Chùa Hải-Đức in Jacksonville
|
Bhutan có ǵ lạ? Thích Như Điển Phật Lịch 2.545 - 2001
Trung Tâm Văn Hóa Xă
Hội Phật Giáo Việt Nam ◄♣►
Mục Lục
Chương II: Nhân duyên hội ngội với Bhutan Chương III: Chuẩn bị một cuộc hành tŕnh Chương V: Nụ cười của Hoàng Hậu Chương VII: Nhục thân Bồ Tát và Cố cung Chương VIII: Thế giới phương tây cực lạc Chương IX: Những ngày đợi trông
Chương nầy vẫn c̣n tiếp tục với Chương Bốn; nhưng tôi cố ư cách ly ra như vậy để thấy rằng phái đoàn của chúng tôi hôm nay ngày thứ tư 25.4.2001 có một số công việc trọng đại vậy; nhưng trước khi đi thăm Hoàng Hậu vào buổi chiều, sáng hôm ấy chúng tôi có một số chương tŕnh cần phải thăm viếng như sau: Vào lúc 9 giờ 30 sáng ngày 25.4 phái đoàn của chúng tôi đă đến Văn pḥng của ông Bộ Trưởng Bộ Văn Hóa. Ông ta tên là Sangay Wangchug. Địa chỉ Post Box Nr. 233 Thimphu, Bhutan. Tel. 02/322001 - 325116 - 322694 - Fax: 00975 - 2 - 323040. Ông ta lo về vấn đề văn hóa. Tuy nhiên trong tương lai nếu có ai đó muốn đi Bhutan đều phải qua ông nầy và không phải qua Bộ Ngoại Giao Bhutan nữa. Hôm ấy Thầy Kinga T. Dorji cũng có mặt nữa. Thầy nầy cũng là một trong hai Thầy đă ở tại Hannover trong ṿng thời gian 6 tháng; nên đă biết chúng tôi. Khi gặp th́ ai cũng vui mừng.
Tại văn pḥng của ông Bộ Trưởng Bộ Văn Hóa.
Mới đầu th́ ông Bộ Trưởng Bộ Văn Hóa nói tiếng Bhutan, rất đúng phép xă giao và rất lịch sự. Đoạn để cho một trong hai Thầy Bhutan dịch ra tiếng Anh. Hai Thầy nầy cũng đă cùng với ông ta đi sang Hà Nội vào năm 1994; nên quư Thầy ấy cũng biết ít nhiều về Việt Nam trước khi đến Đức. Được biết ông ta là một học giả tiếng Pali và nhiều ngôn ngữ khác tại Á Châu cũng như Anh văn. Sau một hồi thông dịch th́ ông lại tự nói tiếng Anh một cách lưu loát. Ông ta đă du học tại Tích Lan và ông rất rành về Phật Giáo. Nghe đâu ông ta cũng là một Tu Sĩ và không tu tiếp tục được nữa; nên đă ra đời. Tướng người cao ráo, lịch thiệp và rất hiểu về người ngoại quốc. Cung Văn Hóa của ông nằm trong cung điện của nhà Vua, có lính gác hầu hai bên cửa vào và cũng là nơi làm việc của chư Tăng nữa. Như phần tổng quát chúng ta thấy các Hội Đồng Cố Vấn Hoàng Gia và các Bộ đều có sự hiện diện của Tăng Sĩ. Do vậy nơi cung điện nầy được chia ra 3 phần chính: - Phần ở ngoài có chánh điện trang nghiêm, là nơi để cho Vua, Hội Đồng Bộ Trưởng và chư Tăng lễ Phật trước khi hội họp. - Phía bên phải là văn pḥng của chư Tăng. - Phía bên trái từ ngoài nh́n vào là nơi làm việc của các Bộ. Cả hai bên khi vào cổng đều có lính hầu và được kiểm soát rất chặt chẽ. Ví dụ như tất cả mọi người ra vào đều bị kiểm soát qua tia quang tuyến như các máy rà tại phi trường vậy. Nơi đây cũng không được chụp h́nh hoặc quay phim. Nếu có, chỉ ở phía bên ngoài, chứ bên trong th́ tuyệt đối. Xe ngoại giao chở chúng tôi đi thẳng vào cửa chính, đỡ tốn công đi bộ và v́ thế cho nên có nhiều người để ư, h́nh thức th́ giống như một Tăng Sĩ; nhưng thực tế là một Tu Sĩ ở cấp bậc ngoại giao. Bởi vậy có lúc những người Đức đi cùng gọi tôi là Minister Ehrwürdiger cũng có nghĩa tương đương như vậy. Đây chỉ là ngôn ngữ ngoại giao mà. Sau khi dùng trà sữa Bhutan th́ chúng tôi được ông Bộ Trưởng Bộ Văn Hóa tiễn biệt ra cổng và sau đó chạy xe đến thăm Tu viện Dechenphodrang ở gần đó. Tu viện đă được xây dựng tại Thimphu cách đây 350 năm, nên rất cũ kỹ. Trong hiện tại Tu viện nầy có 350 vị Tăng Sinh. Họ học từ Sơ cấp đến Trung cấp. Lên Trung cấp th́ học nhiều môn học khác nhau như: Thiền văn học; Kinh tạng; Luật tạng và Luận tạng. C̣n những lớp nhỏ bên dưới học lễ nhạc cũng như học Anh văn, tiếng Tây Tạng và tiếng Bhutan.
Thăm và cúng dường cũng như tặng quà cho Tu Viện Các Chú Tiểu đang học Lễ nhạc Phật Giáo. Đa phần ngồi học không có bàn ghế và có môn học không có bảng đen để viết, mà mỗi Chú Tiểu như thế có một tấm bảng nhỏ, chỉ lớn hơn quyển tập, đổ cát có pha màu đen vào đó. Sau khi lấy cọ vẽ chữ rồi, lại xóa đi và viết tiếp những ḍng chữ khác. Trông rất tội nghiệp và khổ hạnh. V́ thế Sư Bà Diệu Tâm có đặt câu hỏi là: Tại sao không ngồi trên bàn mà ngồi dưới đất vậy cho cong lưng? Th́ được trả lời rằng: Chính những Chú Tiểu nầy phải vượt qua những cám dỗ về tiện nghi đó và đây chỉ là những thử thách nhỏ ban đầu của một người tu trên đoạn đường sanh tử ấy.
Lớp Trung đang học về Luận học.
Pḥng học cũng là pḥng ngủ và đôi khi cũng làm cả pḥng ăn luôn. Do đó vấn đề vệ sinh tại nơi đây phải nói rằng không được khả quan lắm. Hầu như các Tu Viện hoặc Phật Học Viện lớn tại Việt Nam ngày xưa cũng như thế; nhưng ít ra mỗi người cũng có một cái đơn, tức là chiếc giường nhỏ vừa đủ nằm; nhưng ở đây th́ hầu như không có. Trông các Chú Tiểu rất hồn nhiên và như thế tôi đă nhớ về thời quá khứ xa xưa gần 40 năm về trước khi c̣n hành điệu ở Chùa Phước Lâm và Viên Giác tại Hội An có lẽ cũng chỉ đỡ hơn chút xíu thôi.
Một lớp học khác Phái đoàn cũng đă mang theo kẹo và Chocolat từ Đức; cho nên ở đây có cơ hội để phát cho mỗi Chú Tiểu một cây. Chú nào cũng cười và giơ hai tay ra đón nhận. Biết đâu trong những người ấy sẽ có người là những bậc Đại Sư danh tiếng trong tương lai, sẽ phổ độ quần sanh; cho nên mọi người đă cúng dường một cách rất trịnh trọng và không phân biệt người nào cả. Tôi nhớ lại ngày xưa khi c̣n hành điệu tại Chùa Tổ Phước Lâm ở Hội An cũng cực không ít. Nguyên Phước Lâm là một đồi cát mà trong chùa th́ trồng rất nhiều cây cảnh và rau quả để dùng. Do vậy các Chú Tiểu chúng tôi mỗi ngày phải gánh nước tưới cây 2 lần như thế. Mỗi lần đổ nước xuống, chỉ thấy một cái vèo thôi, nước thấm đi đâu hết. C̣n phân th́ cũng chẳng có. Do vậy cây cối lên không xanh mượt như những vùng đất mầu mỡ khác. Để tạo kinh tế tự túc cho chùa, Thượng Tọa Thích Như Vạn, tức Bổn Sư của Thầy Hạnh Tuấn ở Mỹ, đă có một nhà làm nhang để phát hành. Mỗi một tuần như vậy mỗi một Chú Tiểu như chúng tôi phải làm 10.000 cây nhang như thế. Ai muốn làm lúc nào cũng được, miễn đủ 10.000 cây nhang th́ thôi. Thuở ấy Chú Hạnh Thu làm Chúng Trưởng, Chú Hạnh Đức, mà bây giờ là Thượng Tọa Thích Hạnh Đức trụ tŕ Chùa Sơn Linh ở Bà Rịa đó, là những người phác họa chương tŕnh cho học chúng chúng tôi. Chùa Tổ Phước Lâm tại Hội An trùng tu vào năm 1964, thuở ấy tôi mới vào xuất gia, tâm hồn c̣n rất thơ ngây trong trắng ở lứa tuổi 14 tuổi rưỡi như thế, cho nên mọi việc cực nhọc rồi cũng qua đi. Đến năm sau th́ tôi lại về Chùa Viên Giác. Khi c̣n ở Chùa Phước Lâm, trong khi c̣n làm chùa, học chúng chúng tôi kéo xe ḅ lên Cẩm Hà để chở gạch và cát về làm chùa. Suốt đoạn đường đi thôi th́ ḥ hát vui nhộn; nhất là những đêm có trăng. Cũng có nhiều người làm công quả và sau nầy xuất gia như chú Quảng tức Thượng Tọa Thích Hạnh Thiền ngày nay đang làm chánh đại diện Hội An; chú Huân tức Thượng Tọa Thích Thị Tập, h́nh như là Hạnh... ǵ đó tôi quên đi rồi. V́ những vị nầy xuất gia sau tôi và sau nầy ít c̣n liên lạc nữa. Ngày ấy sao mà vui quá; bây giờ h́nh ảnh tuổi thơ cứ c̣n lởn vởn trong đầu óc của ḿnh khi có một dịp nào đó th́ nó hiện lên liền; nhất là lúc nầy đây đang thăm Tu Viện Phật Giáo tại Bhutan nầy. Thế rồi ngày lại tháng qua gần 40 cái mùa xuân thu mưa nắng như thế; riêng tôi th́ đă ở ngoại quốc đă vào năm thứ 30 rồi; hồi ấy anh em học chúng rất đông, mấy chục vị. Bây giờ chỉ c̣n lại bốn năm người cùng trang lứa mà thôi. Quả là đời tu như bông xoài trứng cá là thực tế. Từ năm 1966 đến 1968 tôi làm điệu tại Viên Giác - Hội An. Thuở ấy Viên Giác chỉ có Sư Phụ và 3 chú Tiểu với tôi là bốn. Sau nầy có một bà tịnh hạnh nhân nữa làm công quả. Như vậy chùa cũng không có ǵ là đông; nhưng mỗi tháng 4 lần như thế; tôi và chú Ngô phải xay đậu hủ; sau đó là "bọng" đậu hủ và nấu đậu hủ cũng như ép đậu hủ để cho vị tịnh hạnh nhân nầy đem ra chợ Hội An bán lấy tiền mua tương chao cho chùa. Đó cũng là một kế hoạch kinh tế tự túc nhỏ của Thầy tôi. Cối đá càng nặng bao nhiêu, tôi càng phải trườn theo độ nhạy của nước và đậu khi chú Ngô cho đậu vào miệng cối. Nhiều lúc thân tôi phải trải dài lên cần xay như thế để tạo lực cân bằng. Sau nầy tôi chưa có dịp về lại Viên Giác; nhưng Sư Phụ tôi trước khi viên tịch, Người có bảo rằng hăy giữ cái cối đá ấy để sau nầy tôi có về lại nước, thấy đó mà hồi tưởng lại kỷ niệm của những ngày làm đậu của thuở c̣n học tṛ. Nhiều người thấy bàn tay tôi dài và thân h́nh tôi cao lớn hỏi tôi tại sao ăn chay mà được như vậy? Tôi bảo rằng: Đó là nhờ gánh nước tưới cây tại chùa Phước Lâm và xay đậu làm đậu hũ ở chùa Viên Giác tại Hội An đấy! Ai cũng nhăn mắt cười và có lẽ họ không tin tôi hay đó chỉ là cái cười xă giao để đáp lễ mà thôi. Từ 1968 đến 1972 th́ tôi ở Sàig̣n chẳng có ǵ vui, chỉ lo vùi đầu học và tu, cốt lấy bằng Tú Tài để đi ngoại quốc. Rồi thời gian cứ như thế mà trôi, từ thuở xuân xanh đến lúc bạc đầu như thế nầy mới thấy được những kỷ niệm rất nhỏ của ngày xưa, bây giờ lại quư giá vô vàn như thế đó. Kỷ niệm nó không là vàng bạc châu báu; nhưng nó giúp người ta có một cái nh́n về quá khứ một cách tŕu mến dễ thương. Dễ ai lấy quyền hay lấy tiền mua hay chiếm đoạt những kư ức hồn nhiên ấy. Bởi thế có nhiều người lúc về già rồi mới ngồi viết hồi kư là vậy. Lúc ấy kho tàng của tuổi thơ sẽ sống dậy và có nhiều người đă trở thành văn sĩ lúc tuổi về chiều là vậy. Có nhiều người bảo tôi tại sao Thầy không viết hồi kư của tuổi thơ? Tôi bảo rằng: Tuổi thơ của tôi chẳng có ǵ để đáng viết; chỉ là một chú mục đồng mà thôi. Hay lúc ấy tôi cũng chỉ là Chú Tiểu vô danh, đâu có ǵ để mà viết; nhưng biết đâu sau nầy lại cần đến những dữ kiện nhỏ nhặt nầy. Sau khi thăm Tu Viện Dechenphodrang, chúng tôi được xe đưa đến Thư Viện Quốc Gia. Người Giám Đốc Thư Viện đă giới thiệu cho chúng tôi nghe về những loại sách, kinh mà Thư Viện hiện có. Thăm Thư Viện Quốc Gia Sau đó ông ta đưa chúng tôi đi xem từng khu một. Ví dụ như nơi chụp phim Microfilm để bảo quản tốt hơn là giữ lại những bảng kinh bằng gỗ như thế. Cũng có một số nơi các nghệ nhân đang tu bổ lại những bảng gỗ mà đă khắc kinh lâu đời bỏ vào trong những ḥm thiếc để bảo quản, tránh đi cái khí hậu khắc nghiệt tại xứ nầy.
Ông Giám Đốc Thư Viện Quốc Gia giới thiệu tổng quát về Thư Viện.
Trong Thư Viện nầy có một số bộ kinh đă có mặt cả ngàn năm, đa phần bằng tiếng Tây Tạng và tiếng Phạn. Chỉ có một ít kinh sách tiếng Anh và chữ Hán. Chữ Nhựt thỉnh thoảng có vài quyển. C̣n tiếng Việt hầu như hoàn toàn không có một quyển nào. Trông thật đáng thương cho dân tộc như dân tộc Việt Nam vậy. Một dân tộc có 4.000 năm văn hiến và 2.000 năm lịch sử Phật Giáo mà sự giao lưu văn hóa với các nước cận Á như thế, c̣n giới hạn quá chừng. Quả là điều đáng lưu tâm vậy. Sau đó phái đoàn chúng tôi trở về khách sạn để ăn trưa và chiều hôm đó c̣n đi thăm 2 nơi nữa mới đến lượt diện kiến Hoàng Hậu. Vào lúc 14 giờ phái đoàn đến một trường dạy nghề tên là Zoriz Chusum để xem những nghệ nhân họ vẽ và tạc tượng Phật. Có nhiều lớp học khác nhau. Mỗi lớp như thế có một Thầy giáo chuyên môn hướng dẫn. Ở đây đa phần là Cư Sĩ, thỉnh thoảng mới thấy một vị Tu Sĩ ngồi tạc tượng Phật. Khi chúng ta nh́n một h́nh tượng như thế, chúng ta nghĩ rằng đơn giản hoặc chúng rập khuôn với nhau; nhưng điều ấy không phải, cứ mỗi một h́nh tượng như thế phải có một chiều b́nh hành, hoặc lục giác hoặc h́nh tam giác cân, để người họa có thể căn cứ vào đó mà vẽ chân mày, mắt, mũi hoặc môi miệng. Đúng là một kỹ thuật tạo h́nh vậy. Có một số người trong đoàn muốn mua một số quà kỷ niệm; nhưng ở đây không c̣n bán lẻ nữa; nên phái đoàn phải di chuyển sang một tiệm khác ở đối diện bên đường. Trời bắt đầu vần vũ mưa, chúng tôi đang lo ngại nhất là những người mặc áo dài đẹp đẽ chuẩn bị vào Hoàng Cung. Cạnh đó có người Bhutan nói rằng cứ mỗi một việc tiếp đón quan trọng như thế mà có mưa th́ quả là rất tốt. Theo truyền thống của Bhutan chỉ có những bậc Đại Sư mới tạo nên được khung cảnh ấy. Tôi chỉ nghe và biết vậy thôi; chứ với tôi trường hợp nầy chỉ là ngẫu nhiên mà thôi. Đến thăm trường thuốc y-học truyền thống của Tây Tạng có nhiều người cũng thích. V́ hợp với nghề nghiệp của ḿnh trong đó có Đạo Hữu Diệu Đông. Vừa tốt nghiệp Hóa-học vừa tốt nghiệp Dược nên những danh từ xem qua là Đạo Hữu hiểu rành. Những cây cỏ tại đây đa phần được tuyển chọn từ vùng Hy Mă Lạp Sơn. Các máy móc trang thiết bị tại đây hầu như do Ấn Độ cung cấp. Tương đối sạch sẽ và ngăn nắp. Có lẽ v́ là một trường thuốc. Nếu nhiễm trùng th́ quả là một đại họa cho người tiêu dùng. Sau khi viếng trường thuốc xong; bây giờ phái đoàn chúng tôi chia ra làm 2 nhóm. Một nhóm 8 người trở về lại khách sạn nghỉ ngơi và nhóm 11 người chuẩn bị đi đến Hoàng Cung để diện kiến Hoàng Hậu. Tất cả chúng tôi đều muốn đi hết; nhưng v́ chỗ nơi có giới hạn. Hoặc giả phải khổ công nhọc sức cho những người phục dịch hầu hạ, cho nên chúng tôi chỉ được phép như vậy mà thôi. Có người buồn mà cũng có kẻ vui trong chuyến đi nầy. Nhưng vui buồn tất cả rồi nó cũng chóng qua thôi. Thị tỳ của Hoàng Hậu đến tận khách sạn để liên lạc bằng điện thoại không dây cho biết là phái đoàn đă chuẩn bị, phái đoàn đă vào ngơ, phái đoàn đă xuống xe v.v... đúng là cung cách của Hoàng Gia. Những nhân viên Bộ Ngoại Giao cũng đă túc trực trước cửa cung và những quà biếu th́ đi qua một ngơ khác để được qua máy rà kiểm soát. Trời hôm ấy mưa nên những cây dù bây giờ trở nên đắc dụng. Khi đến cửa chúng tôi trông thấy mọi người ở đó tất cả đều có một cử chỉ rụt rè cung kính. Đây là cảm giác lần đầu khi tôi bước đến cung son nầy. Lễ nghi ấy chắc mọi người phải học. Người ta phải học cách ăn làm sao, cách nói làm sao, cách nh́n làm sao và nhất là cách cười phải làm sao cho chủ và khách có được một cái cảm thông, th́ đó, tôi gọi là cung cách của triều đ́nh vậy. Hôm đó Hoàng Hậu ra tận cửa để nghinh đón. Tôi đi đầu và cầm một khăn trắng để trao qua Hoàng Hậu và Hoàng Hậu chắp tay lại chào với cái mỉm cười sơ ngộ. Hoàng Hậu mặc áo quốc phục màu tím hoa cà. Trông dáng Hoàng Hậu chỉ vào tuổi ngoài 40, rất trẻ và phải nói rằng duyên dáng, dịu dàng, đẹp tự nhiên. Nhất là nụ cười mà sau nầy người nào cũng để ư đến. Hoàng Hậu có một nụ cười thật tươi và thật xinh. Trước khi vào đây, tôi được các vị bên Bộ Ngoại Giao lưu ư là chắc chỉ được tiếp 15 phút mà thôi. Nghĩa là sau khi nhận quà cũng như chào hỏi là phái đoàn trở về; nhưng hôm đó có lẽ ngoại lệ gần đúng 2 tiếng đồng hồ, chúng tôi mới rời chốn cung son nầy. Căn pḥng khách bày trí rất hài ḥa. Đầu tiên Hoàng Hậu tiếp chúng tôi ở một gian pḥng khách rộng răi đủ chỗ cho 16 người, có bàn ghế và sau khi chụp h́nh th́ ở một pḥng khác. Căn pḥng nào cũng trang hoàng bằng lụa là bản xứ, từ ghế ngồi cho đến màn cửa, nhất nhất đều uy nghi để chứng tỏ là uy quyền của Hoàng Đế vẫn có ở đâu đó. Cùng với Hoàng Hậu Bhutan Ashi Dorji Wangmo Wangchuck. Nh́n thấy cung cách chào của những người Bhutan cũng khác. V́ họ biết Hoàng Hậu của họ là ai và là địa vị ǵ của dân tộc Bhutan cho nên họ rất khúm núm, ngay cả những Tu Sĩ của họ đi nữa cũng thế. C̣n chúng tôi th́ rất tự nhiên. Tuy cũng có giữ lễ ít nhiều v́ chúng tôi biết rằng chúng tôi đang đối diện với một bậc được gọi là mẫu nghi của thiên hạ. Hoàng Hậu cùng với Thầy Hạnh Hảo, Thầy Gap và Thầy Dorji.
Tôi trân trọng đưa bài diễn từ của tôi cho anh Kunzang xem trước khi đọc trước Hoàng Hậu; nên đoạn văn nầy có vài chỗ được thêm vào sau. V́ những người bên chính phủ, nhất là những người có trách nhiệm với EXPO 2000 họ cũng muốn Hoàng Hậu biết đến họ. Bài nầy do Thầy Hạnh Tấn soạn bằng tiếng Anh qua sự góp ư của tôi. Tôi ngồi cùng ghế chánh với Hoàng Hậu và đọc một bài diễn văn ngắn với nội dung như sau: Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Kính thưa Hoàng Hậu Bệ Hạ và các vị Bộ Trưởng Thưa tất cả quư vị, Tôi thật lấy làm sung sướng có mặt tại Vương Quốc của quư vị ngày hôm nay. Đây là một việc bất khả tư ngh́ của giáo lư Đức Phật. V́ chỉ có người Phật Tử mới hiểu được rằng; những người tỵ nạn Phật Tử Việt Nam chúng tôi tại Đức mới có thể nhận được những sự tiếp đón cao quư của Hoàng Hậu và các vị Bộ Trưởng cũng như sự tiếp đón những người thợ từ Bhutan tại Chùa của chúng tôi khi mà họ đến Đức để xây dựng Chùa Bhutan tại khu EXPO. Ngôi Chùa Bhutan nó không những chỉ là một biểu tượng của Vương Quốc Bhutan mà c̣n là một giá trị toàn hảo của người Phật Tử. Tôi rất lấy làm tiếc rằng đă không thể tiếp đón Hoàng Hậu, bởi v́ tôi đă có những việc quan trọng tại Pháp, khi Hoàng Hậu đến Đức. Tuy nhiên tôi cũng rất vui mừng v́ nhờ cơ hội tốt nầy mà tôi xin cảm ơn sự thăm viếng đó của Hoàng Hậu khi có ư thăm viếng Chùa của chúng tôi và c̣n tặng cho nhiều tặng vật giá trị nữa. Ở đây tôi cũng xin cảm ơn một cách công khai những người của chính phủ mà họ đă xây dựng Chùa Bhutan tại EXPO 2000. Ngoài ra tôi cũng muốn đề cập đến ông Phüntsho và ông Kunzang Trinley là những người họ đă đến đầu tiên tại xứ Đức và chẳng bao lâu trở thành những người bạn của cộng đồng người Việt Nam của chúng tôi. Với cơ hội nầy phái đoàn của chúng tôi rất là hân hạnh để thăm viếng quê hương của Hoàng Hậu và tôi cũng sẽ được hướng dẫn đi thăm nhiều nơi chốn của Bhutan. V́ tôi nghe rằng có nhiều nơi và nhiều việc tốt đẹp tại quê hương nầy vẫn c̣n ǵn giữ. Tôi biết rằng Bhutan là một quốc gia Phật Giáo. Nên với người Phật Tử tôi muốn biết nhiều về hoạt động Phật Giáo tại xứ nầy. Đặc biệt trong phạm vi giáo dục, tôi hy vọng rằng có thể giúp một vài việc cho những người Tăng Sĩ của Bhutan. Xin đại diện cho phái đoàn của chúng tôi, xin chân thành cảm ơn sự tiếp đăi một cách nồng hậu của Hoàng Hậu. Tôi nguyện cầu Đức Phật và ba ngôi Tam Bảo gia hộ cho mọi người và cho quốc gia của Hoàng Hậu đặc biệt giữ lại những truyền thống cao đẹp đó. Trân trọng kính chào. Namo Shakya Muni Buddha
Respected Your Majesty, Ministers, Ladies and Gentlemen:
I am really glad to be in your Kingdom today, this is due to a mystery of Buddha’s Dharma. Then only through the Buddhist connection we, the refugee Vietnamese Buddhist in Germany, were able to receive your Highness’ Ministers and to accommodate the Craftsmen in our monastery, when they came to Germany to build the Temple in the Expo ground. The Bhutanese Temple was not just the symbol of the Kingdom of Bhutan, but also a pride of the entire Buddhist people. I extremely regret not to be able to receive your Majesty, The Queen, by myself due to an important work in France, when you were in Germany. Therefore I would like to use this opportunity to express my thanks for visit to my monastery and for your valuable presents. At this time I wish to thank those officials who were responsible for the building of the Bhutanese pavilion for Expo 2000. Particular, I want to mention Mr. Phuentshok and Mr. Kuenzang Trinley, who were our partners when they came first to Germany and soon became friends to our Vietnamese community. In this occasion my delegation and I are of great interest in visiting your country and would like to request for a guide throughout the interesting places of Bhutan. I have heard many nice things about the country and its splendid custom. We know the Kingdom of Bhutan as a Buddhist country, and a Buddhist I also would like to know more about the Buddhist activities in Bhutan, especially in the field of education. I hope, we could be of some help to our brothers in Dharma. In the name of the whole group I would like also to express my thanks for your kind reception. I wish you all the blessing of Buddha and the triple Gems may always bless your country that it would remain in its extraordinary condition.
Thank You very much.
Sau khi tôi đọc xong bài diễn văn đó th́ mắt Hoàng Hậu như ngời lên ánh sao và Hoàng Hậu cười thật tươi như hoa xuân đang rạng nở. V́ thế sau nầy mọi người mới bảo rằng: Đúng là nụ cười Hoàng Hậu là vậy. Tôi đáo mắt nh́n xem quư vị Bộ Trưởng và hai Thầy người Bhutan ngồi xa xa phía trước, thấy họ cũng tỏ vẻ hài ḷng.
Hoàng Hậu chụp h́nh chung với Thầy Thông Trí.
Bây giờ th́ chúng tôi đàm đạo thoải mái và trà nước cũng như xôi đặc biệt cũng đă được dọn lên. Hoàng Hậu hỏi chuyện từng người và Hạnh Hảo đă giới thiệu một cách không mỏi mệt. Người nào không nói rành tiếng Anh th́ cũng có Hạnh Hảo thông dịch lại. Hôm ấy tôi đă thấy rơ đĩa vàng chén ngọc là ǵ. Tất cả đồ đem ra dọn đăi khách đều là những ǵ quư giá của Hoàng Gia. Mọi người đều uống trà của Bhutan và dùng xôi màu vàng có tính cách truyền thống.
Hoàng Hậu chụng h́nh chung với Sư Bà Thích Nữ Diệu Tâm. Phái đoàn nói chuyện rất lâu, tôi rất sốt ruột nh́n đồng hồ và trông sang các vị trong Bộ Ngoại Giao ngồi xa phía trước đó; nhưng quư vị nầy ra dấu hiệu hài ḷng và cứ tiếp tục nói chuyện không có ǵ phải lo cả. V́ Hoàng Hậu đang vui. Có lẽ nơi cung son Hoàng Hậu ít có người nói chuyện chăng? Hay với người Bhutan lúc nào cũng dạ dạ thưa thưa, khúm núm rụt rè. C̣n chúng tôi một phái đoàn đến từ Âu Châu, ăn nói tự nhiên nên Hoàng Hậu không c̣n nghĩ đến th́ giờ nữa. Nhiều lúc c̣n phá cười lên khi có một vài người nói lạc điệu. Ví dụ chú Hạnh Định nói tiếng Anh và giới thiệu về nước Na Uy, nơi mà Chú đă có cơ hội định cư ở đó nhiều năm. Nước Na Uy về môi sinh tốt như Bhutan. Nào là có thác nước, có cảnh đẹp và cuối cùng th́ Chú bảo rằng: Nếu Hoàng Hậu đi sang đó th́ Chú sẽ là người hướng đạo cho Hoàng Hậu. Do vậy mà Hoàng Hậu cười và mọi người đều cười theo. Theo phép ngoại giao th́ không nên nói những lời như thế. V́ giữa các quốc gia có giao hảo với nhau, đều có các cơ quan ngoại giao lo vấn đề nầy làm sao mà cho tới ḿnh làm được việc đó. Sau khi dùng trà nước, xôi, th́ chúng tôi xin phép chụp h́nh chung với Hoàng Hậu. Hoàng Hậu rất tự nhiên, không có ǵ khách sáo cả. Nếu là người nữ th́ Hoàng Hậu ngồi sát vào và c̣n cụng đầu gần nhau nữa. Nếu là người nam th́ có một chút khoảng cách. Nếu là người Âu Châu th́ Hoàng Hậu càng tự nhiên hơn. Quà biếu hôm đó là 4 tấm tranh sơn mài lớn tạo thành tấm chắn gió để trong nhà và một hoa sen bằng pha lê tuyệt đẹp. Đây là món quà từ xa xôi mang đến để tặng Người. Một món có xuất xứ từ Đức và một món có xuất xứ từ Việt Nam chuyển sang Pháp, rồi từ Pháp sang Đức; để sau đó từ Đức bay qua Thái Lan và Bhutan. Đúng là một chặng đường dài cả mấy chục ngàn cây số vậy. Trước khi ra về th́ Hoàng Hậu chắp tay cúi đầu và c̣n đem đầu ḿnh cụng vào đầu tôi nữa. Thật là một việc làm mà tôi không ngờ; nhưng đồng thời tôi cũng không né tránh. V́ đó là việc tự nhiên. Vả lại cũng là truyền thống của Bhutan khi đă trở nên quen thuộc. Tôi có hỏi những người sau đó có làm như vậy không? th́ bảo có chuyện ấy vậy sao? Có lẽ tùy theo từng người mà Hoàng Hậu chia tay như vậy chăng? Đến nỗi sau nầy có lần nói chuyện tại chùa Vạn Hạnh ở Ḥa Lan, Thầy Thông Trí c̣n bảo rằng: Thấy Thượng Tọa và Hoàng Hậu ngồi chung một ghế và được đối xử như một bậc quân vương, khiến ai thấy cũng ghen lây. Không biết điều ấy có thật không; nhưng với tôi lúc ấy tâm chẳng có ǵ giao động. Mà lạ thay! Sau khi đi chuyến Bhutan về có nhiều người và nhiều Thầy đau tim. Theo Thầy Thông Trí nói th́ v́ Hoàng Hậu quá đẹp cho nên ai cũng cảm. Nhưng điều ấy không phải, ai cũng đau tim v́ leo núi quá cao. Nơi ở b́nh thường đă là cao 3.000 mét rồi. Càng leo cao hơn nữa th́ không khí càng mỏng đi. Do vậy mà khó thở; chứ tuyệt nhiên không phải v́ Hoàng Hậu đâu. Tối đó tại một khách sạn gần bên có tổ chức một buổi chiêu đăi Self-Service rất trang trọng. Đầu tiên th́ nói chuyện bên lề. Sau khi mọi người đến đông đủ th́ ông Thủ Tướng bắt đầu nói lên những lời cảm ơn phái đoàn và tặng quà lưu niệm. Hôm đó tôi cũng nói; nhưng v́ không có soạn sẵn trước; nên đă phát âm sai một vài chữ, mà khiến ra nghĩa khác. Do vậy có người cười. Ngày hôm sau tôi xin lỗi ông Bộ Trưởng Bộ Văn Hóa; nhưng ông ta nói rằng: Đôi khi tôi cũng vậy. V́ tiếng Anh đâu có phải là tiếng mẹ đẻ của chúng ta. Đó đúng là một câu an ủi có tính cách ngoại giao vậy.
Chiêu đăi tại khách sạn cùng với các vị Thủ Tướng, Bộ Trưởng và Thứ Trưởng của Bhutan. Ông Thứ Trưởng Ngoại Giao đến trễ và ngồi bên tay trái tôi. C̣n ông Thủ Tướng th́ ngồi bên tay mặt. Mọi người nói chuyện rất tâm đắc. Họ hỏi về việc gặp Hoàng Hậu ban chiều ra sao; nhưng thật ra th́ họ đă biết hết rồi. Xứ Bhutan nầy rất nhỏ, mà thủ đô h́nh như cũng chỉ 30.000 dân nên đâu có nhiều hơn thành phố Laatzen ở gần chùa. Do vậy mà chuyện ǵ trong sân ngoài ngơ người ta cũng dễ rơ thôi. Nhiều lúc chúng tôi c̣n thấy họ theo dơi ḿnh nữa là đằng khác. V́ mọi chuyện của chúng tôi làm họ đều biết cả. Kể cả những dự định chưa có làm. Đúng là "bức tường có tai" như cách ngôn Pháp đă hay dùng. Tóm lại th́ cuộc ngoại giao ban chiều tại Hoàng Cung cả Bộ Văn Hóa và Bộ Ngoại Giao rất hài ḷng. C̣n hai Thầy bên Tôn Giáo th́ dĩ nhiên là vui rồi. V́ ít khi vào đến chốn ấy; mà lần nầy c̣n ngồi chụp h́nh với Hoàng Hậu nữa. Quả là điều hy hữu mà có lẽ quư vị ấy cũng chẳng đợi chờ mong. Đồ ăn của Bhutan cũng ngon lắm; nhất là những măng tây cũng như các rau cải địa phương; nhưng ngược lại trái cây th́ c̣n hiếm lắm; những trái chuối, trái táo rất nhỏ, trông thảm thương. Trong khi Âu Châu những loại như thế chỉ có bỏ. C̣n ở tại xứ núi đồi nầy là vàng là của quư đấy. Mấy ngày đầu th́ ai dùng cũng ngon; nhưng những ngày sau ai cũng thêm tô ḿ gói và những lát bánh ḿ ăn với mứt theo kiểu Tây phương trông có vẻ nhẹ nhàng hơn. Ở đây được một cái là núi cao; nên khí hậu rất mát về đêm. Nhiều khi cần phải sưởi nữa; nhưng không có muỗi và không có những sinh vật nhỏ ở xứ nóng như những nước Á Châu khác. Ông Thứ Trưởng Ngoại Giao ngồi bên tôi ông cũng nói rằng ông đang ăn chay. Trước đây ông học tại Mỹ và cũng đă nhiều năm ăn chay như thế. Ông khoe rằng con ông c̣n nói được tiếng Thái và tiếng Lào nữa. Cả nhà cũng ăn chay. Do vậy khi phái đoàn đến từ Âu Châu mà ăn chay như chúng tôi, nên ông cũng không ngạc nhiên mấy. Có điều là họ chiên bơ hơi nhiều nên có nhiều lúc tôi rất mệt và ăn không c̣n thấy ngon nữa. Nhiều lúc chỉ cần chén cháo là đủ rồi. Đúng là mỗi dân tộc có một đời sống và thói quen khác nhau, chẳng ai giống ai được. Mà cái ǵ đă trở thành truyền thống rồi th́ người ta khó thay đổi lắm; nhất là những ǵ mà người ta đă chấp nhận lâu đời rồi. Ông Thứ Trưởng Bộ Ngoại Giao cáo từ về trước v́ có tiệc khác và chúng tôi cũng như một số vị Bộ Trưởng khác th́ c̣n ở lại lâu hơn, để cuối cùng rồi cũng phải ra về với bao niềm vui. V́ mỗi người đă trao đổi với nhau về một câu chuyện có ư nghĩa nào đó. Buổi tiệc hôm đó do chính phủ khoản đăi nên các thực khách toàn là những người đại diện cho dân. Tuy không đông lắm; nhưng hầu như những nhân vật quan trọng tôi đă gặp qua. Mọi người ra về để dỗ một giấc ngủ ngon. V́ ngày mai c̣n phải đi một chuyến xa hơn như thế nữa.
Thế là tôi đă thoát được những câu chuyện đối đăi và ngoại giao rồi. Toàn là những câu rất hay, rất nặng kư; nhưng đồng thời cũng rất có giá trị. Kỳ nầy đi Bhutan có lẽ tôi là người mệt nhất. V́ phải ngoại giao cho bao nhiêu chuyện. Do vậy ngày 26 tháng 4 cả phái đoàn lên xe đi Dodena, cách Thimphu chừng 30 cây số, là ai nấy cũng vui rồi. Xe của Bộ Ngoại Giao Bhutan với cán cờ cuốn lại. Đường đi gập ghềnh nhiều nỗi truân chuyên. Thỉnh thoảng chúng tôi phải dừng lại để nghỉ. Đi đến một chỗ đẹp chúng tôi hỏi người tài xế đó là ǵ? Anh ta bảo rằng đó là nơi ở của Thái Hậu, mẹ của Vua. Chung quanh có nước chảy thông reo, trông thật hữu t́nh. Đúng là chỉ có Vua mới được thế. Cho nên Thượng Tọa Thích Trí Minh, trụ tŕ chùa Khuông Việt tại Na Uy, lúc nào cũng muốn làm Vua có lẽ cũng có nhiều lư do khác nhau là vậy. Đường lên Tu Viện Tango hôm đó sao mà xa diệu vợi. Kẻ đi trước người đi sau; nhưng phải mất cả 2 tiếng đồng hồ chúng tôi mới lên đến đỉnh núi. Dọc đường biết bao cảnh đẹp như hoa rừng và lắng nghe tiếng hót của chim muông. Xa xa thấy mây trời sà thấp xuống như đón khách trần ai nhẹ gót vân du; nhưng có lẽ thân tứ đại c̣n nặng nề quá nên đă chưa có ai theo mây về nơi thượng giới. Đến gần đỉnh th́ Rattay, người Đức, ngộp thở, cũng chỉ v́ áp suất c̣n lại trên 3.000 mét chỉ c̣n thoang thoảng mà thôi. Thế mà nơi đây đă đang và sẽ có không biết bao nhiêu con người tu luyện tại đó. Khi phái đoàn chúng tôi vào cổng th́ thấy 2 bên khói thông xông nghi ngút. Được biết rằng truyền thống nầy có tự ngàn xưa và chỉ để đón những bậc Đại Sư tôn quư. Chùa nầy có tất cả 150 vị đang tu học, hầu hết là cấp bậc Đại Học. Nơi nầy cũng là nơi của Thầy Gap và Thầy Dorji đang ở. Hôm ấy tuy Sư phụ của quư Thầy ấy không có ở chùa; nhưng việc tiếp đón rất chu đáo. Đầu tiên chúng tôi vào pḥng khách dùng trà cũng như cúng dường Tu Viện. Ở đây có 2 phần để cúng dường. Một phần cúng cho chùa và phần c̣n lại phổ đồng cúng dường. Nghĩa là 150 vị không kể lớn nhỏ. Mỗi vị nhận 30 Nu ở đây. Số tiền không lớn; nhưng đó là tấm ḷng của tôi và đoàn. Sau một hồi kẻng báo động, 150 vị Tăng lên hết chánh điện tụng kinh cầu nguyện chúc phúc cho phái đoàn. Trong khi tụng kinh Thầy Dorji mang đi phát cho mỗi vị 30 Nu như thế. Sau thời kinh th́ việc cấp phát cũng xong. Chúng tôi lần lượt tụng kinh Bát Nhă bằng tiếng Việt và tiếng Đức. Tu Viện nầy rất xưa nên cấm chụp h́nh. Do vậy mà chương nầy nếu quư vị lưu tâm hầu như không có một h́nh nào về Chùa Viện cả. Thời kinh vừa chấm dứt, vị Sư trụ tŕ dẫn chúng tôi vào bên trong Phật điện để đảnh lễ xá lợi của chư Phật. Ở đây c̣n quá nhiều tượng Phật cổ và những ngà voi cũng rất lớn. Đoạn đến một miếng đá có dấu chân người, vị Sư trụ tŕ bảo rằng đây là dấu chân của vị khai sơn cách đây 350 năm về trước và hiện tại vĩ Tulku đó đang ở đây. Chính bàn chân của vị tái sanh nầy để vừa vẹn và những chỉ chân rất giống nhau. Nghe như vậy tôi như mở tấm ḷng nên buột miệng thưa liền với vị Sư trụ tŕ rằng chúng tôi có được đảnh lễ vị Tulku ấy không? Vị Sư trụ tŕ trả lời rằng phải đi hỏi Ngài trước đă; nếu Ngài bằng ḷng. Thông thường th́ mỗi tuần vào ngày thứ bảy Ngài có gặp Phật Tử; nhưng b́nh thường th́ không. Hôm đó chúng tôi đi ngày Thứ Năm; nên ít có hy vọng. Tuy nhiên sau một hồi chuẩn bị, vị Sư trụ tŕ trở ra bảo rằng vị Tulku nầy bằng ḷng tiếp phái đoàn. Chúng tôi rất mừng vui. Tương truyền rằng 350 năm về trước vị Tulku nầy đă thành lập nên Tu Viện nầy và sau đó Ngài viên tịch. Thời gian cứ thế mà trôi. Vị nầy đă đi đầu thai qua nhiều lần sanh tử và lần nầy sanh ra trong một gia đ́nh b́nh dân tại miền Đông Bhutan, cách đây khoảng 300 cây số; nhưng khi lên 5 tuổi lúc nào Ngài cũng đ̣i về lại Tu Viện xưa. Do vậy các vị Trưởng Lăo mới gạn hỏi Ngài và đă trả lời rất rơ ràng là trong 100 gian pḥng của Tu Viện ấy nơi đó có thờ ǵ, kiến trúc theo kiểu ǵ Ngài đều mô tả rơ, mặc dầu mới 5 tuổi Ngài chưa đến đó bao giờ. Không những thế mà bàn chân của Ngài trong hiện tại để vừa vẹn với bàn chân của vị Đại Sư đă khai sơn chùa nầy hơn 350 năm về trước. Thật là hy hữu, hy hữu. Cho nên cả Tu Viện mới tôn Ngài lên ở ngôi vị Tulku. Nghĩa là một vị Lama tái sanh. Năm nay th́ Ngài đă 7 tuổi. Trông nét mặt Ngài rất hiền từ và thông minh rực sáng. Phái đoàn chúng tôi chung tiền cùng nhau để cúng dường và đặc biệt là Chocolat, v́ Ngài c̣n nhỏ mà, vẫn là đứa trẻ với thân vật lư 7 tuổi; nhưng trí tuệ th́ siêu phàm. Sau nầy khi gặp ông Bộ Trưởng Bộ Văn Hóa ở dưới chân núi, ông ta cũng nói rằng: đây là một vị Tulku đặc biệt. Đầu tiên Ngài nói một số lời đă được dặn trước, trông có vẻ hơi khổ sở, nhất là nói tiếng địa danh Hannover. Ngài thỉnh thoảng ngồi yên nh́n hết người nầy tới người khác. Trong khi đó Thượng Tọa Quảng B́nh nghĩ rằng nếu Ngài giỏi th́ điểm mặt từng người để nói quá khứ vị lai đi. Lúc ấy chắc Thầy phải lạy sát đất. Mặc dầu điều ấy không xảy ra; nhưng mọi người cũng đă đưa đầu cho Ngài sờ tay lên để làm lễ chúc phúc. Quà tặng của Ngài cho phái đoàn là một số bản kinh bằng tiếng Bhutan. Ngoài ra một số người cũng muốn nghe một cái ǵ đó từ Ngài nên c̣n nán lại lâu hơn. Tuy nhiên sự kiện ấy không xảy ra hôm đó. Có lẽ trí tuệ của Ngài và sự hiểu biết kia mới c̣n giới hạn nơi xứ Bhutan chứ chưa ra ngoài biên giới ấy. Dầu sao đi nữa truyền thống tái sanh nầy vẫn là một điều hay, nhằm nhắc nhở cho mọi người biết rằng việc chết chưa phải là hết, mà sau sự chết kia c̣n không biết bao nhiêu sự sống nữa. Đó là điều kỳ diệu trong nhiều điều kỳ diệu khác vậy. Phái đoàn từ giă vị trụ tŕ cũng như chư Tăng để xuống núi. V́ c̣n phải dùng trưa tại một công viên công cộng nữa. Đường đi xuống núi th́ rất nhanh. Hôm ấy có mưa hoa cúng dường, như để nhắc nhở cho chúng tôi biết rằng hôm ấy cũng là một đại sự nhân duyên vậy. Picnic ngoài trời Xuống cho đến khỏi núi là một giờ chiều rồi. Do vậy tất cả phái đoàn đều phải dừng chân để dùng cơm. Khung cảnh thiên nhiên ở đây rất đẹp. V́ lẽ có núi cao và có sông, có thác, có ghềnh. Tuy nước rất lạnh nhưng nghe đâu cũng có người tắm nơi ấy. Chúng tôi đang ngồi chờ chuẩn bị dùng trưa th́ ông Bộ Trưởng Văn Hóa từ trên núi nơi tu kín của các vị Đại Sư đi xuống và ông ta báo tin rằng chờ lâu quá không thấy phái đoàn lên; nên ông ta lại phải xuống núi. Ông ta đâu có biết rằng chúng tôi là những người sanh ra ở đồng bằng và nơi biển cả ở độ thấp làm sao leo núi thoăn thoắt như những người bản xứ được. Cho nên mới chậm là thế. Nếu ông ta tính trừ hao cho phái đoàn chúng tôi th́ đỡ biết mấy.
Dùng cơm ngoài trời tại Dodena Bữa cơm đă được chuẩn bị sẵn từ lâu nên có phần bị nguội lạnh. Tuy nhiên ḷng người chủ nhà th́ lúc nào cũng nồng nàn; nên chúng tôi phải cố gắng dùng nhiều cho họ vui. Mặc dầu có một số thức ăn không hợp khẩu vị mấy. Sau khi dùng cơm xong th́ chia ra làm 2 toán. Một toán trở về lại khách sạn để nghỉ ngơi. V́ leo tiếp tục lên núi không nổi nữa, trong toán nầy có tôi. C̣n toán khác tiếp tục leo núi, trong đó có Hạnh Hảo. Đây là một ḍng tu kín mà Hạnh Hảo cố t́m gặp để tŕnh giải một số công việc đă làm được. Từ dưới đất nh́n lên trên núi cao thấy những cái cốc của những vị ẩn tu trông giống như những cái tổ yến nằm ép ḿnh vào hang đá. Nghe đâu ở đây các vị Sư không tiếp xúc với thế trần trong chừng 3 năm 3 tháng 3 ngày như thế. Sau khi xả thất mới gặp gỡ nói chuyện và có người lại vào thất tiếp. V́ trong thất an lạc hơn và vui hơn với niềm vui đạo hạnh. C̣n ở ngoài trần thế vui đấy chứ; nhưng đối với những vị nầy nội tâm bị cào xé từng hồi. Trên núi cao kia có độ 50 cái am như thế. Tôi không hiểu bằng cách nào mà họ có thể xây trên những triền núi cheo leo như thế được. Đúng là lánh đời như không c̣n chỗ nào lánh được nữa. Ở đây có lẽ chỉ làm bạn với gió mây, với trăng, với sao chứ chẳng c̣n ǵ nữa. Nhưng nếu ai đó đă quyết chí th́ có ngày ánh sáng chơn lư sẽ tỏ ngộ. Sau khi phái đoàn leo núi trở về lại khách sạn có kể cho tôi nghe rằng núi nầy c̣n cao hơn núi trước nữa và đặc biệt là rất khó đi. Nếu mà tôi có đi chắc có lẽ cũng chùn bước là cái chắc. Và h́nh như tôi cũng bắt đầu đau tim, hay cũng đă cảm nhận rằng với cái tuổi 53 nầy ḿnh không c̣n trẻ trung như ngày xưa nữa. Nghe đâu vị Đại Sư trưởng môn phái ḍng tu kín ấy cũng không tiếp phái đoàn c̣n lại v́ biết rằng Trưởng phái đoàn bên nầy là tôi không có mặt. Tôi xin sám hối với Đại Sư. V́ lẽ hôm ấy không thể nào tiếp tục đi nổi nữa. Mặc dầu thế Ngài đă cho phái đoàn của chúng tôi nhiều tấm Thangkha và nhiều kinh điển giá trị. Có một số bài kinh đă được chính Ngài tŕ chú rất nhiều lần. Do vậy mà phái đoàn ai cũng muốn thỉnh một bài kinh như thế để được sức gia tŕ. Chỉ có Hạnh Hảo là hơi thất vọng, v́ không gặp được Đại Sư; nhưng rồi đâu cũng vào đấy cả. Tu Viện đó gọi là Tu Viện Cheri mà quy luật ở đây rất nghiêm khắc; nên nghe đến Tu Viện nầy ai cũng biết cả. Nghe đâu năm 1995 có một vị Sư người Việt Nam từ Hawaii sang cũng đă thăm viếng Tu Viện nầy. Đêm hôm đó tại một khung cảnh thiên nhiên, chính phủ Hoàng gia đă tổ chức một đêm lửa trại cho chúng tôi có các vị Bộ Trưởng đến tham dự. Không khí thật vui nhộn khi lửa được đốt lên lại có nhiều người nhảy múa. Dưới ánh sáng chập chờn của đêm thanh cảnh vắng ấy tôi liên tưởng đến quê tôi vào những thuở xa xưa khi mùa gặt đă đến và trai gái của dân làng tụ tập ở một nơi công cộng nào đó để đập lúa và hát ḥ. Ban dân ca đêm lửa trại Chúng tôi được chia nhau ra từng nhóm nhỏ. Cứ một người Việt hoặc một người Đức, là mấy người Bhutan để nói cho nhau nghe và nghe nhau nói thật nhiều đề tài. Những ai c̣n trai trẻ th́ ḥa chung cùng cái vui của tiếng sáo, tiếng đàn, tiếng kèn, tiếng phách gơ nhịp để múa hát chung quanh đống củi mà lửa đă cháy lên cao sưởi ấm biết bao nhiêu tâm hồn của người xa xứ.
Lửa đă cháy cao Lửa cháy cao rồi cũng đến lúc lửa cũng phải tàn. Mọi người cảm thấy thấm lạnh nên có kẻ vào lều ngồi uống trà nói chuyện hoặc vào bên trong nhà hàng th́ ấm cúng hơn. Tôi ngồi đó như giữa ba quân tướng sĩ của trận tiền mà sự vô thường của ánh lửa và củi kia khiến tôi suy nghĩ về sự thịnh suy của cuộc thế. Tất cả chúng ta cũng chỉ như gió, như mây, như đất, như nước, như củi, như lửa chứ có khác ǵ đâu. V́ mới đầu hôm cả một đống củi cao ngất, sau ánh lửa làm mồi đầu tiên được châm vào th́ tất cả củi đều bị đốt. Chúng đă thành than. Lửa đang trở về trạng thái uyên nguyên của nó. Như vậy là hết hay c̣n ? Có thể nói rằng không hết mà cũng không c̣n. V́ trong củi sẵn có lửa và lửa ẩn tàng nơi củi ấy. Nếu ta cọ xát mạnh lửa sẽ xẹt ra; nhưng củi th́ đi về đâu ? Dĩ nhiên là ngấm sâu vào ḷng đất, bón thành phân để nuôi dưỡng cỏ cây, rồi một ngày nào đó cỏ cây lớn lên người ta đốn đi để làm củi; rồi trăm kiếp luân hồi về sau củi cũng sẽ là mồi của lửa để đốt lên những buổi lửa trại như hôm nay. Chỉ có thế thôi. V́ con người vẫn c̣n luân hồi sanh tử là thế. Sau đó chúng tôi vào bên trong cùng ông Bộ Trưởng Bộ Văn Hóa. Tôi đă nói câu của Phật đă dạy rằng: Ta là Phật đă thành, các ngươi là Phật sẽ thành. Nhân cơ hội đó ông ta giảng nghĩa chữ Tathagatha một hồi lâu để chứng tỏ về sở học cũng như sự nghiên cứu của ḿnh. Theo ông th́ chữ gatha có nghĩa là giác ngộ; nhưng mà giác cái ǵ th́ đố ai mà biết. C̣n Tatha là kẻ hay người; nhưng người nào ? người đă đủ nhân duyên với Phật Pháp, làm tṛn đầy những hạnh nguyện lợi tha th́ mới thành được. C̣n bao nhiêu chúng sanh khác mới bắt đầu tu làm sao có thể thành. Hạnh Hảo mà nghe đến đó rồi th́ không chịu. V́ Thầy nầy đệ tử của tôi muốn thành Phật ngay trong kiếp nầy kia. Nhưng điều ấy tôi cũng bảo là không đúng. V́ trong kinh điển Phật Giáo chưa có nơi nào nói có một người Đức thành Phật trong hiện thế cả. Mà nhất là giáo lư của Đức Thích Ca Như Lai c̣n tồn tại trong đời nầy th́ làm sao có thể có việc hy hữu đó được. Kỳ nầy Hạnh Hảo quyết chí làm Phật nên mới vào Hy Mă Lạp Sơn, mà thật ra trong núi cao ấy không có Phật thực sự. V́ đă bao phen t́m kiếm nhưng Hạnh Hảo đâu có thấy ǵ. Không biết bây giờ Hạnh Hảo đă tin chắc thật điều ấy chưa, chứ lúc c̣n hăng say mà nói điều đó quả là một chướng nạn. Nhưng sự luận bàn hôm nay với một số quan chức của Hoàng Gia, Hạnh Hảo sẽ rơ thêm một vấn đề là sự thành Phật c̣n xa lắm. Tôi bảo ít nhất là 2 triệu năm nữa mới có một người Đức thành Phật. Mặc dầu Đức Phật nói rằng ai cũng có thể thành Phật cả. Cùng ông Bộ Trưởng Bộ Văn Hóa luận đàm về Phật Pháp. Việc luận bàn nào rồi cũng đến lúc kết thúc. Có khi căng thẳng; có lúc vui tươi. Có khi cũng đi đến một kết luận, mà nhiều lúc cũng chỉ là một câu hỏi c̣n để trống và chẳng bao giờ có một mẫu số chung để trả lời được cả. V́ vô biên thế giới đâu có thế giới nào tận cùng, ngay cả thế giới của chư Phật đang giáo hóa. Đêm hôm đó chúng tôi đă ngủ một giấc an lành để chuẩn bị cho một ngày mai có một chuyến đi c̣n xa xôi dịu vợi hơn nữa.
Chương VII. Nhục thân bồ tát và cố cung
Ngày 27 tháng 4 năm 2001 đó, trước khi đi về chốn cố cung, phái đoàn được hướng dẫn bởi anh Kunzang và 2 Thầy Bhutan đi thăm nhục thân Bồ Tát trong chốn Hoàng Cung. Nơi nầy gọi là Tashichhodzong. Chữ Dzong đứng sau cùng theo nghĩa tiếng Bhutan là Tu Viện. Tu Viện nầy nằm ngay chỗ Vua và các vị Bộ Trưởng làm việc. Chúng tôi leo lên những từng gác có cầu thang dựng đứng để vào chánh điện. Sau khi vào chánh điện lễ Phật th́ mọi người được hướng dẫn vào nơi Tổ Sư Đường để tụng kinh, dâng lễ và nhận nước gia tŕ. Có kẻ th́ uống, có người th́ xoa lên đầu. Chúng tôi được biết rằng vị Đại Sư nầy sau khi thị tịch, xác thân không bị rữa thối, cho nên Vua Chúa và quan lại cũng như nhân dân mới mang vào đây thờ và kính trọng Ngài như là một vị Thánh hiển linh. Điều nầy cũng dễ hiểu thôi. V́ những bậc Đại Sư sau khi thị tịch thường hay để lại một cái ǵ đó cho hậu thế chiêm ngưỡng và từ đó phát khởi nên ḷng tin. Ví dụ như Đức Phật, các vị Bồ Tát, các vị A La Hán để lại Xá Lợi. Không những chỉ ở Ấn Độ mà ở Trung Hoa, Nhật Bản, Đại Hàn, Việt Nam cũng đều có như thế. Tại Việt Nam chúng ta nơi Chùa Đậu thuộc tỉnh Hà Tây cách Hà Nội 24 cây số về phía Nam hiện có tôn trí 2 nhục thân của 2 vị Thiền Sư tên là Vũ Khắc Minh pháp danh là Đạo Chân và Thiền Sư Vũ Khắc Trường pháp danh là Đạo Tâm. Hai vị nầy là hai chú cháu cùng tu tại một chùa và cùng chứng đạo cách đây 300 năm về trước. Chùa nầy được xây dựng từ thời nhà Lư, thế kỷ thứ 11. Ban đầu có tên là Thành Đạo Tự và trải qua nhiều giai đoạn lịch sử tên chùa lần lượt thay đổi như sau: Pháp Vũ Tự, Chùa Vua, Chùa Bà, Chùa Đậu. Chùa nầy hiện đang trùng tu. Nếu quư Phật Tử nào có cơ duyên về thăm quê, nên đến đây để đảnh lễ nhục thân của 2 vị Bồ Tát nầy. Chứng tỏ rằng Việt Nam chúng ta cũng có vị tu chứng, chứ không nhất thiết phải là Tây Tạng hay Trung Hoa. Tại tỉnh Quảng Đông thuộc thôn Thiều Quang nơi Nam Hoa Thiền Tự hiện c̣n thờ 3 nhục thân của 3 vị Bồ Tát. Đó là: Ngài Lục Tổ Huệ Năng, Ngài Đan Điền và Ngài Hám Sơn. Tất cả những chơn thân nầy đă trải qua trên dưới 1.000 năm rồi, nhưng thân thể ấy vẫn c̣n ngồi kiết già nguyên vẹn như thế. Đúng là bất khả tư ngh́. Chỉ có pháp Phật mới giải thích được, chứ ngoài ra th́ không có một hiện tượng ǵ của thế gian mà giải thích nổi. Nhưng một điều cũng không kém phần quan trọng mà chúng ta nên hiểu rằng tất cả mọi pháp đều bất định. Có nghĩa là không có ǵ chắc thật cả. Hôm nay là như thế mà ngày mai lại thay đổi. Hôm nay tốt, ngày mai xấu hoặc ngược lại. Có kẻ hôm qua là sát nhân; nhưng hôm nay sau khi hối hận ăn năn là Bồ Tát. Cho nên chúng sanh và Bồ Tát không khác nhau là vậy. Hăy đừng kẹt vào nhị nguyên và vào sự chấp trước th́ chúng ta sống thoải mái vô cùng. C̣n ai đó nếu không hiểu giáo lư của Đạo Phật cứ chạy theo bắt bóng chứ h́nh thật th́ không bao giờ có được. Mới đây chúng tôi có dịp đi Ư để làm lễ và thuyết giảng tại Niệm Phật Đường Viên-Ư, quư Đạo Hữu có dẫn chúng tôi đến nhà thờ St. Antonio tại Padova. Nơi đây c̣n tàng trữ cái lưỡi và quai hàm của Thánh Antonio. Mặc dầu Thánh đă mất cách đây mấy trăm năm rồi. Đây không phải là một hiện tượng lạ mà tôn giáo nào cũng có cả, chứ không phải chỉ Phật Giáo mới có. Quư vị nào ở Ư hay ở các quốc gia khác, nếu có cơ hội, nên đến Padova để xem những h́nh thức Xá Lợi của Đạo Thiên Chúa. Thượng Tọa Quảng B́nh, tôi và Thầy Đồng Văn cũng đă đến thành phố Firenze tại Ư và vào trong nhà thờ, nơi mà ông Gallilé đă phát minh ra rằng: Quả đất h́nh tṛn chứ chẳng phải h́nh vuông và quả đất xoay xung quanh mặt trời chứ không phải ngược lại như Thánh Kinh đă nói. Sau đó Ṭa Án của La Mă đă kết án tử h́nh và bảo ông phải nói lại cho giống Thánh Kinh; nhưng ông đă không làm điều đó và trước khi bị chết, ông vẫn nói những điều như ông đă phát minh. Ngày nay La Mă vẫn c̣n và những sự thật vẫn c̣n. Ai muốn nghiên cứu lịch sử th́ hăy đọc sách hoặc đến tận chỗ để xem th́ có lẽ tận tường hơn; nhưng một điều căn bản mà chúng ta phải hiểu là không có ǵ nhất định cả. V́ mọi vật đang thay đổi; nên pháp cũng phải thay đổi vậy thôi. Sau khi thăm nhục thân Bồ Tát tại Tashichhodzong phái đoàn chúng tôi về lại khách sạn và chuẩn bị hành lư để đi Punakha và sẽ không về lại đây nữa. Đường đi từ Thimphu đến Punakha không xa mấy, cách Thimphu về hướng Đông độ chừng 77 cây số; nhưng xe chạy qua đèo, quanh đi quẩn lại phải tốn đến 4 tiếng đồng hồ. Punakha nằm cạnh con sông Mo Chhu (con sông mẹ) và Pho Chhu (con sông cha). Trên đường đi chúng tôi nh́n ngắm hai bên thật thỏa chí. Ai mệt th́ nghỉ và thỉnh thoảng cũng có những cánh đồng xanh đây đó, có bầy chim hay bầy quạ bay ngang vỗ cánh kêu lên thất thanh mấy tiếng như nhắc nhở mọi người là đừng quên cảnh đẹp thiên nhiên đấy nhé! Anh tài xế xe nhỏ đưa chúng tôi đến khách sạn trước; nhưng theo chúng tôi được biết là vị Thị Trưởng thành phố Punakha đang chờ ở đó cũng như Đại Sư Giám Viện. Do vậy tôi hối anh tài xế là nên đưa chúng tôi đến Tu Viện Punakha gấp. Mà thật thế, khi xe nhỏ chúng tôi đến th́ xe Bus đưa đoàn của chúng tôi cũng vừa đến. Lúc đến đây ai cũng mệt; nhưng nh́n chung quanh Tu Viện rất đẹp; nhất là những hàng cây trổ bông màu tím vây kín cố cung. Hai bên Tu Viện là 2 con sông với ḍng nước êm ả đang lững lờ trôi. Quả là một phong cảnh rất hữu t́nh. Cố Cung và bây giờ là Tu Viện Punakha Dzong
Ở đây xin nhắc qua một chút lịch sử của Punakha Dzong. Tu Viện nầy là một Tu Viện quan trọng đứng hàng thứ 2 của Bhutan. Nhiều năm về trước cho đến đời vua thứ 2 th́ nơi đây là thủ đô của chính phủ. Việc kiến tạo Punakha được Guru Rimpochi mô tả như sau: "... Có một người tên là Namgyal muốn đến một ngọn đồi và thấy đó như là một con voi". Sau đó Shabdrung đến Punakha và thấy rằng đây là một nơi như con voi đang nằm ngủ, nằm yên 2 bên con sông Mo Chhu và Pho Chhu. Đây là nơi nên xây một Tu Viện. Tu Viện nầy được bắt đầu xây năm 1637 và hoàn thành vào những năm sau đó. Tên đầu tiên là Druk Punythang Dechhen Phodrang có nghĩa là cung điện đại hỷ. Sau đó th́ bị Tây Tạng chiếm đóng vào năm 1639. Chiến tranh cũng đă làm hư hại rất nhiều. Tăng Sĩ Shabdrung thành lập Tu Viện nầy với 600 vị. Khi mà thủ đô được dời về Thimphu th́ Punakha vẫn được xem như là cung điện mùa Đông với sự có mặt của chư Tăng đại biểu. Tu Viện cũng là trụ sở của chính phủ. Khi Punakha c̣n là thủ đô th́ Vua Jigme Dorji Wangchuck cũng đă tập trung các đại biểu về đây dự hội nghị vào năm 1952. Tu Viện Punakha Dzong nầy chiều dài 180 mét, ngang 72 mét, có độ cao của 6 tầng lầu. Tháp chuông bằng vàng được xây dựng vào năm 1676 bởi Punakha Dzong Gyaltsen Tenzin Rabgye. Một cây cầu được xây qua giữa 2 sông bắt ngang qua Tu Viện được xây năm 1720 đến 1730 th́ hoàn thành. Ngài Shabdrung Ngawang Namgyal đă viên tịch nơi đây và nhục thân của Ngài cũng đang tôn trí tại Machey Lhakhang trong Tu Viện nầy. Không phải là ai cũng có thể vào đây và có thể mở cửa được. Ngoài 2 Lạt Ma Machin Zimpon và Machin Simpon ra th́ chỉ có nhà Vua và vị Je Khenpo mới có thể vào pḥng nầy. Cả 2 vị nầy vào đây để cầu nguyện trước khi họ lâm triều. Đầu tiên th́ vị Thị Trưởng thành phố Punakha tên là Drabi Lopen tiếp chúng tôi khi mới xuống xe. Hôm ấy ông ta mặc đại lễ phục của triều đ́nh, có gươm báu đeo bên ḿnh, theo sau là quân lính hầu; cũng như đứng chào chúng tôi ở tư thế là một quốc khách. Vị Thị Trưởng nói tiếng Anh rất lưu loát. Đường lên Tu Viện có 3 ngơ. Ngơ giữa chỉ để dành cho Vua và các bậc Đại Sư đi. Hôm đó tôi được hân hạnh đi con đường nầy. Đường 2 bên dùng cho quan và dân đi, và phái đoàn đă đi con đường đó. Chụp chung với vị Thị Trưởng thành phố Punakha và các vị Dân Biểu địa phương Đường nào thật ra cũng dẫn đến một đích duy nhất thôi; nhưng ngày xưa th́ có phân chia ra như thế; chứ bây giờ đă dân chủ nhiều rồi; không có c̣n phân biệt nặng nề giữa vua và dân cũng như giữa người lănh đạo và thân tộc nữa. Mới đây nước Đức có một điều đặc biệt mà truyền h́nh nhà nước vẫn thường hay lưu tâm chiếu đi chiếu lại nhiều lần như sau: Sau khi ông Schröder lên làm Thủ Tướng của nước Đức, ông ta muốn t́m lại người cha đă mất tích sau đệ nhị thế chiến và cuối cùng th́ nhân lễ Phục Sinh năm 2001 người ta đă t́m ra tông tích là mồ mả của cha ông Thủ Tướng hiện chôn tại một vùng nhỏ ở Tiệp Khắc và gia đ́nh c̣n lại là Mẹ già, em trai, chị gái đang sống tại Thổ Nhĩ Kỳ. Bây giờ th́ họ nh́n lại nhau, chứ ngày trước không biết v́ lư do ǵ mà gia đ́nh bỏ ông Thủ Tướng sống một ḿnh nơi nước Đức, c̣n mọi người th́ lưu lạc sang Đông Âu. Câu hỏi ấy vẫn chưa được trả lời. Có lẽ lư do chiến tranh là chính; nhưng cũng có thể v́ đông con quá nuôi không nổi cho nên gia đ́nh đẩy ông ta đi xa hơn để tự sống. Thế rồi ông ta làm đủ thứ nghề. Từ nghề đồ gốm cho đến đi bỏ báo và tự học từ nhỏ đến lớn. Đến khi đang học Đại Học th́ cực hơn, ban ngày đi làm và ban đêm đi học để cuối cùng tốt nghiệp Tiến Sĩ và ông cũng đă tham gia chính trị để leo lên đến tột đỉnh của quyền uy trước khi làm Thủ Tướng của nước Đức ông là Thủ Tướng của Tiểu Bang Niedersachsen thuộc Đảng SPD đang cầm quyền. Thế rồi mùa tranh cử năm 1998 vừa qua SPD đă thắng và ông ra tranh cử chức Thủ Tướng cũng đă thành công. Riêng nói về cuộc đời của ông th́ quá khổ sở, có 3 hay 4 đời vợ; nhưng bà nào cũng có vấn đề rồi ly dị. Lương của ông phải phân chia cho nhiều bà nên chẳng c̣n lại là bao nhiêu. Bây giờ sau khi làm Thủ Tướng ông đă t́m lại cội nguồn và đă gặp lại tất cả. Những bà chị và em của ông nói tiếng Thổ rất rành và khi mặc đồ Thổ th́ người ta không thể phân biệt được là người Thổ hay người Đức nữa. Em ông làm thợ ống cống. Chị ông làm trong các tiệm tạp hóa vẫn b́nh thường như mọi người. Chỉ có điều là tên họ của họ đă đổi khác và họ vẫn c̣n nói được tiếng Đức rất rành. Nếu là người Việt Nam mà làm lớn như thế th́ cả họ được nhờ rồi, chứ nói ǵ đến anh em trong gia đ́nh. Khi phỏng vấn bà chị của ông Thủ Tướng th́ bà ta cho biết rằng tôi rất vui khi em tôi làm Thủ Tướng; nhưng khi tôi đến thăm em tôi th́ không phải tôi thăm Thủ Tướng mà tôi thăm đứa em bé nhỏ của tôi tự thuở nào. Đúng là một câu trả lời tuyệt mỹ vậy. Đa phần khi người ta "giàu th́ bỏ bạn, sang th́ bỏ vợ"; nhưng ở trong trường hợp nầy chúng ta có nhiều bài học để rút tỉa ra lắm. Thứ nhất không phải là: Thời thế tạo ra anh hùng mà chính khả năng của ông Schröder tự vươn lên trong cuộc sống và tự tin ở chính ḿnh nên mới được như ngày hôm nay, trong khi em ông vẫn là những người dân lao động rất b́nh thường và vẫn bị thất nghiệp như bao nhiêu người khác vậy. Thứ hai là không bao che, bè phái hay gia đ́nh trị. Nghĩa là bổn phận của ai nấy làm. Điều nầy khác hẳn với các chế độ vua chúa ngày xưa và các chế độ độc tài hay Cộng Sản ngày nay có mặt khắp nơi trên thế giới.
Trước Tu Viện Punakha Dzong Cùng với các quan chức địa phương.
Khi chúng tôi vào trong Tu Viện th́ mới thấy cái hùng vĩ của cố cung nầy. Đi đâu cũng thấy lính hầu và cột nhà, cột chùa, cột cung điện, tất cả đều được bao bọc bởi vàng lá có chạm h́nh rồng nổi. Khi chúng tôi lên đến tầng trên cùng th́ có gặp vị Đại Sư Dasho Dzongda, giống như là Tu Viện Trưởng của Tu Viện nầy. Được biết tại đó có 350 Tu Sĩ đang tu học; nên Sư Bà Bảo Quang, Ni Sư Diệu Phước và một số Phật Tử khác hùn tiền lại để cúng dường một cách phổ đồng mỗi vị 30 Nu. Chúng tôi cũng được biết là chùa đang chuẩn bị đốt nến để chuẩn bị cho pháp hội Di Đà; nên mọi người đều chung tiền để hỗ trợ công việc Phật sự ấy. Khi quư vị đảnh lễ, tôi có giới thiệu về truyền thống Ni bộ Việt Nam cũng như những Phật Tử đi cùng cho Đại Sư nghe. Nghe xong, Đại Sư có cho mỗi người một sợi chỉ th́ phải và bảo rằng để bảo hộ cho tấm thân; chứ nhiều khi đi xe bị tai nạn hay máy bay có sự cố, th́ chính những sợi chỉ gia tŕ nầy sẽ giúp cho. Lúc ấy chúng tôi chẳng để ư, mà dẫu cho có người để ư đến nữa th́ cũng nghĩ rằng ḿnh đang ở trong hoàn cảnh tốt làm sao có những sự cố như thế được. Phái đoàn chụp ảnh lưu niệm trước cố cung Ở đời có nhiều việc ḿnh không chờ đợi; nhưng nó vẫn đến để trả nghiệp. Hoặc ngược lại có nhiều việc ḿnh chờ đợi mà nó vẫn không đến. Đó là duyên chưa thành thục, chín muồi vậy. Âu tất cả cũng là nhân duyên thôi. Giống như tôi đi Bhutan cũng là nhân duyên, mà tôi bị ở lại Bhutan mấy ngày cũng là việc bị nhân duyên chi phối mà thôi; chứ không có ǵ khác cả. V́ Tu Viện đang tu bổ; nên chúng tôi không có chỗ lễ Phật nơi chánh điện. Tuy nhiên chúng tôi được chiêm ngưỡng cách tạo tượng của các nghệ nhân của Bhutan cũng rất tài t́nh, không khác ǵ những nghệ nhân điêu luyện của Trung Quốc và Nhật Bản. Ở chính giữa chùa vẫn là thờ Đức Phật, cao chừng 10 mét. Hai bên thờ Ngài Liên Hoa Sanh và người có công thống nhất Bhutan. H́nh dáng các vị nầy là những dũng tướng; nhưng rất mực từ bi. Ở giữa sân Tu Viện nầy có một cây Bồ Đề rất lớn. Tôi không hiểu nổi là khí hậu ở đây rất lạnh mà vẫn trồng được cây nầy; trong khi ở xứ Đức, tôi trồng cây Bồ Đề 20 năm; nhưng vẫn c̣n nằm trong một chậu kiểng. Kể ra việc thực hiện sự giác ngộ, giữa Đông và Tây có nhiều điều khác nhau lắm. Cũng ví như ngày nay Phật Giáo đă tràn vào phương Tây, thôi th́ đủ Mode, đủ cỡ, đủ loại. Thật là trăm hoa đua nở. Đẹp chứ có sao đâu; nhưng thỉnh thoảng cũng có nhiều loài hoa mang theo những tai họa dị ứng cho kẻ khác. Người Tây Phương không nặng về h́nh thức tín ngưỡng đă đành; nhưng tin Phật Giáo chỉ có Thiền Tông không th́ quả rằng chưa đủ. Người ta nghĩ rằng Thiền có thể giải quyết mọi vấn đề; nhưng điều đó hẳn không đúng. V́ Phật dạy có vô lượng pháp môn tu để đi đến chỗ giải thoát; chứ không phải chỉ duy nhất có một con đường độc tôn như thế. Hiện tại ở Đức có ít nhất là 450 Tu viện, Chùa, Trung tâm Thiền học Phật Giáo và cũng đă có nhiều Cư Sĩ đi tu, trở thành Tăng Sĩ của các truyền thống Phật Giáo Nhật Bản, Đại Hàn, Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan, Tây Tạng v.v... nhưng cũng có nhiều Cư Sĩ chuyên để diễn giảng Phật học cho các tầng lớp Cư sĩ khác. Phái đoàn chúng tôi ra về mà ḷng bâng khuâng nhớ nghĩ về quê hương, trong đó có bài thơ "Thăng Long Thành Hoài Cổ" của Bà Huyện Thanh Quan. Chắc là ai cũng đă rơ và nhất là bài: Cố đô giờ đă ra sao? của Thượng Tọa Thích Tịnh Đức, th́ trong ḷng tôi sao mà nó xao xuyến lạ lùng. Đến đây cũng để học hỏi thêm rằng Phật Giáo tại xứ Bhutan nầy đă giúp cho quốc gia phát triển về chiều sâu của tinh thần thật không có bút mực nào tả hết được. Nhờ Phật Giáo mà môi sinh mới được tôn trọng như thế. Nhờ Phật Giáo mà quê hương nầy mới được để ư đến và phải nói rằng nhờ những Vua là những Phật Tử thuần thành nên mới tôn trọng đức tin và thể hiện đức tin nầy vào con người cũng như sự vật; nên mới có thể thành tựu như vậy đó. Khi về khách sạn Zangto Pelri th́ được biết rằng khách sạ |