, khoai
xào. Thần gió đã khởi thổi, lạnh càn rút tới, sớm mơi ra đi chợ đã thấy mọi
người đều đội mũ kỵ hàn, mặc y phục lông, ngó lại mình, đầu không nón, áo
cặp mỏng, quần nỉ mỏng, giày vớ mùa thu, từ bảy tháng trời chỉ một bộ đồ y
phục nầy mà che thân. Dãy núi khởi đóng trắng phao. Đi chợ mua dầu, cải củ
và khoai 6 trăng nga. Chiều y lệ tụng niệm thiền định. Ngày 17 Octobre 1936 – mùng 3-9-â.l.
Y lệ trà ngọt điểm tâm. Học chút ít, 11 giờ ngọ
bột cải xào. Ba giờ coi tay giùm cho cô vợ của người quen Đầu bếp, chồng coi
hôm kia, bữa nay vợ coi. Cô xin hộ 1 săng, hoan hỉ. Khuyên rước thầy tụng
kinh ba ngày, rồi sau ba ngày sẽ lại thì bần đạo chỉ cách cúng dường
Phật-Pháp-Tăng…… Tùng dịp khuyên người tác phước chút ít, họ lu lờ quá, ở
đất Phật mà không biết Phật pháp uổng quá. Tôi cùng vợ chồng Méchen đàm đạo
huỷnh khuyên mua giày da ấm, áo ấm, chớ lúc nầy đã lập đông mà thầy chỉ có
một áo một quần đó hoài, tôi rất thương quá, vì đã lớn tuổi mà chịu lạnh xứ
nầy sao nổi. Rất đỗi tôi đây là người xứ nầy đã quen phong thổ mà hãy chịu
không nổi, huống chi thầy. – Cám ơn huynh, song tôi nhớ lúc tại Dungarseri
sáu năm khổ hạnh lạnh ấm một cái y, sau qua Phật-đà-gia bồ đề thọ hạ cũng
chịu ấm lạnh. Nay bần đạo như vầy là ấm áp hơn Phật xưa……. – Huỷnh lắc đầu
thở ra… Chuyện tới khuya… Nghỉ. Ngày 18 Octobre 1936 – 4-9-â.l.
Y lệ, 11 giờ ngọ cúng dường bột cải xào, khoai
xào. Vợ chồng Méchen hộ một quảo khoai lang. Cám ơn hoan hỉ cúng dường bố
thí. Chiều 3 giờ đang ngồi phơi nắng nhưng tháng nầy đã ít nắng, trời âm
can, mây phủ đầu non từ mơi tới trưa, mây tan, tuyết đóng, bốn phía thành
Lhasa núi bao ngó trắng xóa như đầu tường phết vôi. Bỗng Choundouss đi chợ
về, thuật việc đã gặp cô hầu trà của Đại đức Lama cả bên thành Pato Bhutan,
thuật sự Đại đức đã tịch, cô khóc lóc cùng Choundouss, ấy là người đồng
hương của huỷnh. Cô đến Lhassa hầu lo cúng dường chư tự và có năm mươi Lama
Bhutan đồng đi cùng cô đặng tụng kinh cầu ân Phật. Nghe qua bần đạo cũng cảm
tình vì Ngài cũng đã trọng đãi bần đạo tại Pato, lại hoan hỉ đứng tên vào
passeport giùm, thầm niệm Phật cầu vong linh siêu thăng tịnh độ. Đoạn 4 giờ
đi nhiễu tự Chôkhăng. Chung quanh chùa thiên hạ buôn bán đông đảo, phố xá
đông đặc, lúc nầy tùy theo mùa khởi Đông-chí, nên các tiệm quán bán đồ y
phục kỵ hàn, nhứt là áo may da trừu dê để y lông cùng da các thú khác, mền
Tây-tạng dệt bằng bông vải để xồm xàm dầy dục. Xứ còn thô tháo, nội hóa các
thứ đều còn kệch hình, chưa đặng thiện mỹ, lại thêm các thứ đều mắc mỏ lắm.
Da thú thuộc rồi treo lểnh nghểnh, chồng cả đống nầy qua đống kia, thiên hạ
bu theo các quán ấy mua dập dìu. Bần đạo thấy da chúng thú cũng có chút
thương tâm, nên chi thà chịu lạnh chớ không đành mua đó làm ấm thân. Về lo
tụng niệm y lệ. Tối lại hỏi Choundouss, cô hầu Lama cả có nói vì sao bịnh
chi mà Ngài tịch chăng ? – Huỷnh nói không phải bịnh, ấy là bị rủi ro bất
đắc, vì Ngài đi ngựa đặng đi Calcutta, đi tới núi (chỗ chúng ta chụp hình
núi tuyết) thì con ngựa của Ngài trợt tuyết té nhào, ném Ngài xuống triền,
trong lưng ngài có đai súng lục liên, cấn cò nổ, đạn trúng nơi dạ dưới xoi
lủng ruột nên phải bỏ mạng. Mũi thiên oai chờ người bạc mạng. Ngày 19 Octobre 1936 – 5-9-â.l. Sáng thức dậy, khí hậu lạnh như đồng, tay chơn tê ngắt. Dòm ra ngoài sân, thấy trời mù mịt âm can, 7 giờ rưỡi thì tuyết xuống như hốt bông gòn rải, lần hồi sân trắng như rây vôi, che dù ra ngoài vòng thành đi tiểu, thấy đồng cỏ trắng phao. Mười giờ rưỡi hết mưa tuyết, ra ngoài xem bốn phía núi đều trắng xóa từ dưới tới chót, cả thành Lhassa trên nóc nhà, dưới đường cùng ngọn cây đều trắng lớp, chim bay nặng cánh, chó chạy tuyết đầy lưng, kẻ đi đường già trẻ không phân biệt, đầu đầu trắng phêu. Ôi ! hèn chi mà nhơn dân không dùng da thú sao đặng……. Nay mới đầy tháng chín mà lạnh dường nầy, tuyết sa dường ấy, qua tháng mười một và tháng chạp bực nào nữa… Mười một giờ ngọ bột với khoai chiên ngồi ăn như ngồi dưới nước, ăn mau mau vì đồ ăn đã lạnh ngắt. Một giờ tuyết ngoài đồng và mấy nẻo đường tan ra nước hết. Trên rầm nhà cũng tiêu rã, nhà nào nhà nấy cũng bị nước tuyết rịn dột ướt cả, vì bị trời nắng khô đất rầm nên nức nẻ, nay nước tuyết mới rịn dột. Tuyết trên đảnh cũng còn trắng phao, mặt trời làm tan không hết tới tối cũng còn y nguyên một màu vôi bạc. Tối tụng niệm rồi nghỉ, trời lạnh không kể mấy lớp mền, nằm tới khuya, nhờ hơi trong mình ra nhiễm ấm lớp mền, ngủ mới yên. Ngày 20 Octobre 1936 – 6-9-â.l.
3 giờ sáng thức, nhưng hữu ngọa quán tưởng thiền
định, trùm đầu trùm đuôi, không dám lo hở, mắc tiểu cũng nhịn tới sáng sẽ
hay. Nằm lì tới 7 giờ mới tốc mền chỗi dậy, mọi người còn trùm. Lấy ca ra
rửa mặt, hớp nước răng nhổm, lưỡi tê, nước lạnh như nước đá. Đoạn y lệ, cúng
dường trà rồi điểm tâm, tụng niệm tới 8 giờ rưỡi, ra ngoài ngồi nắng. Chung
quanh các đảnh núi đều còn tuyết đóng trắng bách. Mười một giờ ngọ bột và
khoai, cải củ nấu canh cà-ri. Đoạn phơi đồ ngủ đặng tối nó còn hơi ấm, vì
ban đêm rờ vật chi cũng lạnh đồng cả, ví như áo đang mặc, trong ấm chớ ở
ngoài không khác chi lắm các vật ở ngoài cũng lạnh ngắt. Hai giờ xếp đem vào
cho còn hơi ấm, tủ đó. Chiều y lệ, khí hậu lạnh tối ngày, ban đêm tăng thêm,
tụng niệm rồi nghỉ. Ngày 21 Octobre 1936 – 7-9-â.l.
Nhựt y lệ. 11 giờ ngọ bột với khoai chiên. Méchen
thấy ăn cũng xề gần, bần đạo mời ăn thử, khen ngon. Mười hai giờ Samdhen về
vào than rằng nơi tì đau ran, thế bị beurre và thịt nhiều, vì chư huynh đệ
mừng thết đãi mấy ngày, cứ cầm cộng không cho về. Cả buổi huỷnh ngủ hoài,
tối than nhức đầu. Bảy giờ trùm ngủ. Một bần đạo ngồi tụng niệm y lệ rồi
ngủ. Ngày 22 Octobre 1936 – 8-9-â.l.
Y lệ, 11 giờ ngọ bột với canh cải củ. Thấy Méchen
mua đậu hủ (tôpô) nói hai trăng nga một miếng, chiếp để dạ, bữa khác sẽ mua
dùng tốt lắm. Hai bữa rày cúng ngọ rồi thì đem đồ ăn ra ngoài nắng ngồi ăn,
vì ăn trong nhà lạnh quá in như ngồi gần thùng nước đá, đồ ăn mau lạnh, ăn
nửa bữa thì đồ ăn lạnh như ngâm nước đá. Tuyết vẫn còn đóng đầu non. Chiều y
lệ tụng niệm, đoạn nghỉ sớm. Ba giờ sáng thức, hữu ngọa quán tưởng tới sáng.
Khí đông thiên, một ngày một tăng sự lạnh. Ngày 23 Octobre 1936 – 9-9-â.l. Y lệ, sanh khí nặng nề, ra phơi nắng. Samdhen lo đi tính việc. Bần đạo đang lúc xem sách ngoài nắng, bỗng Choundouss trong nhà bước ra, lại ngồi gần và rằng : Thầy ơi ! Tuyết lập đông một ngày một tới, hàn khí một ngày một gắt gao, chúng ta ngồi không ăn lụn nơi xứ Tây-tạng mà chờ công việc Quốc Vương cúng dường cho Phật-đà-gia đó, giấy tờ cho rồi, sắc sớ cho hườn cuộc, thì thế không mau, vì là việc nước. Samdhen than phiền sự tốn kém tại xứ nầy, món món đều mắc mỏ và cứ ngồi không mà ăn xài, dầu của kho cũng phải tiêu tận. Vậy huỷnh tính, muốn cho hai anh em tôi và Issê đi về Phật-đà-gia trước nhưng không đủ số tiền cho đi, vậy xin thầy làm ơn xuất tiền cho mượn trước, chừng về tới Phật-đà-gia sẽ tính hườn lại, hoặc tới Kalimpong lấy tiền tại đó trả cho thầy cũng đặng. Bần đạo nghe qua rất vui lòng, vì tiền cất trong lưng mà về sớm không đặng, ở chờ hoài hao phí của Đàn na, công sự của mình đã phỉ nguyện rồi, ngày nào về cũng đặng, chỉ còn chờ công chuyện của huỷnh. Lòng muốn về đã lâu nhưng không lẽ tách bọn mà về coi không đặng. Nay nghe qua, lòng đã nghĩ ngợi rất phỉ sở ước ao, bèn nói : Nếu huynh Samdhen muốn sao thì nói, bần đạo xuất tiền trước giúp huỷnh cũng đặng. Choundouss rằng : Thầy tôi bàn tính như vậy, song nói : Cứ cậy mượn của thầy hoài, nên ngại lòng hổ miệng không dám nói, bảo tôi tỏ ý cho thầy tính giùm… – Đặng, đặng, tiền để không đây làm gì… Bỗng Sam-dhen ngoài ngõ bước vào, thì bần đạo kêu lại và nói chuyện Choundouss mới nói vân vân. Samdhen nói y vậy lòng tôi muốn. Vậy xin mời thầy vào đơn, đoạn huỷnh nói chuyện rằng : Sớ, sắc nhà vua đã xong, chỉ còn một tờ sắc cáo số tiền chia ra từ quận thì chưa rồi. Việc nhà nước không mau đặng, mà bọn tôi nhiều người cứ ngồi không ăn lụn tốn kém quá, xứ nầy mắc mỏ mà cả đám cứ ăn ăn uống uống thật tốn hao cũng nhiều, thầy đã thấy cũng biết giùm. Vậy tôi tính cho Choundouss và Issê về Phật-đà-gia trước, đi với thầy, nhưng tiền chưa lãnh, vậy xin thầy hoan hỉ giúp trước, sau về tới Kalimpong sẽ có tiền hườn lại, hay về Phật-đà-gia cũng đặng. Tự ý thầy muốn nơi nào cũng đặng. Bần đạo rằng : Huynh tính như vậy tốt lắm, tôi thấy huynh tốn kém lung quá thì rất buồn giùm, nhưng không lẽ nói ra, nay huynh sáng tính, thì bần đạo cũng hoan hỉ theo ý huynh. Tiền để không làm chi, lúc hữu sự thì dùng. Đoạn lấy ra 20 rupee trao cho huỷnh, huỷnh thâu và cám ơn. Huỷnh bèn lo đi xin quan giúp ngựa Quốc gia. Mười một giờ lo ngọ cúng dường bột và khoai chiên. Mười hai giờ rưỡi về nói ngựa nhà nước lúc nầy không có. Huỷnh tính mướn ngựa ba con cho ba người. Chiều y lệ. Samdhen tính bữa 19 tháng 9 nầy cho Choundouss và Issê về trước, bần đạo cũng tháp chưn theo đó về trước đặng sắp đặt công sự cho xuôi xếp, phòng lo năm tới đi chư quốc Phật độ với Samdhen. Ngày 24 Octobre 1936 – 10-9-â.l. Y lệ triệu thời. Mười một giờ ngọ bột với cải củ nấu cà-ri. Xin đôi giày cũ Tây-tạng của Samdhen, huỷnh hoan hỉ vì đi đường lạnh lắm, giày tây chịu không thấu, cô đầu bếp nói để hộ một đôi vớ Tây-tạng. Samdhen đưa 1 săng mượn cô đầu bếp đem may da semelée lại vì đã lủng rách. Choundouss và Issê lo đi mướn ngựa, về nói chủ ngựa đòi 20 rupee mỗi con tới Kalimpong. Bàn luận thì rẻ hơn quận đi đặng 4 rupee, vì kỳ đi Lhassa thì mỗi con 24 rupee, nếu vậy tiền ngựa quận đi và về 44 rupee, tiền đến Lhassa cúng dường chư tự 150 rupee, tiền sở phí 150 trong 8 tháng đi cùng Samdhen. Thiệt nhờ huỷnh quá, nếu một mình đi bạc ngàn không đủ. Ngày 25 Octobre 1936 – 11-9-â.l.
Y lệ, 11 giờ ngọ bột với cải củ xào hôm qua và
khoai lang luộc. Đợi tới ngày về, còn lo mướn ngựa. Nay Issê đi mướn ngựa,
gặp một chủ ngựa ở Pharijong đưa bộ hành đến Lhassa, chịu cho mướn ngựa tới
Pha-rijong. Sẽ bàn luận giá cả cùng Samdhen. Bần đạo cùng Issê luận lúc đi
về phải trải qua mấy chỗ, mỗi chỗ một ngày đường, nếu đi xăng thì trong 25
ngày tới Phật-đà-gia. Lhassa đi đến Nam, Xhuxul, Bêđê, Namkachê, Ralum,
Yăngsê, Khăngma, Kala, Tunna, Pharijong, Gialinhkha, Chima, Natăng, Linhđam,
Tchongthapa, Arakara, Kalimpong, Ghoom, Siligauri, Calcutta, Bodhi Gaya.
Chiều y lệ. Ngày 26 Octobre 1936 – 12-9-â.l. Y lệ triệu thời trà điểm tâm, ngày nay còn hai bữa nữa đi về, nên hoan hỉ với các huỷnh, uống trà Tây-tạng. Chín giờ có bạn Monsalman của Samdhen đến vì có mời. Mười giờ ra về. Đang lúc bần đạo đang ngoài bếp nấu ăn, Samdhen bước ra than rằng : Mời người bạn đến đặng nói chuyện cậy huỷnh tạm giúp một số tiền đặng làm sở phí cho ba huynh lên đường ngày mốt đây, ai ngờ huỷnh nói túng nên từ chối sự giùm giúp. Bần đạo nghe qua thì rằng : Sao huynh không nói cho tôi hay, bạc còn đây 100R vậy huynh có sự cần dùng thì tạm đây mà dùng, để bỏ túi không ích, và nói và móc tập passeport, lấy tấm giấy cent rupee trao cho huỷnh, huỷnh bèn mừng lòng tiếp lấy và nói để đổi rồi đưa lại cho thầy 50R đặng dùng lên đường. Nhưng bần đạo tính không lấy chi nhiều, vì đi đường khó cất, chi bằng để cho huỷnh xài trong lúc nầy, tiền kém mà chưa lãnh số bạc ba ngàn của Tây-tạng Quốc gia tín cúng, nên huỷnh túng, vậy trước giúp nhau mà cũng như gởi cho huỷnh cất giùm. Vậy bần đạo lấy 20R, còn gởi lại cho huỷnh 220R, sau về Phật-đà-gia sẽ tính tiền sở phí của bần đạo trong sự đi đường, tiền ngựa mướn và chút ít sở phí đò giang, chỗ ngụ là bao nhiêu, còn dư bao nhiêu huỷnh hườn lại cho tròn việc, tài thượng phân minh đại trượng phu ……… Mười một giờ ngọ bột với khoai chiên. Mười hai giờ rưỡi có huynh đầu bếp của đức Taxilama, là bạn đồng hương của Samdhen đến, mua thịt, trà, gạo đặng nấu ăn đãi các huỷnh, có đãi trà Tây-tạng cho bần đạo, hoan hỉ cho vui lòng người. Từ ngày đến Tây-tạng huỷnh cũng hay lui tới, xem tánh tình cũng hào hạp. Huỷnh có hộ cho bần đạo một tấm hình của đức Đại Lama của Taxilama. Cảm ơn thọ lãnh làm kỷ niệm. Đoạn coi tay giùm cho huỷnh, nói sự quá khứ, huynh le lưỡi lắc đầu, sự gia đàng, sự tâm trung, sự ngoại giao nam nữ, nghe qua rất kỉnh. Đoạn nói qua sự sẽ tới, hoạn nạn vị lai…, người mới 34 tuổi, Mẹo niên. Tối lại nài của Đầu bếp, cái áo kỵ hàn giá 10R. Sam-dhen tính tiền của bần đạo tổn phí, ngựa và đi và về 44R, cái áo 10R là 54R, sở phí chút ít cho 6R. Cả thảy là 60R, vậy về tới Kalimpong thì sẽ lấy lại nơi tiệm quen của huynh 160R cộng với 20R mới đưa là 180R cộng với 60R sở phí thì đủ 240R. Đâu đó tính xong mười giờ rưỡi huynh đệ nghỉ. Ý huỷnh sợ bần đạo sau về Phật-đà-gia bỏ huỷnh, không đi các xứ Phật quốc độ cùng huỷnh, nên chi bần đạo rõ tâm nghi ấy, bèn đôi lời phủ ủy cho vững lòng huỷnh rằng : Huynh đừng để lòng lo sợ về sau, việc Phật sự huynh đệ đồng lo, tôi hứa sẽ đi cùng huynh thì lời hứa không quên, vì người Phật đệ tử, buông một lời thì không dám quên, dầu bỏ xác nầy, kiếp sau cũng y lời mà thi hành lời hứa, phương chi Phật khiến hai huynh đệ mình gặp nhau đặng đâu cật lo Phật sự, ấy là điềm lành của người tu hành, ấy là dịp may của bọn tăng chúng, mấy khi đặng, bần đạo bỏ qua sao đặng. Huỷnh nghe qua vui lòng. Bần đạo rằng : Phật chứng minh lời hứa rồi. Ngày 27 Octobre 1936 – 13-9-â.l. Y lệ, trà điểm tâm, đi dạo chợ cho Samdhen mua áo cho Issê, đoạn về 9 giờ rưỡi đi đến dinh Quan Tả tướng viếng Ngài và đôi lời cầu chúc, cảm ơn lòng tốt của ông bà cho tạm trong dinh của Ngài bốn tháng, và xin ghi passeport. Ngài vui lòng ghi, đoạn đãi trà và kỉnh một sợi anh lạc với hộ một cốt Phật tổ bằng đồng nhỏ cao một tấc, ông bà cầu chúc sự đi đường bình an. Về 11 giờ rưỡi đi viếng Đại Lama của đức Taxilama, dưng anh lạc và 2 săng. Ngài vui lòng nạp thọ và ban niệt điều với đãi trà, đoạn hộ một gói thuốc bá bịnh để đi đường. Về tới nhà 12 giờ rưỡi, đoạn đầu bếp hộ salade cải bắp. Nay không nấu ăn đặng, tạm sơ quấy quá, rồi lo thu xếp đặng mai lên đường. Chiều 5 giờ có Lama Tzăngpa Khâmtzanh phái đến tiễn hành bần đạo, dưng anh lạc và một ổ beurre. Bần đạo phải đáp lễ 6 săng. Lama từ giã ra về. Bần đạo hộ ổ beurre lại cho Samdhen. Samdhen bèn hộ cho bần đạo một tí thuốc bá chứng, giá thuốc nầy một lượng 60 rupee. Chiều lại Méchen hộ hai bắp cải và khoai lang đi đường. Đợi tới tối mà không có chủ ngựa đến. Vậy mai đi lên đường chưa đặng. Ấy là Hộ pháp chẳng cho đi ngày 14-9 Annam. Ngày 28 Octobre 1936 – 14-9-â.l.
Y lệ, 10 giờ lo nấu ăn, nấu hết hai bắp cải đặng
đem theo đường, 11 giờ ngọ bột với cải bắp cà-ri. Một giờ có huynh coi tay
quen Méchen đến dưng một sợi anh lạc, một gói 13 trăng nga 1 kama và một bao
nhỏ bột, ấy là lễ tiễn hành và hỏi thăm sự cúng dường. Bần đạo khuyên cúng
chùa Phật tổ một trăm ngày và ăn chay trong một trăm ngày ấy và bần đạo biên
tên hai vợ chồng : Ngày 29 Octobre 1936 – Rằm¬¬-9-â.l. Nay cô đầu bếp lăng xăng lo dưng trà sữa, bần đạo điểm tâm rồi, lo thu xếp đồ hành lý không chi lung, chỉ trọn trong cái vải bao đồ ngủ. Đoạn chờ mã tử đem ngựa lại, xẩn bẩn đã 9 giờ. Samdhen đưa cho bần đạo 4 săng là 1 rupee bảo để dành dọc đường có mua chi chút ít cho dễ rồi huỷnh hối hả bảo : Thầy hãy lo ăn bột cho sớm, để tới ngọ không tiện. Y lời huỷnh, lấy bột và đồ ăn ra, đoạn nhồi bột rồi cúng dường xong xuôi mới ăn. Ăn rồi mà cũng chưa thấy ngựa đến. Samdhen bảo Issê đi kêu mã tử. Mười giờ rưỡi Issê đem ngựa ba con về, mã tử bảo đi trước. Choun-douss và Issê lo gác yên giùm, xong xuôi, bèn cho cô đầu bếp và hai đứa con gái của cổ 1 săng 2 yôgăng, sẵn có con nhỏ ở gần chạy lại cũng cho nó 1 yôgăng. Samdhen hối lên ngựa, đoạn vợ chồng Méchen và bọn quen tựu lại cầu chúc và đưa lên đường, huynh Sam-dhen coi có ý buồn, vì kẻ đi người còn ở nán. Ngựa chậm rãi đi, xế qua lối 2 giờ thì tới xóm Đông-kar xuống ngựa vào nhà quán chờ mã tử tới, vì mã tử có lời dặn tới đây nghỉ ngựa chờ. Hai huynh-đệ họ nhậu xăng, bần đạo không dùng chi cả, vì quán không có gì hết. Chuyện vãn trút giờ, mã tử tới, đoạn tháp tùng đi lên đường, đi chậm rãi tới mặt trời chen lặn tới làng Manê Cha-khăng, mã tử vào trạm hỏi chỗ nghỉ cho ba huynh đệ tạm ngụ một đêm. Tối lo trà uống chuyện vãn tới khuya ngủ. Đêm nay ngủ vùi vì bữa đầu cả buổi ngồi ngựa có hơi mỏi mê. Ngày 30 Octobre 1936 – 16-9-â.l. Sáng thức sớm, chủ nhà nấu trà rồi ba huynh đệ điểm tâm trà, còn nội bọn mã tử có vị khách sang đi chung cả thảy sáu người, họ ăn thịt sống chấm ớt bột không muối, thói tục xứ nầy ăn thịt sống đã quen và ăn lạt lẽo ít dùng muối. Choundouss lo trả tiền ngụ là 2 trăng nga. Mặt trời vài sào cao thì lên ngựa. Trời đứng bóng đi tới Nhê-thăng (lúc trước tới đây nhằm ngày 27 Juin). Lúc đi có huynh Samdhen, nay lúc về không có huỷnh thì cũng có ý nhớ nhau, và xem sự đi đường chỗ ăn chỗ ngủ có hơi ít toại ý bằng lúc có Samdhen. Tới đây nghỉ ngựa luôn, mai sẽ lên đường. Lo nấu trà, rồi dùng bột với đồ kho và sữa khô chua. Hộ cho hai huỷnh chút ít đồ ăn. Trọn buổi chiều họ nhậu xăng cùng nhau hỉ hả, bần đạo chỉ ngồi tưởng Phật niệm tăng. Trời lạnh lẽo, tối ngủ vùi. Ngày 31 Octobre 1936 – 17-9-â.l. Sáng trà rồi 8 giờ lên đường. Trả tiền ngụ một ngày 2 trăng nga. Hai giờ tới Banasap (quận đi tạm nghỉ đổi ngựa ngày 26 Juin) vào trạm nghỉ, ăn ngọ bột cải xào rồi nghỉ luôn đêm. Ngày 1er Novembre 1936 – 18-9-â.l. Sáng điểm tâm trà Tây-tạng rồi lo lên đường, mặt trời quá sào, lên ngựa chậm rãi đi, đường đi không đèo ải dễ đi, lối đứng bóng thì đã tới Xhuxoul (Quận đi thì tới làng Đum-bô-chê đổi ngựa đi ra bến Nhập-sóc-cô-trúc ngủ một đêm ngoài trời đoạn sáng đi đò dọc đến Xhuxoul là ngày 26 Juin). Vào trạm nghỉ, lo ăn bột rồi ngụ luôn đến mai sẽ lên đường. Lúc ăn bột thì bọn mã tử và khách thấy không dùng chung cùng hai huynh kia thì họ hỏi. Đoạn Choundouss và Issê rằng : bần đạo ăn chay và ăn ngọ một ngày chỉ có một bữa mà thôi, sớm tối gì cũng một lần ăn, không ăn hai, ba buổi như mình, cả bọn dòm bần đạo hít hà và coi bộ họ lấy làm lạ lắm, vì xứ Tây-tạng chư tu hành ăn ba bữa và dùng thịt, ít có người ăn chay và ngọ, chỉ có bực Đại Lama Thượng tọa mà thôi, ăn chay song cũng ăn ba buổi trong ngày. Đi một bọn cả thảy chín người 36 con ngựa, chở long chiên và hành lý, chiều có một vị mã tử nữa nhập bọn, hỏi ra là người nội bọn, song đi sau vì có việc phải trễ nán, nay nhập bọn. Tới đây bần đạo mới cho nội bọn mã tử coi passeport có vua Tây-tạng phê và cho pháp danh và xem các hình của đức Quốc Vương, Tả lê, Taxi và Quan Tả tướng Tsarung, nội bọn đều cung kỉnh bần đạo và khen ngợi rằng hữu công đức quá. Vì thầy đã lớn tuổi mà chịu cực đi tới xứ Tây-tạng đặng cúng dường lễ Phật thiệt cực khổ mà lại hao tốn quá. Đoạn các mã tử và hai huynh Choundouss và Issê nhập tụi uống xăng vui cười tới tối. Ở đây tạm nghỉ hai ngày vì là làng nhau rún của một vị mã tử, cha mẹ y bảo ở nghỉ chơi tới mốt sẽ lên đường vì lâu hội hiệp vì y có gia đạo tại Pharijong. Đồ ngủ của Bần đạo, Choundouss để dưới lầu, chung với đồ của mã tử, vì huỷnh thấy nặng nề, nên không đem lên lầu, nơi đơn ngụ. Tối lại bọn họ làm một tiệc xăng nữa, Issê say xăng, la lối om sòm. Ấy là : Vắng chủ nhà gà mọc đuôi tôm, vì không có Samdhen nên Issê ăn uống vô độ. Ngày 2 Novembre 1936 – 19-9-â.l. Sáng dậy, xuống lầu đặng thăm đồ hành lý, thấy tanh bành, bèn mở cái valise nhỏ ra xem thì thấy mất hết 6 rupee. Không lạ gì, bọn mã tử ngủ đó, kẻ tham tâm đã lấy, nhưng nghĩ vì Phật nói : Nhứt ẩm nhứt trác giai do tiền định… Nay bần đạo mất số bạc ấy, không phải vô cớ, cũng là một duyên cớ kiếp rồi… Vui lòng không chút phiền hà. Thôi còn lại 14 rupee, lấy ra cất trong túi quần tây, luôn dịp đem gói hành lý ấy lên lầu, thuật lại cho Choundouss rõ cái sự tệ ấy. Huỷnh và Issê hít hà và ăn năn không cẩn thận, ngỡ không có chi trong gói, nên không đem lên lầu, mà thầy cũng không nói. Bần đạo sợ hai huỷnh buồn e bần đạo phiền hà nên nói : Không hại gì, kẻ tu hành không cần tiền bạc, phải chi mất kinh sách, giấy tờ trong valise thì buồn, chớ mất tiền thì có chi lo buồn, hai huynh còn tiền đi đường là quí, ấy là kiếp trước bần đạo thiếu nợ của kẻ cắp nên nay phải trả. Nói rồi cười xòa cho họ hết ngại. Ấy là một dịp hay cho bần đạo tiện dịp nói mất hết đặng sau đi đường hai huỷnh không ỷ lại mà quá ăn uống chơi bời, ấy là sự bần đạo lo hơn hết. Vì xứ Tây-tạng phần nhiều nam nữ hỗn loạn lắm, và nhà nhà đều có thứ xăng trữ để, ấy là xứ lạnh họ hay dùng như uống trà mà ít tốn tiền hơn trà mà đặng ấm áp hơn. Nội bọn mã tử nghe mất tiền ai nấy cũng buồn giùm. Nội ngày vào xóm, trưa ngọ bột. Khí hậu đã lạnh lẽo hơn mấy ngày trước, vì tuyết xuống trắng đầu non, nước theo triền núi đã tráng mặt cứng đông, đêm ngủ thẳng giấc, khuya thức đi tiểu, nghe tiếng đờn bà la inh ỏi ngoài đường và nghe có tiếng chơn người chạy theo sau. Vào kêu hỏi Issê vì huỷnh thức giấc, huỷnh lại cửa sổ hé cửa xem thì nghe cô ấy đã vào nhà dưới lầu la khóc om sòm và bọn mã tử cãi lẫy và cười rộ với nhau. Issê khép cửa và nói, bọn mã tử chơi giỡn, cô đờn bà bị họ chọc nên giận khóc la là vậy, không chi lạ. Bần đạo nghĩ cho huỷnh không hiểu lắm. Thôi ngủ… Sáng thức hỏi ra thì mới rõ, cô nọ lấy 3 săng của vị Babon hứa tối giao thông, song tối không giữ lời hứa mà cũng không trả tiền lại, nên mới có cuộc rượt nhau hồi hôm… Ngày 3 Novembre 1936 – 20-9-â.l. Sáng lo trà bột điểm tâm, 8 giờ lên đường đi chừng một giờ thì đã tới bến đò Cha-sâm-chu-ủ-rê, xuống ngựa thì đã thấy hành khách tại bến đông dầy cũng chờ đò (Quận đi đến Nhạip-sóc-cô-trúc, đặng đi đò dọc, thì có đi ngang qua bến đò nầy, có chụp ảnh chỗ miễu nơi cầu). Đò cây bên bến bên chùa đã chèo qua, người ngựa xuống đò nhưng không chở một lần cho hết đặng, nên phân ra làm hai quận, bần đạo đi chuyến trước, xuống đò thấy nước dưới đáy đò đông cứng hết bọn chèo đò lo hốt tát nước. Rảo mắt xem chiếc đò thì thấy cách đóng chiếc đò cũng lạ hơn xứ Nam-việt, đẽo cây chuông như cột vuông chừng một tấc rưỡi rồi đâu ráp lại như cái thùng rectangle,(1) dài sáu, bảy thước, ngang lối ba thước, kịch cộm thô tháo, song xem sự chắc ước dùng vài chục năm, vì xứ ít cây nên phải dùng vậy. Còn đò, ghe nhỏ thì dùng toàn bằng da, may rồi trét chai theo lằn may. Issê rằng : Từ đây tới Pharijong thì đi đường phải lạnh lẽo vì gió lung lắm, tuyết lấp đường cao ước đôi ba tấc. Bần đạo khi đứng yên trong đò dựa be, đò chở xong bèn chèo qua bên kia bến. (Lúc đi nước đổ lung, lúc nầy nước kém rồi, nên cũng ít chảy mạnh, đò chèo qua ít bê.) Tới bến, lên ngựa chậm rãi đi đặng đợi tốp sau. Ngồi trên ngựa, gió thổi lạnh quá, bèn ngẫm nghĩ rằng : Lúc nầy tháng chín mà trời lạnh dường nầy, tuyết trên núi đã trùm các đảnh, nước theo triền, trong mấy ao vũng đều đông đặc hết, mấy cái suối nhỏ thì hai bên mé đã đông, chính giữa còn chảy, có nhiều suối vì nước chảy không mạnh nên bị gió thổi quá mà phải đông đặc tráng mặt, nước chảy dưới nước đá tráng mặt, người đi không bể, chỉ có gió ngựa mới nát lồi nước, nghĩ cho qua tháng chạp ắt sẽ đông đặc cả suối lớn nhỏ. Tưởng vậy bèn nhớ tới huynh Samdhen còn ở nán lại Lhassa, lúc nầy lạnh lẽo quá, và lúc về Phật đà lối tuần tháng 11 thì phải chịu biết bao sự lạnh lẽo lối dọc đường, tưởng vậy phút động tâm thương Đạo hữu Samdhen. Lần lượt ngựa đếm bước, phút đã tới xóm Khempa tôm-pô (lúc đi, đi đò dọc nên không biết xóm nầy) thì mặt trời đã quá ngọ. Đây nhà cửa chật hẹp, không có nhà trạm, nên phải tạm nghỉ ngoài đồng ruộng. Bọn mã-tử đi sau chưa đến, thì mã tử già và Choundouss vào nhà quen của mã tử. (Choundouss cũng lạ đặc vì trước cũng không có đi đường nầy, nay mới lần nhứt.) Mướn nấu trà mua xăng đặng đợi tốp sau. Độ vài giờ thì Choundouss đem trà ra bảo : Thầy dùng bữa vì đã trễ quá rồi. Bần đạo bèn lấy bột và đồ ăn ra lo nhồi bột dùng bữa, đoạn lối 2 giờ thì tốp sau đã tới. Xúm xích kiếm chỗ an nghỉ. Đêm nay lớp gió, lớp sương lạnh thấu ruột, nhưng nhờ có cái áo lông che đắp nên ngủ cũng êm. Đi đường như thế, chỉ niệm Phật, chớ ngồi thiền định không đặng, hữu ngọa tư-duy tới muội tâm thì thôi. Khuya thức giấc tốc mền đi tiểu lạnh quá, không ngủ lại đặng, trùm mền nằm đó nghe ngựa khua chuông bèn động tâm thương đến thượng cầm hạ thú nơi xứ nầy, trong lúc đông thiên chịu sự lạnh lẽo rất khổ sở, tưởng vậy rồi nằm quán tưởng từ vô thỉ đến nay thọ không biết mấy lần thọ thân cầm thú, thì cũng phải vậy, rồi nhớ tới Phật tổ đã trong 500 kiếp lẫn lộn cùng cầm thú không biết mấy lần vì lòng mẫn độ chúng sanh mà quên điều cực khổ, nhẫn nhục hữu-tình và vô-tình. Quán vậy, phút cả thân đều hết lạnh. Ngày 4 Novembre 1936 – 21-9-â.l. 5 giờ sáng từ biệt Khampa-tampô, họ ăn bột, bần đạo không dùng. Đi đến núi Khampa-bachzi. Mười giờ tới đảnh, trải qua xóm triền dọc theo hồ. Ba giờ tới xóm Xú-sê (là nơi lúc đi trẽ theo đường dây thép tới xóm nầy dùng xăng), đây là ngã ba, nay đi đường khác, không đi đường núi Nhạp sóc la. Bốn giờ tới làng Pêté (quận đi ghé ngày 24 Juin) nghỉ ăn bột nghỉ luôn đêm. Mai đi Nhênh-xi ou(1) Xi-ô. Từ mé triền xóm Ma-xú-xê thì đi theo mé hồ lớn dài, bề ngang bằng sông Thủ, bề dài ước tám, chín chục cây số. Ngày 5 Novembre 1936 – 22-9-â.l.
6 giờ từ biệt Pêté lên ngựa đi. Mười hai giờ tới
làng Nhênh-xi. (Không ngụ tại Năng-cang-sê như quận đi 23 Juin.) Bữa nay ít
gió, ít lạnh, nước mé triền đặc đông, theo mé hồ lớn cũng đặc (9 giờ tới
đường đắp cuối hồ là nơi đổi ngựa ngày 24 Juin, tạm nghỉ uống trà ngoài
đồng). Vào trạm nghỉ ăn ngọ, xóm nầy ít nhà chỉ có vài nóc gia. Chiều thiền
định. Ngày 6 Novembre 1936 – 23-9-â.l.
6 giờ trà bột cúng dường rồi điểm tâm, sắm sửa
lên đường, phút chủ trạm cậy xem tay, Choundouss nài nỉ xem giùm, ông tên
Sâmthroup 36 tuổi (Sửu) người cúng dường 1 săng 2 yôgăng nhang đèn và để
tiền hộ. Ngày 7 Novembre 1936 – 24-9-â.l. 4 giờ sáng thức uống 3 chén trà, họ uống xăng. Năm giờ lên ngựa từ biệt Ziá-ra, lên đảnh Kharula, ôi biết bao nhiêu lạnh, ngựa đạp tuyết rổn rảng, con suối dưới triền đặc nước, trên đảnh trắng phao, quận đi đến đây ngày 22 Juin, không mấy lạnh, nay nước đông, gió mạnh, tê tái tứ chi, mặt mày như cắt. Chín giờ tới ngã ba cuối đường núi Kharula, hai người trong bọn đi qua Giăng-sê, còn nội bọn trẽ qua đường khác. Mười hai giờ tới xóm Chamanangca ou (Giamônangca) tạm nghỉ luôn tới mai. Ngọ bột, chiều mua của cô chủ trạm 1 yogăng cải củ bào kho một nồi. Xóm nầy chỉ có vài cái nhà thôi. Ngày 8 Novembre 1936 – 25-9-â.l.
4 giờ sáng trà điểm tâm, họ dùng bánh canh thịt,
5 giờ đi bộ một khúc đường xấu, ngựa cỡi khó đi. Đoạn đến nơi đường tốt, lên
ngựa thẳng lên đảnh Ôpyala, 9 giờ tới hữu đảnh đoạn xuống triền, lần lượt
gộp nầy tới gộp kia. Hai giờ tới làng Dranh-đa-zi-ga, tạm nghỉ tới mai. Ngày 9 Novembre 1936 – 26-9-â.l.
4 giờ sáng thức, trà điểm tâm. Năm giờ rưỡi thả
bộ một đỗi, rồi lên ngựa qua hai đảnh núi cận nhau, 10 giờ tới hữu đảnh,
xuống triền ngựa lần bước. Hai giờ tới xóm Yôkăng (hai đảnh tên Sêljola.
Làng nầy có nhà thơ, khi đi có ghé nơi bờ lộ trước nhà thơ uống xăng ngày 14
Juin). Ngày 10 Novembre 1936 – 27-9-â.l. 5 giờ thức trà, trả tiền nhà, ông từ chối xin cúng hiến Lama. Sáu giờ rưỡi lên ngựa. Một giờ rưỡi tới làng Samadơss, vào trạm nghỉ, trà rồi dùng bột. Bọn mã tử tách phe, hai huynh đệ coi bộ giận. Đêm nay lạnh và bị ba bữa rày chuyển răng cùng, đêm nay nó hành ngủ không đặng. Bọn mã tử mua thịt chia cho hai huynh đệ, bớt giận. Mã tử có dại gì làm quen, ăn chung mà làm biếng quá !…
Ngày 11 Novembre 1936 – 28-9-â.l.
Ngày 12 Novembre 1936 – 29-9-â.l. 1 giờ sáng thức trà rồi. Hai giờ lên đường, trời ló đầu núi tới Dorxhanh, họ ghé uống xăng. Issê say. Mười hai giờ tới Touna (lúc đi là 11 Juin gọi Tuyna cũng vậy). Nghỉ nhà khác, chủ gia cho phòng cũng khá hơn các nơi, nhưng không đặng hoan-hỉ lắm. Trời lạnh, răng nhức, hết thuốc hút, mua cùng không có, thật xứ khổ lắm. Ngày 13 Novembre 1936 – 30-9-â.l. 4 giờ sáng thức, nấu trà uống. Năm giờ đi lên đường, dọc đàng mua đặng một gói thuốc 2 trăng nga, đỡ nhức răng vì đi trên đồng Gobi hai ngày rày gió nhức tai nhức mắt, tê tay chơn. Một giờ tới Pharijong mừng quá vào nhà quen lúc trước nghỉ, mốt sẽ lên đường. Uống trà rồi, chiên khoai ăn bột. Cô chủ gia mừng rỡ hỏi lăng xăng. Ngày nay hai huynh đệ làm tiệc xăng. Say mèm cả hai. Cạo đầu. Ngày 14 Novembre 1936 – mùng 1-10-â.l. Mấy ngày không rửa mặt, nay hâm nước tẩy sạch sẽ, nhậu trà, mượn mua thuốc, hộp quẹt, trà, sữa, đường, dầu ăn, hành cả thảy là 13 trăng nga. Nấu trà sữa uống vì 15 ngày rồi không uống. Ngọ cơm, khoai kho, mượn Choundouss 1 rupee (24 trăng nga 1 yogăng), mua trọn 1R ống sữa khô. Đêm nay đi tiệc xăng cùng bạn. Choundouss say, đi kêu, bị Issê đánh một thoi vào mắt hữu. Cả ngày buồn luôn. Ngày 15 Novembre 1936 – 2-10-â.l. 6 giờ thức lo điểm tâm bột khoai khô đợi Issê tới 7 giờ rưỡi mới về. Tám giờ mã-tử đem ngựa lại, từ biệt Pharijong, từ đây hết đường đồng Gobi, cứ đi đường triền núi, lên ải ít, xuống đèo nhiều, 15 cây số xa Pha-rijong thì dọc theo triền đã có cây tòng vì lần lần xuống thấp, tới 20 km đã có nhà có nóc cây hoặc tôle, đi ngang qua làng Gaou, có nhà thờ Anglais, có quán. Năm giờ tới Batzăng vào trạm nghỉ. Chủ trạm nầy niềm nở lắm. Ăn bột khoai kho đêm ngủ ấm áp. Từ đây dân chụm củi. Đường đầy phân bò, ngựa không ai lượm. Ngày 16 Novembre 1936 – 3-10-â.l. 5 giờ thức, 6 giờ rưỡi lót lòng bột. Bảy giờ lên đường cách 4 km tới Numpôsôchi là nơi nhà đúc bạc tiền Tây-tạng khi trước, nay dời về Lhassa. Mười một giờ trải ngang qua Galinhkha, đi luôn (nhớ lúc đi ngày 27 Avril, tạm ngụ nơi chùa của đức Dromo Gueshay và cúng dường). Nghe đồn Ngài tịch Choundouss và Issê ghé đó hỏi thăm tin tức. Một giờ tới trạm Xhiênggiu tạm nghỉ mai đi. Cúng dường bột rồi dùng bữa, tối nghỉ êm ả, hai huynh đệ hiệp bọn, hỏi ra đức Dromo thiệt tịch, ngài có nói : ta sẽ trở lại trong ít năm xa đại chúng. Ngày 17 Novembre 1936 – 4-10-â.l. 5 giờ sáng thức, trà nước bột lót lòng, 6 giờ rưỡi thả bộ đi ngang Galinhkha, Xa xinh (Englis). Issê và Choundouss ghé đó đòi tiền, trải qua xóm China Ri-canhcăng (lúc đi tạm ngụ 22 Avril, 23, 24) đến đây lên ngựa đi lên đảnh. Một giờ tới nửa đảnh tới trạm Bi-thăng-ka, vào trạm nghỉ. Lama Pharijong lo trà, bần đạo thả lại quán, còn 2 trăng nga 1 yogăng bèn uống 2 ly trà ngọt với bánh mì Tây-tạng. Sáu giờ hai huynh đệ về nói đòi không đặng, để mai tới trạm khác, có thơ của Police sẽ có tiền. Tối nghỉ êm… Ngày 18 Novembre 1936 – 5-10-â.l. 4 giờ thức, 6 giờ trà bột, 7 giờ thả bộ lên đảnh Zêlêla, tới nữa đảnh ghé quán Népali uống một ly trà ngọt (tiền Issê 1 ana) lên ngựa đi 12 giờ tới đảnh (ranh thuộc địa Anglais và Tibet, xuống triền rồi lên đảnh Koubou, ghé quán ăn bánh và uống trà ngọt (2 anas) lên ngựa xuống triền lên dảnh Koubou nhỏ, đoạn đi bộ xuống triền rồi lên ngựa lên đảnh Nađăng, ghé trạm nghỉ mai đi. (Khi đi là ngày 20 Avril.) Ăn bột khoai. Bốn giờ chiều. Tối nghỉ. Ngày 19 Novembre 1936 – 6-10-â.l. 3 giờ thức, cô chủ trạm thức nổi lửa, 6 giờ trà xong, xem tay giùm chủ gia, cho xem passeport và hình vua Tả-lê và Taxi đoạn lên đường thả bộ xuống núi Nathăng. Ba giờ tới suối mới hết triền, dọc đường ghé hai trạm dùng trước một ly trà ngọt (1 ana) sau tới Zélum một bánh mì (1 ana) lên đường đi bộ tới 5 giờ tới làng Linhđam, vào nhà quen lúc trước nghỉ. Chủ gia mừng và nói đi già về trẻ. Đoạn uống trà Tây-tạng và một ly trà ngọt nữa (1 ana). Đợi nấu cơm sẽ dùng, tối uống một ly trà ngọt rồi nghỉ (1 ana). Đây, quít, cam, bưởi, tốt lần. Ngày 20 Novembre 1936 – 7-10-â.l. 5 giờ thức, sắm sửa lên đường, 6 giờ thả bộ, dọc đường cây trái đỏ cây (quít) xuống dốc núi Linh-đam, đoạn lên núi Rung-linh 10 giờ tới chợ, ghé tiệm khách trú một ly trà và một bánh, lúc trước đã quen (19 Avril), đoạn đi bộ một đỗi lên ngựa lên dốc núi, 12 giờ rưỡi tới trạm xóm Trompébăng ghé trạm nghỉ luôn, sáng đi. Từ Linh-đam tới Kalimpong có nhà tranh, cộng cả ăn bánh uống trà hết thảy (9 anas), ăn canh cải chung trả (1 ana) Lấy 7 anas cho đầy 1 rupee xài rồi 10 anas. Thuyết pháp, cả thảy đều tựu nghe. Chủ gia biết Hindou. Ngày 21 Novembre 1936 – 8-10-â.l. 5 giờ thức, 6 giờ uống một ly trà 3 pạsas, khách thương hộ cốm dẹp, 6 giờ rưỡi lên ngựa lên đảnh Trôm-pêbăng vài km xuống triền, đoạn tới chợ Zổnthapa, uống một ly trà và bánh bột chiên (parlet) 2 anas. Đoạn lo lên ngựa lên dốc núi đi đến Péđông quá ngọ (ở trên đảnh). Chợ Péđông có nhà trường, nhà thờ, sạch sẽ. Phần nhiều nhà nóc tôle sơn chu. Cây cối, tre lồ ồ nhiều, cam đỏ cây. Một xu bốn, năm, sáu trái. Nay nghỉ tại trạm Péđông (trước là ngày 18 Avril) ăn cơm với nước muối ớt qua buổi, các huỷnh xơi thịt heo xào cải. Ngày 22 Novembre 1936 – 9-10-â.l. 5 giờ thức lo gác yên. Sáu giờ tạm biệt Péđông lên núi, 8 giờ tới chợ Arakara, tạm ghé tiệm quen uống trà ăn bánh mì chiên Tây-tạng, chủ tiệm không tính tiền trà mọi người, ấy là cách tiếp khách đặc biệt. Hai bánh (1 ana) lên ngựa đi 1 giờ tới Kalimpong. Vào nhà quen của Choundouss đỗ ngụ. Chủ gia trà thuốc tử tế. Hườn tất, từ giã mã tử. Chìu theo tục, chiều tối mới ăn cơm, họ dùng đồ mặn, bần đạo mua hai gói đậu phọng đâm nấu mắm đậu, ăn một bữa rất đẹp miệng, chủ gia và hai huynh đệ cư sĩ cả buổi uống xăng. Tối ngủ nực quá, tuy là trên núi cao 4000 feets. Ngày 23 Novembre 1936 – 10-10-â.l. Thức sớm, đoạn trà điểm tâm, tụng kinh mơi. Ăn ngọ cơm đồ chay xào của cô chủ gia nấu. Choun-douss đưa 15 rupee. Trả tiền cho Choundouss 1 rupee và Issê 1 rupee. Bán cái áo lông 9 rupee 8 anas. Cho cô chủ gia 8 anas. Huynh đệ họ dùng xăng, bần đạo và Lama dùng trà sữa (3 anas). Tối lại huynh đệ vui vẻ đàm đạo, kẻ mai đi ngả Ghoom, người mai đi ngả Siligauri, buồn quá, trong vài tuần sẽ hội hiệp tại Phật-đà-gia. Ngày 24 Novembre 1936 – 11-10-â.l. 5 giờ huynh đệ đồng thức, trà, xăng. Ba huynh đệ Choundouss, Issê và Lama lo cuốn gói lên đường, thả bộ qua Trai-si-trá. Bảy giờ họ đi. Bần đạo ở lại chiều sẽ đi xe hơi qua gare Siligauri. Tối đi xe lửa về Calcutta lúc 8 giờ. Chủ gia tử tế lo trà sữa, lo mua giùm hàng bông, nấu ăn ngọ mua các vật cả thảy là 10 anas. Ăn ngọ rồi nghỉ, 1 giờ xe hơi lại, ông chủ gia đưa ra xe hơi, xe ăn 2R.8 anas bagages bỏ quên cây dù. Đoạn xe cứ xuống dốc núi Kalimpong 25 km (altitude 3.500 feets) 15 km đường bằng, hai bên ruộng như xứ ta, lúa chín đỏ, trải qua ít chợ núi Kandi, Kalagaira. Bốn giờ tới gare Siligauri. Mua giấy 5R.14A.1P. Coolie 2A. Ngày 25 Novembre 1936 – 12-10-â.l. 6 giờ xe lửa tới Calcutta (cả đêm ngồi không ngủ mệt quá) coolie 2 anas, xe ngựa 8 anas, tạm tại chùa hội, cả thảy thấy mặt đều vui mừng. Bảy giờ trà sữa, bánh mì, beurre, chuối bỉ bàn. Trưa ngọ đồ chay ngon miệng. Mua một cái rương tôle 2R, một con dao 5A, sở phí ít anas. Lo thu xếp, tối đi ra xe lửa về Phật-đà-gia. Tám giờ đi xe kéo 5A ra gare, giấy xe 4R.7A.2P. Coolie 2A.2P, Gobal 7 anas. Tối ngủ êm, trải đồ ngủ dưới rầm xe ngủ. Ngày 26 Novembre 1936 – 13-10-â.l. 6 giờ xe tới Gaya, uống trà 2 anas, xe ngựa đi 8 anas. Chín giờ tới Bodhi Gaya. Mười một giờ ngọ, Burma đãi cơm. Không có Bikku lấy đồ không đặng, phải lo đi về Sarnath, chuyến xe 1 giờ 50. Bảy giờ rưỡi xe tới Bénarès, mua giấy về Sarnath 1 ana. Chín giờ rưỡi xe chạy, mười giờ tới gare, xe ngựa 3 anas. Mười một giờ tới Tăng già. Trao thơ cho Secretary, sở phí theo xe lửa 1R. Giấy xe Gaya Bénarès 2R.5A. Ngày 27 Novembre 1936 – 14-10-â.l. Lo đãi đại chúng các nơi, đoạn lo điểm tâm. Xong lo công quả. Tối viết thơ gởi về Thiên-chơn. Sáng đặng thơ nhà bank và Nhung. Đạo hữu Karma trao vì huỷnh thâu giùm ngày 21 Novembre.
The National City bank of New York.
Ngày 28 Novembre 1936 – 15-10-â.l. Y lệ, 2 giờ khởi lễ, cũng như năm rồi, voi chở xá lợi, Sécretary và hai vị Đại lão Thượng tọa, ngồi hầu lầu bạc, trong là xá lợi, tàng vàng che. Kèn trống inh ỏi, cờ xí mịt trời, chư đại chúng theo hầu, Nhựt bổn, Tây, Xiêm, Annam, Hindou, Ceylon, Burma, Sénégalais, Tibet, Allemand đại chúng tề tựu. Xong rồi các nước thuyết pháp, có thầy Ananda Rahoula và chư sư khác thông ngôn mấy thứ tiếng. Ngày 29 Novembre 1936 – 16-10-â.l. Gởi thơ về Việt-nam Thiên-chơn và cư sĩ Nhung. Năm nay có nhiều chư sư các nước như : Siam,(1) một ông (biết chút đỉnh tiếng Annam nhưng cũng quí vì hai năm nay mới hở môi nói chút tiếng nước nhà lần đầu nơi Trung thiên) có một vị Allemand biết chút ít tiếng Langsa có một vị Nhựt bổn, một vị Chinois, Sang-hai, cả thảy đều vui vẻ chuyện trò Ngày 30 Novembre 1936 – 17-10-â.l.
Nay là ngày chót cuộc cúng dường, có cuộc thuyết
pháp, có cuộc India boy Scout.(2) Thiên hạ buôn bán đông đảo vui vẻ. Ngày 1er Décembre 1936 – 18-10-â.l.
Nay điểm tâm rồi lo dọn dẹp, hạ cửa hạ cờ, lúc
đang hạ cửa nơi trước chùa, huynh Allemand ở đằng quán đi lại, bèn thẳng lại
bần đạo máng vào cổ bần đạo một xâu chuỗi Kim-cang rằng kỉnh tặng. Mô Phật
cũng hoan hỉ thọ lãnh. Ngày 2 Décembre 1936 – 19-10-â.l.
Lo dọn dẹp thu xếp cờ xí. Ngày 3 Décembre 1936 – 20-10-â.l.
Điểm tâm rồi, lo xếp cờ bỏ vào thùng, cờ lung
lắm, ba ngày xếp mới rồi. Nay hườn sự. Chiều rảnh rang quét sân tăng già.
Ngày 4 Décembre 1936 – 21-10-â.l. Y lệ, Sécretary đi Calcutta hồi âm mà không hay. Ngày 5 Décembre 1936 – 22-10-â.l. Y lệ, bữa nay rửa phòng của Sư trưởng. Đảnh lễ Đại đức Lão Thượng tọa Laknow vì ngài Quốc độ. Sư trưởng viếng phòng, hỏi bần đạo có đủ mền áo chăng ? Thưa đủ dùng, ngài lại đơn tốc mền nệm xem. Đặng thơ Thiên-chơn, ký tên Thiện-trì. Sửa hai cái đồng hồ và mang vớ cho Sư trưởng. Đồng hồ bị lạnh rít dầu nên chạy không nổi, chỉ lấy dầu hôi rửa sơ thì chạy đặng. Ngày 6 Décembre 1936 – 23-10-â.l.
Y lệ, bữa nay Sư trưởng uống thuốc, không điểm
tâm, bần đạo đi lấy nước sôi, trà, sữa cho ngài. Đoạn lo giặt đồ y phục, mấy
tháng trời vùi vẩn trong tấc đường Tây-tạng. á ạ í ị ứ ự ú ụ ô kô chô đô tô bô pô Ngày 7 Décembre 1936 – 24-10-â.l. Y lệ, đoạn lo học. Chiều lối 4 giờ đạo hữu Dham-majoti đi Calcutta về có lấy giùm một rương đồ đem về và mua giùm một cái đồng hồ trái quít 4R.8A một con dao kính cạo 1R.4A và một cuốn sổ nhựt ký 1937 cộng là 6R.2A, thối tiền huỷnh không lấy, gọi chút ít tặng hiến cho bần đạo. Ngày 8 Décembre 1936 – 25-10-â.l. Y lệ, đoạn viết thơ cho Choundouss vì đã có đặng thơ của huỷnh ngày 5-12-36 và gởi thơ recommandes cho banque New York.
Dear Champa Choundouss,
Ngày 9 Décembre 1936 – 26-10-â.l.
Y lệ, chiều đi xuống trù phòng uống trà, phút gặp
huynh Sangharatana cũng tới đó uống trà, huỷnh hỏi bần đạo rằng : Huynh
không về xứ sao ? – Ngẩn ngơ bèn nói : Sau sẽ về. – Huynh có ý mến Ấn-độ sao
? – Phải, nếu không ưa ắt không đến. – Bây giờ huynh có học không ? – Có
chút ít. – Thứ tiếng nào ? – Cũng y lệ cựu Englis và Hindi. – Sau có dùng
đến nó đâu mà phải học ? – Bây giờ dùng nói chút ít cùng người. – À huynh
tốt hơn là đi chùa Laknow, sư trụ trì muốn huynh đến đó. Huynh biết Laknow
chưa ? – Chưa. – Thành thị lớn và đẹp lắm.
Ngày 10 Décembre 1936 – 27-10-â.l.
Ngày 11 Décembre 1936 – 28-10-â.l.
Ngày 12 Décembre 1936 – 29-10-â.l.
Y lệ, 9 giờ đặng thơ nhà banque The National City
Bank of New York. Ngày 13 Décembre 1936 – 30-10-â.l.
Y lệ, đặng thơ nhà banque The National City Bank
of New York, có một cái chèque de 249R.8A.0. (Thơ đề ngày 10-12-36) thì cũng
không phải thơ trả lời cái thơ bữa 8-12-36 đã gởi. Nhưng có lẽ cái chèque
nầy là đủ dùng. Ngày 14 Décembre 1936 – 1er-11-â.l. Y lệ. Trưa ngọ rồi, đem giấy tờ bank hỏi thầy ký, huỷnh cũng nói y như trên và chỉ rành rằng : Nếu chi thơ đề ngày 11-12-36 thì phải, vậy tốt hơn là đợi vài ngày nữa. Ngày 15 Décembre 1936 – 2-11-â.l. Y lệ, cho huynh China ba cái y và cúng.(2) Huỷnh là người Thượng-hải nên nói chuyện chút chút bằng chữ Hán mà thôi. Tội nghiệp đến ngụ tại nhà Thiền Lộc-giả, chẳng một ai quen, chỉ có một bần đạo kết bạn đạo thì huỷnh mừng và lân la. Có khác nào bần đạo lúc mới đặt chơn nơi Xá-vệ-thành. Nghĩ mình rồi lại thương người.
Ngày 16 Décembre 1936 – 3-11-â.l.
Ngày 17 Décembre 1936 – 4-11-â.l.
Ngày 18 Décembre 1936 – 5-11 â.l.
Ngày 19 Décembre 1936 – 6-11-â.l.
Ngày 20 Décembre 1936 – 7-11-â.l.
Ngày 21 Décembre 1936 – 8-11-â.l.
Ngày 22 Décembre 1936 – 9-11-â.l. Y lệ, nay công quả trên chùa, không chi lạ. Ông sư cho một trái mận, bần đạo không ăn, hộ cho Karma và Damaj. Ngày 23 Décembre 1936 – 10-11-â.l.
Y lệ. Bần đạo lãnh phần công quả trên chùa lo sự
sạch sẽ đại diện Phật tổ. Mỗi ngày lo lau chùi. Ngày 24 Décembre 1936 – 11-11-â.l.
Y lệ. Chiều nay đăng đạo tràng thì có cô Anglaise
tại chùa cúng dường, thì lúc kinh kệ rồi, ông Chánh từ hàng bèn đem cô lại
gần bần đạo mà ra mắt nói : đây là vị Bikkhu Annam, và ông nói rằng : Cô đây
ở London đến ra mắt thầy. Đoạn xoay qua nói với cô rằng : Sư Annam biết
tiếng Langsa. Cô bèn hỏi tiếng Anglais rằng : You speak French ? – Yes miss…
Ngày 25 Décembre 1936 – 12-11-â.l. Y lệ. Chiều 3 giờ đi xuống trù phòng uống trà, đi ngang qua phòng cô Anglaise, thấy cô lo mượn người cạo đầu, thấy vậy mừng và thương. Đoạn tới 7 giờ Đại chúng đăng đạo tràng y lệ. Rồi cuộc kinh kệ thì mở đầu làm lễ thọ Sadi ni cho cô, cô thọ y đắp, xem ra oai nghi lắm. Tam qui xướng rồi, đoạn thọ thập giái, rồi cột chỉ nơi bình nước (C. L) rồi tháo chỉ trao tay đại chúng giáp vòng, rốt là cô, bèn xướng niệm chúc cho cô……. Ngày 26 Décembre 1936 – 13-11-â.l. Y lệ, không chi lạ. Có Bổn đạo Ceylon qua 10 người. Bữa nay ăn ngọ rồi về liêu đang ngồi viết nhựt ký liền có huynh Buddhapria ở kho kinh qua kêu mời đi chụp hình. Cả ông viên chức chánh phủ Ceylon qua mấy ngày rày, nay xin chụp hình Đại chúng và có mời cô Sa-di Anglaise dự cuộc chung. Tối lại cô theo quan Hội-đồng về Ceylon. Ngày 27 Décembre 1936 – 14-11-â.l.
Nay Sư giáo-chủ cảm phong sương, nên bần đạo lấy
trà sữa về liêu cho Thầy. Trưa ngọ cũng vậy. Ngày 28 Décembre 1936 – 15-11-â.l.
Y lệ, nay Thầy cả bớt bịnh. Trưa ngọ rồi về liêu
rồi qua Kho Kinh xem kinh, bỗng ông Chánh-từ-hàng cầm tờ nhựt báo ở Bureau
bước vào phòng đọc, bèn nói rằng : Chư sư đã biết Ladenla ở Darjeeling là
người representant cho Hội Đ.B.A., ngài đã tị trần, có đăng nhựt trình đây.
Đoạn đọc ai nấy nghe qua cũng có vẻ chia buồn cùng gia quyến của Ladenla.
Ngày 29 Décembre 1936 – 16-11-â.l.
Y lệ, lên chùa phút gặp sư Burma Uza-Gaya (quen
tại Bodhgaya Janvier 1936) chào mừng đoạn lo triệu thời đọc tụng. Xong cuộc,
ngài hộ đồ vật thực quả đẳng cho bần đạo, đem thẳng trù phòng ½ phần cho Đại
chúng ăn, còn ½ phần cho Bâu-nanh coolie tại chùa. Ngày 30 Décembre 1936 – 17-11-â.l. Y lệ. Không chi lạ. Nay Sư trưởng đã hết cảm. Tự đi điểm tâm. Khi về, phút Sư đặng thơ Ceylon. Thầy bèn thuật cho bần đạo nghe rằng : Chúng đệ tử nơi chùa Sư gởi thơ mời Sư về sớm sớm viếng tự. Thầy nói có lẽ trong mùa nực tới sẽ đi và đem bần đạo đi cho biết chùa và muốn ở lại chùa cai quản giùm cho Sư thì rất tốt. Ngày 31 Décembre 1936 – 18-11-â.l. Y lệ. Trong lúc sớm lên chùa lau chùi nơi chánh điện, sửa soạn nhang đèn cho Đại chúng, nhựt lệ triệu thời. Phút thầy Chánh từ hàng lên gặp bèn thẳng vào Chánh điện nói rằng : Sư ngày mai nghỉ để đạo khác thế cho Sư một ít lâu cho khỏe, cứ làm hoài, tôi không thấy chư Đạo nào làm cả. Bèn căn dặn đôi ba phen rồi lễ Phật. Ngày 1er Janvier 1937 – 19-11-â.l.
Y lệ, nay nghỉ công quả chánh điện, đoạn lo việc
khác. Triệu thời rồi xuống trù phòng lấy bát cúng Phật triệu thực. Mười giờ
đặng thơ Thị-Cảnh, xem thơ “Hội ý” bắt nực cười cho cái tu nầy nhiều
Ma-vương quyến thuộc ghẹo tâm, khêu lửa sân-hận, phiền-não, nhưng với ai
kìa, chớ với Bần-đạo vẫn là giọt cam-lồ rưới tâm rất mát mẻ. Kẻ chỉ lỗi là
thầy, nhớ hoài lời Phật dạy : Cả thảy chúng sanh là cha mẹ, thế thì bần đạo
nhìn cả thảy lời xuất khẩu của người như lời cha mẹ dạy con, rầy con, quở
con, nên vui lòng cam thọ. Có chi lạ cái cung kỉnh là phận sự của con cái. .
. . . . . Ngày 2 Janvier 1937 – 20-11-â.l.
Y lệ, triệu thời đọc tụng rồi công quả quanh chùa
cho bớt lạnh vì lúc nầy Sarnath đã lạnh lung rồi, tuy không sánh Tibet chớ
cũng hơn các miền Ấn-độ. Sớm mơi làm công việc chút ít mới quên lạnh và đặng
máu chạy đều, gân cốt giãn.
Triếu kẻ lòng nhơn ấy lẽ thường,
Đối quấy trả lành thế mấy ai,
Ngày 3 Janvier 1937 – 21-11-â.l.
Y lệ, tụng niệm triệu thời rồi công quả quanh
chùa. Trưa ngọ rồi đi xuống nhà thuốc thí của hội hiệp cùng Shanada học.
Buổi chiều đi lên mộ thời trên chùa phút gặp huynh Ưu-bà-tắc Ceyloniste dọc
đường, huỷnh hỏi : chừng Sư cả đi về Ceylon, thầy chắc cũng đi cùng Sư cả hé
? – Phải, vì ngài có hứa đem tôi đi đến Quốc-độ Ceylon lễ bái chư tự và
xá-lợi Phật (răng của Phật tổ tại Ceylon) và cho biết xứ ấy.
Ngày 4 Janvier 1937 – 22-11-â.l.
Ngày 5 Janvier 1937 – 23-11-â.l.
Ngày 6 Janvier 1937 – 24-11-â.l.
Ngày 7 Janvier 1937 – 25-11-â.l.
Ngày 8 Janvier 1937 – 26-11-â.l.
Ngày 9 Janvier 1937 – 27-11-â.l.
Ngày 10 Janvier 1937 – 28-11-â.l.
|