Chùa Hải-Đức in Jacksonville
|
Nhẫn Tế Thiền
Sư
Phần thứ Nhất
Ngày giờ thấm thoát, phút đă qua năm Ất Hợi (1935), tháng hai, ngày mười chín, dương lịch là 1er Avril 1935. Nghĩ rằng : tiền lo cũng đủ đủ, tham học cũng vừa thông thông. Nay cũng nên nhất định, bèn làm đơn tŕnh quan Chủ-tỉnh, xin giấy xuất dương. Sự tích Tây du Phật quốc sơ dẫn vậy. Xin giấy xuất dương Ngày 1er Avril 1935, tôi cầm đơn đến dinh quan Chủ-tỉnh, lại pḥng việc tŕnh đơn. Quan phủ cho thầy thông coi về vụ xuất dương ; thầy hỏi tên họ, nhựt kư vào sổ và biên số hiệu giấy căn-cước. Thầy làm giấy cho phép xuất dương, đem hầu kư tên và đóng dấu quan Chủ-tỉnh. Đoạn thầy trao cho tôi, bảo đem đến pḥng việc sở Thông-hành (ở Saїgon, tại đường Catinat) mà tŕnh và xin giấy Thông-hành. Cám ơn thầy, lấy giấy đi ra chợ, t́m tiệm chụp h́nh, chụp ba tấm h́nh nhỏ, y kiểu h́nh gắn vào giấy Căn-cước, đặng đem đến pḥng việc thông hành, dán vào thông hành. Ba ngày mới rồi. Xin giấy Thông hành Ngày 3 Avril, tôi đem giấy cho phép xuất-dương và ba tấm h́nh, thẳng xuống Saїgon, lại pḥng Thông hành tŕnh cho quan đầu-pḥng. Ngài xem rồi, phủ cho thầy thông coi việc ấy. Thầy lấy giấy in kiểu (imprimé de déclaration) bảo tôi khai lư-lịch, y theo lời hỏi trong giấy, đoạn thầy hỏi giấy thuế-thân và căn-cước. Thầy bảo, thôi để giấy tờ ấy lại đây, ông về nghỉ và trước khi đi một tuần lễ, th́ lại đây lấy giấy thông-hành. Tôi chào thầy, ra về, và đi và nghĩ : “Đó là kiểu của sở Thông-hành, trước khi cho người bổn-xứ xuất dương, th́ cho lính mật-thám dọ xem tánh-t́nh, vân vân…”, đi luôn về thảo-thất. Đến bữa 8 Avril, tôi thẳng xuống tại Nhà-rồng, hăng tàu, lại tại pḥng việc hay về sự tàu đi (bureau de départ), tàu về (arrivée), đặng hỏi thăm. Vào đó, có mấy thầy Annam và Ấn-độ làm việc. Tôi chào và hỏi thăm, chừng nào có tàu đi qua Madras ? Th́ có thầy Ấn-độ, xem sổ và lấy giấy in, biên tên tàu và ngày giờ đi, rồi trao cho tôi và nói : “17 Avril có chuyến tàu đi về Tây, sẽ đi ngang Ấn-độ và đáp bến Madras ; thầy đem giấy nầy đến sở Thông-hành mà tŕnh th́ tiện việc.” Chào mấy thầy, đi qua sở Thông-hành, trao giấy cho thầy thông, thầy xem rồi bảo đóng 3.$00 tiền giấy thông-hành. Thầy thâu bạc rồi, bảo 15 Avril lại lấy đủ giấy tờ. Chào thầy, trở về nghỉ. Đúng 7 giờ rưỡi mơi ngày 15 Avril tôi có tại sở Thông-hành kỳ chót. Thầy thông thấy tôi, bèn lo làm giùm giấy thông-hành. Tôi thấy bữa nay thầy mới chịu làm thông-hành, th́ biết rằng : “Không điều chướng ngại, v́ sở mật-thám đă cho tin lành rồi. Ăn thua bữa nay, nếu có điều ma chướng th́ không trông đi đặng.” Thầy bảo đưa 40.$00 đăng tiền thế-chưng quận về. Tôi trao rồi, thầy bèn làm giấy đăng kho, đem qua thượng-thơ kư tên và đi đăng kho giùm. 10 giờ, thầy về sở, trao giáp lai kho cho tôi và nói : “Số tiền nầy, lúc trở về sẽ lănh lại, phải giữ giáp lai.” Buổi sớm mơi, hầu kư tên chưa đặng. Chiều 3 giờ trở lại sở, chờ tới 4 giờ, kư tên rồi, thầy giao giấy thuế-thân, căn-cước và thông-hành cho tôi. Cám ơn thầy và từ giă ra về, hai cẳng nhẹ nhàng, v́ bữa nay mới chắc xong việc và phỉ-nguyện. Đêm nay mới hả hơi và ngủ êm-đềm. Tại Lănh-sự Ăng-lê Sớm mơi bữa 16 Avril, t́m đến pḥng quan Lănh-sự Ăng-lê, đặng hầu ghi trong Thông-hành. Trước pḥng-việc Lănh-sự có một thầy Ấn-độ để lo về vụ ấy. Lại bàn viết của thầy, trao thông-hành. Thầy bảo đóng 5.$00. Thầy thâu tiền rồi, gắn con niêm, nhựt kư, đoạn đem vào cho quan Lănh-sự kư tên, đóng dấu rồi trao cho tôi. Cám ơn, chào thầy, ra đi thẳng nhà-rồng. Lại pḥng bán giấy tàu, nhưng thầy bán giấy nói, mai mua đặng, trở về am nghỉ. Nghĩa là : giấy tàu hạng chót không cần mua sớm, trước hai giờ tàu chạy c̣n mua đặng. Một đêm chót cùng huynh đệ Từ khi lấy đặng giấy thông-hành rồi, th́ trong huynh-đệ và chư cô : xuất-gia, cư-sĩ đều có vẻ ưu-bi v́ sẽ xa cách một người Thiện-tri-thức. Tôi thấy vậy th́ an-ủi mà rằng : Sự du-lịch đất Phật đây chưa phải là một sự hằng-hữu. Nước nhà của ḿnh, mới một ḿnh bần tăng, là Thích-tử Việt-nam, ngày nay đi lễ-bái Thế-tôn thánh địa, nơi Trung-thiên-trước-quốc. Cổ-kim, mới một lần thứ nhứt có cái hạnh-phúc nầy, sao lại không vui, mà lại có sắc buồn-bă là cớ sao ? Sớm mơi mai, tôi muốn một ḿnh tôi đi êm-ả, xin chư huynh, cô đừng mất công đi đưa làm ǵ. Tối lại tôi lo ngơi nghỉ, v́ mấy ngày rày chạy sở, chạy tần mỏi mê thân-tâm. Tôi cũng có cái ư lánh sự bận bịu. Đến khuya, tôi thức giấc, nghe trống điểm canh ba. Lên chánh-điện, đèn nhang lễ Thánh-tượng và cầu xin để pháp-phục lại Đạo-tràng. Nguyện mặc một cái áo tràng vải dà, theo tục-lệ nước nhà mà đi. Qua đến Tây-thiên sẽ tùy cơ ứng-biến. Đó là đề pḥng Ngoại-đạo, e biết pháp-phục mà sanh khó. Tạm biệt lên đường Sáu giờ rưỡi mơi, bữa 17 Avril, có xe hơi của cô Diệu-nhẫn ở Lái-thiêu (bà ba Thu) đem đến tiễn-hành. Mở cửa chánh-điện, lễ Thế-tôn thánh-tượng, đoạn ra xe hơi, chư huynh-cô đứng hai bên xe, mà làm lễ tiễn-hành. Tôi và huynh Chí-thông lên xe, có mượn một người Ấn-độ quen ở Lái-thiêu đi xuống Saїgon đổi bạc Ấn-độ giùm. Xe hơi đi tới đường Catinat là 8 giờ. Anh sáu chà đem vào nhà đổi bạc Ismaёl, đổi. Đoạn gặp một người Ấn-độ trạc lối hai mươi ngoài tuổi, mặc âu-phục, đi ngang qua đây, thấy bọn tôi ăn mặc đồ thầy-tu Ấn-độ, nên dừng chưn hỏi anh sáu chà. Hai đàng nói chuyện với nhau rồi, th́ thầy Ấn-độ âu-phục nói với tôi rằng : Ông đi Madras, không có ai quen, để tôi đem ông lại một người anh em của tôi, đặng nói với y gởi gấm ông tốt hơn. Hạnh-phúc thay, cám ơn người có ḷng tốt, đoạn theo chưn ông ta đi lại đường Ohier, ông ta đem tôi vào căn phố 27, th́ thấy có một người Xả-tri ngồi nơi bàn-viết, xem người tuổi lối ba mươi. Hai đàng gặp nhau, chuyện văn, rồi kêu tôi lại gần mà nói rằng : “Ông nầy là Mr. Ramassamy, là phó-hội-trưởng của hội Xả-tri Madras, ổng vui ḷng mà gởi gấm ông, ông đừng lo sợ.” Nói rồi, ông ta nói : “Tôi mắc đi làm việc, ông ở đây nói chuyện, đoạn chào mà đi. Ông Ramassamy vui-vẻ mời ngồi, đoạn kêu một thầy Annam làm việc cho hội đến thông ngôn. Đoạn ông Phó-hội-trưởng viết hai cái thơ, viết rồi trao cho tôi và nói với thầy thông-ngôn một chập. Thầy thông nói : “Hai cái thơ một cái trao cho ông Chánh-hội-trưởng khi tàu tới Singapore, v́ ổng cũng về Madras, mà ổng đi trước qua Xiêm v́ có việc, rồi ổng xuống Singapore mà đáp chuyến tàu nầy mà về Madras. C̣n một cái, th́ khi ông đến tại thành Ba-la-nại (Bénarès city) t́m lại nhà hội cho vay Madras mà trao, th́ ông sẽ đặng an-ổn.” Nói rồi thầy thông chào mà đi lo phận sự. V́ sao mà thầy Ấn-độ âu-phục khi năy, sẵn ḷng đem tôi đi gởi gấm ? Bởi khi năy, thầy nghe nói ông chủ nhà đổi-bạc Ismaёl không chịu gởi-gấm giùm, v́ tôi là thầy tu khác-đạo. Do đó thầy Ấn-độ âu-phục thương đến, nên đem đi gởi gấm. Ismaёl là đạo Hồi-hồi, đối với các chi đạo, th́ đạo Hồi-hồi vẫn công kích hết, chẳng một ḿnh đạo Phật mà thôi đâu. Nhắc lại, ông phó-hội-trưởng Ramassamy có ḷng sốt sắng lo thơ từ gởi gấm giùm rồi, ông lại mời ở lại ăn-ngọ, v́ ông cũng ăn chay. Căn phố của ông ở cũng gần bên. Ông dẫn lại nhà, th́ thấy có bốn người chà ở trong, ông bèn chỉ mấy ảnh mà nói với tôi rằng : “Mấy người nầy cũng về Madras chuyến tàu nầy.” Đoạn cơm đổ vào lá chuối rồi ông mời ngồi lại ăn cơm. Cùng mấy anh chà ăn cơm rồi th́ các ảnh lo kêu xe lại chở đồ đi xuống bến tàu. Chào ông Ramassamy và cảm ơn ông, đoạn ra xe đi với bốn anh chà, và đi và ngó thành phố Saїgon mà từ giă tạm biệt. Tới cầu tàu nhà rồng, bước xuống xe, thẳng lại mua giấy tàu. Thầy bán giấy, xem thông hành y theo luật-lệ, thầy mới dám bán giấy. Trả 70.$00 tiền tàu, lấy giấy quày ra cầu, thấy chư huynh-đệ đứng chực đưa. Tôi thẳng lại, chào nhau và nói : “Chư huynh-đệ không ở Đạo-tràng an-ổn, đi đưa làm chi cho mất th́ giờ.” Đoạn tạm-biệt nhau, tôi lại thang cầu lên tàu, tŕnh giấy cho người gác thang, đặng lên bông tàu. Tám ngày dưới tàu Thẳng lên bông tàu, xuống một cái hầm, pḥng hạng chót, đồ hành lư chỉ có hai túi-dết, một túi đựng kinh, một túi đựng y-phục. Choán một cái giường, để đồ hành-lư, đoạn thay pháp-phục, trao cho huynh Chí-thông đem về đạo-tràng. Huynh Chí-thông từ-giă lên bờ, tôi leo lên giường ngồi, quan-sát chung-quanh chỗ tạm. Thấy mấy anh chà quen, cũng choán giường gần bên ḿnh. Trước tôi, lại có một người bồi Bắc-kỳ theo chủ về Tây, nằm cái giường đó. C̣n bao nhiêu giường kia, đều là người Ấn-độ. Kế cái hầm-pḥng nầy là cái căn ḷ-bếp, để nấu ăn cho hành-khách Ấn-độ. Anh bồi Bắc-kỳ, mỗi khi ăn cơm, lại đến ăn bên pḥng bếp An-nam kế bên. C̣n tôi, th́ đang lúc phải tập ăn cơm theo Ấn-độ, nên tiện bề khỏi đi đâu, lại tiện bề học tiếng Chà và Ăng-lê. Năm giờ ngoài, tàu xúp-lê mở đỏi. Ai nấy đều lên bông mà chào cảnh-vật Saїgon, tỏ ḷng tạm-biệt hay từ-giă. C̣n tôi, nằm êm trên giường, nghe tiếng máy chạy ầm-́ và ḍm ra lỗ-bô, thấy cảnh-vật thay-đổi như h́nh rọi trên vải hát-bóng. Khuất gian nhà nầy, tới dăy phố kia, hết tốp người nầy, tới đoàn người nọ. Lầu-đài, nhà-cửa, nhơn-vật, cầu-bến, sông-rạch, cây-cỏ, ruộng-vườn, đường-xá, nói tắt cảnh-vật đều đổi-thay trong nháy mắt. Toại chí, kệ rằng :
Cửa sổ ngựa qua, đời mấy lát,
Kệ rồi, để mắt hai bên lỗ-bô, thấy cỏ xanh đồng, ruộng. Biết tàu đă xa phong cảnh Saїgon, bèn nói trong bụng rằng : “Từ đây, yên hà vân-thủy, phóng thang giang-hồ. Mặt nước, chơn-trời, ra rồi lồng, chậu.” Trong tàu, đèn khí nổi ngọn, ngoài trời trăng ló bóng. Nằm nghỉ, v́ mỏi mê cả ngày, phút êm-đềm giấc-ngủ. Chừng giựt-ḿnh thức dậy, thấy quanh giường bạn lữ khách ngáy pho-pho. Xuống giường êm-ái, lại máy nước rửa mặt, rồi lại thang lên bông-tàu. Vắng-hoe, người người đều an-giấc. Gẫm giờ nầy, không ai thức làm ǵ, ngoài ra người coi bánh lái và bọn chụm lửa và người coi máy, th́ không c̣n ai thức nữa. Tôi đứng dựa song-ly bong-tàu, ḍm mặt biển. Mùa nầy, gió lặng sóng êm, tàu không chao-lắc, hèn chi lời tục nói : “Tháng ba, bà già đi biển” phải lắm. Gặp lúc trăng rằm, tỏ-rạng, mặt nước không nhăn, bóng trăng soi tận đáy. Toại kệ rằng :
Gió êm, biển lặng bóng trăng lồng,
Kệ rồi, xây lưng, sắp xuống hầm, trực ngó một lớp lính sơn-đá, nằm ngủ trên bong và khách Ấn-độ, một đôi người sắp lớp, kẻ ngang, người dọc ngáy ro-ro. Tôi dừng bước, nh́n đó mà nghĩ rằng : “Kiếp con người đến bao nhiêu đó là cùng. Ngày thức, như kiếp sống, bôn ba tranh cạnh, bỉ-thử lấn-xô, hồ, cáo cấu xé, bất quá bảo tồn cái ngă và ngă-sở, nuôi sống xác-thân. Đêm ngủ, như giấc chết tạm, xả rồi mọi sự, ngă ấy bất quá bản-thân, cũng quên, cũng bỏ. Kẻ nghịch, đến giết cũng không hay không biết. Hà tất ngă-sở, vợ con, nhà cửa, của tiền, vân vân… Tuy thân c̣n tại thế, mà trong một giấc ngủ, đủ rồi buông bỏ ; sự mất c̣n, phú đó cho rủi-may. Huống chi là trong giấc ngàn thu của xác thịt… Một ḿnh nghĩ đến đó, một ḿnh thở ra, rồi thẳng xuống pḥng ; thấy đồng hồ đă quá 3 giờ. Lên giường nằm nghỉ, chưa kịp nhắm mắt, nghe đằng chỗ nấu ăn, mấy người chà đầu bếp đă thức dậy, tôi cũng c̣n nằm nghỉ mệt. Sớm mơi, điểm tâm lúc 7 giờ, một ly café sữa với bánh ḿ. No-nê rồi lấy cuốn sách trợ khách (guide) chữ Tây và Ăng-lê, học ít câu để đi đường. Rồi cũng hỏi mấy anh chà tiếng Ấn-độ mà học. Họ nói đâu th́ biên vào sổ tay tiếng nấy, v́ tiếng Tamil khó nói và khó nhớ lắm. Trưa 11 giờ ăn cơm với cà-ri chay, chiều họ ăn, ḿnh nghỉ. Ngày nào như ngày nấy. Ngày nào không có cà-ri chay th́ tôi lại có cà-na muối, đậu phộng nấu mặn, sẵn dành trong túi-dết. Bảy giờ mơi ngày 20 Avril 1935, tàu đă tới Singa-pore. Tàu cập cầu rồi, th́ khách trên bờ, khách dưới tàu, kẻ lên người xuống. Tàu đậu tới 1 giờ chiều, mặc-t́nh hành-khách đi xem thành-thị và mua vật-dụng. Khi ấy, tôi thấy nhiều người Ấn-độ xuống tàu, hỏi thăm anh Bảy Venugopala, ông nào là Tào-kê([5] chủ hội Xả-tri ? Anh ta chỉ rồi, tôi đem thơ của ông Ramassamy đưa cho Tào-kê chủ. Ông ngó tôi một cách sửng-sốt, như kiếm trên gương mặt tôi coi có vẻ quen hay không. Anh Bảy Venugopala bèn trăm(6) lia với ông. Ông lấy thơ ra xem, rồi tươi cười và xá-xá tôi, đoạn nói : “Tốt quá, tới Madras có tôi không sao mà.” Ông xếp thơ bỏ vào túi rồi hỏi tôi : “Ông đi lên chợ chơi, coi chơi.” Tôi lắc đầu, nói không đi. Mấy ảnh kéo nhau đi, c̣n tôi th́ lên mé bực thạch coi người mua bán. Đoạn thả theo đường lộ, một nẻo cho dễ nhớ, không dám quẹo qua đường khác, v́ sợ lạc đường. Singapore th́ vui rồi, phố xá, lầu-đài, dinh-thự, ngó xán-qua th́ cũng biết đẹp xinh. Người Tàu ở đây đông đảo lắm. Ấy là một cái hải cảng to lớn. Trở lại cũng một con đường đó, xuống tàu, lên giường ngồi, sực nhớ cặp mắt sửng-sốt của anh Tào-kê xả-tri ngó ḿnh khi năy, và những mắt người gặp trên đường ngó ḿnh, trong lúc dạo xem thành-thị. Bèn toại ư kệ rằng :
Không kim, không cổ, vẫn quen nhau,
Một giờ ngoài, tàu xúp-lê mở đỏi. Hành-khách xuống tàu, trong tay ai nấy cũng có ôm xách, không nhiều th́ ít, những vật mua trên thành phố Singapore. V́ ở đây đồ đạc rẻ lắm, ai cũng ham vật tốt mà giá rẻ. Đem xuống tàu, phô-trương trầm-trồ, so-sánh cùng nhau. Tôi lên bong, đứng ngắm cái cảnh hải-cảng Singa-pore. V́ một lần thứ nhứt mới thấy, chớ bấy lâu nay nghe tiếng vậy thôi. Đi một con đường không thấy hết, đứng cao xa thấy trọn mặt châu-thành, thiệt là :
Lầu-các, phố-phường cao chất-ngất,
Ngẫm nghĩ rồi cảnh vật, tàu chạy đă xa, c̣n thấy mờ-mờ, dạng-dạng. Bèn quày quả xuống pḥng, xem kinh đọc sách, học tiếng chà đủ mửng, tiêu khiển ngày giờ, chờ ngày đến Ấn-độ. Ngày ăn, đêm ngủ không bỏ đặng.
Bước đầu trên đất Tây-trúc
Bảy giờ sáng ngày 25 Avril, tàu đă tới hải-cảng Madras. Quảy gói lên bong, ngó lên thành-phố, có ư sốt-ḷng và nghĩ thầm trong trí : “Ngờ đâu mà Thành-phố xứ Ấn-độ đặng lịch-lăm, đồ-sộ như thế.” Ngó dài theo bến bực thạch, cũng đủ ngưng tṛng. Tàu cập cầu, anh Venugopala kêu tôi bảo sửa-soạn đặng tŕnh thông hành rồi lên bờ. Lính xuống tàu, đứng tại cửa thang tàu đă tḥng đụng mặt cầu. Ai lên tại đây đều lại tŕnh giấy tờ mà lên. Tôi theo anh bảy lại tŕnh thông hành rồi, bèn xuống thang, đứng nơi cầu đặng chờ mấy anh bảy. Họ c̣n đồ-đạc, rê ở xứ Annam, đem về Ấn-độ lung lắm. Cả năm mười rương. Nên tôi đứng đó coi chừng giùm và để mắt xem tốp người trên cầu. Ṛng là người bổn-xứ, mà tôi nghĩ sao lạ quá, v́ không thấy một người Hoa-kiều nào cả. Mấy ảnh đem đồ hành-lư lên đủ rồi, kêu xe chở lại sở Thương-chánh. Xét rồi, đóng thuế rồi, xe lần-lượt ra cửa sở. Đụng đường-lộ lớn, láng-bóng không một miếng rác. Càng đi vào thành-thị càng thấy nguy-nga, trẽ qua một con đường hẻm lớn, đi ngang qua một đống rác và tro. Tôi để ư khắp nơi, ấy là đầu-óc người lữ-khách. Đến xứ người, không một sự việc chi trong cảnh-vật, quanh ḿnh, dầu lớn dầu nhỏ, cũng có thể dạy ta đặng những sự ta chưa từng thấy. V́ vậy nên mới thấy đặng một gă trai ốm yếu, đầu cổ chôm-bôm, trạc chừng hai mươi tuổi, nằm lăn nơi tro rác. Ḿnh mẩy trần truồng, chỉ có một rẻo vải che chỗ kín. Lạ thay, không ai chiếu cố, để mắt chia giùm cảnh thảm ấy. Tôi bèn hỏi huynh Venugopala (anh bảy nầy biết nhiều tiếng Annam, nên hay lân-la với tôi, hơn hai chú nhỏ Tampi), nên mới rơ là một người tu-hành trong đạo Phá-kích (Fakir). Hành khổ hạnh, lấy tro ướp thân, trần truồng chịu mưa, nắng, tuyết, sương. Bấy lâu nay nghe trong kinh nói, chớ chưa từng thấy. Nay đặng tận mắt, th́ phá tan đặng một màn tưởng-tượng. Xe quẹo qua một con đường không mấy rộng, ngừng trước một cái nhà hai từng, rộng lớn nền cao. Đây là nhà hội Xả-tri cho vay đó, tôi theo chưn ông Tào-kê bước vào. Th́ cả thảy cặp mắt tṛng trắng như bạc kia, đều nhắm qua hướng của tôi, cách sững-sờ tự-nhiên. Tào-kê biết, trăm lia, ai nấy gật đầu, tôi cũng chào họ. Chôi cha, dưới tàu học được ít tiếng chà miền-dưới, như con nít mới học nói. Phúc gặp đám mừng bạn đường xa mới về, nghe qua như vịt nghe sấm. Tôi đem thẳng cái gói hành-lư lại một cái góc-xó, cận tường mà rộng-răi. Để đồ đó, ngồi đó mà nghỉ một cách không e-lệ. V́ đă quen mắt dưới tàu, vào ra cùng người da đen nầy. Ngồi nghĩ rằng : “Ta nay mới hạ sanh trên đất Ấn-độ, phải chịu câm, điếc một ít lâu, như con trẻ mới ra khỏi ḷng mẹ. Có tai không biết nghe tiếng người là điếc, có miệng không nói đặng tiếng người là câm. Nhưng, ta khá hơn trẻ bé, v́ biết ra dấu, đỡ lắm. Mở gói, lấy dết đựng trang phục, lấy cái chăn nhuộm già, có đem theo pḥng lúc tắm rửa. Thay quần áo, v́ tám ngày ở dưới tàu chịu ĺ. Đoạn trải cái mền ra, trên nền tráng xi-măng, nằm nghỉ như mấy ảnh, trên đệm trên chiếu đó. Chớ họ có bàn, ghế, ván, giường chi đâu. Mấy anh kia đem đồ vô rồi, họ cũng đi chào bạn cố hương của họ. Mười giờ rưỡi, mấy ảnh hô : “Côlick borème” tôi nghe biết họ đi tắm. Tên Tampi cháu Tào-kê, lại bảo tôi đi tắm. Tôi nói không tắm, th́ y nói : “Không tắm ăn cơm không đặng mà.” Tôi hiểu đó là phong-tục của họ. Thôi thay chăn đi tắm, có hồ nước phía sau, lớn và đầy nước. Cả thảy đều đứng quanh hồ, múc nước xối tắm. Ḿnh cũng chẳng nên ngại, chen với họ mà tắm, mà coi họ vui ḷng. Có một người xả-tri đứng gần tôi, nói : “Hồi trước tôi có ở Saїgon hai ba năm. Về miền-dưới lâu rồi, quên tiếng Annam lung lắm.” Anh nói c̣n sửa quá. Đây là thêm một bạn tại Madras đó. Tắm rồi, giặt đồ dơ. Đoạn thay áo sạch, quần sạch, theo họ đi ăn cơm. Đồ ăn chay, cà-ri và vài món cũng cà-ri chua, cà-ri khô không có nước. Họ nấu khéo, ngon, nhưng cay xé họng. Mới tắm đó, mà muốn tuôn mồ-hôi. Dưới tàu ít cay và không ngon bằng. Có sữa chua, mỗi người một thố đất, y như thố ô-môi khách-trú bán trong xứ ḿnh. Họ trộn cơm họ ăn, thiệt chua quá lẽ. Song họ nói nó kỵ ớt, mát t́ và không bón. Tập ăn cho quen, ớt lung lắm, nếu không dùng nó th́ sẽ đau bao-tử. No nê rồi, lên nghỉ trưa, chiều thả rểu ra phía trước. Ngó qua phía trước gian phố bên kia, thấy một người không giống bọn xả-tri, v́ nước da màu bánh-ít, hồng-lợt, tóc bạc, râu dài, trên trán có vẽ một cái chỉa ba hai bên trắng, ở giữa đỏ. Trong cổ đeo một xâu chuỗi hột kim cang. Tôi lấy làm lạ, không biết thuộc phái đạo nào. Kế anh bảy Venugopala bước ra, rủ đi nhà dây thép. Tôi hỏi ông già ngồi bên kia, trên trán vẽ chi vậy ? Anh ta nói : “Thiếu ǵ đạo, cũng thờ Ông Phật, Ông Trời.” Tôi hỏi : “Đạo ǵ ?” Ông nói : “Đạo Brahmana.” Tôi mới hiểu đạo Bà-la-môn. Đă biết đặng hai đạo rồi. Như đạo-sĩ nhỏ khi năy, th́ trong kinh có nói : Lục chưởng tà-sư, các hữu khổ-hạnh giái. Lục khổ-hạnh Phá-kích vi đệ tử. Trong kinh luận ngoại-đạo lục sư rằng : “Tứ giả : Tự-ṭa-ngoại-đạo, thường vi lơa h́nh, bất câu hàn thử, tọa ư lộ địa giả.” C̣n bọn Bà-la-môn nầy, là ṇi giống đặng người đời tôn-kính, quí-trọng hơn hết. Bởi dân Ấn-độ có bốn giai-cấp, phân biệt trong nhơn-dân : 1. Bà-la-môn (Brahmana) là ṇi giống người tu-hành ; 2. Sắc-đế-rị (Ksatrya) ḍng vua-chúa ; 3. Phệ-xá hoặc Tỉ-xá (Vais’ija) ḍng thương-măi ; 4. Thủ-đà hoặc Thủ-đà-la (Sudra) nông-phu, tôi tớ, chuyên nghề hạ-tiện. Trong bốn cấp dân nầy, đến nay, tuy hết hàng vua chúa, nhưng họ cũng c̣n y phong-tục tôn-kính vậy. Ngoài thị-tứ th́ lợt-lạt hơn ở trong xóm, làng, đồng-bái ; nhơn-dân c̣n tôn-kính mấy sư Bà-la-môn, cư-sĩ hay xuất-gia lắm. Mà ṇi-giống ấy, c̣n là người thế-gian, cũng đặng yêu-mến kính nể vậy, v́ họ có cái tánh-t́nh thuần-hậu, ngay-thẳng. Lúc đang suy nghĩ cái giai-cấp, bốn bực loài người nầy, dường như đă định kiếp ban-sơ, trong lúc sanh nhơn-loại. Do đức Phạm-thiên-vương từ miệng, tay, hông và cẳng mà sanh bốn bậc người. Cùng hữu-mạng, vô-mạng, vạn-vật đều ở tay của ngài sanh-hóa cả thảy. Toại kệ rằng:
(Do tích Tỉ-nửu-thiên cỡi Ca-lầu-la điểu) Viếng châu-thành Đă hai giờ ngoài, anh Venugopala hối đi nhà dây-thép trước, theo chưn ảnh, và đi và xem thành-phố, nhơn-vật. Cũng để mắt xem coi có người đạo-Phật hay chùa Phật không. Phút tới bến xe điện, anh cùng tôi lên xe điện, rảo xem cảnh-vật, tả hữu ngó liền-liền, xe ngừng nhiều bến. Đoạn tới nhà thơ, xuống xe, thẳng vào, thấy rộng lớn, nhiều pḥng, nhiều gui-chet, sạch-sẽ, ghế bàn láng-bóng. Có salle d’attendre (pḥng chờ của khách) trong có bàn ghế (salon meublé) đẹp-đẽ. Hai anh em gởi thơ về Saїgon và anh ta cũng gởi về nhà ảnh một cái dây-thép. Xong việc đi ra, thả qua nhà băng, anh ta lănh bạc, nhà băng lớn hơn nhà băng xứ ḿnh, có vẻ đẹp-đẽ hơn. Ảnh lănh xong bèn trở ra đường, thả bộ lần theo nẻo nào chưa đi. Ngó xem không măn-nhăn. Ḿnh mặc áo tràng vải-dà, nên khêu mắt mọi người. Trối ai xem ta rằng lạ, mà thật, tự-cổ chí-kim họ chưa từng thấy, cũng như ta mới lần đầu, mới thấy cảnh trạng và nhơn vật của thành Madras của nước Tây-thiên. Ôi thôi, ta ngó phố phường, tiệm hăng, dinh-thự, lầu-đài không măn-nhăn. Số người lại qua, đếm không hết. Họ lạ mắt, mà ta cũng chẳng quen ngươi, ngó ngang, ngó dọc dưới cùng trên. Thiệt là:
Mỏi mắt cảnh-mầu, người tạo đó,
Đă về tới nhà-hội ngụ. Năm giờ rưỡi, anh bảy vô, tôi đứng lại cửa xem tấm bảng đồng gắn nơi cột tường. Lấy cuốn nhựt-kư ra biên mấy hàng chữ khắc trên đó “Nagara Viduthi No. 4 Coral Merchant. Street Mannady – Post Madras”. Bước vô nằm nghỉ mệt. Chập lâu họ kéo nhau đi ăn cơm. Một ḿnh nằm suy nghĩ, chốn nầy không có chùa Phật, ở lâu không ích ; ḿnh gấp đi Ba-la-nại, mà nói với Tào-kê đặng mai đi, mà ổng nằng nằng nói mốt sẽ đi, v́ mốt ổng và ba người kia cũng đồng về nhà hết. Họ ăn cơm rồi, kéo lên rần-rộ, nổi đèn khí sáng trưng. Lấy cuốn guide ăng-lê ra tập đọc, vừa đặng vài câu, anh bảy và hai chú Tampi lại kêu tôi, bảo đi coi chợ đêm, rồi đi coi hát ông Phật, ông Trời. Tôi nói không coi hát, anh Venugopala nói : “Hát ông Phật, thầy đi coi tốt, tôi mua giấy rồi.” Tôi không hiểu sao, chỗ không có chùa Phật mà có hát Phật. Mà sao ḿnh lại có duyên bói tuồng hát Phật. Thôi tùy thuận, bận áo tràng theo mấy ảnh. Chín giờ mới hát, nên mấy ảnh c̣n có ư dẫn tôi đi xem chợ đêm mà khoe bổn-xứ. Mấy nơi thắng cảnh họ đều trải-sang. Thiệt là:
Đèn sáng chói, trời hôm cảnh lịch.
Gần 9 giờ, đem nhau lại rạp hát bóng. Tôi hỏi anh Venugopala, coi hát ở đây sao ? Anh gật-đầu. Tôi nói : Tôi tưởng hát tại chùa, chớ ở đây th́ coi không tốt. Ảnh không hiểu ư, chỗ ḿnh nói. Cứ nói hát ông Phật tốt lắm. Bỗng thấy một tốp sư ngoại-đạo kéo tới, mà kẻ tục cũng đông. Vào rạp, thấy rạp hát sạch sẽ rộng răi, kiểu đẹp lắm. Tới khi hát, tôi thấy h́nh rọi mà có nghe tiếng hát, ăn theo cử chỉ h́nh bóng. Tôi thiệt ngạc-nhiên, v́ tưởng tới cái văn-minh vật-chất nầy, đă tấn-hóa lắm rồi. Từ mấy năm tu-hành, không hay không biết. Nay thấy thiệt lạ, h́nh hát bóng, mà có máy nói, th́ như hát-bộ. Mỗi lớp th́ anh Venugopala cắt nghĩa, mới biết hát sự tích Phật tổ, lúc hành bồ-tát đạo. Hiện sanh Thái-tử, tại Ba-la-nại quốc. Tầm ma-ni-châu bố-thí nhơn-dân vân vân… Cũng là một tấn-tuồng mà Thích-tử nên lưu-ư. Văn hát, ra về, đêm nay ngủ mê mết. Khuya thức, đồng hồ đă ba giờ ngoài, một ḿnh ngồi suy nghĩ. Trên vuông đất, ba trăm ngoài triệu nhơn-dân, cái sống chưa phải dễ-dàng như xứ ta. Đường tranh-cạnh cuộc sanh-nhai, v́ cái khó-khăn mà tấn-hóa. Nên chi, nước nhà ta khó sánh, bởi cái sự dư ăn dư mặc… Sáng, anh Venugopala dẫn tôi đi điểm-tâm, trong tiệm café ở trước đường gần nhà hội ngụ. Khi no-nê rồi, trở ra, đi ngang một cái tiệm may, tôi nói với anh bảy. Tôi muốn mua vải-dà, hôm qua tôi thấy mấy ông thầy bận đó. Vô tiệm may đưa ra thứ vải nội-hóa hiệu Găng-đi. Tôi mua sáu thước và mướn may máy liền một cái vô-điều-y. Tám giờ rồi, tôi bèn thay y-phục, mặc dưới chăn trên choàng theo ngoại-đạo. Cất áo tràng v́ xứ nầy không dùng. Từ đây, hết lạ mắt người bổn thổ. Chín giờ lại nhà đổi bạc Ismaёl et Cie, đưa chèque, đổi bạc. Kư tên lấy tiền rồi về nhà hội. Đưa 30 rupi(8) cho Tào-kê, mượn mua giấy xe lửa trước. Chiều ngày 27 Avril, Tào-kê và mấy anh em quen, bốn giờ kêu xe lại, chở đồ đi về Karaikuli. Trước khi đi có dặn ông già tri-thơ của hội 7 giờ tối, đem giùm tôi ra gare xe lửa, đi Bénarès city. Đoạn tôi đưa mấy ảnh ra xe và đưa cho Tào-kê 3 rupi, xin đền ơn hội trong ba ngày tá ngụ. Tào-kê nói, tôi tính rồi, thầy không cần lo sự ấy. Xe chạy, tôi trở vào nhà-hội sắm sửa đồ hành-lư. Sáu giờ rưỡi bèn theo chưn ông Tri-thơ ra đường đón xe điện lại gare. Thiệt là:
Dường chim chung ngụ, một đêm rừng,
Bốn đêm trên xe lửa Trong xứ Ấn-độ, người đạo Bà-la-môn và đạo Hindou y-phục mường-tượng phái Tiểu-thừa bên đạo Phật. Nhưng, cái y không phân điều, tôi bèn cải trang theo đó, y như h́nh đây. Nhờ đó xông pha với họ một cách dễ-dàng, người bổn-thổ, không lạ mắt như cái áo tràng. Tới gare, xuống xe, theo sau ông Tri-thơ bước vào gare. Đưa cho ông ta 1 rupi đặng huê-hồng cho ông. Gare lớn mênh mông, đèn khí sáng-rỡ, bộ-hành chật nứt. Chỗ bán giấy cũng nhiều, người mua giấy chen nhau và chờ rục cẳng. Trong gare mà chẳng khác một cái chợ. Nào nhà nghỉ, nhà hàng, nhà tắm, nhà tiêu cho khách hạng nhứt, nh́, ba. C̣n chỗ khách b́nh dân rộng lớn, sân đợi có băng ngồi, hai bên buôn bán đủ vật. Rất tiện cho hành khách, quạt máy gắn cùng, v́ xứ nầy nóng lắm. Ngó vào chỗ xe lửa đậu, mỗi xe có trên vài chục toán wagon, mà có đến vài chục đường rầy, xe nằm chờ giờ chạy. Xe nào cũng đầy hành khách, chạy khắp nơi, không biết họ đi đâu dữ vậy. Tôi theo anh tri-thơ, lại cửa tŕnh giấy vào cửa cổng lên xe. Thấy một anh trai đang tŕnh giấy, trong giấy đề Calcutta, tôi chiếp trong bụng, v́ trên xe ba ngày mới tới thành Calcutta. Phải theo chưn anh trai nầy, tiện cho ta v́ không biết đi dọc đường có đổi xe khúc nào không. Vào cửa rồi, tôi thấy anh trai ấy lên wagon khoảng giữa, để bụng ; tôi c̣n nhờ anh tri-thơ đi theo đây. Ảnh dẫn tôi lên xe, chỉ chỗ ngồi rồi ảnh chào tôi mà ra về. Tôi bèn mang gói, rảo kiếm anh trai khi năy, té ra bộ hành đông quá, và mặt trai nào cũng hệt nhau, kiếm không biết ai. Bỗng tới một cái băng rộng, bên kia có một người, đang sửa-soạn chỗ ngồi, thấy cái giấy xe của ảnh để trên cái trấp da của anh. Lẹ mắt xem qua th́ giấy Calcutta, mừng ḷng bèn để hành-lư choán chỗ gần anh ta. Để mắt xem người hành-khách, phần đông người nước da như Annam, như người nông-phu rẫy bái bị nắng sậm da vậy. Không phải đen như xả-tri, lại trên đầu có để một rẻo tóc, nơi giữa xoáy bằng ngón tay út vậy. Tiếng nói ít đánh lưỡi như xả-tri, nghe dịu và suông giọng. (Sau mới biết là dân Hindou ở Bắc Ấn-độ.) 8 giờ, xe xúp-lê ĺa Madras. Ngồi gần cửa sổ, ḍm ra ngoài hai bên phố-phường, nhà cửa, đèn đuốc rạng ngời. Lần lần, vẻ lịch kém bớt, đèn đuốc lờ-mờ, th́ biết xe đi khỏi thành-thị. Trên xe đông đảo ngồi dập-dựa ngủ ṃm. Sáng ra, lúc tới gare th́ tôi lấy b́nh đồng (của Tào-kê cho tôi, v́ tục xứ nầy, đi đường phải có), xuống xe lại fontaine hứng nước. Đem lên xe rửa mặt, và cho anh trai gần ḿnh mượn rửa mặt, ấy là sự làm quen trong lúc đi đường. Anh ta cũng vui ḷng tiếp lấy và tỏ ư cám ơn. Từ đây làm quen với nhau, anh ta hỏi tôi đi đâu, tôi bèn đưa giấy xe cho anh ta xem. Nhờ đó mới biết, xe nầy tới gare Calcutta th́ đổi qua xe khác. Ở dưới tàu học đặng ba chữ Tamil, nay đă vô dụng v́ người Hindou nói khác. Nên chi, ba ngày trên xe lửa, tôi hỏi thăm anh nhỏ nầy mà học tiếng Hanh-đu. Ḍm cử chỉ của họ, tập theo thói-tục của họ, không cử chỉ nào, tôi không lưu-ư và tập theo. Ấy là phận sự người du-lịch, cần nhất là “Nhập giang tùy khúc, nhập gia tùy tục”. C̣n sự ăn uống th́ cũng dễ, mỗi gare đều có kẻ buôn bán. Nghe họ kêu đồ mua, tôi cũng để ư từ tiếng nói, nghe đặng đâu, lật sổ viết vào rồi học cho nhớ. Ba ngày trên xe, tôi học bộn, khi tới Calcutta th́ nói đặng chút ít. Từ Madras đi tới Calcutta trải qua nhiều cái thành thị cũng lớn, nhơn-dân chỗ nào cũng nhiều. Tôi lấy làm lạ là mỗi gare nào cũng thấy hành-khách đen-nghẹt. Không biết họ đi đâu quá vậy, ngày đêm cũng vậy. Tôi đi đâu cũng vậy, mua sẵn bánh-ḿ, bỏ vào túi-dết sẵn-sàng, có đến giờ ngọ th́ khỏi lo trễ hụt. Ba ngày không tốn một xu đồ chi cả. 8 giờ bữa sớm mơi ngày 30 Avril, xe tới gare Kinh-đô Ấn-độ là Calcutta. Thấy anh trai sửa hành-lư, trắp, rương, ḿnh cũng y theo lo thu xếp. Xe ngừng, kẻ chen người lấn, phút lạc anh trai, tôi cứ theo toán người ra cửa. Kiếm một góc chỗ b́nh-dân hành-khách, để gói xuống ngồi đó chơi. Để mắt xem chung-quanh trong gare, rộng lớn hơn gare Madras. Cách sắp đặt trong gare y một kiểu. Hành khách ra, hành khách vô nượp-nượp. Tôi quảy gói đi lại hỏi, một người lính gác cửa cổng : Chừng nào có xe đi Bénarès, anh ta bảo đưa giấy coi. Đoạn nói : 3 giờ chiều. Tôi cám ơn, chào rồi mang gói đi rảo trong gare ; ban ngày thấy rơ hơn khi tại gare Madras. C̣n sớm, đi xem lối phố-phường, chung-quanh xóm gare, không dám đi xa, sợ lạc đường. Sánh với Madras th́ c̣n đẹp hơn bội phần trăm, không nói đặng cái chỗ nguy-nga lầu-các, phố xá láng nầy. Nếu có ngày giờ th́ vào lối trong nữa, ắt càng thêm lịch lăm. Thôi, đó để đó, c̣n ngày sau, lúc ta trở về cũng không muộn. Trở lại gare đă 11 giờ ngoài, vào kiếm chỗ ngồi lấy bánh ḿ ra ăn ngọ. Ăn rồi, đi lại chỗ bán h́nh xem và mua vài tấm để làm kỷ-niệm. Ba đêm trên xe, ngồi lụn đêm ngày, mỏi mê quá lẽ. Kiếm chỗ trải mền nằm nghỉ, cũng như kẻ hành khách kia vậy. Không ngại-ngùng chi cả, màn trời, chiếu đất cửa nhà thầy tu. Ngủ ngon một giấc, thức dậy th́ gần 3 giờ, may không hụt xe lửa. Thiên hạ đă tŕnh giấy vào cổng rồi. Xếp mền, mang gói thẳng lại máy nước rửa mặt. Đoạn uống một bụng rồi đi lại tŕnh giấy, lên xe th́ bộ hành đă chật nứt. Gặp đặng một cái wagon c̣n dư chỗ ngồi. Ngồi an-ổn, phút có một anh trai trạc 17, 18 tuổi xách valise lại ngồi gần tôi. Tôi hỏi ảnh đi đâu, nói đi Delhi. Tôi nghe không hiểu, sợ trật xe lửa, bèn móc giấy ra hỏi anh ta. Đi Bénarès, xe nầy phải chăng. Phải, tôi có nói, tôi không biết, mới đi lần đầu. Anh ta nói, anh ta biết. 3 giờ rưỡi xe chạy, ngồi ḍm ra xem cảnh-vật Kinh-đô Ấn-độ. Chiều tối, có tốp bộ-hành ở băng gần, xuống xe, tôi bèn choán đó, trải mền nằm nghỉ. Anh trai nhỏ, nhờ tôi qua băng kia, nên đặng rộng cũng trải mền ra nằm như tôi. Anh ta hỏi, ông ở đâu lại ? Tôi nói ở Annam lại. Anh ta không hiểu, mà mấy người ngồi chung quanh cũng không hiểu. Cùng nhau chuyện văn tới khuya mới ngủ.
Khi tôi thức-giấc, nghe xe ngừng, bộ-hành lao-xao
kẻ xuống người lên. Tôi hỏi anh nhỏ, gare nào ? Ảnh trực nhớ tôi đi Bénarès,
ảnh liền hối tôi đi xuống. Quảy gói lật-đật xuống, v́ xe xúp-lê chạy. Bọn
coli chạy lại hỏi rân, tôi nói đi Bénarès, có một anh coli, giựt gói tôi mà
ôm và đem lại xe đi Bénarès. Trả tiền coli 1 cắc, th́ xe cũng xúp-lê chạy.
Tôi nghĩ hết hồn. Nếu chẳng thức giấc, ắt xe kéo đi tít mù, không biết đâu
mà rờ. Có ngờ đâu sự đổi xe, mà không có người cắt giấy đặng hỏi, nếu chẳng
nhờ chú Hindou nhỏ, ắt rối cho tôi rồi. Chuyến nầy sợ không dám ngủ,
xe-ngừng gare nào cũng hỏi thăm. Phút tới một cái gare nhỏ, tôi thấy chữ
Bénarès Kashi, bèn lấy gói đi xuống, trong gara thâu giấy. Tôi nói trong
bụng rằng : giấy ḿnh đi Bénarès city, c̣n gara nầy tên Bénarès Kashi, đó là
trật rồi. Nhưng cũng là Bénarès th́ cũng không mất dấu. Bọn đánh xe thấy
bóng bộ-hành, bèn chạy a vào gare hỏi lia, đi đâu thầy. Tôi nói Bénarès
city. Họ biểu xe đi, anh nầy biểu đưa gói, anh kia kéo áo lăng-xăng, chín
mười người. Tôi c̣n lưỡng-lự, v́ giờ khuya có đi cũng không ích. Đồng hồ
gare gần 3 giờ. Té ra, từ ga Moghal Sarai chỗ đổi xe khi năy, là 11 giờ
ngoài, lại gare nầy có ít giờ xe lửa. C̣n bọn xe bảo đi, th́ định Bénarès
Kashi nầy với Bénarès city là một chỗ mà chia quận chia thành chi đây. Bỗng
có một anh trai, chăn áo trắng-phau, xem cũng bảnh-bao tướng-tá. Vẹt bọn
đánh xe ra, rồi hỏi : Thầy đi đâu ? Tôi đi Bénarès city. Anh ta bảo tôi theo
anh ta. Nói tiếng Hindou : Ao, ao Bà ba di. Tôi điếc con ráy, không hiểu nói
ǵ. Cẳng bước ra gare mà trí bất định đi cùng không. Trước gare có nhà
trống, thấy có hành khách nằm liệt-địa, th́ trong bụng đă nhất định ở lại
gare chờ sáng sẽ đi. Bèn đi lại một cái quán nhỏ trước đó, mua một xu thuốc
lá và hộp quẹt. Đoạn móc ra một cắc bạc, đưa ra hỏi anh đánh xe : “Một cắc
đi không. Tôi có một cắc mà thôi.” Mấy ảnh nghe và thấy cắc bạc bèn bổ ngửa
hết. Anh trai kia cũng nhả, tính bề gặm không nổi, và họ thấy bộ đồ thầy tu
họ cũng đă thèm. Trở vào chỗ nhà trống, trải mền nơi một góc không gần ai
cả, nghỉ mệt và nói thầm rằng : Xứ nào cũng vậy, bọn coli và đánh xe, phần
nhiều là tay vô-lương. Nếu họ biết ḿnh là khách tha phương, th́ họ thường
thừa nước đục. Đây rồi, họ kéo đi lu bù, làm bộ hỏi thăm đầu nầy đầu kia,
kéo cho xa, cho nhiều giờ mà tính tiền cho cố. Nghỉ đặng vài giờ, 5 giờ th́
tên coli gare kêu dậy cho anh ta quét-tước. Sáng rồi, lại máy nước rửa mặt,
đặng sắm sửa hành-lư đặng vào thành. Nhập thành Ba-la-nại (Bénarès) Mang gói ra đi, phú mặc cơ-duyên, bần-tăng chỉ vững ḷng niệm Phật đi tới. Cách gare ước bốn trăm năm trăm thước gặp một cái ṿng thành có hai cái cửa lớn, nhưng không khép. Tôi không biết đi vào cửa nào, niệm Phật rồi cứ thuận phía mà đi. Ngó tới phía trước, mặt chót lầu đài, chùa tháp lu-bù mừng quá. Đoạn thấy bên phía đường bên tay trái có một cái xe ḅ chở hàng-bông, bèn định chắc xe ấy đi bán tại chợ. Theo sau xe ḅ đi tới, không chút ngại ngùng, để mắt xem hai bên nhà cửa phố xá c̣n thưa thớt, lớp cũ lớp mới nhỏ hẹp, th́ định c̣n xa thành phố. Bỗng đi ngang qua một cái chùa, thấy tháp cao và nhà thiền rộng răi, sạch sẽ mà chưa hiểu chùa đạo nào. Sau mới rơ là chùa đạo Hindou. Xe ḅ sang đường nầy nẻo nọ, phút đụng một cái ṿng thành nữa, xe đi vào cửa, tôi bèn ḍm tới trước, thấy cảnh vườn bông, lại có băng ngồi để theo lối lề đường, biết chỗ nầy là chỗ thắng cảnh chi đây. Chính giữa có một cái nhà tṛn, có dựng một h́nh, trông xa-xa đă lộ dạng thành-thị. Càng đi tới càng đẹp-đẽ phố xá, nhà cửa, đường qua nẻo lại càng nhiều. Giờ mơi c̣n sớm, có phố mở cửa, có phố c̣n ngủ. Trên đường chưa có kẻ đi, lâu-lâu gặp một hai người. Chừng xe ḅ trẽ qua một con đường nhỏ hẹp, tôi nói trong bụng rằng : ḿnh đi theo đường xứ lớn tốt hơn. Đoạn đi thẳng không theo xe ḅ nữa, lần lần đi tới, người đi đường gặp lần lần đông. Đi ngang một cái ngă tư, không biết ngă nào phải quấy, cứ đi thẳng là hay. Bỗng thấy một người mặc âu-phục, bên kia đi qua, tôi bèn cầm thơ sẵn trên tay. Khi người trai nầy lầm lũi đi ngang tới, tôi bèn nói : “Xin ông làm ơn chỉ giùm cái nhà nầy.” Và nói và chỉ cái thơ của Ông Ramassamy, phó-hội-trưởng xả-tri ở Saїgon, ra trước mắt người. Ông ta thấy thơ không niêm, móc ra coi, nhưng chữ Tamil, ông ta bí-lối. Ông ta thấy y phục của tôi, cũng đủ biết là người tu-hành. Bèn đưa thơ lại cho tôi, rồi bảo tôi đi theo. Ông đi thẳng con đường trước mắt, tôi thấy trên một tấm bảng đề hai chữ Bénarès city, mừng v́ không hẹn mà gặp. Đến một cái đường hẻm, thấy có một tấm bảng vẽ một cái bàn tay chỉ hai chữ “Bikku frère”. Tôi mừng quá, đây là chỗ của chư Bí-sô thích-tử, vậy th́ tiện cho ḿnh quá. Tới một cái cửa c̣n đóng, thầy âu-phục bèn gơ cửa. Cửa mở, thấy thầy bí-sô, y-vàng đứng trước mắt, tôi xá, c̣n thầy âu-phục cũng chào rồi chỉ tôi trăm lia. Thầy bí-sô mời vào trong, thầy bạch-y kiếu đi ra. Tôi theo thầy thích-tử vào trong, xem không phải chùa, mà chỗ ở hẹp ḥi quá. Thầy mời tôi ngồi tại ghế nơi nhà cầu. Giây lâu có một vị Đại-sa-môn bước tới. Tôi bèn thi lễ. Thầy hỏi tôi ở đâu đến, tôi nói ở Annam lại. Thầy xem thơ cũng không hiểu, rồi lắc đầu bỏ đi vào liêu. Tôi thấy t́nh cảnh lợt-lạt ấy, th́ biết mấy thầy đây không thể giúp và khi năy nghe thầy bạch-y nói thầy không biết chỗ chỉ nơi bao thơ. Tôi ngồi một ḿnh giây lâu, bèn tính sửa soạn y phục lại hẳn-ḥi, rồi bước lại liêu gơ cửa, đi vào xá rối kiếu ra đi. Ra tới đường lớn, phút gặp một người Hindou vạm-vỡ, tôi thi lễ, trao thơ xin chỉ giùm. Người coi không hiểu, anh ta nói : “Gần đây có mấy thầy Birmanie, đi lại đó hỏi thăm” tôi nói có đi rồi. Anh ta cũng không nghe, bảo tôi đi với ảnh trở lại mấy thầy Birmanie (nhờ anh nầy, mới biết mấy sư đó là Bí-sô Birmanie (Miến-điện), vào trăm lia. Anh nầy coi bộ nóng-nảy, không biết mấy sư nói sao mà ảnh nói lại cách cự-nự lớn tiếng. Rồi bảo tôi đi theo anh ta, anh ta đem tôi đến một cái căn phố lớn, không phải nhà buôn, thấy có trải đệm lu bù. Tôi định là trường tư v́ anh trai nầy dẫn thẳng lại một ông đầu bạc, râu bạc, ngồi tại bàn viết. Thấy có năm, ba người đứng chung-quanh. Anh ta thi lễ và trao cái thơ, đoạn trăm với ông ta. Ông xem thơ và hỏi tôi, ở đâu lại ? Tôi nói Annam, Saїgon. Ông bèn lấy tự-vị kiếm hai chữ ấy. Kiếm đặng rồi đọc cho mấy người kia nghe, ai nấy ngó tôi, có vẻ cảm t́nh. Đoạn ông viết một miếng giấy, trao cho anh trai nầy. Anh nầy dẫn tôi đi đến một tiệm bán hàng vải lớn, trao miếng giấy ấy, rồi chuyện-văn một hơi, chào ra đi, bảo tôi ở lại. Người trong tiệm mời tôi ngồi, lại sửa-soạn ăn lót-ḷng. Mời tôi ăn, tôi không dùng và nói đă dùng rồi. Một anh trai trong tiệm ăn rồi, liền mặc áo, ra mời tôi đi. Theo chưn người, sang đường nầy, tới nẻo nọ, anh cầm thơ đi hỏi cùng. Phút gặp một người mặc âu-phục, anh ta kêu chào, rồi đưa thơ. Ông nầy đọc bon-bon, tôi định chắc là người xứ Madras. Ông ta xem rồi, chỉ đường cho anh trai đi. Ṿng quanh phường-phố, phút tới chỗ bến xe ngựa, có cái đường hẻm, đầu đường hẻm ấy có cái nhà lầu. Anh ta đến đó, thấy tấm bảng đồng khắc chữ lớn “Nagara Chatram”, tôi thấy rất mừng. Đoạn bước lên tam cấp, th́ có một gă trai, mang bảng đồng nơi cánh tay, chào rồi anh trai đi cùng tôi, trăm lia. Dẫn vào, lên lầu ra mắt chủ nhà. Ông xem thơ rồi, chào mừng mời ngồi nơi đệm. Hai đàng chủ khách chuyện-văn, rồi anh trai kiếu về. Ông chủ vui cười và hỏi tôi mới tới sao ? Tôi nói mới tới. Đoạn đích thân ông mời tôi đi xuống lầu, chỉ pḥng bảo tôi tự ư muốn ở pḥng nào cũng đặng. Đoạn ông bảo coli trong nhà quét pḥng trong có cái giường mặc dây luột (thằng-sàng). Tôi để đồ hành lư rồi nói cám ơn ông chủ. Ông chào tôi rồi trở lên lầu, th́ tôi mới lo sắp đặt hành lư, đặng lo ăn ngọ, v́ lúc lên tới lầu ra mắt ông chủ, thấy đồng hồ đă 11 giờ rưỡi. Ḿnh vừa sửa soạn an-ổn, th́ có người bưng cơm và cà-ri dưng, lại có một thố lạc (sữa chua). Cám ơn ông chủ có ḷng hậu đăi, ngồi dưới nền xi-măng (tục của họ vậy), bốc cơm ăn. Ăn rồi, khép cửa liêu nghỉ một chập. Khi thức dậy, bèn đem bạc lên lầu gởi cho ông chủ. Ông đếm 250 rupi, ông cho một cuốn sổ nhận gởi số tiền và nói : Chừng nào ông cần dùng bạc th́ đem cuốn sổ nầy lại. Đoạn bây giờ tôi mới để mắt xem qua chỗ ở và biết cũng là nhà hội, nhưng thi thế hội nầy giàu hơn hội ở Madras. Có một cảnh chùa tư ở gần bên hông nhà hội. Ông chủ c̣n nhỏ trạc ba mươi ngoài tuổi, vui-vẻ. Dưới tay ông có nhiều người phụ-tá biên chép và nhiều kẻ tôi tớ. Tuy tôi nói nhà hội cho vay, nhưng tôi e không phải, v́ ông có vợ con ở chung. Tôi định là nhà tư-bản, chớ không phải hội-hàm. Ngó đồng hồ 3 giờ rưỡi, tôi bèn kiếu ông mà xuống liêu. Bây giờ thấy rơ, hai dăy liêu, mỗi bên tám cái, chính giữa có một cái sân tráng xi-măng và một cái máy nước có hồ chứa nước. Ấy là nơi tắm giặt, chớ không phải sân hóng mát. Có hai ông sư Hindou ở hai cái liêu, c̣n bao nhiêu trống. Có một người Madras làm từ chùa, cũng ở liêu trước liêu của tôi. Từ đây tôi an ổn nương ngụ trong chùa Hindou nầy. Làm quen mấy ông sư kia, ai nấy cũng vui-vẻ. Hai tuần lễ tại chùa Ngoại-đạo Phép làm người tu-hành trong đạo Phật, sở-dĩ là tùy-thuận, nhẫn-nhục, là cái bài học cần yếu của nhà Thích-tử. Nên chi, nhờ đó mà lướt qua và thắng đặng, mọi điều khó-khăn, chướng-ngại trên con đường của ḿnh. Ngày nay, 31 Avril, đă để cẳng vào cái thành, mà ngàn xưa kia, đức Thế-tôn sơ-chuyển pháp-luân (mở đạo đầu tiên), độ năm thầy đều đắc La-hán quả. Tính lại trọn 15 ngày, từ ngày 17 Avril để cẳng xuống tàu, nay mới tới chỗ ước-mơ. Th́ có lẽ cái nguyện sẽ đạt thành từ đây. Chiều 5 giờ, th́ nghe trống, chuông, kèn inh-ỏi tại chùa, lại thấy mấy sư Hindou đều ra liêu khóa cửa, mà đi lại chùa kế liêu vài chục bước. Tôi cũng sửa chăn, phủ choàng, bước ra khóa cửa theo chưn họ. Bước vào chùa, thấy hai sư kia đứng trước đại-điện, gần một nền vuông ba thước, trên có xây một cái bàn toàn bằng cẩm-thạch. Trên bàn có một con ḅ nằm (ḅ bằng đá) chong đầu vô đại-điện. Tôi cũng lại đứng theo hai sư đó, và người trong nhà ba bốn người. Tùy hỉ ở trần hay bận áo cũng đặng, hoặc mang một tấm chăn. Thấy ông từ theo hầu một Ông sư-trưởng, tuổi lối sáu mươi, để râu mép, ở trần, đeo một sợi niệt choàng từ vai tả qua nách hữu. Ông sư đây, cúng tại đại-điện trước, ông từ đứng trao cho ông theo thứ lớp, đèn, hương và đồ từ-khí theo lễ nghi. Ḿnh mới tới từ trưa tới giờ, nên chưa dám tọc-mạch, quan-sát. Cúng giáp ṿng mấy bàn rồi, tới cúng cơm cà-ri tại bàn cẩm-thạch, chỗ con ḅ nằm đó, th́ rồi việc. Đoạn ông sư-lễ mới bưng cái mâm thau, trên có tro phân-ḅ và son, tại đại-điện bước ra, th́ hai thầy Hindou lại gần sư-lễ thọ tro và son. Ba ngón tay chấm vào tro, mà quẹt ba phệt lên trán và son th́ chấm một điểm, tại khoảng giữa hai đầu chơn mày. Tôi cũng bắt chước y vậy th́ coi bộ ai nấy đều vui mà ngó tôi. Trong một giờ là rồi việc, ai nấy đều ra. Thấy sư-lễ đi thẳng ra về, tôi không biết ở đâu. (Mỗi bữa ông lại cúng chứ không ở chùa nầy.) Đoạn 7 giờ, các sư đi thọ-thực, tôi từ kiếu không ăn và nói : tôi ăn ngọ. Tôi bèn thả thẳng ra trước nhà, đặng xem sơ cái cảnh tối chốn nầy. Không dám đi xa, hay quẹo ngă nào cả. Ra tới bến xe ngựa, rồi đứng nhắm hướng cho nhớ chỗ. Ngó thẳng trước mắt, thấy đèn đuốc sáng rỡ đầu đường, thiên-hạ đông-đảo thấp-thoáng lại qua. Định lại đó, lần đi tới, cách bến xe ngựa chừng ít trăm thước, gặp chỗ chợ hôm, phố-phường sáng rỡ ; ngoài lề đường buôn bán cũng đông. Thấy có mấy ông thầy đạo Hindou, Bà-la-môn lên xuống, người nào cũng đầy bát, những vật cúng dường. Tôi nói thầm rằng : “Mấy thầy chắc đi về chùa, đặng đi độ buổi chiều v́ đồ bố-thí đă đầy b́nh-bát. Tiếc thay, ta chưa dám theo họ, v́ ḿnh mới tới, chưa quen thuộc đường xá. Thôi, bữa ban đầu mà thấy bao nhiêu đây là đủ, trở về, kẻo ở chùa không biết ta đi đâu. Mới một con đường mà phong-cảnh thị-tứ của thành Ba-la-nại mà đẹp-đẽ, thạnh-mậu dường ấy, th́ cả châu-thành nầy chưa phải thua Madras. Nhưng, nghĩ v́ ḿnh là người tu-hành, không phải đến đây, đặng xem phong cảnh nhơn-gian, chỉ quyết xem t́nh-h́nh Phật-đạo và ngoại-đạo, chỗ thạnh-suy, trong thời kỳ Tam-thiên nhứt hiện, nó đă gần kề. Trở về chỗ ngụ, vào liêu khép cửa nằm nghỉ. Khuya thức giấc, đi tiểu, th́ đi ngang qua cửa vô nhà trù pḥng, trên có treo đồng hồ. Thấy đă quá giờ tư, khi vào liêu, đứng lại hồ nước rửa mặt, súc miệng xong-xuôi, vô ngồi thiền. Từ khi bước cẳng ra đi, không đêm nào mà ư loạn, h́nh sầu như đêm nay. Ngoài thân, trong tâm, phút tán-loạn, đến đỗi trong một đời của tôi, chưa đặng thấy cái cảnh-trạng tự thân-tâm, nó biến hiện như đêm nay. Tôi ngồi kiết-già vừa rồi, th́ nước mắt không khổ-khốc kia liền rơi, phút đổ như gáo lủng nước sa. Chan-ḥa một cách lạ-lùng, dường khi khốc,(13) hai thân tỵ-thế(14) th́ cũng chưa tày. Hai bàn tay kiết ấn nơi đơn điền, ngửa ra mà hứng tràn trề. Muốn nín-dứt hột lụy, lấy hết trí lực cũng không ngăn cái mạch không thảm, không đau, không tủi kia, mà tự nhiên trào-phúng. Tôi thấy điều hy-hữu ấy, th́ cũng điềm-nhiên để tự xem, cái cảnh ngoại làm đi ǵ. Chừng môi mếu, ngực tủi, tôi rán sức cản đó không đặng. Phút lại nghe trong tôi, dường có ai than thở. Trí ư tôi dường có vẻ khó chịu, bấn-loạn, đảo-điên, cái nhớ mà không biết nhớ chi, cái thương mà không biết thương chi, cái thảm đạm tức-tủi, mà cũng không biết sầu-bức, tức-tủi về cái hoàn cảnh nào. Sự xảy qua ước có 15 phút, lần hồi tôi điều đ́nh đặng cái giọt phiền năo vô nhân kia. Tôi bèn quay qua cái buồn-bă không nguồn nọ, tôi lấy cái trí-lực mà vấn thửa cái ư rằng. Nay đă đặng vào tận nơi, cuộc địa mà ngàn xưa Phật-tổ đă để dấu chơn, th́ chí Thích-tử không c̣n chi là chẳng phỉ nguyện ; khác nào con trẻ chơi xa, trở về nhà thấy đặng mẹ, a vào ḿnh mẹ, vui vẻ không cùng. Do cớ sao đổ lụy, âu sầu, làm tuồng hèn yếu như vậy ? Ta nghĩ rất hổ thẹn mà trông thấy cái nết tánh bạc-nhược ấy của ngươi. Tôi nghe dường có tiếng trả lời, trong cái đầu óc kia rằng : “Trong cơn loan-phụng ḥa-hài, của tiền sự nghiệp trong tay sẵn-sàng.” Tôi nghe qua dường đă hết hồn xả kiết già chỗi dậy, đi ra hồ rửa mặt, trở vào lấy một điếu thuốc lá hút. Đoạn nghe gơ một giờ, vô liêu ngồi lại, khoanh tay nơi đầu gối mà tưởng rằng : “Bấy lâu ngỡ tắt rồi mănh-hỏa, nào ngờ đâu không rơm-rạ cũng phát cháy bừng. Hết khoe tài Thích-tử, bấy lâu tưởng thắng đó rồi. Bấy lâu có ư kiêu-căng ngỡ ḿnh đặng thức-vong, ư-diệt ; nay chan-nhản, hở-hang hết sức. Tôi bèn vận trí mà phá tan nội ma. Từ đây tôi mới biết, cái nghiệp thức của tôi c̣n núp trong, nên chi tôi không ngớt chống chỏi và nguyện không trở về Nam-việt nếu tôi không trọn thắng nó.” Đoạn nằm nghỉ, êm ả như thường.
Năm giờ sáng, trống, chuông, kèn inh ỏi, chùa đă
công phu. Tôi đắp choàng lên chùa, th́ cũng thấy sự cúng dường y như hồi
chiều hôm qua. Tôi thấy các sư lạy, th́ tôi cũng lạy bàn chánh mà đứng niệm
vái : “Nam-mô Trung thiên giáo chủ, thiên bá ức hóa thân Thích-ca-mưu-ni
phật.” Đoạn và lạy và quán Thế-tôn tùy thuận chúng-sanh, hóa thân chưởng
chưởng h́nh ngoại-đạo chư thiên mà độ chúng sanh. Lạy rồi tôi thọ tro và son
như mấy người kia. Buổi sớm mơi nầy, cả thảy trong nhà nam-nữ lớn nhỏ đều
thọ tro, son. Ấy là đạo Thủ-la-hê-thiên tam-mục đó. Từ đây tôi hay đi các bến, gặp nhiều sự lạ của chư sư ngoại-đạo, họ lo tu tập lối ép xác. Bấy lâu thấy trong kinh nói chớ không thấy chán-chường, nay đặng tợ mắt th́ tôi cũng lấy làm đau ḷng mà thấy họ hành hài cái thân của họ. Họ làm vậy ngỡ là đặng hạnh-phúc giải-thoát. Mà họ không ngờ là họ phá cái sở-tạo, mà họ dung-túng cái năng-tạo. Một bữa mơi kia, tôi gặp một vị Du-già-sư kéo một bó xương rồng thứ gai-lưỡi-ông, đem lại bến Das-sasumedh (h́nh trước đó),(17) sắp như tấm ván, rồi nằm ngửa trên gai. Trần truồng, chỉ một rẻo vải đậy chỗ kín, chịu cái nắng lúc tháng tư nầy ở chốn Tây-thiên. Kẻ qua, người lại cho xu th́ ném trên bụng, trên ngực. Từ mơi tới trưa, hết người ta rồi mới dậy. Tôi lại thấy những thầy Phá-kích đi guốc th́ đóng đinh ló trên mặt guốc một hai phân tây. Ôi thôi, biết bao điều lạ thường. Tôi lại thấy đặng trong ngày khác tại bến Manikanika, những sư ngoại-đạo trồng chuối ngược, đứng một cẳng. Mà cách trồng chuối ngược là khó chịu nhất, nhưng họ cũng rán, đặng lấy tiền bố thí. Tôi hay để ư, là họ hay làm các cách ép xác nơi các bến, v́ nơi ấy đông người văng lai. Họ, nay ở bến nầy, mai đi bến kia, chớ không ở một bến. Họ hay làm nghịch với thời tiết ; như lúc mùa nắng nực, họ lại rán ép ḿnh mà đởm cự với cái nắng cái nực. C̣n tháng lập đông, th́ họ lại xuống sông mà ngồi, chỉ ló cái đầu lên thôi. Có kẻ ngồi tới cả tuần, cả tháng, có kẻ lại trần truồng, nằm ngủ ngoài sân, ngoài đồng trong lúc ban đêm mà cự với sự lạnh. Trời Tây-thiên, lúc mùa nắng như lửa đốt. Đi trên đường lối 50 thước th́ phồng cẳng, mà họ trần truồng đứng ngoài nắng. C̣n có kẻ lại nhúm lửa giữa trời nắng mà nằm, hoặc ngồi gần đó. Sự tu tập của ngoại-đạo nói không cùng. Trong kinh nói kê giới là đứng một cẳng, c̣n bây giờ nó bày đặt trồng chuối ngược, ngồi dưới nước, chôn ḿnh dưới cát th́ không biết giới chi. Như cẩu giới th́ có kẻ tu hành ngoại-đạo kia, không chịu thọ thí thực của ai cả. Chỉ đi theo lối chợ búa lượm đồ bỏ, rớt mà ăn. Có kẻ thấy mấy ổng th́ lấy đồ ăn đương bán mà quăng xuống đất, họ lượm họ ăn. Bằng cho trên tay không lấy. Thấy vậy rất đau ḷng giùm cho ngoại-đạo thủ giới nhiều cách lạ lùng và ép bức thân thể quá lẽ. [H́nh dán tại đây đă hư.] Một buổi mơi kia, tôi đến bến Assi (h́nh trên đây), tôi gặp đám thiêu xác. Tử thi để nằm trên hai cây đ̣n ép bằng tre, trước sân chùa, có một ông sư tụng kinh một chập. Đoạn bốn người lại khiêng tử thi đem xuống sông-linh. Thầy tụng kinh làm lễ tẩy trần, tiêu tội, nhúng thây ấy ba lần dưới nước. Xong rồi khiêng lên để trên đống củi, đă chất sẵn nơi sân bến. Họ sắp củi gộc ở dưới, củi đ̣n ở trên, lớp ngang lớp dọc cao chừng một thước tây. Củi nhỏ hơn hết là bằng bắp cẳng, chớ không có củi nhỏ, hoặc chà, hoặc bổi. Thầy tụng kinh làm lễ thiêu, th́ chủ tang bày đồ cúng trước đó. Nào cơm, bánh, nị, dầu, nước sông-linh, thầy cúng rồi th́ dầu, nị th́ họ chế trên củi gộc. Kế đó bà con thân tộc ai cũng có cũng ít nhiều dầu, nị đều chế trên củi. Thầy cầm đuốc châm vào đèn cháy đều rồi, th́ đút cây đuốc trên lớp củi gộc. Tôi sợ sẽ cháy thây th́ khét, nên đi ra xa đứng xem. Nị, dầu bắt lửa cháy, th́ trong năm phút đă cháy đều. Ban đầu tôi nói trong trí tôi : củi mà cháy đặng cũng nửa giờ. Không ngờ cháy mau quá, lửa phủ cháy vải bó thây, lần lần cháy tới thịt. Tôi không nghe hôi, khét chi hết, mà cũng không thấy tử thi cong tay, uynh chưn chi cả. Tôi bèn thả rểu chỗ khác đặng xem, bởi nhiều bến và nhiều chùa lắm. Ở theo mé sông Hằng, không xóm nào là không có bến, nên mỗi xóm, mỗi bến. Mỗi bến năm bảy cái chùa lớn, nhỏ. Bởi nhơn-dân tín-ngưỡng sông-linh đó lắm, sống th́ đặng nước linh ấy làm cho mát mẻ thân tâm, kham chịu phiền năo. Chết lại nhờ nước linh ấy tẩy sạch trần duyên, tiêu trôi nghiệp cảm. Vậy mới kêu là sông-Linh, vậy nên, chư sư ngoại-đạo, mới nhờ đó mà nuôi thân, như bầy con nhờ vú mẹ. C̣n nhà chùa cũng nhờ đó mà đặng nền cao, cột lớn. Chùa nào cũng có huê lợi hằng ngày, lớp lời trong những món lễ vật bán cho đàn-na đem vào chùa dưng cúng, lớp đồng tiền dưng cúng. Chùa nào, ở trước cửa vào chùa, cũng có nhà trữ bán đủ vật, hương, đăng, hoa, quả. C̣n kẻ ngoài đến bán, cũng đem lại đó mà giao cho chùa bán. C̣n ai buôn bán món khác nơi bến, th́ cũng có cúng chút ít số lời cho chùa. Vậy nên nhà chùa ngoại-đạo xứ nầy giàu lắm. Đây là một cái bến chụp nhỏ, xem trọn nhiều nóc tháp chùa. Cho đến những ghe tàu để du thủy, để lập đàn cúng tế thủy phủ, thần long, th́ nhà chùa cũng có huê lợi ở trong. Ngày nào cũng nượp-nượp ngày nấy. Không lựa rằm ngươn chi cả, ḷng người không nguội lạnh chỗ tín-ngưỡng. Số dân Ấn-độ ba trăm ngoài triệu người, chia nhau thờ đủ. Đạo trời th́ từ cơi trời Kiên-thủ-thiên lên tới Phi-phi-tưởng-thiên, không cơi nào là không có. C̣n tạp đạo cơi trần là khác. Nào Đạo thần : sơn-thần, thọ thần, hỏa thần, thủy thần. Đạo quỉ : La-sát, quỉ xà, ngưu ma, yêu tượng, quỉ điểu, chằng tinh v.v… đều có người tín ngưỡng, tùy hỉ tŕnh độ. Kể sao cho hết, sơ lược chút ít. Trải ba năm quan-sát, một mặt, một sự thuần nghề nghiên-cứu, th́ sự chi thuộc về đạo Phật và ngoại-đạo, tôi không bỏ qua. Thế th́, ba năm đăng đẳng, biết bao chỗ mắt thấy với tai nghe th́ chẳng phải ít. Huống chi trên một khoản giấy cỏn con mà viết thuật sao cho hết. Đất Thiên-trước là ổ ngoại-đạo, là nguồn cội ngoại-đạo. Hoàn cầu nầy, các thứ đạo cũng do đó mà đem ra. Ngàn xưa Phật tổ hiện sanh nơi đó, đem chánh pháp mà phục tà-pháp, mà c̣n chưa hết, đến nay cũng c̣n tràn đồng. Thế thường chẳng lạ, lúa ít, cỏ nhiều, vật hữu ích th́ kém, vật vô dụng lại thặng số. Lúa th́ có mùa, cỏ lại đặng cái tư-niên. Đây là cảnh chùa Ngoại-đạo cận mé sông-linh. Thấy cái thạnh hành của ngoại-đạo nơi chốn Tây càn mà chán ngán cho đồng tiền của bổn đạo, v́ ḷng tín ngưỡng tuôn ra mà lập cảnh hưng tà trục chánh, giúp ma đuổi Phật, trợ ám, phế-minh. Đă trải qua một tuần lễ rồi, kiếm không ra chùa Phật-đạo, ḷng áo-năo tràn-trề. Dưới sông, trên bờ, ngoài xóm, trong thành-thị, không một nơi đâu mà có thấp thoáng cái tháp tự cùng tràng-phan phướn cái của nhà Phật. Ḷng thích-tử trong bộ đồ ngoại-đạo nầy, có ngậm-ngùi cho chăng. Toại kệ rằng :
Trong vùng ngoại-đạo cơi Tây-thiên,
Tại Bénarès nầy toàn là giống dân Hindou, gặp đời mạt pháp nhưng ḷng dân thuần-hậu. Chỉ có đạo Hồi-hồi, nơi xứ Arabe đem qua, hay sanh sự với các chi đạo kia. Chớ các đạo trong Trung-thiên Ấn-độ, th́ không kích bác nhau. Đạo nào nấy giữ, êm đềm lo làm phước thiện mà kiếm quả nhơn-thiên. Chỉ một ḿnh đạo Hồi-hồi ưa gây nghiệp Tu-la tranh-đấu, nghịch với cả thảy đạo. Như chỗ tôi nương-ngụ, người chủ nhà bố thí cơm cho dân nghèo, mỗi ngày ăn ba bốn trăm người, mà tôi ở nửa tháng tại đó cũng thấy vậy hoài. Tôi hỏi ông từ, cho ăn vậy bao lâu ? Ông ta nói mỗi năm ba tháng, c̣n ngày Tết lại cho quần áo nữa. Thấy cái nhà của ổng mà có mười sáu cái liêu, để rước thầy du phương th́ biết, cái ḷng ham phước-thiện của người cơi Tây-phương là thế nào. C̣n sự ham bố-thí cúng dường cho nhà chùa, hoặc làm chùa hoặc in kinh, hoặc nuôi chư sư ngoại-đạo th́ nói không nổi. Đây là cảnh chùa toàn bằng đá núi chạm trổ. Như cảnh chùa trên đây th́ cái kỹ nghệ của dân Hindou rất mỹ-lệ. Tôi có xem Đế-thiên, Đế-thích xứ Nam-vang cũng không sánh kịp. Đồ sộ một cảnh chùa như thế th́ cũng của tiền của đàn-na, tín-thí. Hỏi lại xứ ta có cảnh tự nào như thế chăng ? Th́ biết ḷng người xứ Ấn-độ, đối với Đạo là thế nào. Tôi nghĩ như thế, nên nói trong trí rằng : Tà-đạo, giáo-pháp chưa minh chánh mà ḷng người c̣n đối như thế. Hà huống là chánh-đạo th́ ḷng dân ắt phải kính ngưỡng.
Đây cũng là cảnh chùa ở trên mé sông-linh,
Tôi thấy cảnh ngoại-đạo như thế th́ tôi chắc ư rằng sẽ thấy cảnh chánh đạo, tuy vân(2) tôi kiếm trong vùng nầy, không có chùa Phật. Như cảnh chùa trên đây, đừng thấy đồ sộ từng cấp mà ngỡ là phố lầu, đó là nhà chùa đạo Hindou, toàn cả một dăy đó. Một buổi chiều kia, sau khi công phu chiều, tôi thấy mỗi ngày tại nhà ông-chủ, hễ tối lối 6 giờ rưỡi, th́ người nhà khiêng sữa ḅ sống, khiêng thùng, cầm đuốc bằng đồng, đi cúng dường ở đâu tôi không biết mà kéo cả tốp đi. Tôi có ư tọc mạch, rán học mấy câu như sau đây đặng nhập với họ mà đi cho biết. Trước khi đi th́ đứng trước cửa chùa, một hàng dài. Có một người cầm đuốc, cán đồng chạm khéo lắm, hô như vầy : Vissounate cavasté doudhe giatahê. Đoạn mấy người đứng sắp dài theo đó, bèn nói rập với nhau như vầy : Vissounate fouilla cavasté doudhe giatahê. Rồi đó người cầm đuốc và ai nấy đồng nói : Civa, civa, Sampo, sampo, Mahađêu. Như vậy ba lần th́ khiêng đồ đi theo ông cầm đuốc. Đi dọc đường cũng nói ba tiếng sau đó. Té ra đi tới cái đường hẻm đông đảo, mà tôi đă ngó thấy, khi tôi đi xuống sông-linh lần thứ nhất đó. Họ quẹo vào, đi đến một cảnh chùa rất lớn mà cúng dường. Nơi giữa đại-điện có một cái hồ nước, chính giữa hồ có một cục đá. Tôi xem kỹ, hồ xây h́nh như cái mặt dưới của một cối đá xay bột vậy. C̣n chính giữa có cục đá lồi lên cao đó, như cái ngơng cối vậy. Họ kêu là Vissounate. Đoạn người nhà mở thùng rương ra, lấy cái nón bằng cái ô, toàn bằng vàng, trao cho ông thầy ngồi kề miệng hồ. Ông lấy, bèn đội trên cái ngơng đá, rồi lấy bông hoa đá xỏ vào dây, như dây chuyền, tốt đẹp lắm, máng vào ngơng đá. Ông thầy sửa soạn một hơi, th́ thấy cái ngơng đá ấy thành ra một cái h́nh người. Hia vàng, áo bạc, măo vàng, hai tay cầm bông sen. Xong xuôi, ông thầy mới đọc kinh cúng. Ông chủ bèn dưng đồ cúng trong chén vàng, dĩa vàng, ly vàng, kế đổ hết một đấu sữa xuống hồ nước ấy. Cái đấu nầy bằng bạc, chứa hai thùng thiếc nước mới đầy. Chung quanh chánh điện có pḥng, có giường ngủ, trải gấm, gối thêu cước vàng chỉ bạc. Cúng rồi th́ thâu đồ, bỏ lại rương như cũ. Ông chủ bảo tôi đi xem chùa, h́nh tượng nhiều quá, thiên hạ đến cúng chật nứt. Phần nhiề |