Chùa Hải-Đức in Jacksonville

[Home] [Up] [Điểm Sách] [Sutras] [Dharma Talks] [GĐPT] [Sinh Hoạt] [Our Activities] [Kinh] [Pháp Thoại audio mp3] [Tin Tức Phật Giáo] [Thuyết Pháp] [Thơ Văn] [Ngoại Điển] [Phật Học] [Tụng Kinh] [Nghi Lễ - Rituals]

NHÀ SƯ VƯỚNG LỤY

hay là TRUYỆN CON HỒNG NHẠN LƯU LY

THE LONE SWAN 
(Đoạn Hồng Linh Nhạn Kư 
)

Tác giả: TÔ MẠN THÙ (Su Manshu)

Bản dịch: BÙI GIÁNG

 

 

CHƯƠNG SÁU

Từ ngày nhận được lá thư của Tuyết Mai, tôi mới rơ lẽ rằng nường ấy đă tin yêu tôi một cách khôn hàn gay cấn thâm hậu vô song. Lúc bấy giờ linh hồn thể phách tâm đầu tôi dào dạt bừng sôi sục sục, tôi chẳng c̣n có thể định đoạt đường đi lối bước ra cái ǵ ǵ cả. Cũng chẳng nhận định ra đâu là ṿi vơi bích lạc, đâu là âm y đen đủi hoàng tuyền. Trừ em Tuyết Mai ra, th́ c̣n cái chi chi đáng kể nữa đối với tôi? C̣n vật đồ ǵ là tại lập lưu tồn thị hiện hữu nữa đối với tôi? Bà vú nuôi tôi, tuổi tác đă ngoại năm mươi rồi, bà già nua như thế, nhưng vừa một phen nh́n thấy lá thư Tuyết Mai, đă cảm động như chính bà tự thân cảm thụ đoạn trường, nước mắt bà tuôn ra như  mưa. Trong cảnh huống đó, t́nh trạng thần kinh tôi như thế nào độc giả có thể đoán ra được rồi vậy. Hẳn rằng mọi sự thế gian thiên hạ, do t́nh ái mà nảy sinh ra th́ không sự nào mà chẳng éo le gây cấn. Vô luận sinh từ thấp, hóa, noăn, thai, bốn mặt. Nếu đă v́ duyên do kia mà nhập vào cơi nhà ma sinh sinh diệt diệt, thật đó là một trạng huống bi thương.

Bốn ngày sau lễ Thanh minh. Lúc tinh sương, ánh rạng đông chiếu vào cây cối, mùi hương hoa lá bốc lan tràn. Tôi từ biệt Triều Nhi và bà vú nuôi, bà vú vốn hối thúc tôi gấp gáp lên đường. C̣n về phía Tuyết mai, bà hứa sẽ dốc hết tâm lực mà pḥ trợ cô nàng. Tôi không biết nói lời chi để báo đền ân đức vú nuôi. Tôi chỉ giàn dụa nh́n bà. Rồi trích ra hai chục đồng vàng trong số bạc Tuyết Mai tặng tôi trao cho Triều Nhi để nó mua áo lông cừu cho mẹ. Cảm t́nh tôi đối với Triều Nhi thật sâu xa quá, đứa bé ấy tuy c̣n nhỏ tuổi, mà ḷng hiếu thảo thật phi phàm. Đứng nh́n nhau thật lâu, ḷng tôi chẳng nỡ chia tay cùng. Chợt quay đầu nh́n hoa cỏ trong vườn vạn vật cũng như mang đầy màu thương cảm… Bà vú nuôi chợt tới bên tôi nói:

- Tam Lang, phải lo liệu lên đường! Kẻo trễ chiếc tàu th́ khổ.

Tôi ngậm ngùi từ biệt vú nuôi và Triều Nhi.

Hai ngày sau tới Quảng Châu. Tôi bước lên bờ, thong dong cửa bộ. Tôi có ư định t́m thăm ông thầy cũ và tử biệt ông. Tôi nghĩ rằng chùa Thường Tú đă bị lớp người tân học bạo đồ đạo bỏ và lập đường xá phố thị.

Chẳng c̣n chút ǵ lưu lại nữa. Pháp khí pháp cụ, thảy thảy tiêu ma hết cả rồi. Tôi nghĩ rằng thầy tôi lúc bấy giờ đă quay về tĩnh thất, tôi bèn đáp tàu đi Hương Giang ngay buổi xế nọ.

Sáng hôm sau, tôi mặc y phục chỉnh tề, bước lên bờ liền hướng chân về phía nhà mục sư Robert. V́ mục sư ấy vốn người Tây Ban Nha. Mấy năm trước đă đưa vợ và cô con gái tới lưu trú tại Hương Giang. Ông vốn ít ra ngoài giao thiệp. Chỉ thích sưu tầm những đồ vật cổ kích và những kỳ hoa dị thảo mà thôi. Tôi vốn đặc biệt hâm mộ vị mục sư ấy: Thanh u tuyệt dục, ông ấy quả thật là một giáo sĩ cao đạo, ḷng ông chẳng hề nuôi cái ư ǵ tai hại, ông không hề nghĩ tới việc chinh phục đất đai xứ sở của người ta.

Do đó, tôi từng đă hân hoan theo ông về nhà học tập Âu văn trong hai năm trời, và vị mục sư đối với tôi thật là nhiều t́nh nghĩa.

Đến nhà mục sư, cô gái ông Robert niềm nở tươi cười bắt tay tôi, kéo tôi vào pḥng văn hỏi chuyện… Pḥng văn hơi giá như đồng… Trúc se ngọn thỏ, tơ chùng phím loan. Cô tiểu thư dạo nhạc Tây phương cho tôi nghe. Ngày nay tôi c̣n ghi tạc kỷ niệm lưa thưa cái mùi hương dị dị ấy. Tiểu thư ngồi bên dương cầm, hai bàn tay búp măng thoăn thoắt, đầu tóc hồng vàng tụ, nghiêng nghiêng ngả ngả. Ôi ! Tôi bỗng biến làm thi nhân mà nên câu tuyệt diệu ngụ trong tính t́nh: “Hồng vàng tụ bữa kia em có thấy? Nước xuôi ḍng là cổ độ đăm đăm. Tuổi mười tám bây giờ lên gấy gảy. Mộng miên man vân mấn phủ dương cầm …”

Vợ chồng ông mục sư mừng  rỡ bước vào giữa lúc tôi miên man ra như thế. Ông bà cao hứng quá, chạy lại nắm tay tôi. Ông nắm hai tay. Bà đưa ngón búp măng xoa măi cái đầu thầy tu cạo trọc của tôi. Bà mừng rỡ như cầm một viên ngọc kim cương ở trong mấy ngón tay bà vậy.

Bà tưng bừng hàn huyên không ngớt! Tôi đi đâu? Mà mất dạng bao nhiêu ngày? Tôi gặp những ai ai trên bước đường xuôi ngược? Tại sao trông tôi bần  thần ra như thế? Tại sao càng ngày trông tôi càng gầy ốm? V́ lẽ chi? Nhà sư nhỏ tuổi ôi! Nhà Sư nhỏ ôi! Nhà sư có thầm yêu trộm dấu một cô sơn nữ ở sườn non nào chăng? Cô sơn nữ ấy tên ǵ? Tên tuổi của nàng có hằng ngày rập ŕnh về “tập kích” (!) thầy ở ngay giữa hào lũy trong cơi thanh tu? Thầy đọc kinh ngâm kệ, hay là Thầy lẩm nhẩm tên tuổi của ai? Nếu sơn nữ không kết duyên với thầy, th́ thầy tính sao? Thầy tính sao? Có thể nào t́m kiếm một giai nhân thôn nữ ở thôn làng ra thay thế cho thầy được chăng?

Hỡi ôi! Màu lan nam diện! Hỡi ôi! Tuyết Mai! Bà mục sư đâu có rơ ngọn ngành? Bà cao hứng quá hỏi dồn dập âm thanh liên miên trào ra không ngớt. Đang giữa cơn bần thần cảm động, nghe bà trút một trận ngôn ngữ Âu châu tràn lan ra như thế, tôi bỗng buột miệng bật cười ra một tiếng. Bà hỏi:

- Thầy cười sự chi? Thầy cười sự chi?

Tôi đáp:

- Tiểu sinh cười, v́ thấy phu nhân vui vẻ quá. Mặc dầu…

Bà hỏi dồn:

- Mặc dầu làm sao ? Mặc dầu làm sao?

Tôi đáp:

- Mặc dầu quả thật hiện giờ ḷng tiểu sinh tan nát.

Bà hỏi dồn dập:

- Tại sao tan nát? Ai làm cho tan nát?

Tôi đáp:

- Nhưng không hề ǵ! Bây giờ sắp chấm dứt cơn tan nát rồi.

Bà hỏi:

- Tại sao sắp chấm dứt?

Tôi đáp:

- Cũng có thể là ra như thế?

Cô hỏi:

- Thế th́ tại sao mối sầu làm cho ḷng anh tan nát, nó không chịu lành hẳn, mà chỉ “chậm răi tiêu tán từ từ” - theo lời anh nói?

Tôi đáp:

- Chuyện ǵ trong nhân gian đều phải chậm răi từ từ mới được. Mê gái cũng từ từ. Tụng kinh cũng phải từ từ. Ṃ cua bắt ốc cũng phải từ từ. Tiếc thương cũng phải từ từ. Lành vết thương cũng phải từ từ.

Tôi nói tới đó, cả ba người cùng cười ầm lên một trận. Bà mục sư vội bảo cô gái đem bánh và trà ra cho tôi dùng tạm. Trong lúc nhấm trà, tôi đem sự t́nh ra kể hết ngành ngọn: chuyện thân mẫu, chuyện Tuyết Mai, chuyện Triều Nhi và bà vú nuôi. Chuyện lên đường bây giờ sang Nhật Bản…

Ba người ngồi âm thầm nghe tôi thuật, lặng lẽ ràn rụa nước mắt. Những người tha hương khách địa ấy cũng bâng khuâng vạn cảm trong ḷng. Tôi ngậm ngùi tin yêu bày tỏ hết nỗi niềm với người tuy không họ hàng thân thích đồng quận, đồng hương nhưng họ có tâm hồn cảm thông rất mực.

 

 

CHƯƠNG BẢY

Bốn ngày sau, vợ chồng ông mục sư, sắm sửa cho tôi bốn bộ âu phục và lo liệu mọi sự thuận lợi cho cuộc đáp tàu xong, bắt tay tôi, bảo:

- Tàu nhổ neo vào giữa lúc ngọ, cậu hăy lên đường xuôi buồm theo gió. Thượng đế chúng tôi sẽ pḥ tŕ cho cậu phúc tuệ đủ đầy. Cậu đi chuyến này, nhớ thỉnh thoảng viết thư nhắn tin về cho chúng tôi biết.

Ông bà mục sư nói xong th́ cô gái tóc nâu ḷa x̣a xiêm áo xanh lam, cũng đề huề bước tới. Trông nường có vẻ ưu sầu. Tới bên tôi nường đưa tay ra bắt tay tôi một cách thân thiết vô cùng. Mấy ngón tay của nường thật là mịn màng ấm áp. Nường cầm một bó tỷ la lan hoa và hàm tu thảo. Hỡi ôi hoa thảo ǵ như thế! Thêm một bộ sách Anh văn thân tặng. Tôi cảm tạ đón nhận tặng vật của nường. Như  đón nhận một kho tàng man mác của thiên tiên thơ ngây xuống trần gian thăm viếng giấc chiêm bao thi sĩ. Nường đ́u hiu không nói lời nào cả, nhưng chẳng hiểu v́ sao tôi nghe rơ ràng âm thanh nường văng vẳng trong không gian. Suốt cuộc hành tŕnh, tôi nghe âm thanh ấy vọng theo tôi măi măi như từ một cơi sương tuyết vô hạn nào Tây phương khôn hàn tịch mịch… - “Người một thuở, mà chàng sầu vạn kỷ. Suốt một đời chàng sẽ đứng riêng tây…” Trời vẫn xanh, sóng biếc giỡn triều ngày…Tiền tŕnh vạn lư nghiêng mày tạ nhau - (Dư bái tạ thụ chi. Nga nhi, hải thiên tại nhăn, dư Đông hành hỹ…)

Tôi lên tàu ngồi nh́n chân trời mây sóng trùng trùng điệp điệp. Phía trước, một h́nh bóng… mơ hồ… Phía sau, một h́nh ảnh đ́u hiu nụ cười chất chứa u sầu. Tôi không biết. Tôi không biết ǵ nữa cả.

Thuyền rẽ sóng, năm ngày năm đêm như một cơn mơ dàn rộng. Em về? Bủa rộng chiêm bao. Buồn sông sóng biển ch́m sâu bên ḍng…

Thuyền đă lênh đênh buồm gió vượt Thái B́nh Dương. Trời xanh ngắt. Sóng ngun ngút ŕ rào. Mặt trời hào quang chiếu diệu. Tôi bồi hồi luẩn quẩn trên boong tàu, quẩn quanh lui tới pḥng thủy thủ. Mang mang thiên hải… Diêu diêu dư hoài… Cầm mấy cuốn sách của tiểu thư đưa tặng, mở ra. Trong đầy đủ toàn tập thi phẩm Shakerpeare, Byron và Surrey. Tôi nhận thấy Byron không khác ǵ Lư Bạch Trung thổ chúng tôi. Shakespeare là một ṇi với Đỗ Phủ. Surrey th́ cũng như Lư Hạ. Byron là thiên tài, Shakespeare là thiên tài, thánh thần tài. Surrey là quỷ vương ma chùa tài.

Tôi khởi sự đọc thơ Byron. Ngâm những vần du hành của Childe Harold. Tới đoạn cuối, có sáu chương vịnh trùng khơi đại hải.

Tôi than dài một tiếng:

- Hùng hồn kỳ vĩ, kim cổ thi nhân, vô kư thất hĩ! (Hùng hồng hoằng đại, thi nhân xưa nay, thật không ai sánh kịp vậy!)

Tôi thấm bút mực tạm phỏng dịch bài thơ ra Hoa ngữ như sau:

Hoàng đào lan hăn
Linh hải ưu minh
Vạn sưu cổ tập
Phiếm nhược khinh b́nh
Mang mang cửu vi,
Mỗi hữu di hư
Khoáng tai thiên chiểu
Phỉ nhân du cư…

(Mạn Thù đại sư dịch theo ư thơ, hồn thơ Byron, chứ không dịch sát lời bài thơ nọ:

“There is a pleasure in the pathless woods,
There is a rapture on the lonely shore;
There is a society where none intrudes,
By the deep sea, and music in its roar.
I love not man the less, but Nature more…”

Đại khái ta có thể lược dịch tổng hợp ra thơ Việt như sau:

Ba đào bành bái tuôn sôi
Thẫm đen linh hải chèo bơi vạn thuyền
Thuyền con, chiếc lá giữa miền
Dấu bèo phiêu dạt diện tiền lưu ly
Mang mang thiên địa cửu vy
Ngàn tầm hải vực vô kỳ thái hư
Mênh mông âm điều gầm gừ
Hồn thiêng đại khí ngôn từ lăng ba
Thiên thu chấn đăng chan ḥa
Ngọn triều non bạc như hà thế nhân
Thần công uy vũ vạn phần
Băo dông nguyên thủy phân trần càn khôn
Doanh hoàn vũ trụ trao hôn
Hai vành tịch nạp liên tồn lưỡng nghi
Như nhiên chân khí lầm lỳ
Hỡi ôi đại hải ù lỳ cứ tuôn
Vạn ngàn hải lư uông uông
Vào trong bất tuyệt bắt buông ra ngoài
Con người khổ lụy trần ai
Rụng rơi vết tích  phôi phai điêu tàn
Con người bài bố đa đoan
Đành xin thúc thủ trước ngàn khơi vâng
Thiên thu băo tố luống từng
Đă chơi trận trận kiêu hùng là bao?
Con người ta? Giọt mưa rào
Vất vơ vùi lấp chôn vào đáy sâu
Ty hào c̣n lại chi đâu
Chỉ duy đại hải nguyên màu c̣n ngân
Thành tŕ hào lũy binh đoàn
Un ùn sấm sét tan hoang cung thành
Ngất trời dao động tam bành
Té ra rốt cuộc phù danh thôi mà
Hùng quang hải thượng âm ba
C̣n  dư cung bậc chan ḥa liên thiên
Một đời tử diệt cuồng điên
Tuyết băng bèo bọt bốn miền nhà ma
Hùng tâm từ Armada
Tới bờ tráng khí Trafalga nào
Chỉ duy biền biệt ty hào
C̣n chăng riêng chỉ ba đào lăng tinh
Carthage? La Mă biên đ́nh
Assyria Greece c̣n t́nh tự chi?
Nước đại hải? Sóng biên thùy
Đă trào xuôi ngược vô kỳ thủy chung
Hỡi ôi vương chúa kiêu hùng
Hỡi ôi nô lệ cơn vùng dậy cơn
Hỡi ôi khổ lụy vong hồn
Thanh tân man dại lá cồn rụng hoa
Hồn sa mạc thạch lựu là
Cái chi như thế cái là cái chi?
Chỉ riêng ba lăng nguyên kỳ
Thiên thu bất diệt diên tŕ cuộc chơi
Từ sơ thủy lóng lánh ngời
Tới bây giờ vẫn rạng ngời long lanh
Xô ùa lớp lớp ṿng quanh
Trùng khơi lộn ngược tiếp nhanh điệp trùng
Gương kim cổ? một lá bùa?
Huy hoàng thể thái? Bốn mùa băo giông?
Vạn năng bao quát xuân hồng
Thu xanh đông biếc phiêu bồng hạ dương
Thời gian vĩnh thể miên trường
Gào kêu? hiu hắt? hay mường tượng ngân
Thao thao bất xá xa gần
Hách nhiên thần quỷ hay thần thánh ma
Từ bắc cực tới hoàng sa
Từ nam cực tới vùng sa mạc nào
Từ băng giá giữa chiêm bao
Tới vùng nhiệt đới anh hào trường miên
Thần linh thị giám diện tiền
Hay là duệ hậu hách nhiên như là
Pḥ dao dương giác hải hà
Ngưng băng dâm lệ dê ḥa hài hươu
Kể chi mang diễu bài trừu
Kể chi thùy mỵ ty hào tồn liên
Chỉ duy c̣n măi là riêng
Mộng hồn đại hải là viên dung h́nh
H́nh khiếm diện? Vẫn là h́nh
Từ trong cô thể mà h́nh tượng ra
Ḱnh ngư vạn lư hay là
Thâm sâu vô để hồn ma quái nào
Từng khu vực mỗi âm hao
Lừng vang há giống hoàng mao thi thành
Ta yêu bao xiết tam bành
Hỡi ôi đại hải bao ngành nhớ nhung
Tang thương  từ kể một vùng
Tằng kinh thương hải điệp trùng mà ra
Ân t́nh  bao xiết nhà ma
Trút về cửa quỷ chan ḥa đại dương
Lăng hoa phách ngạn khôn lường
Khương an khương thịnh mù sương khuynh thành
Vong hồn nam diện một cành
C̣n lưa hơi thở cho ḿnh yêu nhau
Chuyện ngày trước chuyện ngày sau
Gần xa bành gái một màu sơ nguyên
Bàn tay khép mở dịu hiền
Hỡi ôi thương hải diện tiền đón ta

Dịch xong bài thơ Byron, tôi ngâm vang lên một trận. Lúc bấy giờ màu trắng mới ở trên trời hắt hiu rỡn rỡn. Đúng như là màu xanh trăng mới im ngầm. Phấn thừa hương cũ bội phần chia xa. Gió đàn nhị nguyệt nhà ma. Giữa hoang vu biền lập ḷa bốc tia. Ngọn đèn ngư phủ xa kia. Có nghe thơ vọng tới chia niềm ǵ.

Sáng hôm sau, con tàu cập bến Yokohama. Tôi lên bờ t́m một khách sạn. Hành lư lẽo đẽo mang đi. Sau đây, xin thuật lại những việc xảy ra trên đất nước Nhật Bản quê mẹ.

 

CHƯƠNG TÁM

Vừa trút hành trang xuống, tôi rút tờ ghi địa chỉ mẹ tôi do vú nuôi trao. Hỏi chủ nhân khách sạn chỉ dẫn giúp. Chủ nhân bảo:

- Địa chỉ này rất gần đây. Vùng đó thật là yên tĩnh. Đi tàu hỏa chỉ cách năm trạm nghỉ thôi. Công tử hăy thư thả ngồi dùng trà một lát, tôi lo liệu mua giúp vé tàu cho. Tôi vốn quen người biết mặt rất nhiều, ít thấy ai siêu dật như công tử. Công tử viếng chốn ấy là phải. Dường như công tử nóng ḷng đi ngay? Có công việc cần kíp hay sao?

Tôi đáp:

- Thăm viếng mẫu thân tôi.

Ăn trưa xong, chủ nhân khách sạn tiễn chân tôi tới nhà ga. Tôi cảm kích ḷng niềm nở ấy vô cùng. Tàu khởi hành. Qua hai trạm tới một nhà ga, danh là: “Đại thuyền”. Người xếp trên tàu bảo tôi:

- Cậu xuống đây, sang tàu. Đi một trạm nữa, đến trạm thứ nh́ là tới chốn vậy. Tôi đổi tàu, vào va gông ngồi xao xuyến ù lỳ. Ḷng tôi lúc bấy giờ thật là khó tả. Tôi tự nhủ:

“Chỉ một lát nữa  thôi, th́ cùng mẹ trùng phùng. Thật là… Thật là gây cấn. Đây có phải là niềm vui lớn nhất trong b́nh sinh  của ta chăng?”

Chợt lại chuyển niệm: “Từ nhỏ ta chẳng hay tin ǵ cả. Mà thế sự biến đổi liên miên, biết đâu thân mẫu chẳng dời nhà nơi chốn khác? Nếu hôm nay không gặp được mẹ, th́ chịu đựng sao cảnh lạc loài?”

Tim tôi bồi hồi lo âu dữ quá. Con tàu chợt dừng bánh. Tôi đưa mắt ḍm ra khuôn cửa, thấy bảng đề ba chữ: “Đậu Tử Trạm”. Tôi xuống tàu, ra khỏi sân ga, nh́n bốn bể chẳng thấy người đi đường. Vùng này quả thật là vắng vẻ.

Tôi mướn một chiếc xe tay (gần giống như xích lô đạp). Người kéo xe bôn bôn ba ba nhắm hướng đồng ruộng chạy nhanh. Lúc bấy giờ thời tiết thật lạnh lẽo. Nh́n ra xa chỉ thấy lớp lớp băng giá tích tụ hoang liêu mấy dặm dài. Tới chân một ngọn núi, xe rẽ về phía tả, rồi lăn dọc theo bờ biển. Chỉ thấy mấy khóm nhà chài. Một lũ bé con đi đi lại lại t́m chỗ thả cần câu. Cảnh vật thật là u liêu hết sức.

Người kéo xe chợt dừng chân bảo:

- Đây chính là vùng Anh Sơn. Công tử muốn đi về phía nào?

Tôi đáp:

- Anh Sơn chính là vùng này ư?

Bèn xuống xe, mang va ly hành trang bước bộ.

Đi khá lâu, tới một chốn nọ, tùng xanh, cát trắng. Mới dừng chân ngóng vọng một lúc, chợt thấy ở xa xa, giữa khoảng tùng bách xanh um, có một con đường, một nhịp cầu nho nhỏ dẫn tới một ngôi nhà gỗ. Ngôi nhà ẩn ẩn tựa lưng vào sườn núi hậu diện, mở ra phía biển ở tiền diện. Phía bên dưới nhịp cầu nho nhỏ kia, có một ḍng tiểu khê nao nao chảy róc rách chạm vào đá vang lên một âm thanh vui vui rầu rầu rĩ rĩ. Tôi vội vả tiến về phía đó. Ngẩng đầu nh́n lên thấy bên tấm cửa có tấm bảng đề:

“Tương Châu Đậu Tử
        Anh Sơn thôn - số 8”

Tôi mừng rỡ quá. Chính chữ đó, chính là địa chỉ mẹ tôi.

Bèn đưa tay gơ cửa nhẹ nhẹ. Một lúc lâu, vẫn chẳng nghe động tĩnh ǵ hết, dường như nhà vắng không người.

Tôi bèn gơ cửa lần nữa.

Một người đàn bà mở cửa bước ra.

Nh́n người ấy, với tấm vải trắng buộc ở phía trước h́nh hài, th́ tôi đoán ra đó là chị bếp.

Tôi liền hỏi:

- Xin thứ lỗi đường đột! Đây có phải là nhà của Hà Hợp phu nhân chăng?

Người đàn bà đáp:

- Phải.

Tôi hỏi.

- Tôi muốn gặp phu nhân. Phiền thím thông báo giùm cho.

Người đàn bà tỏ vẻ trù trừ mà rằng:

- Chủ nhân tôi bệnh nặng vừa mới khỏi. Thầy thuốc dặn rằng bà không nên tiếp khách. Khách đến đây có việc ǵ, xin cho biết để tôi thay mặt báo cho bà chủ rơ cũng được.

Tôi nói:

- Chủ nhân đây là mẹ của tôi. Tôi tên là Tam lang. Tôi từ bên Trung Hoa sang đây, hôm nay mới tới Yokohama lần đầu. Nhờ thím thông báo gấp cho.

Người đàn bà nghe tôi nói như thế th́ giương đôi mắt nh́n tôi đăm đăm từ đầu tới chân. Suy gẫm âm thầm một chặp bàng hoàng hăi nhiên mà rằng:

- Ồ! Công tử là Tam Lang thật sao? Tôi thường nghe chủ tôi nhắc tên thiếu chủ hằng ngày, và lo âu măi chẳng biết thiếu chủ c̣n sống hay đă mất rồi.

Nói xong, liền quay vào trong nhà. Một chặp sau trở ra, trang trọng mời tôi vào. Dẫn tôi đến hành lang. Một cô bé tóc xơa xá một lễ chào tôi bảo rằng:

- Anh hai về may mắn quá chừng! Mẹ bệnh đă một tháng nay. Sáng nay mẹ mới thấy có khỏe ra chút ít. Bây giờ mẹ vừa thức giấc. Mời anh hai vào gặp mặt mẹ.

Cô bé nói xong th́ dắt tôi lên cầu thang. Tấm b́nh phong vừa xô qua một phía, th́ thấy mẹ tôi đang ngồi trên giường, tựa vai vào bệ cửa sổ. Tóc buông ḷa x̣a bối  rối. Bà nh́n tôi mỉm cười nhè nhẹ. Tôi trong ḷng biết rằng nụ cười của từ mẫu như thế, thật c̣n xót xa gấp mấy lần gào khóc. Tôi chạy tới quỳ xuống bên chân mẹ, miệng không thốt ra được lời nào cả. Nước mắt th́ trào ra như suối chảy. Lúc bấy giờ, chợt nghe từ mẫu ngậm ngùi nói:

- Con tôi c̣n sống b́nh an. Đa tạ Trời Phật phù hộ. Tam Lang! Con hăy lau nước mắt nh́n mẹ đây. Mẹ đau lần này suưt ĺa trần mấy phen. Tuổi già, sinh mệnh như ngọn đèn trước gió. Nay mẹ nh́n thấy con. Th́ bệnh mẹ như dường không cánh mà bay, thân thể nghe khỏe khoắn rồi. Con đừng đau đớn nữa.

Mẹ tôi cầm nước mắt lại. Đưa tay nâng tôi dậy. Từ từ bà quay nh́n cô bé, bảo rằng:

- Đây là anh hai của con. Từ nhỏ anh sống xứ người, nên con chưa gặp mặt lần nào.

Quay mặt lại nh́n tôi, mẹ nói tiếp:

- Đó là đứa con gái nuôi của mẹ (dưỡng nữ). Năm nay nó mười một tuổi. Nhỏ hơn con năm tuổi. Nó là em của con vậy, nó săn sóc mẹ rất chu đáo, mẹ thương nó hết sức. C̣n con chị của con ngày mai hay tin con đă về, th́ nó sẽ tới gặp mặt. Chị của con đă lấy chồng hai năm nay. Việc nhà chồng bề bộn lắm, nên nó ít khi về nhà. Từ nay mẹ có được hai anh em con đây ở bên, th́ thật là điều an ủi. Mẹ tạ ơn Trời Phật đă rủ ḷng che chở không để cho con của mẹ tan nát thịt xương ở xứ người.

Mẹ tôi nói xong, tôi nh́n cô em bé đang nép thân bên mẹ, hai mắt rướm lệ. Lúc bấy giờ, cảnh huống thật là tịch mịch đ́u hiu. Cảnh vật bốn bề cũng khơi rộng những yêu thương và luyến tiếc của  người ta. “Chỉ có mơ màng một băi xa. Tuyệt mù chỉ nhạt phai và. Véo von tiếng chở lưu ly mộng. Trong khoảng đêm trường ma gọi ma”.

Tuy nhiên?

“Ḷng xin bốn phía mở cho trăng
Khách lạ mười phương cũng đăi đằng
Nước ngọt vẫn tuôn, vườn đợi hái
Đường không ngăn cấm, cỏ chờ băng”

Dù sao chăng nữa? Vâng:

“Những cặp chim hồn lạc hướng bay
Tấc gang cách trở nhớ muôn ngàn
Cô hồn dựng núi lên cao ngất
Lời chẳng giao lời tay tạ tay”

Một lát sau mẹ tôi xoa đầu chúng tôi mà rằng:

- Các con đừng buồn nữa. Mai mẹ sẽ khỏi bịnh, mốt mẹ sẽ dắt con tới viếng phần mộ ông ngoại con và ba con, cầu nguyện vong linh phù hộ cho con. Bà con thân thích nhà ta cũng đông đúc lắm. Sau này mẹ sẽ dẫn hai anh em con đi thăm viếng và du ngoạn khắp miền. Mẹ đau nặng, nằm măi trên giường bệnh đă lâu, nay nhân dịp mà du hành một cuộc, cho thư thái xương xẩu và phong vật các làng xă quê người.

Lúc bấy giờ chợt người bếp trở vào bên mẹ tôi, dường như có ư hỏi han điều ǵ?

Mẹ tôi đứng lên và dặn em gái tôi như thế này:

- Huệ Nhi, con hăy dẫn anh hai con ra ngoài xem phong cảnh trước nhà, anh con mới về, phong trần bộc bộc tội nghiệp quá!

Xong bà quay sang phía tôi chỉ người bếp mà rằng:

- Tam Lang, con hôm nay về ở gia đ́nh, mọi sự đều do A Trúc coi sóc. A Trúc giúp việc nhà ta hơn mười năm nay, chị thật là người trung hậu thành thực, mẹ thương mến cô ta lắm lắm.

Mẹ tôi nói xong th́ bước xuống thang lầu, lo cơm nước buổi tối cho thằng con có dịp ăn no một trận. Tôi trong ḷng nghĩ rằng trong thiên hạ, ḷng nhân từ của người ta không đâu bằng t́nh thương của mẹ đối với con cái. V́ vậy, nên những thằng con đứa cái luôn luôn suốt kiếp phải phiêu bồng mới làm thơ lai rai được.

“Người ta bảo người mẹ chàng hay khóc
Chia gia tài cho con quư lệ đau
Chàng là con một người mẹ hay sầu
Nên trọn kiếp mắt chàng thường đẫm lệ
Người thi sĩ cũng nguyện cầu Thượng Đế
Một đôi lần
Nhưng vốn nghiệp đi hoang
Th́ chết rồi chắc người vẫn lang thang
Như buổi sống ở trong bầu trăng gió
Ở địa ngục hay Thiên đường không rơ…”

Tôi bước theo chân em gái. Ra tới mặt trước nhà. Chính vào lúc trời chiều lăng văng bóng hoàng hôn. Mặt trời lặn xuống bên dăy núi Yentfu. Ngư phủ quay thuyền về bến. Màu trời màu biển, màu sắc rặng núi xa xa, thật nhiên là thanh kỳ thiên nhật vậy.

Hốt nhiên nghe vẳng lên giữa mù sương tịch mịch tiếng chuông chùa ở sau núi. Tiếng chuông chậm răi ḥa lan vào với  tiếng chim hải âu, dơi theo tiếng thủy triều mà ch́m vào hư không vắng lặng.

Em gái bảo:

- Đó là tiếng chuông chiều tại Thần Vũ cổ tự đấy anh ạ.

 

 

CHƯƠNG CHÍN

Đêm đến, tôi viết hai bức thư: một bức thư gửi cho bà vú nuôi. Một bức gửi về mục sư Robert. Trong hai bức thư, tôi đều nói rằng ḿnh b́nh an về tới gia đ́nh, gặp mặt từ mẫu. Và kể rằng mẹ con tôi cảm tạ ân đức kia không bao giờ quên.

Mẹ tôi gởi bà vú nuôi một trăm đồng vàng, dặn ḍ mẹ con bà vú nuôi hăy giữ ǵ thân thể cho khỏe mạnh, ngày sau tự nhiên sẽ có phen tái hội.

Viết xong hai lá thư, tôi thấy máu me mỏi trong ḿnh, bèn đánh một  giấc ngủ vùi mê man.

Ngày hôm sau thức giấc, mặt trời hồng chiếu dương quang qua song cửa. Tôi khoác áo đi tắm một trận. Tắm xong, lên lầu gác, nh́n thấy ngọn Phù Dung Phong ( Fujiyama) chọc thẳng đỉnh chót vót phiêu phiêu trên mặt sóng vàng kim hải. Phổi tim tôi bỗng chan ḥa một trận. Nghe chừng như gột rửa sạch sẽ hết mọi trăm năo ngàn phiền dơ bẩn mốc meo ở trong thớ máu và ở trong các khớp xương sườn (kể cả xương bánh chè cũng vậy). Ngày đó mẹ tôi bỗng nhiên tinh thần b́nh phục, lăng xăng trần thiết mọi sự vật cho tôi, không nghỉ ngơi một phút nào cả.

Tôi về nhà đă được hai ngày. Qua tới ngày thứ ba, vừa mới tinh sương, mẹ tôi đă dắt tay hai đứa tôi vội vă tới nhà ga xe lửa. Ấy là cuộc đi Tảo mộ tại Tiểu Điền Nguyên (Odawara).

Đó là một ngày âm u và rét mướt. Chuyến xe đi giữa mịt mờ hoa tuyết phấp phới đầy không gian. Cảnh vật trên dặm trường thật là ảm đạm tiêu tao. Tới lúc xe đậu lại trạm Tiểu Điền Nguyên, th́ thấy mọi nẻo đường đều dằng dặc đầy tràn những tuyết. Khắp làng mạc ch́m trong gió tuyết, v́ thế nên t́m không ra một bác phu xe tay nào hết cả. Mẹ tôi bèn mướn một người đàn bà nhà quê cơng em tôi đi. Rồi ghé lại chỗ dịch trạm mua một bó hoa tươi tốt. Sau đó, tôi nâng đỡ mẹ tôi bước đi có hơn ba dặm đường tới chân một ngọn núi. Tôi ngẩng nh́n lên chóp núi, thấy lộ ra trên đó một góc vách tường hồng. Mẹ tôi đưa tay về phía đó bảo rằng:

- Đó là Long Sơn Tự ( chùa Ryusan). Mộ của ông ngoại con và ba con ở trên đó.

Chúng tôi lần lượt chậm răi leo đá núi mà lên. Lúc tới gần cửa chùa, thấy có hai câu đối in đậm đà nét chữ:

Bồ đoàn tọa nại giang đầu lănh
Hương hỏa trùng sinh kiếp hậu khôi.

(Bồ đoàn, ngồi lại nguyện cầu
Luống từng chịu gió giang đầu giá băng
Trùng sinh kiếp hậu há rằng
Tro là hương hỏa mộng hằng là than
Ngồi suông trên tấm bồ đoàn
Ngày xuôi dốc tuột hai hàng thái hư)

Tôi trong ḷng thầm nghĩ rằng hai câu đối thật là thâm trầm chỉnh đốn.

Nhưng v́ lẽ ǵ ḷng nghĩ thế mà chỉnh đốn, mà mộng ước trong máu me lại ngậm ngùi không chịu đành cho rằng như thế là chỉnh tế?

Vào tới giữa điện, một vị lăo ni già nua bước ra, cùng mẹ tôi hàn huyên một chặp. Rồi vị lăo ni bước chầm chậm đi thắp hương, cùng đem lại mẹ tôi một ly nước lă.

Tôi và em gái bước theo chân mẹ ra phía sau ngôi phù đồ, thấy hai nấm mộ cha và ông ngoại nằm song song bên nhau, giống như hai giọt nước sương trên lá cỏ. Bốn phía đều có giậu rào có vuông vức dây thép gai mịn màng mát tươi. Bốn mặt trụ gỗ có khắc năm chữ; Địa, Thủy, Hỏa, Phong, Không. Đó là do phái Mật Tông biểu thị ân đức của Đại Nhật Như Lai.

Tôi và em gái tôi chạy nhặt nhánh tùng khô, đem về hươi quét sạch sẽ những mảnh tuyết tụ trên hai nấm mộ. Mẹ tôi cầm luôn nước rảy xuống, từ đỉnh nấm mộ xuống bốn phía và ba bên hai bề vẹn vẽ.

Chẳng mấy chốc, nước chan ḥa lôi cuốn ḥa chan đi hết  mọi vết tích của tuyết tụ mộ phần. Thế là bày hoa hương ra le lói được rồi vậy. Mẹ tôi nhặt một nhành lá trường thanh diệp đặt ngay ngắn vào giữa thạch án, bảo chúng tôi đồng thời quỳ chân vái lạy. Vái lạy xong tôi ôm mặt khóc tơi bời một trận.

Mẹ tôi bảo:

- Tam Lang! Tuyết phong khốc liệt lắm. Chúng ta hăy sớm liệu về thôi.

Tôi mở mắt ra nh́n lại nấm mồ, th́ thấy tuyết từ đâu xuống đă phủ đầy một lớp chẳng rơ tự lúc nào. Những đồ vật vừa bày ra lộng lẫy và le lói như thế, bỗng nhiên khoảnh khắc đă bị băng tuyết vùi lấp mất tăm mất dạng hết cả rồi. Mẹ tôi đem một ít tiền bạc gói trong giấy trắng kính biếu vị lăo ni. Rồi cáo biệt. Xông pha vào giữa tuyết mà xuống núi.

“Ngập ngừng mép núi quanh co
Lưng đèo quán dựng mưa ḷ mái ngang
Vi vu gió hút nẻo vàng
Một trời thu rộng mấy hàng mây nao”

Tôi bày em tôi ngâm thơ vừa thuộc th́ mẹ tôi bảo:

- Tam Lang! D́ của con năm ngoái đă dời sang Sương Căn (Hakone). Miền đó cũng ở gần vùng này. Bữa nay mẹ muốn dẫn con tới viếng d́ con. Con hăy biết rằng thuở con c̣n nhỏ, d́ của con yêu dấu con như một con phượng non, như một con bồ câu ra ràng b́nh minh mới mẻ thái b́nh vậy. Thuở bấy giờ một ngày không thấy con, th́ d́ con trong ḷng buồn bă. Lúc mẹ dẫn con sang bên Trung Quốc, th́ d́ con hết sức cản trở. Con đi rồi, d́ con tan nát can trường. Tam Lang, con hăy ghi nhớ ân t́nh của d́ con, đừng có quên đấy nhé.

Tôi đáp:

- Con sẽ không quên.

Mẹ bảo tiếp:

- D́ con dạy bảo điều ǵ, con đừng trái ư nhé.

Tôi đáp:

- Con sẽ không trái ư d́ con bất cứ điều ǵ.

Mẹ bảo:

- Được.

 

 

CHƯƠNG MƯỜI

Lúc tới nhà d́, người giữ cửa thông báo, d́ tôi liền ra đón mẹ tôi.

Rồi d́ sang nh́n tôi, hỏi mẹ tôi:

- Cậu này là khách từ đâu lại?

Mẹ tôi cười đáp:

- Tam Lang đó, mới về mấy bữa nay.

D́ tôi nghe ra, mừng rỡ vô cùng. Bảo:

- Thật sao ! Tam Lang c̣n sống trở về! Sao chị không đánh điện tín báo em hay!

Vừa nói d́ vừa đưa tay phủi mấy đóa hoa tuyết rớt trên vai tôi, chậm răi than một tiếng:

- Tội thay Tam Lang. D́ không thấy mặt cháu đă mười mấy năm! Ngày nay trông tướng mạo cháu, thật khó nhận ra, con gầy ốm hơn lúc nhỏ. Con đi đường mệt lắm. Vào nhà thôi.

Chúng tôi theo gót d́ vào pḥng. Cởi áo ngoài ra. Hốt nhiên thấy một nữ lang đem khay trà tới. Nàng vận y phục nhạt màu, dáng đi thật là tha thướt. Nàng chào chúng tôi. Tôi ngồi một bên nh́n nàng. Thấy nàng quả thật là thanh tao diễm lệ hơn người. Ḷng tôi bỗng nhiên nghi nghi hăi sợ, dường như từng đă có gặp nàng từ lâu ở nơi nào…

D́ tôi cầm một đôi que sắt tro lạnh trong ḷ. Vừa gạt tro vừa nói:

- Chị em ta xa nhau hơn một tuần rồi, khiến ḷng nhớ nhung. Ngày đó tiếp được thư chị, mới hay rằng bịnh t́nh chị đă bớt, mới yên tâm chút ít. Nay Tam Lang về, thật tưởng như là chiêm bao mộng ảo. Em mừng hết sức.

Mẹ tôi đáp:

- Cảm ơn em. Chị tuy trong ḿnh c̣n bệnh tật tuổi tác già nua, nay thấy mặt Tam Lang, th́ khoan khoái vô cùng, nhưng trông Tam Lang xanh xao đáng thương quá.

Lúc bấy giờ nữ lang kia đă pha trà hoàn bị, đem lại mời mẹ tôi. Tôi nhận thấy nữ lang lúc đó e thẹn bối rối, dường như lóng cóng cả tay chân. D́ tôi biết thế, quay sang nh́n nữ lang nói:

- Tĩnh Tử! Ta c̣n nhớ thuở Tam Lang ra đi, con đă biết buồn rầu nỗi ly biệt, con đă khóc lóc giàn giụa. Con c̣n nhớ chăng?

Rồi  d́ bấm đốt ngón tay nói tiếp:

- Con lớn hơn Tam Lang đúng hai mươi mốt tháng (gần tới hai tuổi) thế th́ Tam Lang là em của con vậy, con chẳng nên ngượng nghịu bối rối như  thế.

Nữ lang làm thinh không đáp, chậm răi đưa bàn tay ngọc ra vuốt vào mái tóc mai của em tôi. Hai má nữ lang trông có vẻ ửng đỏ chút ít.

Dùng cơm tối xong, tôi chợt nghe thấy trong ḿnh mệt mỏi. Đầu óc choáng váng, tứ chi nóng rần, xương xẩu máu me trở cơn sốt ran ran.

Suốt đêm trằn trọc không ngủ được. Bệnh nặng phát tác mất rồi!

Sáng hôm sau, trời vẫn c̣n tuyết liên miên. Mẹ tôi, d́ tôi và mọi người trong nhà đều buồn rầu hết sức, bảo rằng chứng bệnh kia không nhẹ.

Tôi mặc dù nằm rên rỉ trong chăn, nhưng không thấy đau khổ, nhân v́ mới về lại gia đ́nh, nhận ra rằng từ thuở nhỏ đến nay, chưa có bao giờ hân hoan êm đềm như ngày đó.

Tôi suy gẫm lại mọi sự việc đă xảy ra trong đời tôi từ ngày bước chân vào chùa tới lúc bấy giờ: việc gặp gỡ ân sư, gặp gỡ mẹ con bà vú nuôi, và gia đ́nh mục sư Robert… Mọi người đều yêu thương tôi không khác ǵ con ruột, th́ như thế, mọi nỗi phiêu linh tân khổ đă trải qua từ trước, kể cả cũng được đền bồi. Nhưng lúc nghĩ tới Tuyết Mai, nàng phải một ḿnh ôm mối đau ḷng không nói ra được với ai hết cả.

Tuy nhiên sự việc tôi đi tu và việc Tuyết Mai, tôi giấu hết, không nói cho mẹ tôi rơ, sợ mẹ đau ḷng. Hai sự việc kia, xuất gia và hợp hôn, quả thật là mâu thuẫn nhau triệt để; một đằng sang Đông, một đằng sang Tây; một đằng nằm im, một đằng rục rịch. Tôi đă nguyện tu hành cho đắc đạo rất mực chân tu, th́ cố nhiên không thể nào lấy vợ; nhưng đă đi tu, c̣n có thể nào về bên mẹ măi măi được không?

Trong khi tôi quẩn quanh tư lự gần xa như thế, mẹ và d́ bước vào. D́ tôi tay bưng bát thuốc lá cây rễ cỏ, bước tới bên mép giường bảo:

- Tam Lang, bệnh của cháu là một loại cảm mạo. Bây giờ cháu ngồi dậy uống thang thuốc này, một vài ngày sau ắt sẽ khỏi bệnh. Loại rễ thuốc lá hoa này do d́ tự tay hái ngắt về. Tam Lang, d́ của con hằng ngày chẳng có việc chi làm, th́ giờ nhàn rỗi chỉ có biết đi vào trong núi ở trong rừng mà hái lá, ngắt rễ cây. Đem về bào chế ra thuốc, rồi đem cho những kẻ nghèo khó mà đa bệnh để họ dùng trong lúc tai nạn. Phải nên biết rằng trong thế gian, các ông thầy thuốc chẳng ông nào là chẳng tham tiền; do đó kẻ nghèo đói nếu rủi ro lại vướng bệnh, chỉ c̣n biết buông tay mà chết. Những chuyện thương tâm thảm nhục (đau ḷng xót mắt) chẳng có chuyện nào đau đớn hơn sự t́nh trạng huống kia. D́ tự nghĩ ḿnh c̣n chút sống thừa le lói, trừ cái cuộc đi hái lá cây về làm thuốc giúp người th́ chẳng c̣n việc chi lạc thú nữa cả. C̣n như những việc đốt hương niệm Phật lâm râm theo lối những người đàn bà ở làng thôn (thôn làng thôn xă) th́ ấy là điều mà d́ của con chẳng làm đâu. Tam Lang! D́ và mẹ của cháu đều già nua hết rồi. Ngạn ngữ có câu: “Người già nua thêu thùa sự vụ là cốt để giao thụ cho người sau” - lăo giả dự vị giao đại sự [1]- Ấy bởi rằng lời trong ư là nói người già nua chỉ nên v́ người sau mà mưu việc hạnh phúc, c̣n tự thân ḿnh vất vả, th́ không bận tâm lấy làm điều gay cấn cho lắm đâu. Xét riêng gia cảnh của d́ hiện nay, th́ thằng con của d́ đă phục vụ trong ngành hải quân, nó đă lấy vợ lập gia đ́nh rồi, th́ d́ chẳng c̣n phải v́ nó mà lo lắng sự ǵ[2]… Ngày nay, c̣n đứa gái Tĩnh Tử kia ḱa, nó là kẻ rất mực của d́ lưu tâm quan thiết. Tĩnh tử (Kiyoko) mồ côi cha thuở nó c̣n bé, nó nương tựa vào d́ đă mười mấy năm nay. D́ chỉ biết… d́ nghĩ rằng… mọi sự thôi th́ hăy nên ủy thác hết cho Thiên mệnh vậy.

D́ tôi nói tới đó, th́ trầm ngâm một lúc, thở dài một tiếng, rồi nh́n tôi nói tiếp:

- Tam Lang, ngày trước mẹ cháu từ Trung Hoa về lại xứ nhà, chưa được ba tháng, th́ tiếp được một lá thư của gia đ́nh nghĩa phụ của cháu, báo tin cho biết rằng “Tam Lang leo lên núi, bị cọp ở trong rừng vồ nuốt mất h́nh hài thân thể tứ chi”. Nghe tin sét đánh đó, d́ gẫm rằng bên xứ ấy vốn xảy ra nhiều tại nạn cọp bắt người ăn thịt xương, th́ d́ tin rằng sự việc kia là có thật. D́ và mẹ cháu ôm nhau khóc một trận tưởng như chết mất ra ma, rồi v́ quá đau ḷng mà hai chị em vốn đă già, lại tăng thêm già nua, thêm hơn hai mươi tuổi nữa.

Thần thái đă ra người lẩm cẩm. Sự việc đời c̣n mà ra như thế, c̣n biết tính ra làm sao, chỉ c̣n biết ngày đêm cầu nguyện ông trời xanh, chúc cho vong hồn cháu tiêu dao du, mà ghé về xứ nhà ứng mộng chiêm bao cho mẹ cháu.

Tôi lắng tai nghe d́ kể lể giọng thật bi thảm. Trong ḷng tôi lại ùn ùn trào dậy bao nhiêu mối u sầu trường hận cũ, trái tim và hai lá phổi như muốn vỡ toang ra một trận, chẳng c̣n biết ăn nói ra làm sao cả .

Thật lâu sau, ngẩng mặt nh́n mẹ, nhận thấy dung nghi điềm đạm, không c̣n bi thiết, th́ tôi cố gắng đàn áp mối bi thống trong máu xương ḿnh, cung kính nói mà rằng:

- Con xin ghi tạc mối t́nh thương yêu của d́. Những phen lao đao vất vả cháu trải qua, đă thành chuyện quá khứ mơ hồ, không thể nhắc gợi ra nhiều chi nữa, con xin d́ và mẹ hăy xếp lại đừng bận ḷng chi tới. Từ nay về sau, con ở lại nhà, sớm hôm phụng bồi d́ và mẹ, th́ ḷng con sung sướng tràn lan rất mực lắm rồi.

Tôi nói xong, mẹ tôi giục uống bát thuốc, một lúc sau, toàn thân tôi mồ hôi ra như tắm, tôi mỏi mệt khắp cả h́nh hài xương xẩu, nhắm mắt thiêm thiếp miên man.

 

 

[Nhà Sư Vướng Lụy 1 - 5]  [Nhà Sư Vướng Lụy 6 - 10] [Nhà Sư Vướng Lụy 11 - 15] [Nhà Sư Vướng Lụy 16 - 20] [Nhà Sư Vướng Lụy 21 - 26]