Chùa Hải-Đức in Jacksonville

[Home] [Up] [Điểm Sách] [Sutras] [Dharma Talks] [GĐPT] [Sinh Hoạt] [Our Activities] [Kinh] [Pháp Thoại audio mp3] [Tin Tức Phật Giáo] [Thuyết Pháp] [Thơ Văn] [Ngoại Điển] [Phật Học] [Tụng Kinh] [Nghi Lễ - Rituals]

Mục Lục

 

Lời vào sách.

Chương 1: Đại cương về Phật Giáo

Chương 2: Tinh thần Phật Giáo đối với các dân tộc Á Châu và Âu Mỹ  

Chương 3: Cái nh́n của người Âu Mỹ  về Phật Giáo

Chương 4: Cái nh́n của người Á Châu đối với đạo Phật

 

CHƯƠNG HAI

  Tinh thần Phật Giáo

đối với các dân tộc Á Châu và Âu Mỹ 

Phật Giáo khởi nguyên từ Ấn Độ, một trong những nước lớn tại Á Châu và hầu hết các tôn giáo lớn đều bắt nguồn từ Á Châu như Ấn Độ Giáo tại Ấn Độ, Khổng Giáo và Lăo Giáo ở Trung Hoa, Hồi Giáo ở Persien, Thiên Chúa Giáo ở Do Thái v.v... Có lẽ v́ Á Châu có một nền văn hóa lâu đời nên các tôn giáo lớn được phát sinh từ đây. Ngược lại Âu Châu, Mỹ Châu và Úc Châu là những châu lục mới được phát triển không quá 3.000 năm; nên ít có những bậc giáo chủ như Đức Thích Ca, Khổng Tử, Lăo Tử, Mohamed và Jesus v.v... Nhưng Âu và Mỹ Châu th́ có những triết gia lớn như Montesquieu, Décartes, Socrate, Schopenhauer, Hermanhess, Nietzsche v.v... Có lẽ Á Châu là chiếc vơng của tinh thần, Âu Châu là nơi phát triển chiều sâu và Mỹ cũng như Úc Châu là những nơi sàng lọc, triển khai để các tôn giáo nầy măi măi đi vào chiều sâu của lịch sử nhân loại.

 Theo sự phát triển của nhân loại, Phi Châu là một lục địa có trước; nhưng cho đến ngày nay Phi Châu vẫn c̣n là một châu lục có nhiều khổ đau chồng chất, đất đai kém màu mỡ và văn minh tại châu lục nầy vẫn là văn minh của thời sơ khai. Có một vài nước ở Bắc hoặc Nam Phi có nền văn minh không kém ǵ Âu Mỹ mấy; nhưng ở Trung Phi đa phần c̣n giữ lại nền văn hóa cổ truyền tự ngàn xưa. Có lẽ v́ lư do khí hậu cũng như địa lư mà các nhà hiền triết cũng như các bậc giáo chủ ít thấy xuất hiện tại đây chăng? 

Ấn Độ ngày nay gần một tỉ dân nhưng chỉ c̣n 3 triệu tín đồ Phật Giáo. Có nhiều người đặt câu hỏi rằng: "Tại sao Ấn Độ là một nước phát sinh ra Phật Giáo, mà Đạo Phật ngày nay không phát triển được?". Câu hỏi nầy tuy đơn giản; nhưng phải đi sâu vào chiều dài lịch sử của dân tộc nầy, mới có thể trả lời câu hỏi ấy một cách tường tận được. Nếu ta ví Phật Giáo là một cây cổ thụ, có gốc tại Á Châu và cành lá, hoa quả mọc ra ở các châu lục khác th́ chúng ta sẽ thỏa măn ngay câu hỏi trên. Gốc cây bao giờ cũng phát triển trước, sau đó phải dùng nhựa sống để nuôi thân thể và hoa lá của ḿnh; nhưng không có nghĩa là gốc cây đă chết. Tuy gốc cây có sần sùi đó, tuy gốc cây có vẻ già cỗi đấy; nhưng nếu không có gốc cây nầy th́ các cành lá ở các nơi khác làm sao tồn tại và phát triển được. Khi người Phật Tử hiểu được điều nầy tức hiểu thuyết nhân duyên của nhà Phật. Đâu có cái ǵ vĩnh viễn tồn tại trong cuộc đời nầy đâu. Nên phải chấp nhận định luật vô thường là thế.

Nếu trở lại trong thời hoàng kim của Đạo Phật, chúng ta phải ghi ơn các bậc quân vương của xứ Ấn, trong đó có A Dục Đại Đế, đă v́ sự phát triển của Đạo Phật mà ông ta đă đem giáo lư từ bi lợi tha nầy áp dụng vào trong đời sống của chính ḿnh và nhân dân trăm họ.. Asoka Đại Đế trị v́ xứ Ấn Độ vào giữa thế kỷ thứ 3 trước Thiên Chúa giáng sinh, là một bậc quân vương rất nổi tiếng tàn bạo; nhưng sau khi nghe được giáo pháp của Đức Phật, ông ta đă quy y và suốt cuộc đời c̣n lại, ông đă làm được những công việc phi thường như sau: 

"Khi nhà vua c̣n trị v́, lúc đi chiêm bái các thánh tích nơi Đức Phật Đản Sanh, thành đạo, nơi nói pháp lần đầu tiên và nơi Đức Phật nhập Niết Bàn, nhà vua đă cho dựng những cây trụ đá, trên đầu trụ có tạc h́nh sư tử 3 đầu. Đây là dấu hiệu của sức mạnh lúc vua trị v́ và ngay cả ngày nay trên lá cờ quốc gia xứ Ấn Độ vẫn c̣n biểu hiệu nầy với bánh xe pháp luân của Phật Giáo, mặc dầu ngày nay Ấn Giáo là quốc giáo của xứ nầy. Có nơi trụ đá làm bằng những loại đá rất quư như ở Ba La Nại; nhưng cũng có nơi làm bằng loại đá b́nh thường như ở vườn Lâm Tỳ Ni hoặc ở xứ Kiều Tất La. Trên các cây trụ đá ấy nhà vua đă cho viết những chữ cổ ngữ Ấn Độ để đánh dấu nơi sanh ra hay nơi thuyết pháp lần đầu tiên của Đức Phật. Thân h́nh các cây trụ đá được điêu khắc tṛn, cao chừng 10 thước. Chính nhờ những cây trụ đá nầy mà ngày nay các nhà khảo khổ học và địa chất học đă t́m ra chứng tích lịch sử xác thực của Đức Phật. Cũng như mới đây vào đầu năm 1995, sau khi khám phá một miếng đá nhỏ, nơi Đức Phật Đản Sanh do vua A Dục cho xây, lúc ông đi chiêm bái nơi nầy do hai nhà địa chất học Nhật Bản và Népal t́m được và đầu năm 1996 họ đă công bố cho thế giới biết, đây xác thực là miếng đá vua A Dục đă cho xây, xác nhận nơi đản sanh của Đức Phật. V́ theo sách sử kể lại, khi nhà vua di thăm nơi nầy, có cho khắc vào đá tại đó. Và từ miếng đá nầy đi đến hồ nước thiêng khi mẫu hậu Ma Ya sanh Thái Tử bước đi đúng 25 bước. Đá nầy sau khi giảo nghiệm đă chứng thực là loại đá có từ thời vua A Dục. V́ vậy nhà vua Népal và các vị Bộ Trưởng đă đến đây chiêm bái vào đầu năm 1996 nầy.

Lịch sử Đức Phật là một lịch sử có thật, không phải là chuyện hoang đường. Do đó, để thẩm định lại giá trị của nó, người ta cần tra cứu các căn nguyên của lịch sử. Nếu là thật, nhân loại có thể vững tin mà đi tiếp theo con đường đă có sẵn. Đá, dẫu có rắn chắc bao nhiêu đi chăng nữa, qua thời gian năm tháng sẽ ṃn đi; nhưng nhờ nó mà có thể chứng minh cho những sự thật đă trải qua trong lịch sử. Điều quan trọng ở đây là tinh hoa của giáo lư ấy có khế hợp với tŕnh độ của chúng sanh không và chúng sanh có thừa hành để tiêu hóa giáo lư ấy không, mới là điều đáng nói. 

Những sắc dụ của nhà vua công bố, luôn luôn liên quan đến tinh thần từ bi và lợi tha dựa theo lời dạy của Đức Phật. Một trong những sắc dụ ấy bây giờ vẫn c̣n tàng trữ tại vườn Lộc Uyển, nơi Đức Phật thuyết pháp lần đầu tiên. Nội dung của sắc dụ đại ư nói rằng: Bất kể là ai, Tăng cũng như tục nếu vi phạn đến giáo lư của Đạo Phật sẽ bị trừng trị một cách xứng đáng. Đây có lẽ nhà vua muốn ngăn ngừa ngoại đạo lúc nào cũng manh tâm hại Phật. Đó không nói việc có ư hiềm khích với nhau. V́ Ba La Nại cũng là thánh địa của Ấn Độ Giáo, trong khi đó người Ấn Giáo tin rằng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni cũng là một trong những vị thần của họ mà thôi. 

Trong thời vua A Dục trị v́, một Đại Hội kết tập kinh điển lần thứ 3 đă được các bậc thánh Tăng tập trung lại để tuyên dương giáo pháp của Đức Phật dưới sự bảo hộ của nhà vua và triều đ́nh. Đức Phật nhập diệt năm 624 trước Thiên Chúa giáng sinh, cách đó 100 ngày có kỳ kết tập kinh điển lần thứ nhất, cách 100 năm sau có kỳ kết tập kinh điển lần thứ hai và cách 300 năm sau có kỳ kết tập kinh điển lần thứ 3. Mỗi lần kết tập như thế, các bậc thánh Tăng đều tuyên dương giáo lư của Đức Phật bằng miệng qua các bộ kinh, bộ luật và luận tạng. Đến thời kỳ nầy là thời kỳ triển khai của các hệ phái khác nhau như: Đại Thừa Giáo, Tiểu Thừa Giáo và Nguyên Thủy Phật Giáo. Có phái chủ trương sửa đổi tinh thần giới luật cho hợp với thời đại, có phái chủ trương giữ nguyên và có phái chủ trương phải đi sâu và đi xa hơn nữa để ḥa nhập vào tối thượng thừa. Chính trong thời kỳ nầy nhà vua đă cho con trai của ḿnh là Thái Tử Mahinda và con gái của ḿnh là Công Chúa Sanghamitta đến đảo Tích Lan, mang cây Bồ Đề và giáo lư của Đức Phật đến đó để truyền thừa. Ngoài ra vua A Dục cũng đă cho rất nhiều nhà Sư đi qua đến Trung Đông như Hy Lạp, Alexandria để truyền đạo. Kết quả cây Bồ Đề đă tồn tại và phát triển tại xứ Tích Lan cho đến ngày nay.

Theo lịch sử truyền thừa của Phật Giáo Tích Lan th́ năm 85 trước Thiên Chúa giáng sinh, Tam Tạng Thánh Điển bằng tiếng Pali đă được khắc lên mộc bản và đây là ngôn ngữ đầu tiên của Tam Tạng đă được thành h́nh. Như vậy kể từ khi Đức Phật nhập diệt, cho đến khi kinh điển có chữ viết là 539 năm, thời gian nầy cũng đă nói lên được tính chất đặc biệt của nó. V́ thời kỳ chánh pháp giáo lư của Đức Phật có 500 năm. Trong thời gian nầy, bất cứ ai hễ nghe đến, thực hành giáo lư của Đức Phật th́ đều được chứng quả cả. C̣n những thời gian sau nầy rất hiếm người liễu ngộ giáo lư cao siêu ấy, cho nên trong kỳ kết tập lần thứ 3 nầy chư Tăng một giáo đoàn và nhà vua đă hết sức hỗ trợ cho các đoàn truyền giáo, để cách đó hơn 150 năm sau kinh điển đă có chữ viết, để sau nầy mọi người căn cứ vào đó mà kết tập lần thứ 4, thứ 5 v.v...

Tinh thần Bắc Tông hướng về phương Bắc, đại diện khuynh hướng nầy có Ngài Vô Trước, Thế Thân, Long Thọ và Mă Minh vào đầu thế kỷ thứ nhất và tinh thần Nam Tông th́ đi về phía Nam để tạo ra hệ phái Nam Tông rơ rệt tại các xứ Đông Nam Á Châu sau nầy. 

Khi vua A Dục cho phép Đạo Phật phát triển một cách mạnh mẽ như vậy chắc chắn rằng các vị Bà La Môn và Ấn Độ Giáo cũng chẳng thích thú ǵ; nhưng v́ sợ uy quyền của nhà vua Phật Tử nầy nên họ đă chẳng dám hở môi. Những chống đối ấy ngấm ngầm cả hằng nhiều thế kỷ và cuối cùng vào những thế kỷ thứ 12, 13 khi Hồi Giáo vào xâm chiếm xứ nầy, họ đă trực hoặc gián tiếp muốn làm cho ảnh hưởng của Đạo Phật càng ngày càng đi vào bóng đêm của lịch sử. Lỗi ấy do ai? Ở đây có thể có nhiều cách trả lời để minh xác về sự thịnh suy của cuộc dâu bể ấy.

Thứ nhất về sự phát triển và suy thoái của Tăng Đoàn. Bản thể của Tăng Già có lúc lên rất cao, nhưng ngược lại có lúc chùn xuống rất thấp, chỉ v́ thiếu tinh thần nghiêm tŕ giới luật; nên Đạo Pháp tự rơi vào tŕnh trạng xuống cấp. Không ai có thể phá hoại Đạo Phật bằng chính những người con Phật tự hại giá trị cao cả của ḿnh. Nh́n lại thời Phật c̣n tại thế cũng vậy. 12 năm đầu là thời kỳ đẹp nhất, chư Tăng tu hành tinh tấn, ai ai cũng chứng được A La Hán; nhưng sau 12 năm đó, trong Tăng chúng rất hỗn tạp. V́ Giáo Đoàn của Đức Phật không phải chỉ thuần những người phát tâm xuất gia, mà c̣n những kẻ ngoại đạo vào tu, lợi dụng uy thế của Đạo Phật và của Đức Phật để có chốn nương nhờ. Đây là điều căn bản để thấy rằng Đạo Phật đă bị đi xuống. 

Lư do thứ hai cũng rất đơn giản dễ hiểu. Đó là ngoại đạo. Khi ngoại đạo thấy nội bộ của Phật Giáo bị lũng đoạn như thế th́ họ t́m cách chen vào để phá phách. V́ vậy sử sách có ghi rằng khi quân Hồi Giáo đến chiếm xứ Ấn Độ vào thế kỷ thứ 8, họ đă giết cả hằng ngàn Tăng sĩ và đập phá hết các chùa viện. Đặc biệt là Đại Học Na Lan Đà cũng bị thiêu hủy trong thời gian nầy. Đại Học nầy là một Đại Học Phật Giáo rất nổi tiếng, được thành lập từ đầu kỷ nguyên vào thế kỷ thứ 7, thứ 8 sau Thiên Chúa giáng sinh. Ngài Nghĩa Tịnh và Ngài Huyền Trang từ Trung Quốc đến, có ṭng học tại đây nhiều năm trời. Có nhiều người cho rằng bản chất của Đạo Phật là từ bi, không gây hận thù với ai và của một số đạo khác th́ họ không từ chối bạo lực; nên mới ra nông nổi ấy. Điều ấy có lẽ cũng đúng một phần nào; nhưng nói trên quan niệm của Đạo Phật về nhân duyên và nghiệp lực th́ đúng hơn. Phàm cái ǵ có sinh ra th́ phải có ở lại với đời, có sự thay đổi và cuối cùng phải đi về chỗ tan ră. Đạo Phật, hay ngay cả giáo lư của Đức Phật cũng không đi ra ngoài thông lệ ấy. Ngay cả vũ trụ nầy cũng phải bị biến thiên thay đổi, hà huống ǵ sự thịnh suy của một đời hay của một giáo lư nào đó. Người Phật Tử chấp nhận việc nầy dễ dàng hơn là chấp nhận việc mạnh được yếu thua.

Triều đại A Dục Đại Đế đă đi vào lịch sử và ngày nay không những tại Ấn Độ, mà khắp nơi trên thế giới đều nhớ đến ơn đức của vị vua nầy. Nếu không có những bậc quân vương hộ pháp như thế th́ khó giúp cho Phật Giáo được tuyên dương rộng răi như vậy. Phần khác, nhờ vào thời điểm đó có những bậc Đại Tăng ra giúp nước an dân, nên giáo lư của Đạo Phật đă đi vào ḷng người, khắp hang cùng ngỏ hẻm trong thiên hạ.

Cho đến Ngài Bồ Đề Đạt Ma, Tổ Thiền Tông thứ 28 của xứ Ấn Độ, cũng là Sơ Tổ về Thiền của Trung Hoa, cách xa thời Phật nhập diệt chừng 1.000 năm, Phật Giáo Ấn Độ vẫn c̣n giữ phong độ của nó, để tiếp tục thổi ngọn gió thiền nầy vào một quê hương mới, mà quê hương đó đă chấp nhận tinh thần nầy như một chất liệu dưỡng sinh trong cuộc sống tâm linh của họ cho đến ngày nay. Đó là Trung Quốc. 

Trước khi Phật Giáo được du nhập vào Trung Hoa, tại đây con người đă văn minh và có hai đạo lớn. Đó là Khổng Giáo và Lăo Giáo. Đức Khổng Tử xuất hiện cùng thời với Đức Phật. Có lẽ vậy nên triết lư của Phật Giáo cũng rất gần gũi với người Trung Hoa. Điều đặc biệt là giáo lư của Đạo Phật đi đến đâu, luôn luôn ḥa đồng vào văn hóa của xứ đó, không chống trái lại và cũng không v́ thế mạnh mà đi đàn áp các đạo khác, nhất là khi vua chúa triều đ́nh, quần thần, bá quan văn vơ một khi đă trở về với Đạo Phật. Lúc ấy Phật Giáo có đầy đủ các điều kiện để lấn áp các đạo khác; nhưng tuyệt nhiên không. Nh́n lại lịch sử xứ Ấn Độ, Trung Hoa, Nhật Bản và Việt Nam, tất cả đều như vậy.

Trước khi Ngài Bồ Đề Đạt Ma đến Trung Quốc vào thế kỷ thứ 6, đă có rất nhiều vị Đại Sư truyền đạo tại xứ nầy từ thế kỷ thứ nhất như Ngài An Thế Cao v.v... nhưng giai đoạn đầu nầy là giai đoạn chuyển tiếp, nên Phật Giáo c̣n giới hạn ở một phạm vi quần chúng nào đó, chưa đi vào đại bộ phận của nhân dân và triều đ́nh. Măi cho đến đời nhà Lương (thế kỷ thứ 6) và đời nhà Đường (thế kỷ thứ 7 và 8) là thời mà Phật Giáo thịnh hành nhất tại xứ nầy. 

Vua Lương Vơ Đế là một vị vua rất nhân từ, lấy tinh thần Phật Học áp dụng vào phép trị nước an dân, cho xây dựng nhiều chùa viện rất nguy nga. Tiếp Tăng độ chúng, tiếp đăi những người hiền, chiêu dụ họ ra làm quan để giúp vua giúp nước. Kinh Lương Hoàng Sám cũng do nhà vua sáng tác qua sự chỉ đạo của Ḥa Thượng Chí Công. Một vị Đại Sư đương thời rất được nhà vua cũng như trăm họ ngưỡng mộ. Hoàng Hậu Y Thị chết không siêu, nên đă báo mộng cho nhà vua và nhờ đó mà phép Sám Hối theo kinh Lương Hoàng Sám đă được ra đời. Nhà vua sám hối cho ḿnh, cho Hoàng Hậu và cho tất cả các loài chúng sanh khác trong lục đạo luân hồi. Mặc dầu Ngài Bồ Đề Đạt Ma quở vua Lương Vơ Đế là chỉ biết tu phước và chưa biết hướng về cái Đức để trị dân; nhưng cũng chính nhờ cái phước đó mà nhân dân trăm họ đều hưởng ơn vua; Trung Quốc dưới thời kỳ trị v́ của vua Lương Vơ Đế là một trong những thời kỳ thịnh hành nhất của Phật Giáo, có thể sánh với Asoka Đại Đế của Ấn Độ vậy. Đến nhà Đường có lẽ là thời kỳ cực thịnh nhất của Phật Giáo Trung Quốc. Trong thời kỳ nầy xuất hiện các bậc danh Tăng như Ngài Huyền Trang, mà lịch sử Phật Giáo Trung Quốc cũng như Phật Giáo thế giới không thể nào quên ơn được. Nếu không có Ngài Huyền Trang th́ tinh thần Phật Giáo Đại Thừa khó mà có cơ phát triển tại các xứ như Nhật Bản, Đại Hàn và Việt Nam. Đây là một nhân vật lịch sử của Phật Giáo đă dùng công tu luyện và suốt cả cuộc đời lo phiên dịch các kinh điển từ tiếng Sanscrit sang tiếng Trung Quốc, cho đến cuối đời, Ngài vẫn c̣n thể hiện được hạnh nguyện cao cả nầy mà rất hiếm các bậc đại sư có được.

Sở dĩ Ngài có được cái ưu việt đó, nhờ vào thế lực của vua Đường một phần, mà cũng nhờ vào nhân duyên khế hợp tinh thần Bồ Tát Đạo của Ngài đối với chư Tăng và Phật Tử đương thời. Những ǵ thuộc về tư tưởng của Phật Giáo, Ngài mang về từ xứ Ấn Độ đă bổ sung và làm cho giàu có thêm nền học thuật và tư tưởng của Trung Quốc lúc bây giờ. Người người đua nhau học Phật, Tăng cũng như tín đồ; nên nơi đâu cũng có đạo tràng xiển dương giáo pháp của Đạo Phật. Khi Phật Giáo đă đi vào quần chúng, thế lực của Phật Giáo lúc bây giờ rất mạnh; nhưng Phật Giáo vẫn để cho Lăo Giáo và Khổng Giáo phát triển song phương, nhằm duy tŕ những tập tục cổ truyền của dân tộc. Đến đời nhà Minh thế kỷ thứ 14, ảnh hưởng của Phật Giáo tại Trung Quốc vẫn c̣n tương đối mạnh; nhưng đến đời nhà Thanh thế kỷ thứ 19, 20, th́ Phật Giáo trở nên yếu thế v́ những lư do sau đây: 

Lư do thứ nhất cũng từ chính trong hàng ngũ Tăng chúng mà ra. Chư Tăng, nhân việc phát triển của Phật Giáo, lợi dụng cửa thiền để nương tựa hoặc thực hành những mục đích riêng tư, khiến cho đạo bị suy vi.

Lư do thứ hai là những Đạo sĩ lúc nào cũng mê hoặc vua tôi bằng bùa phép và gièm pha những người phá trai phạm giới, khiến cho quần chúng và nhất là giới quan lại chán ghét Phật Giáo. Đây cũng là một trong những nguyên nhân chính, đẩy lùi Phật Giáo vào trong bóng tối.

Lư do thứ ba không kém phần quan trọng là sự thể hiện ḷng tin của quần chúng vào ba ngôi Tam Bảo. Khi Phật Giáo bị suy đồi như thế, nhiều nhà Sư lợi dụng cơ hội nầy để mê hoặc tín đồ như bói toán, xem ngày tốt xấu, đoán xăm, bàn mộng, cầu đảo v.v... để Phật Giáo trở thành một đạo ủy mỵ, ru ngủ con người. Trong các thời nầy thấy xuất hiện rất ít nhà Sư có danh phận lớn như Ngài Huyền Trang ở đời Đường nên Phật Giáo rất khó có cơ hội để phát triển. 

 Chùa chiền vẫn c̣n đó; nhưng chỉ là đồ trang sức cho một thời đă qua. Giáo lư giải thoát của Đạo Phật rất ít người ứng dụng đến. Quần chúng rất đơn giản; nhưng cũng rất phức tạp. V́ tất cả từ đây mà ra. Cái ǵ mà nhân dân chấp nhận, th́ cái ấy tồn tại lâu dài. Cái ǵ mà nhân dân chối từ, cái ấy e rất khó tồn tại. Nhân dân, quần chúng cũng như khách hàng, c̣n giáo pháp, giống như một món hàng. Nếu hợp với nhăn quan th́ họ mua sắm để dùng; nếu không, họ lặng lẽ lánh xa. Lúc đó người bán hàng hay những vị lănh đạo tôn giáo bắt buộc phải xem lại món hàng của ḿnh tại sao bây giờ lại bị ế ẩm. Chỉ có những người ham rẻ mới mua hàng ế. C̣n những người có tầm hiểu biết thấy xa, nh́n rộng th́ xa lánh món hàng kém chất lượng nầy. Đây là một định luật mà các nhà làm tôn giáo, chính trị, văn hóa, xă hội, thương mại v.v... đều phải lưu tâm đến. Thông thường người bán hàng chỉ muốn bán những điều ḿnh đem rao; nhưng lại quên rằng phải bán những điều ǵ người khác cần mua mới đúng. Bởi vậy giáo lư của Đạo Phật phải khế hợp với căn cơ, tŕnh độ và hoàn cảnh của con người trong từng thời đại th́ giáo lư ấy mới mong có cơ hội đứng vững trong cuộc đời.

Như vậy con người muốn ǵ trong Đạo Phật? Đơn giản lắm. Người Phật Tử đi chùa muốn cho tâm ḿnh được an, phước ḿnh được hưởng và xa hơn nữa, quả vị giải thoát cũng muốn cận kề. Ở nhà tâm đă không an; nhưng vào chùa c̣n bất an hơn th́ người Phật Tử phải suy nghĩ lại về cuộc sống của Tăng sĩ nơi đó, họ có hành tŕ giới luật không? họ có tu học tinh tấn không? Người Phật Tử biết rằng bố thí th́ sẽ được phước đức. Nhưng sự bố thí ấy phải mang một ư nghĩa có sẵn trí tuệ chứ không phải chỉ từ bi. V́ lẽ, người Phật Tử tại gia vẫn c̣n cái phân biệt nhị nguyên giữa người bố thí và kẻ được bố thí. Chỉ trừ người nào ứng dụng phương pháp y pháp bất y nhơn. Nghĩa là nương vào giáo pháp của Đức Phật để tu, chứ không y cứ vào con người, th́ những loại người nầy rất quư và rất hiếm. T́m được những loại người nầy không phải dễ. Ngoài ra việc tu học giải thoát cũng có một số người t́m cầu. Nếu chư Tăng và chùa viện không giải quyết cho họ được những nhu cầu nầy th́ Đạo Phật trở nên tiêu cực. Sự tiêu cực ấy căn bản là đến từ người lănh đạo. 

Đến đầu thế kỷ thứ 20, năm 1923 trở đi, tại Trung Quốc có Ngài Thái Hư Đại Sư là một bậc Pháp sư đạo cao đức trọng đă đứng ra vận động chấn hưng Phật Giáo dựa trên 3 điểm là: giáo quyền, giáo chế và giáo sản. Đây có thể cũng là điều mà Ngài đă ảnh hưởng chủ trương của Tôn Dật Tiên về Tam Dân Chủ Nghĩa chăng? Đó là: Dân sinh, dân tộc và dân quyền.

Giáo quyền ở đây có thể hiểu là Giáo Hội. Giáo Hội gồm có Tăng Ni và tín đồ, cần phải cách mạng lại. V́ lâu nay những ǵ Giáo Hội làm đă không được quần chúng hưởng ứng; nên bây giờ cần phải cách mạng lại.

 Giáo Chế ở đây được hiểu là chế độ tu học của giới xuất gia cũng như tại gia phải được sửa đổi lại. Có lẽ chư Tăng đă xa rời đời sống Tăng Sĩ của ḿnh và Phật Tử bị dẫn vào mê lộ, nên mới cần sửa đổi như vậy.

 Giáo sản ở đây có nghĩa là tài sản của Giáo Hội. Tại Trung Quốc có rất nhiều chùa tư, thuộc về tư nhân, không liên hệ với đoàn thể Tăng Già; nên Ngài Thái Hư đă đề nghị như vậy cho việc hoằng pháp có ảnh hưởng hỗ tương cho nhau và tài sản phải được đưa về một mối th́ mới mong kỷ cương của Giáo Hội được duy tŕ.

Trên đây là những điều thao thức của Ngài Thái Hư Đại Sư cho tiền đồ của Phật Giáo Trung Quốc; nhưng cũng chỉ sửa đổi cho đến năm 1949 mà thôi. Lúc bấy giờ Trung Quốc đă bị chính quyền Đảng Cộng Sản cai trị. Họ đă triệt để triệt tiêu Phật Giáo để Đảng Cộng Sản được tồn tại. Đây là một thảm họa của nhân loại từ Á sang Âu của đầu thế kỷ nầy. Gần một thế kỷ người Cộng Sản đă tồn tại và gần một thế kỷ họ chỉ gieo rắc hận thù, tang thương và đổ nát đến muôn nơi. Lịch sử cận đại đă nói lên điều đó, thiết tưởng thời gian và năm tháng c̣n lại sẽ trả lời cho sự hiện hữu hay ra đi của họ tại Trung Quốc cũng như nhiều nơi trên quả địa cầu nầy. 

 

Sau đây là sự phát triển của Phật Giáo tại Nhật Bản. 

Nhật Bản trong hiện tại thế giới phải nghiêng ḿnh. Lư do đơn giản là người Nhật đă tự chiến đấu để ra khỏi nghèo đói, nhất là sau thời đệ nhị thế chiến họ đă thua trận. Có nhiều người bảo rằng: Sở dĩ người Nhật được như ngày hôm nay là nhờ tinh thần tự quyết của dân tộc, tự tồn của dân sinh; nhưng cũng có nhiều người bảo rằng: Người Nhật đă nhờ chiếc nôi văn hóa của Phật Giáo bảo bọc. Có lẽ cả hai lư luận ấy đều đúng. Nếu chỉ đứng về một phương diện để nh́n một cách phiến diện th́ không c̣n là người Nhật và nước Nhật ngày hôm nay nữa. 

Kỹ nghệ hóa từ thời vua Minh Trị Duy Tân (Meiji Ishin) 1868 đến nay gần 150 năm, nước Nhật ngày nay đă qua mặt Mỹ Châu và Âu Châu về vấn đề kỹ thuật và hiện là một người anh cả xứng đáng của Á Châu. Người Nhật biết giữ cái cũ và chấp nhận cái mới một cách dễ dàng. Họ học hỏi văn minh Âu Mỹ, nhưng gạn lọc lại để ḥa đồng với văn minh của họ. Họ cũng chế tạo xe hơi, học hỏi từ kỹ thuật của Tây Phương vào thế kỷ thứ 19; nhưng thế kỷ 20 nầy là xe hơi của Nhật. Phật Giáo ngày nay tại Nhật có chừng 70 Đại Học và vô số trường Trung Học, Tiểu Học, Ấu Trỉ Viên, Cô Nhi Viện, trại dưỡng lăo, khách sạn, trung tâm thương mại v.v... Có nhiều người thích Nhật nhưng cũng có lắm người không. Không phải v́ vấn đề ganh tị cá nhân hay sự phát triển, mà sự khác biệt về địa lư cũng như phong tục tập quán. Ngôn ngữ dẫu khó đến đâu đi chăng nữa, người ta có thể học hỏi và làm quen được; nhưng phong tục tập quán th́ mỗi dân tộc đều tự hào về ḿnh và họ cố bám giữ lấy. Nếu đánh rơi mất phần nầy, xem như bị đồng hóa, có lẽ v́ thế mà người Nhật cũng có một thế đứng riêng của họ cũng nên. Họ là một dân tộc thuộc đảo quốc; nên cũng dễ thâu nhận vào mà khó chi phát ra, v́ vấn đề địa lư, nhân chủng của quốc gia nầy. Ví dụ như, khi thế giới thấy những trận động đất kinh hồn tại Kobe ở Nhật Bản năm 1995 vừa qua, ai cũng nghĩ là không ai dám đến định cư vùng nầy nữa; nhưng điều ấy đă lầm.. Ngày nay những ngôi nhà hiện đại vẫn được mọc lên nơi đó. Họ phải chấp nhận để sống c̣n, v́ họ là người Nhật. Chỉ đơn giản vậy thôi. Có ai trong chúng ta có thể nghĩ rằng một thước vuông đất tại Shinjuku mua để cất nhà từ 100.000 đến 200.000 US$. C̣n muốn rẻ hơn, vào trong núi t́m, ít nhất cũng 3.000 US$ một thước vuông và nơi động đất tại Kobe vừa rồi, giá cũng không dưới vài chục ngàn US$ một thước vuông. Đúng là: tấc đất tấc vàng. Người Nhật cũng có thể đi ra ngoại quốc để lập nghiệp; nhưng rồi họ cũng trở về cố hương, v́ họ không thể bỏ quê cha đất tổ của họ. Điều nầy cũng giống như người Trung Quốc, mặc dầu mấy đời con cháu của họ được sinh trưởng ra ở ngoại quốc; nhưng họ không bao giờ để cho con cái họ quên tiếng mẹ đẻ của họ và bao giờ cũng hướng về Trung Quốc là nơi cố quốc của nhiều người và nhiều đời. Người Nhật Bản cũng là một trong các dân tộc Á Châu nên cũng cùng quan điểm ấy. 

Khi xă hội phát triển th́ các tệ nạn khác của xă hội cũng phát triển theo; nên đă làm hoen ố đi phần nào văn minh của xứ Nhật nói riêng, cũng như nói chung khắp nơi trên thế giới; nhưng cái thiện bao giờ cũng phải thắng cái ác. Lúc bây giờ th́ sự thật lại hiển bày. Cũng như thế ấy, suốt hai ba ngh́n năm qua, các tôn giáo chơn chánh vẫn c̣n tồn tại cho đến ngày hôm nay, c̣n các chủ nghĩa, thay đổi không biết bao nhiêu là chính quyền. Các thế lực chính trị thay đổi từ lúc đời sống kinh tế tập thể sơ khai, đến thời kỳ đồ đồng, đồ đá; rồi đến các chế độ quân chủ độc tài, đến cộng sản, dân chủ pháp trị v.v... rồi đây c̣n thể chế nào xuất hiện nữa th́ không ai biết được; nhưng thế giới luôn đổi thay, v́ tánh bất ổn của nó. Tự thể của chính trị là một sự thay đổi; nên không thể so sánh với sự phát triển của tôn giáo được. Tôn giáo quư trọng ở lănh vực tinh thần, bảo gọc giữ ǵn những cái ǵ cũ kỹ. Trong khi đó khoa học và chính trị th́ ngược lại, cái ǵ càng mới càng được ưa chuộng. Nếu hai điều nầy bổ sung được cho nhau th́ thế giới có thể phát triển gần giống như một mô h́nh của nước Nhật trong hiện tại. Trên đây chỉ là một ư niệm nhỏ về sự phát triển của nước Nhật ngày nay. Bây giờ chúng ta thử đi sâu vào cội nguồn căn rễ của xứ nầy từ những ngày đầu tiên khi Đạo Phật mới đến đây, xem thử Phật Giáo đă đóng góp như thế nào cho xứ nầy? 

Nhật Bản ngày xưa cũng ảnh hưởng văn hóa của Trung Hoa như Việt Nam và Đại Hàn đă ảnh hưởng. V́ vậy Phật Giáo đến xứ nầy bằng chính người Trung Hoa buôn bán bằng thương thuyền với Nhật Bản; nhưng cũng có sử liệu cho rằng: Phật Giáo đến nước Nhật qua ngơ Đại Hàn. Nhưng giữa thế kỷ thứ 5, thứ 6, Đại Hàn cũng giống như Việt Nam, đều dùng chữ Hán để giao dịch hằng ngày; nên có thể nói rằng Phật Giáo Đại Hàn cũng đă ảnh hưởng rất sâu đậm của nền văn hóa Trung Quốc. Ngoài ra cũng có một số quư vị Tăng sĩ Nhật Bản qua thẳng Trung Quốc để học đạo, sau đó mang giáo lư nầy về truyền bá lại cho nước Nhật, trong đó có Ngài Dogen là một trong những Thiền Sư thuộc Tào Động Tông lúc bấy giờ. Đạo Phật đến nước Nhật cũng như Đạo Phật đến Trung Quốc thuở xưa. V́ lẽ văn hóa của Phật Giáo ḥa nhập vào văn hóa của dân tộc nên người Nhật cũng đă chấp nhận Phật Giáo một cách dễ dàng.

Các vị Thiền sư Nhật Bản qua Trung Quốc học Thiền và Tịnh Độ cũng như Mật Giáo. Đây là 3 môn phái chính của Phật Giáo Đại Thừa. Ngoài ra Hoa Nghiêm Tông, Pháp Tướng Tông, Thành Thật Tông v.v... cả 10 Tông phái của Trung Hoa đương thời cũng đă được truyền sang Nhật Bản. Ngoài những giáo lư căn bản nầy học được, các vị Thiền sư Nhật c̣n học vơ đạo, kiếm đạo, thơ đạo, trà đạo và nhất là nghệ thuật biến chế suối nước nóng thiên nhiên để chữa bịnh cho dân chúng cũng rất thành công thuở bấy giờ và ngay cả bây giờ. Trung Hoa cũng có trà đạo, thơ đạo và vơ đạo; nhưng những loại nầy khi du nhập vào Nhật Bản nó đă biến thành của người Nhật, chứ không c̣n của Trung Hoa nữa. Đây là cách hấp thụ tài t́nh của người Nhật, để không trở thành kẻ lai căn, mất gốc và nhất là đánh mất đi nền văn hóa cá biệt của ḿnh. Đây là sự thành công rất lớn của Phật Giáo cũng như dân tộc Nhật Bản mà trên thế giới ít có dân tộc nào làm được. 

Những ngày tháng phôi thai của Phật Giáo mới truyền vào đă được quần chúng hấp thụ một cách nhanh chóng trong thế kỷ thứ 6, để chỉ cần một thế kỷ sau, ảnh hưởng của Đạo Phật đă lan rộng vào chốn cung đ́nh. Trên từ vua quan, hoàng hậu, thứ phi, dưới đến bàn dân thiên hạ. Tất cả đều quy ngưỡng về Phật Giáo. Đó là thời Thánh Đức Thái Tử (Sotoku Taishi) trị v́ vào thế kỷ thứ 7 tại Nhật Bản. Vị vua nầy đă áp dụng ngũ giới của nhà Phật vào hiến pháp để trị dân, giống như vua A Dục đă làm tại Ấn Độ cách đó 1.000 năm về trước. Mỗi ngày nhà vua quay về hướng đông lạy 7 lạy để tôn kính 7 vị Phật trong quá khứ, trước khi lâm triều. Thời nầy các vị Tăng sĩ cũng được mời tham dự các công việc quốc sự. V́ lẽ thuở bấy giờ, trong dân chúng Tăng sĩ là từng lớp được trọng vọng nhiều nhất sau các bậc quan quyền. Không phải v́ họ có địa vị, chức tước, phẩm quyền, mà v́ họ có học. Tam Tạng kinh điển bằng chữ Hán, nếu học cho hết được, đây cũng là một đại tác phẩm văn hóa cho cuộc sống tâm linh, mà các vị Sư Tăng là những người tiêu biểu. Vả lại cuộc sống thanh bần của các Ngài cũng đă làm cho nhân dân cũng như triều đ́nh khâm phục; nên nhờ thế mà Phật Giáo có một chân đứng rất vững chải trong cuộc sống tâm linh của mọi người. Các Ngài tuy có quyền uy trong chính quyền với tư cách là cố vấn cho nhà vua; nhưng các Ngài không tham danh vọng; tính thoát tục đó, đă là một bài học cao quư và đáng tin tưởng cho mọi người rồi.

Đạo Phật phát triển mạnh nhất có thể nói là thời của Thánh Đức Thái Tử trị v́ và ngày nay nếu có ai đó đến Nhật Bản, t́m đến Nara, nơi cố cung nầy vẫn c̣n những ngôi chùa như Horyuji vẫn c̣n ghi đậm nét văn hóa của thời Thánh Đức Thái Tử. Hơn 1.000 năm đă trôi qua trong lịch sử; nhưng chắc chắn rằng nhiều ngàn năm khác trong tương lai dân tộc Nhật Bản cũng không bao giờ quên công lao của các bậc quân vương, của các bậc quốc sư đă mang đạo vào xă hội Nhật và đó là nền tảng của xă hội Nhật Bản ngày nay. Chùa Todaiji tại Nara cũng c̣n sừng sững với gió sương, mặc dầu cũng đă trải qua nhiều năm tháng. Đây là kiến trúc, là nghệ thuật tiêu biểu thời vàng son của Phật Giáo dưới thời Thánh Đức Thái Tử trị v́. 

Đến thế kỷ thứ 10, 11 và 12 Phật Giáo phát triển mạnh hơn và trong lúc nầy các vị Tổ Sư của Nhật Bản đă xuất hiện để minh thị giải bày giáo lư của Đạo Phật hoàn toàn theo nhăn quan của Phật Giáo Nhật Bản. Đó là Ngài Shinran Shonin của Tịnh Độ Chơn Tông và Ngài Nichiren Shonin của Pháp Hoa Tông. Sau đây chúng ta sẽ đi vào từng chi tiết một của 2 tông phái nầy. 

Ngài Shinran Shonin chủ trương và cũng là giáo tổ của Tịnh Độ Chơn Tông tại Nhật Bản; Tông nầy được thành lập từ thế kỷ thứ 13 tại Nhật. Đây cũng là một Tông phái mạnh nhất và có số tín đồ đông nhất tại đảo quốc 99% theo Phật Giáo nầy. Đức Phật Thích Ca lúc c̣n tại thế đă giới thiệu cảnh giới cực lạc của Đức Phật A Di Đà cho Hoàng Hậu Vi Đề Hy khi bà c̣n ở trong ngục thất, do A Xà Thế, con ḿnh ám hại. Ngoài ra tại Kỳ Viên Tịnh Xá ở nước Xá Vệ, Đức Phật cũng đă nói kinh A Di Đà nầy, diễn tả về thế giới cực lạc để chúng sanh khi lâm chung, phát nguyện văng sanh về đó để gặp Đức A Di Đà và hai vị đệ tử hầu cận của Ngài là Đức Quán Thế Âm và Đại Thế Chí Bồ Tát. Xuất xứ từ Ấn Độ rồi được truyền qua Trung Hoa, từ Trung Hoa truyền qua Nhật Bản. Kể từ thời Đức Phật đến thời Tông nầy được thịnh hành ở Nhật Bản là 1.800 năm. Sau 1.800 năm giáo lư Đại Thừa Tịnh Độ Tông đối với Nhật Bản hay nói đúng hơn là người Nhật, là của riêng xứ sở ḿnh, chứ không phải từ chỗ khác đến. Ngày nay vào chùa Nhật, họ chỉ thờ Tổ, có rất ít chùa thờ Phật Thích Ca hay ngay cả Đức Phật A Di Đà là giáo chủ của cơi Tây Phương cực lạc nhưng họ thờ cũng khiêm nhường hơn là vị giáo tổ của họ. Điều này đă nói lên tinh thần quốc gia của xứ Nhật. Đây là một điều hay; nhưng ngược lại cũng là một điều dở. V́ khi dạy cho tín đồ, chư Tăng không giải thích hết cội nguồn, từ đâu mà Đạo Phật đến được Nhật và do đâu mà Đạo Phật được tồn tại đến ngày hôm nay. Phật Giáo Nhật Bản chủ trương tức thân thành Phật. Nghĩa là sau khi chết, sẽ thành Phật, cho nên có rất nhiều tín đồ tin rằng không có đời sau. V́ ai cũng thành Phật cả. Đây có thể cũng là một chủ trương rất táo bạo của Phật Giáo Nhật Bản mà ít có quốc gia Phật Giáo nào có thể làm. Dĩ nhiên theo lời dạy của Đức Phật Thích Ca, tất cả chúng sanh đều có tánh Phật, với Phật tánh nầy tu hành sẽ thành Phật. Khi nào thành Phật lệ thuộc vào người hành đạo. Lâu hay mau không hạn định, không phải chỉ giới hạn trong một đời người. Ngay Đức Phật ngày xưa, Ngài đă bao nhiêu kiếp làm thú dữ, chim muông, hùm beo, sư tử, để rồi đầu thai thành người tu hành tinh tấn mới thành Phật được trong kiếp nầy. C̣n tất cả chúng ta, chúng sanh trong cơi dục giới nầy, mặc dầu làm được thân người đă là quư hóa lắm rồi; nhưng nếu không tu hành chơn chánh vẫn bị đọa lạc trầm luân như thường, không phải ai cũng có thể thành Phật được. 

Giáo lư của Đức Phật A Di Đà nương vào tha lực; nhưng tự lực nếu không thực hiện th́ nghiệp chướng vẫn c̣n đó, không ai có thể làm cho ḿnh tiêu cái nghiệp của ḿnh ngoại trừ ḿnh ra. Mỗi chúng sanh đều có tội lỗi. Tội nầy ví như một hạt cát nhỏ. Dù nhỏ đến đâu nhưng bỏ vào trong nước cũng ch́m. Một tội khác to lớn hơn, giống như tảng đá, nếu có ghe thuyền chở th́ đá kia vẫn nổi. Thuyền ở đây dụ cho tha lực của chư Phật. Với tha lực ấy có thể làm cho chúng ta được về cực lạc; nhưng phải hiểu rằng khi về đó, hạt cát vẫn là hạt cát, tảng đá vẫn là tảng đá, chứ tảng đá không biến thành hạt cát và hạt cát cũng không thể tự tiêu hủy được, nếu ḿnh không tự tu hành. Về được thế giới cực lạc không phải là ai cũng có khả năng thành Phật. Phải tu hành và chờ đến nhiều kiếp mới sanh lên được thượng phẩm thượng sanh, mới đến điểm cuối cùng của Bồ Tát đệ thập địa. C̣n vô số năm tháng ngày giờ người ta mới có thể thành được đạo quả vô thượng ấy. So ra chủ trương ấy của Đạo Phật Nhật Bản chỉ có thể khẳng định được một điều là con người có khả năng thành Phật và khi đă về thế giới cực lạc rồi th́ không c̣n bị luân hồi sanh tử nữa. Điều ấy đúng hơn là sẽ thành Phật liền sau khi chết đi.

Đó là Tịnh Độ Chơn Tông, c̣n Nhật Liên Tông họ chủ trương như sau:

Nhật Liên Tông lấy kinh Pháp Hoa làm chủ yếu của Tông phái nầy do Ngài Nichiren Shonin khai sáng ra; nhưng đặc biệt phẩm Phương Tiện thứ 2 và phẩm Như Lai Vô Lượng Thọ thứ 16 hầu như được tŕ tụng hằng ngày và triển khai trong mọi vấn đề thuộc phạm vi giáo lư trong hai phẩm nầy. 

Ngài Nhật Liên thành lập Tông nầy vào giữa thế kỷ thứ 13. Ngài chủ trương rằng: Đức Thích Ca Mâu Ni là Phật đă đi vào quá khứ, hiện tại phải có Phật ra đời để giáo hóa chúng sanh như trong tinh thần của phẩm Như Lai Vô Lượng Thọ có nói. V́ vậy sau khi Ngài Nhật Liên tịch diệt, các tín đồ Phật Giáo theo Tông nầy tại Nhật đă tôn xưng Ngài gần như là một vị Phật tái thế ở kiếp nầy. Thế kỷ thứ 13 là thế kỷ mà Mông Cổ quấy phá khắp Á Châu và qua đến tận Âu Châu, đâu đâu cũng ngại giặc Mông Cổ xâm lăng. Lúc bấy giờ Ngài Nhật Liên có làm một công hàm để gởi lên triều đ́nh gọi là: "Lập chánh an quốc luận" Đây là một bài tấu nói về cách an dân trị nước và chống ngoại xâm. Triều đ́nh lúc bấy giờ không tin lời dự ước của Ngài là quân Mông Cổ sẽ tấn công sang đến Nhật; nên đă đày Ngài lên nhốt tại đảo Sado. Sau đó quả nhiên quân Mông Cổ đến và chiếm xứ Nhật, giống như những ǵ Ngài đă dự đoán; nên sau đó triều đ́nh lại tha cho Ngài về và lúc bấy giờ dân chúng ca ngợi Ngài như là một bậc Thánh nhân và ngày nay tại Tokyo, khu Shinagawa gần nhà ga Gotanda có một Đại Học Phật Giáo của Nhật Liên Tông đă thành lập hơn 100 năm nay cũng mang tên là Risso (Lập Chánh). Lập Chánh cũng có nghĩa là tự lập chính sách của ḿnh trong cách an dân trị nước mà cũng có nghĩa là thành lập Tông phái chánh tông để giúp dân giúp nước vậy. Đây là một nhà tư tưởng không nhỏ của Phật Giáo Nhật Bản; nên cuộc đời của Ngài cũng đă dệt nên những huyền thoại rất nhiều. Ví dụ như khi được triều đ́nh tha bổng từ Sado trở về đất liền Ngài đă dùng thần thông đi trên mặt nước không cần thuyền bè. Khi bị đi đày th́ sóng to gió lớn; nhưng nhờ thần lực của Ngài nên sóng yên biển lặng.

Ngày nay Tông nầy chia ra làn 3 phái chính. Đó là: Nichiren Shonin (Nhật Liên Chánh Tông), Risso Koseikai (Lập Chánh Giảo thành hội) và Sokagakkai (Sáng Giá học hội). Nhật Liên Chánh Tông th́ duy tŕ những chùa viện cũ từ thế kỷ thứ 13 đến nay và cách đào tạo Tăng sĩ có tính cách cổ truyền. Ví dụ, những ai muốn làm trụ tŕ một ngôi chùa của Tông nầy th́ trong suốt cuộc đời tu sĩ ấy phải đi tu 3 tháng khổ hạnh gọi là Aragyo, mỗi ngày vào mùa Đông tắm nước lạnh nhiều lần, để râu tóc không cạo và ăn cháo đạm bạc. Những ai không kham nổi đời sống nầy, rất khó được tín đồ tin cậy. 

Risso Koseikai cũng là một phái từ Nhật Liên Chánh Tông mà ra. Phái nầy do Ngài Nichidatsu (Nhựt Đạt) đề xướng vào đầu thế kỷ thứ 20 nầy. Phái nầy chủ trương ḥa b́nh của thế giới phải tôn trọng, không được dùng bom nguyên tử và chất hóa học để giết hại lẫn nhau; có ít nhiều màu sắc chính trị chủ ḥa. 

Phái Soka Gakkai (Sáng Giá học hội) được thành lập bởi một Cư sĩ Phật Giáo tên là Ikeda, vào sau đệ nhị thế chiến. Phái nầy chủ trương mang đạo vào đời và phải thực tiễn giúp đỡ mọi người trong hai lănh vực vật chất cũng như tinh thần. Các tín đồ của giáo phái nầy tự giúp đỡ với nhau về công ăn việc làm và học hỏi giáo lư với nhau. Họ có tài sản rất lớn như Đại Học riêng, Tổ đ́nh riêng và có một đảng phái có chân trong Quốc Hội lấy tên là Komeito (Công Minh Đảng). Đảng nầy chính thức lấy giáo lư của kinh Pháp Hoa làm trọng tâm để hoạt động. Vị trí của các Tăng sĩ trong phái nầy chỉ có tính cách lễ nghi, các việc hành chánh và truyền bá giáo lư của phái nầy tất cả đều do các Cư sĩ nhiệt tâm lănh trách nhiệm. Kể ra cũng đáng tán thưởng cho việc hiện đại hóa Phật Giáo của giáo phái nầy; nhưng nhiều khi v́ tiền bạc và thế lực có sẵn, người ta dễ đi vào chỗ hối mại quyền hành, t́m cách che giấu thủ đoạn chính trị v.v... mà điều nầy ngay từ lúc ban đầu Đức Phật đă chối từ để xuất gia tu hạnh giải thoát. Vua Minh Trị (Meiji) là một vị vua rất được dân chúng Nhật Bản tôn sùng. Ông ta trị v́ cuối thế kỷ thứ 19. Năm 1868 có cuộc canh tân, mọi guồng máy tổ chức trong chính quyền theo chế độ quân chủ lúc bấy giờ và lấy mẫu mực của văn hóa, kỹ thuật Tây Phương để áp dụng vào nước Nhật cho đến ngày nay. Ông là thân phụ của vua Taisho (Đại Chánh). Theo sách sử nói ông vua Đại Chánh có bệnh tâm thần, có lẽ đó là một cái bệnh chung của các ḍng họ vua chúa trên thế giới qua tính di truyền. Hoàng tộc họ lấy nhau và v́ máu huyết không hợp nhau; nên sanh ra chứng bịnh ấy gọi là: bịnh Hoàng Tộc. Nhưng trong đời của ông đă triệu tập được những bậc danh Tăng để nhuận sắc lại trọn bộ Tam Tạng kinh điển bằng chữ Hán 100 quyển và sau nầy có sửa đổi ít nhiều nên gọi là Đại Chánh Đại Tạng Kinh và Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh.

Đến thời con vua Đại Chánh là vua Showa (Chiêu Ḥa). Vị vua nầy đă trải qua một giai đoạn lịch sử sôi động nhất của nước Nhật trong 2 kỳ đệ nhất và đệ nhị thế chiến. Nhật đă thua trận với Mỹ về 2 quả bom ở Hiroshima và Nagasaki; nhưng ngược lại nhờ sự thua trận đó mà người Nhật đă cố gắng để vươn lên, mà ngày nay thế giới phải cúi đầu khâm phục về sự phát triển kỹ nghệ trong thế kỷ thứ 20 nầy. Vua Chiêu Ḥa đă băng hà, con ông là Thái Tử lấy niên hiệu B́nh Thành (Hirasei) lên kế vị trong một đời sống ổn định về kinh tế cũng như ngoại giao và vị trí chính trị trên thế giới ngày nay ít có nước nào có khả năng làm được. Bốn đời vua của Nhật đă trải qua gần 150 năm, nước Nhật vẫn tiến bộ, mặc dầu các ông vua nầy không phải là Phật Tử, v́ họ có Thần Đạo của họ giống như Anh Giáo của Hoàng tộc xứ Anh; nhưng không thể nói họ là những người Thiên Chúa được. Thiên Chúa mặc dầu đến Nhật ngày nay đă hơn 400 năm nhưng chỉ có một phần trăm dân chúng ngưỡng mộ, c̣n 99% kia là Phật Giáo và Thần Đạo. Thần Đạo xét cho cùng cũng giống như Khổng Giáo tại Trung Hoa, do đó Đạo Phật rất dễ ḥa đồng với các tôn giáo cổ truyền nầy. 

Cuộc cách mạng của vua Minh Trị đă làm cho Phật Giáo cũng bị ảnh hưởng lây. Do đó Sư Săi, chùa viện cũng phải thay đổi. Có lẽ lúc đó chế độ cúng dường không c̣n được thừa nhận nữa; nên chư Tăng phải tự lực cánh sinh làm việc và từ đó đă sinh ra thế tục hóa cửa Thiền. Người Tăng sĩ lấy vợ, lập gia đ́nh và sinh con đẻ cái. Đây không phải là một điều xấu so với xă hội Nhật Bản; nhưng là một điều rất mới lạ so với cái nh́n của các xứ Phật Giáo trên thế giới ngày nay. Chẳng biết đây là một điều hay hoặc là điều dở; nhưng đó cũng là một điều thay đổi trong nội bộ Phật Giáo qua sự tiến bộ của xă hội loài người. V́ vậy Phật Giáo phải thích hợp với trào lưu tiến hóa của nhân loại chăng? Các nước Nam phương Phật Giáo đa số vẫn c̣n trong đời sống nông nghiệp, cuộc sống của nông dân và Tăng sĩ tương đối nhàn hạ hơn; nhưng nếu một mai đây hay ngay cả Thái Lan trong hiện tại, kỹ nghệ phát triển như Nhật, ḷng người chạy theo vật chất, không biết rằng họ có đủ th́ giờ để đi chùa lễ Phật, nghe thuyết pháp như trong hiện tại không? hay cũng chỉ đợi đến già, đến chết mới vào chùa và lúc ấy tôn giáo chỉ c̣n là một h́nh thức bán mua để linh hồn được thanh thản vơi non bồng nước nhược? 

Đạo Phật khi c̣n thịnh hành tại bất cứ xứ nào, chính giáo lư ấy đă đóng góp cho học thuật, văn hóa, ngôn ngữ một cách đa dạng và làm thăng hoa cuộc sống tâm linh của con người. Nhưng khi Đạo Phật bị tàn suy, v́ lư do bên trong hay ngay cả bên ngoài, Phật Giáo chỉ c̣n là một tôn giáo để cầu đảo. Mặc dầu Đức Phật không phải là một vị thần; nhưng nhiều người đă lầm Ngài là một vị thần có đầy đủ quyền uy để ban ơn giáng họa trong việc cầu đảo. Các vị Sư Tăng trong giai đoạn Đạo Pháp suy vi nầy cũng chỉ là những người môi giới để tiêu thụ số giáo điều vốn dĩ một thời thịnh hành ấy thành một phương tiện thiện xảo trong cuộc sống hằng ngày của ḿnh.

Đó có lẽ là một định luật thịnh suy trong cuộc đời, chúng ta phải chấp nhận. Cây có lúc non lúc già, người có lúc đau lúc mạnh, trời đất có Xuân, Hạ, Thu, Đông, th́ giáo pháp của Đức Phật cũng phải trải qua các thời kỳ sanh, trụ, dị, diệt mà thôi.

 Sau khi khảo sát về Phật Giáo đối với dân tộc Nhật Bản, giờ đây chúng ta t́m hiểu sang nước bên cạnh. Đó là Đại Hàn.

Sau đệ nhị thế chiến (1939-1945), Đại Hàn cũng bị chia đôi như Việt Nam (1954-1975). Miền Nam Đại Hàn theo chế độ dân chủ. Miền Bắc Đại Hàn theo chế độ cộng sản. Cả hai miền trước thế chiến vẫn chỉ là một như Việt Nam thuở nào. Ngày xưa Đại Hàn cũng ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa rất mạnh; nên tất cả các học thuật, tư tưởng, giáo dục v.v... và nhất là tôn giáo đă chi phối xứ nầy và ngay ngày hôm nay văn tự của Đại Hàn và Nhật Bản dùng đến 50% tiếng Trung Hoa. Chỉ có Việt Nam là được thoát xác, kể từ khi chữ quốc ngữ được thịnh hành vào đầu thế kỷ thứ 20 nầy. 

Khi Đạo Phật được du nhập vào Đại Hàn từ thế kỷ thứ 3 qua ngơ Trung Quốc, Đạo Phật đă phát triển một cách cực thịnh ở những thế kỷ thứ 10, 11, 12 và để từ đó đến những thế kỷ thứ 17, 18, 19 lại đi xuống đến bây giờ; Đến thế kỷ thứ 20 nầy hầu như vị trí của Phật Giáo c̣n ảnh hưởng rất ít đối với người dân Đại Hàn. Có dịp thăm các chùa, tu viện Phật Giáo Đại Hàn như Tondosa (Thông Độ tự), Bukkoksa (Phật Quốc tự), Heiinsa (Hải Ấn tự) phải thành thật nói rằng Trung Hoa, hay ngay cả Nhật Bản chưa có ngôi chùa nào tiêu biểu được như thế. V́ các chùa nầy đều nằm trên núi cao, mà cách năm bảy trăm năm về trước, với chỉ sức người, người ta đă xây dựng được như vậy. Quả là điều đáng tán thưởng vô cùng. Đây có lẽ do hậu ư của những vị Thiền sư ngày xưa, sống xa mùi tục lụy, phú quư vinh hoa, chỉ muốn vui với cỏ cây hoa lá và rời xa chốn thị thành để tâm cũng như thân được thanh tịnh. Và chính cũng nhờ những vị Thiền sư nổi tiếng, nên dầu núi cao muôn ngàn hiểm trở, người Phật Tử vẫn t́m đến để quây quần học đạo. C̣n bây giờ nếu ai đó có dịp đi Đại Hàn, khi đến thành phố tham quan, chỉ thấy toàn là thánh giá chứ ít thấy chự Vạn của Phật Giáo. Điều đó chứng tỏ rằng không phải v́ người Đại Hàn mến đạo Chúa hơn đạo Phật nên theo, mà v́ lẽ xă hội phát triển, con người ít th́ giờ hơn, họ thích trong một số thời giờ nhất định phải làm một số việc nhất định; v́ vậy thành phố là nơi tiện lợi nhất để họ đi lễ bái nguyện cầu, mà chùa chiền ở đây không có, bắt buộc họ phải đi nhà thờ để tâm họ được an hơn. Điều nầy có thể nói lên được cái không thức thời của Phật Giáo Đại Hàn. Đức Phật đă v́ sự đau khổ của chúng sanh mà thị hiện ra đời nầy, th́ Phật Giáo Đại Hàn cũng phải v́ sự phát triển của đất nước mà phải mang đạo vào đời mới đúng chứ? hay họ sợ như Nhật Bản? Bề nào th́ lợi hại cũng vẫn có; nhưng điều căn bản là cái nào thuận lợi hơn th́ phải chấp nhận trước. Có một vài Đại Học Phật Giáo tại Đại Hàn ngày nay trong phân khoa Phật Học chỉ c̣n chừng 10 Sinh viên ghi tên học. Trong khi đó các phân khoa khác của Đại Học nầy lại giảng dạy giống như ở các đại học b́nh thường. Điều nầy đối với những người Phật Tử là một việc đáng buồn; nhưng không biết tại sao chư Tăng Đại Hàn không làm một cuộc cách mạng để sửa đổi những sự biến thái nầy? đâu phải Đại Hàn không có người tài? Riêng tôi đă có dịp đi Đại Hàn vào năm 1993 và đă thăm nhiều Phật Học Viện của Tăng cũng như Ni. Nơi đây đào tạo cả hằng trăm, hàng ngàn Tăng Ni sinh có bằng cấp Đại Học; nhưng sau khi tốt nghiệp xong không biết họ đi đâu và họ làm ǵ? Tại sao tệ trạng tâm linh của xă hội Đại Hàn lên cao như thế mà Phật Giáo đă chẳng có một tiếng nói nào?

Các xứ Phật Giáo Á Châu trong hiện tại đă thay đổi vị trí của ḿnh và nhiều dân tộc ở Á Châu như Phi Luật Tân không c̣n giữ bản sắc của ḿnh là một quốc gia Á Châu nữa. Nền văn hóa của quốc gia nầy gần như Âu Châu. C̣n Đại Hàn, nếu chư Tăng và Phật Tử tại xứ nầy nếu không thức thời, chắc chắn vị trí của Phật Giáo không c̣n ảnh hưởng nữa đối với nhân dân cũng như chính quyền như những thời xa xưa nữa. Bù vào đó các xă hội Âu Mỹ cũng đă thay đổi niềm tin. Phật Giáo đang bắt đầu mọc rễ tại nơi đây và đẩy lùi đi những tín điều cực đoan của những tôn giáo khác. Hay đây là một sự hoán cải tâm linh của vũ trụ? Tôi không cho rằng tôn giáo nào tốt hơn tôn giáo nào cả. Chỉ có con người làm xấu đi, chứ bản thể của Đạo th́ không xấu mà cũng chẳng phải không tốt. 

Ngược lại Đài Loan là một đảo quốc rất nhỏ nhưng Phật Giáo phát triển rất mạnh, nhất là từ khi Tưởng Giới Thạch đă đến đây từ năm 1949. Trước khi ông Tưởng Giới Thạch và Quốc Dân Đảng chạy sang đây, tại đảo quốc nầy cũng đă có các sắc dân địa phương sinh sống. Kể từ đó đến nay gần 50 năm xây dựng thể chế dân chủ tại xứ nầy, Đài Loan trong hiện tại là một trong những nước có nguồn ngoại tệ dự trữ của quốc gia lớn nhất thế giới. V́ đâu họ có được lợi thế nầy? Có lẽ v́ nhờ mất mát hết tất cả, chỉ chạy sang đây bằng hai bàn tay trắng từ lục địa Trung Hoa, nên họ phải cố gắng tạo dựng cho họ một thế đứng tại đảo quốc nầy chăng? Đài Loan ngày nay không c̣n là Đài Loan của 30 năm trước nữa, mà là một Đài Loan tiến bộ về mọi mặt của kỹ thuật. Song song đó Phật Giáo đă phát triển một cách nhịp nhàng với sự tiến bộ của khoa học xứ nầy. Người Đài Loan tin vào phước đức, nên sự cúng dường vào chùa của họ để cầu phước rất nhiều. Nhờ đó mà chùa chiền, tự viện mọc lên vô số kể tại đảo quốc nầy. Có chùa lớn hơn cung vua, ví như chùa Phật Quang Sơn ở Đài Nam và một số chùa khác ở Đài Trung và Đài Bắc. Các chùa đều có các Phật Học Viện hay Đại Học và Trung Học Phật Giáo. Có các trường cho cô nhi, có nhà dưỡng lăo cho những người già cả và có nhà thương thí để giúp đỡ cho những người nghèo. Hoạt động xă hội của Phật Giáo tại Đài Loan cũng rất tích cực. Có nhiều đoàn thể cứu tế giúp đỡ thế giới bên ngoài như thiên tai, băo lụt, hạn hán, núi lửa, động đất v.v... Phật Giáo tại xứ nầy đă xứng đáng tạo dựng được những môi trường cứu tế ấy để Phật Tử có nơi chốn mà thể hiện ḷng từ bi của họ. 

Trụ sở của Hội Phật Giáo Tăng Già Thế Giới hiện đóng tại đây và có lẽ trong những năm tháng tới vẫn c̣n đóng tại đây măi, v́ sự phát triển Phật Giáo tại xứ nầy; nhưng có điều đặc biệt tại Đài Loan giới nữ xuất gia nhiều hơn giới nam; nên chùa nào Ni cũng đông hơn Tăng, mặc dầu chùa đó do vị Tăng trụ tŕ. Điều nầy đúng hay sai, tốt hay xấu hăy để cho thời gian trả lời. Nhưng nh́n chung, sự phát triển của Phật Giáo Đài Loan trong hiện tại chỉ nhằm vào việc tu tạo phước đức hơn là kiến tạo cho một xă hội Đài Loan có sự tu học giải thoát trong ánh sáng trí huệ của Đức Phật. Nếu người Phật Tử chỉ chú trọng ở một phương diện tu phước để giàu có, c̣n quên tu huệ để được giải thoát, quả là điều thiếu sót vô cùng.

Âu Mỹ ngày nay sở dĩ biết đến Phật Giáo nhiều là nhờ có sự hiện diện của Phật Giáo Tây Tạng. Vậy chúng ta thử t́m hiểu về ảnh hưởng của Phật Giáo tại xứ nầy.

Đạo Phật truyền vào Tây Tạng đến nay độ khoảng 1.400 năm lịch sử. Từ thế kỷ thứ 6 đến nay Tây Tạng đă phát triển trong quốc gia của ḿnh. Kể từ đầu thế kỷ thứ 20 một số các nhà học Phật Âu Châu tới nghiên cứu Phật Giáo tại xứ nầy, sau đó về nước, mang theo một ít kinh sách giáo lư của Mật Giáo Tây Tạng. Cánh cửa của Tây Tạng đă hé mở và một số các học giả Tây Phương có thể len lơi vào cơi tâm linh cao rộng ở xứ huyền bí trên dăy Hy Mă Lạp Sơn nầy. Đặc biệt năm 1949 khi Trung Hoa xâm lăng Tây Tạng, Đức Đạt Lai Lạt Ma đă lưu vong sang Ấn Độ (1959) th́ ảnh hưởng của Phật Giáo của Tây Tạng đối với thế giới càng ngày càng được biết đến nhiều hơn. 

Phật Giáo Tây Tạng chuyên về tŕ chú và đi sâu vào trí tuệ bát nhă và các bộ luận. Nhưng điều đặc biệt hơn là Phật Giáo Tây Tạng đă giải thích cũng như ứng dụng sự tái sanh một cách linh hoạt rơ ràng hơn các xứ Phật Giáo khác. Tái sanh sau khi chết là điều Đức Phật đă dạy, mà không những Đức Phật, Ấn Độ Giáo cũng dạy thế. Nhưng khi giáo lư nầy được truyền sang Tây Tạng, họ đă ứng dụng một cách triệt để. Bằng chứng là sự hóa thân của Đức Đạt Lai Lạt Ma. Chữ Đạt Lai có nghĩa là biển trí tuệ hay hoa sen trắng, c̣n Lạt Ma có nghĩa là một vị Thầy. Chỉ đơn giản thế thôi. Nhưng người Tây Tạng và cả thế giới ngày nay đều tin Ngài là hóa thân của Bồ Tát Quan Thế Âm. Đức Quan Thế Âm theo tinh thần của giáo lư Đại Thừa, Ngài có 32 thân, có ngàn tay, ngàn mắt, biến hóa vô cùng để độ sanh như trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa phẩm Phổ Môn thứ 25 Phật đă thuyết. Ngài nguyên là một nam nhơn nhưng khi truyền qua Trung Quốc, Đại Hàn, Nhật Bản và Việt Nam th́ Ngài hóa thân thành nữ nhơn để tiếp độ bao nhiêu người đau khổ, nhất là nữ giới ở xứ nầy. Cũng tinh thần Đại Thừa ấy, nhưng Đức Quan Thế Âm vào Tây Tạng, Bhutan, Sikkim, Mông Cổ th́ Ngài thị hiện bằng phép tái sanh nơi những nhà quyền quư hoặc dân dă và có vị trí cao nhất trong xă hội. Truyền thống tái sanh của Tây Tạng bắt đầu phát xuất từ thế kỷ thứ 10, do sự liên hệ giáo lư Đức Phật mà có được, một h́nh thức pháp quyền và vương quyền như Phật Giáo Việt Nam thời thế kỷ thứ 11, thuộc đời nhà Lư. Nghĩa là trong dân chúng thiếu người tài giỏi ra giúp vua trị nước, chỉ có nhà Sư là có điều kiện hơn, nên đă có nhiều vị Sư làm cố vấn cho vua. Ở đây cũng tương tự như vậy khi chư Tăng đă nắm quyền bính trong tay tại xứ Tây Tạng th́ Phật Giáo qua h́nh thức nào đó phải thể hiện ḷng từ bi đối với muôn dân, nên h́nh thức của sự tái sanh do sự biến hóa của Đức Quan Thế Âm là hữu lư nhất, nên Phật Giáo Tây Tạng đă chấp nhận giải pháp nầy. 

Theo truyền thuyết tái sanh của Phật Giáo Tây Tạng được hiểu như sau: Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 trong hiện tại là hiện thân của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 13. Làm sao để biết được điều đó? Đây là một số điều căn bản. Theo sách vở và lịch sử, trong đó có cuốn Freiheit im Exil và cuốn Mein Land und Mein Volk do chính Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 viết, chúng ta hiểu rằng: 

 Khi vị Đạt Lai Lạt Ma thứ 13 viên tịch để lại một số pháp bảo mà Ngài đă dùng khi c̣n tại thế, ví dụ như tràng hạt, mũ, gậy, đồng hồ v.v... khi vị thứ 13 viên tịch, có một hội đồng lo bảo quản những đồ vật ấy. Sau khi Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 13 viên tịch một thời gian sẽ có các vị Trưởng Lăo lo đi t́m việc tái sanh nầy. Sau khi đứa trẻ được xác nhận qua việc tái sanh bằng nhiều h́nh thức khác nhau được tạm gọi là đúng, th́ đứa trẻ ấy được đưa về cung điện Potala để được dạy dỗ. Sau đó có một ngày làm lễ đăng quang, sau khi đă giảo nghiệm lần cuối về sự tái sanh của đứa trẻ, ví dụ như đọc thuộc ḷng, hoặc làm chủ lễ cho một thời khóa tụng các kinh điển khó, mặc dầu đứa trẻ mới 5 hoặc 6 tuổi. Ai là cha mẹ của những đứa trẻ được chọn là một vinh hạnh cho ḍng họ ḿnh, nên đă có rất nhiều người muốn được vinh dự đó. Thế nhưng, tất cả phải qua các kỳ khảo hạch của Hội Đồng Giám Sát và Hội Đồng Trưởng Lăo. Đây cũng là h́nh thức làm hiển thị giáo lư tái sanh của Đức Phật thời c̣n tại thế. Điều nầy xă hội Âu Châu rất khó chấp nhận; nhưng ngày nay tại Âu Mỹ đâu đâu cũng nghe nói đến việc tái sanh. V́ vô minh nên con người khó nhận diện được chỗ đi và chỗ đến của ḿnh đấy thôi. Nếu đă có trí tuệ th́ đường đi lối về hẳn nhiên mọi người phải biết mà tự chọn lựa lấy. Đức Đạt Lai Lạt Ma trong hiện tại đă được thế giới kính trọng v́ sự chủ trương ḥa b́nh bất bạo động của Ngài cũng như tranh đấu ḥa b́nh cho thế giới. Cái rủi của nhân dân Tây Tạng là bị Trung Hoa xâm chiếm; nhưng cái may của nước nầy là nhờ thế mà Phật Giáo Tây Tạng đă được nở hoa khắp nơi trên thế giới ngày nay. 

 Trong chương hai nầy phần lớn chúng tôi đă tŕnh bày cho quư vị hiểu qua về Phật Giáo các nước theo Đại Thừa, bây giờ xin mời quư vị khảo sát qua ảnh hưởng của Phật Giáo đối với con người qua các xứ Phật Giáo Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Cam Bốt v.v... Lẽ ra phải đi vào nội dung từng nước một; nhưng các nước Phật Giáo Nam Phương đều dùng ngôn ngữ Pali là ngôn ngữ chính, do đó có nội dung hành đạo gần giống nhau, trong khi các nước theo Phật Giáo Đại Thừa, mỗi nước dùng một ngôn ngữ riêng, nên Đạo Phật tại đó cũng bị ảnh hưởng ít nhiều với nền văn hóa tại xứ đó, khi Đạo Phật được truyền vào. 

Nam Phương Phật Giáo là những quốc gia giữ được nguyên vẹn tinh thần truyền thống kể từ thời Đức Phật c̣n tại thế cho đến ngày nay, nhất là khi Phật Giáo được truyền thẳng từ Ấn Độ qua Tích Lan vào thời vua A Dục và sau đó tiếp tục truyền vào các nước Đông Nam Á Châu khác. Tại đây chư Tăng và ngay cả Phật Tử có thể tụng chung cùng một ngôn ngữ Pali khi hành lễ.. Trong khi đó các xứ theo Đại Thừa Phật Giáo th́ không có thể làm như thế được. Cho đến ngày nay chư Tăng các nước Nam Phương Phật Giáo vẫn c̣n đi khất thực hằng ngày và mỗi ngày chỉ ăn một bữa trưa. Mỗi năm đều có an cư kiết hạ vào 3 tháng mùa mưa. Đời sống chư Tăng vẫn 3 y và 1 b́nh bát, đi chu du giáo hóa khắp nơi. Họ thực tập thiền định và sống đời tĩnh thức. Việc tu gieo duyên như là bổn phận của một người nam trong một thời gian ngắn từ 3 tuần lễ đến 3 năm được thịnh hành tại Thái Lan, Lào và Cam Bốt. Đây cũng là một cơ hội tốt để mọi người hành tŕ giáo lư của Đạo Phật. Người Phật Tử tại gia thường áp dụng Tam Quy Ngũ Giới, Tứ Diệu Đế, Bát Chánh Đạo và Thập Nhị Nhân Duyên vào trong cuộc sống hằng ngày. V́ vậy đi đến các xứ nầy, tuy thấy họ nghèo nàn hơn các xă hội vật chất Âu Mỹ; nhưng tâm hồn ai cũng rạng rỡ vui tươi. Nụ cười nào cũng tṛn xoe trên đôi g̣ má, nam cũng như nữ, khi giao tế với những người chung quanh. Đây cũng là một trong những cách sống của Đạo Phật, thà an bần lạc đạo, c̣n hơn là giàu sang mà không có được một nụ cười. Tiền bạc vốn là phương tiện của cuộc sống, chẳng phải là mục đích của con người. Vả lại tiền bạc cũng không mua được hạnh phúc và sự an lạc của tâm hồn. Chỉ có những người sống đúng tinh thần của Đạo th́ kẻ ấy sẽ được an nhiên tự tại.

Các xứ Nam Tông Phật Giáo, chùa viện là nơi đào tạo tăng tài và trong khuôn viên chùa lúc nào cũng có trường học cho dân trong làng đến học, từ lớp thấp cho đến lớp cao. Trong khi đó chư Tăng là những giáo sư về tâm linh lẫn ngôn ngữ và thế học cho người đời. Chư Tăng hiến dâng sở tu sở học của ḿnh cho quần chúng Phật Tử. Người tại gia có cơ hội làm ăn, buôn bán, nên họ đă sẵn sàng cung phụng cúng dường vật chất lên chư Tăng. Như vậy giữa đời sống tinh thần và đời sống vật chất có cơ hội gắn bó nhau. Dĩ nhiên một trong hai lănh vực, mỗi bên phải chấp nhận lấy một, không ai có thể trọn vẹn cả hai lănh vực cùng một lúc. Người Tăng sĩ không thể làm nhiệm vụ của người Cư sĩ và ngược lại cũng thế. 

Có nhiều người bảo, cứ theo Phạt Giáo Nam Tông măi như vậy, kinh tế không phát triển phồn vinh như các xứ Phật Giáo Bắc Tông. Điều nầy chưa hẳn đúng. V́ ngày nay Thái Lan cũng đang phát triển mạnh và nước nầy cũng theo Phật Giáo Nam Tông. Hoặc giả nay mai Miến Điện và Tích Lan cũng trên đà phát triển ấy. Điều ấy chứng tỏ rằng văn hóa của Phật Giáo không phải cản trở sự phát triển của nhân loại, mà Phật Giáo giống như một ḍng nước, chảy đến đâu sẽ hội tụ đến đó để khế hợp với hoàn cảnh tại mỗi nơi.

Đứng trên quan điểm của Phật Giáo Nam Tông, họ nh́n Bắc Tông đều sai với nguyên tắc ban đầu của Đức Phật đă đặt ra, v́ phương tiện mà đă sửa đổi phần nội dung của giáo lư. Trong khi đó đứng trên quan niệm của Phật Giáo Bắc Tông th́ thấy rằng Nam Tông bảo thủ, không chịu khế hợp với căn cơ của chúng sanh để phát triển xă hội và nhất là vấn đề tâm linh của con người. Nh́n từ phía nào th́ nó cũng đều có cái đúng, cái sai của nó, do vấn đề hoàn cảnh, địa phương hay tập tục gây nên; nhưng chúng ta cũng chớ quên một điều là giáo lư của Đạo Phật là v́ con người mà tồn tại, chứ không phải tồn tại v́ sự cá biệt nầy hay cá biệt khác của mỗi quốc gia. Giờ đây đă nhiều lần trên diễn đàn của Hội Nghị Phật Giáo Thế Giới các nhà lănh đạo tinh thần của hai phái Đại Thừa và Tiểu Thừa đều gọi chỉ có một Thừa. Đó là Bouddhayana (Phật Thừa) chứ không c̣n Đại hoặc Tiểu nửa. Cũng có nhiều đề nghị đáng ghi nhớ là: Tất cả chư Tăng Nam Tông nên ăn chay và phía Bắc Tông nên mặc y nguyên thủy. Nếu Thế Giới Phật Giáo chấp nhận được điều nầy, quả là điều rất lợi ích và thiết thực cho Thế Giới Phật Giáo ngày mai, nh́n đâu đâu cũng chỉ thấy một bóng y vàng và cùng với tha nhân đồng loại tôn trọng sự sống của các sinh vật khác bằng ḷng từ bi, nên không ăn thịt của chúng, dầu cho đó là loại tam tịnh nhục, như thời Phật c̣n tại thế đă cho phép chư Tăng dùng đến. 

Đạo Phật đă gắn liền với vận nước của các dân tộc nầy từ hơn 20 thế kỷ qua, nên mỗi bước đi, nhịp thở của dân tộc cũng là mỗi tiến tŕnh chuyển tiếp của Phật Giáo đối với sự sống c̣n của mỗi dân tộc Nam Phương. Ngày nay mặc dầu tại Đông Nam Á Châu có nhiều xứ Phật Giáo không c̣n là quốc giáo nữa, mà có nhiều người đă bỏ Phật Giáo để làm tín đồ của các tôn giáo khác. Điều ấy nói lên sự tự do, mở cửa và tự do tín ngưỡng của con người, chứ quyết rằng chẳng phải Đạo Phật không c̣n hấp dẫn với con người nữa, nên người ta mới theo đạo khác. Phải nh́n lại bối cảnh lịch sử về chính sách thực dân địa của Phương Tây đối với các xứ Đông Nam Á Châu nầy th́ ta hẳn rơ.

Việt Nam là một quốc gia mà ảnh hưởng được cả hai nền văn hóa Phật Giáo Bắc Phương cũng như Nam Phương. Vậy chúng ta thử khảo nghiệm xem Phật Giáo đă đóng góp ǵ cho dân tộc nầy trong suốt ḍng lịch sử mấy mươi thế kỷ qua ? 

Có 2 giả thuyết cho rằng Phật Giáo Việt Nam phần lớn được truyền sang từ phương Bắc kể từ thời Bắc thuộc lần thứ nhất do các vị Sư người Trung Hoa mang sang; nhưng cũng có thuyết cho rằng: Các nhà Sư Ấn Độ di chung với các thương thuyền của người Ấn trước khi qua buôn bán với Trung Hoa th́ những vị Sư nầy đă ghé qua Việt Nam. Nên có thể nói rằng Phật Giáo đến Việt Nam trước khi đến Trung Hoa. Đây có thể cũng là một giả thuyết, c̣n đúng hay sai, nhiều người sẽ t́m kiếm thêm nữa. Khi các vị Sư Ấn Độ đến đây có lẽ họ nghĩ rằng chỉ ghé qua Việt Nam để dừng chân thôi; nên những năm tháng đầu tiên họ đă chẳng xây dựng một cơ sở nào để lại xứ Giao Chỉ lúc bây giờ, mà chỉ thấy ảnh hưởng của Phật Giáo Trung Hoa mạnh hơn, có lẽ do sự đô hộ của người Trung Hoa mà dân tộc Việt ảnh hưởng văn hóa Hán nhiều hơn, nên dễ chấp nhận những tư tưởng và học thuật đến từ phương Bắc chăng? C̣n Phật Giáo đến từ Ấn Độ c̣n xa lạ với ngôn ngữ cũng như phong tục tập quán của người Việt Nam th́ phải ?

Nhưng dầu đến từ phương nào đi chăng nửa th́ Phật Giáo Việt Nam cũng đă đóng góp cho dân tộc Việt Nam rất nhiều qua các thời kỳ dựng nước và giữ nước trong suốt ḍng lịch sử của 18 thế kỷ qua. Những thế kỷ đầu khi