Chùa Hải-Đức in Jacksonville

[Home] [Up] [Điểm Sách] [Sutras] [Dharma Talks] [GĐPT] [Sinh Hoạt] [Our Activities] [Kinh] [Pháp Thoại audio mp3] [Tin Tức Phật Giáo] [Thuyết Pháp] [Thơ Văn] [Phật Học] [Tụng Kinh] [Nghi Lễ - Rituals]

Bhutan có ǵ lạ?

Thích Như Điển

Phật Lịch 2.545 - 2001

Trung Tâm Văn Hóa Xă Hội Phật Giáo Việt Nam
tại Cộng Ḥa Liên Bang Đức Xuất Bản
 

◄♣►

 

 

Mục Lục 

 

Lời vào sách

Chương I: Phần tổng quát 

Chương II: Nhân duyên hội ngội với Bhutan   

Chương III: Chuẩn bị một cuộc hành tŕnh 

Chương IV: Bhutan có ǵ lạ? 

Chương V: Nụ cười của Hoàng Hậu  

Chương VI: Viếng thăm tu viện   

Chương VII: Nhục thân Bồ Tát và Cố cung

Chương VIII: Thế giới phương tây cực lạc   

Chương IX: Những ngày đợi trông

Lời cuối sách

  

Lời vào sách

 

Hôm nay là ngày 20 tháng 6 năm 2001 nhằm ngày 29 tháng 4 nhuần năm Tân Tỵ, tôi chắp bút bắt đầu viết quyển sách thứ 32 nầy trong mùa An Cư Kiết Hạ của năm nay. Hôm nay cũng là ngày rất đẹp trời. V́ mấy tháng nay, mặc dầu đă vào hạ; nhưng bầu trời vẫn vần vũ bóng mây, như dọa nạt thế nhân là ánh sáng của thái dương sẽ không bao giờ chan ḥa đến quả địa cầu nầy nữa.

Về thời tiết tôi hay để ư, cho nên mỗi lần làm cái ǵ cũng hay xem bầu trời có quang đăng không; hoặc giả hôm ấy là ngày ǵ, không phải để lấy hên mà chính là để cho ḷng ḿnh thanh thản khi làm một việc ǵ; nhất là những việc trọng đại. Nhớ khi c̣n ở Nhựt, mỗi ngày khi thức dậy, chào hỏi nhau ở trong chùa không phải bằng lời chào buổi sáng trước, hay mạnh giỏi không? mà vị Sư trụ tŕ thường hay mở đầu bằng câu: Kyo wa ii tenki desu ne! (Hôm nay trời đẹp quá nhỉ!) tự nhiên thấy ḷng ḿnh có liên hệ với thiên nhiên. Dĩ nhiên mỗi dân tộc có một cách riêng của ḿnh khi diễn tả về cái đói khổ, cái hạnh phúc, cái tủi nhục v.v... nhưng tựu chung cũng chỉ là con người với cảnh giới chung quanh vậy.

Ngày c̣n trẻ ai cũng nghĩ rằng ḿnh c̣n có nhiều th́ giờ để làm mọi chuyện; nên đă lăng phí thời giờ một cách vô tích sự. Chờ cho đến lớn khôn và già đi, lúc ấy mới bắt đầu; th́ ôi thôi! đủ loại ràng buộc lại kéo đến. Nào bịnh đau đầu, đau lưng, nhức mỏi. Bị trói buộc vào giờ giấc của công sở, của gia đ́nh, của thê nhi và đủ cả mọi thứ trên đời nầy. Bởi vậy cho nên Thiền Tông thường hay dạy cho con người là chỉ nên nắm bắt hiện tại mà thôi. Vả lại hiện tại cũng chẳng có h́nh tướng. Do vậy khi quan sát và thực hiện việc làm hằng ngày của ḿnh, chính là Thiền vậy.

Rồi một hôm nào đó chúng ta bỗng nhiên nhận được một tin buồn từ bác sĩ cho hay rằng ông hay bà không c̣n hy vọng ǵ nữa. V́ lẽ bệnh ung thư đă đến thời kỳ thứ ba rồi. Lúc ấy chúng ta sẽ làm ǵ? Chúng ta có c̣n kế hoạch cho 5 năm hay 10 năm nữa chăng? Hay lúc ấy chúng ta lại than thân trách phận? Hoặc giả chúng ta lo chia gia tài cho con cháu? Hay chúng ta lo thực hiện những chuyến ngao du sơn thủy? Hay cố gắng tận hưởng những ǵ ở đời mà ta chưa được hưởng? Ôi thôi! biết bao nhiêu là câu hỏi được đặt ra; nhưng ai là kẻ trả lời được đây, không phải là ḿnh sao? hay có một nhân vật nào có quyền năng biến hóa để giúp ta thành công những trách nhiệm và bổn phận ấy?

Không! nhất thiết là không! không ai có thể thay thế cho ḿnh cả; ngoại trừ chính ḿnh phải chịu trách nhiệm với ḿnh. V́ con người là bản thể của vạn hữu mà! Do vậy không nên chờ đợi một điều ǵ mà hăy bắt tay vào việc ngay, hăy hạ thủ công phu ngay từ bây giờ cho việc học, việc tu niệm, việc lễ bái, việc nhà, việc chùa, việc chợ, việc nghĩa ân, việc phải, việc không v.v... v́ lẽ không có việc nào chờ ta cả. Do vậy chúng ta chẳng có thể chờ ai. V́ thời gian vô t́nh lắm, không thương tiếc một ai cả. Dầu cho đó là đấng Phạm Thiên hay Chuyển Luân Thánh Vương. Hăy trân quư thời gian và hăy làm những ǵ có thể làm được.

V́ ư niệm được sự vô thường như thế; cho nên tôi đă sắp đặt việc của chính ḿnh. Kể từ năm 1974 đến nay (2001) có nghĩa là 27 năm ở tại Nhật và Đức tôi đă hoàn thành được 31 tác phẩm; kể luôn tác phẩm nầy nữa là tác phẩm thứ 32. Không kể thời gian từ năm 1972 tôi đă bắt đầu ở Nhật; nếu tính chung lại gần 30 năm ở ngoại quốc, tôi đă hoàn thành 32 tác phẩm. Như vậy cứ trung b́nh mỗi năm một tác phẩm.

Văn tôi không hay, chữ tôi không tốt, ư tôi không thâm trầm; nhưng tôi chủ trương rằng nghĩ sao viết vậy. Đó là cách cấu tạo tư duy của ḿnh; nên tôi đă cố gắng. Dẫu cho những tác phẩm ấy không có giá trị nghệ thuật hay giá trị văn chương đi nữa, th́ những ǵ tôi đă làm cũng đánh dấu được một chặng đường 30 năm, có nghĩa là hơn một thế hệ, tôi đă miệt mài với sách đèn, với công phu kinh kệ vậy.

Tác phẩm thứ 30 có nhan đề là Kinh Đại Bi. Kinh nầy tôi đă dịch từ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh bằng chữ Hán sang tiếng Việt và Thầy Hạnh Tấn đang dịch sang tiếng Đức để ấn hành trong năm 2001 nầy.

Tác phẩm thứ 31 có tên là Phật Thuyết Bồ Tát Hành Phương Tiện Cảnh Giới Thần Thông Biến Hóa Kinh. Kinh nầy cũng được dịch từ chữ Hán sang tiếng Việt và sẽ ấn hành nay mai.

Riêng tác phẩm thứ 32 nầy tôi viết về chuyến đi Bhutan từ ngày 21 tháng 4 đến ngày 3 tháng 5 năm 2001 để giới thiệu cho quư độc giả một quê hương Phật Giáo tại Á Châu mà rất nhiều người chưa biết đến.

Sau khi đi Ấn Độ về lần đầu, năm 1989, tôi đă viết quyển Ḷng Từ Đức Phật để giới thiệu về 4 Thánh Địa nơi Đức Phật Đản Sanh, Thành Đạo, Thuyết pháp lần đầu tiên và thị tịch Niết Bàn. Ai xem xong rồi cũng sợ ít dám đi Ấn. V́ lúc ấy phương tiện di chuyển và chỗ ăn ở c̣n tương đối giới hạn; nhưng sau nầy có nhiều Thầy, Cô tổ chức những chuyến hành hương có quy củ hơn và được nhiều người ưa thích.

Tiếp theo tôi viết quyển Giữa Chốn Cung Vàng để giới thiệu về Phật Giáo Tích Lan. Đặc biệt về nơi thờ răng Phật tại Kandy, cố đô của Tích Lan, và địa danh thứ 2 là Anurad-hapuda nơi Shangamita, Công chúa và cũng là Ni Cô con của vua A Dục, đă mang một nhánh của cây Bồ Đề từ Ấn Độ sang Tích Lan trồng vào thế kỷ thứ 3 trước Tây lịch. Cây ấy vẫn c̣n sống cho đến ngày hôm nay.

Những năm sau đó tôi có dịp đi Trung Quốc 2 lần. Sau khi đi lần thứ nhất về viết quyển Theo Dấu Chân Xưa và lần thứ 2 viết quyển Vọng Cố Nhân Lầu. Cả hai quyển nầy giới thiệu về Tứ Đại Danh Sơn của Trung Quốc về những nơi thị hiện của Bồ Tát Quan Thế Âm, Bồ Tát Địa Tạng, Bồ Tát Văn Thù và Bồ Tát Phổ Hiền cũng như những cảnh trí khác của Trung Quốc.

Đến năm nay 2001 tôi đă có dịp hành hương sang Bhutan, nên cố gắng viết tác phẩm nầy để giới thiệu với quư độc giả xa gần về một xứ khó đến mà cũng rất khó về. Tôi chưa biết rằng tác phẩm nầy lấy nhan đề là ǵ? có lẽ nên lấy tên: BHUTAN, Khó Đến Khó Về. Hoặc giả: Nụ cười Hoàng Hậu hay là ǵ ǵ nữa... th́ có lẽ cuối cùng sẽ chọn được một cái tựa.

Như thế là 5 tác phẩm giới thiệu về 4 xứ đặc biệt. Ngoài ra tác phẩm Đường Không Biên Giới của chúng tôi cũng đă giới thiệu tổng quát về các châu lục như: Âu, Á, Mỹ, Úc, Phi.

Có lần Hạnh Hảo, người đệ tử Đức của tôi, bảo rằng: Sư phụ ở Đức đă 24 năm rồi mà chưa có một tác phẩm nào viết về nước Đức và người Đức cả. Trong khi đó Sư phụ đi Bhutan chỉ có một tuần mà đă có một tác phẩm rồi.

Tôi trả lời kiểu nói gượng với Hạnh Hảo là: Đă ở Đức rồi th́ c̣n viết về nước Đức làm ǵ nữa. Nhưng thật ra trả lời như thế cho có trả lời mà thôi. Lẽ ra tôi phải có một đại tác phẩm về nước Đức mới đúng; nhưng những lúc ở, ăn, làm việc, tu học ở xứ nầy lâu rồi, ḿnh chẳng để ư đến nữa. Phải chăng đây là cái lỗi của tôi, hay mọi người cũng thế? Phần tôi, tôi nghĩ rằng tất cả 32 tác phẩm nầy hay trong tương lai c̣n nhiều tác phẩm khác tôi sẽ viết nữa là đại tác phẩm tôi viết về nước Đức vậy. V́ nơi nầy đă cưu mang và đùm bọc tôi trong suốt mấy chục năm qua. Cảm ơn nước Đức và cảm ơn nhân dân Đức rất nhiều.

Viết sách không khó. V́ đọc nhiều sách là có thể viết sách được. Cái khó ở đây là làm sao khi người khác đọc sách của ḿnh có thâu thập được phần nào những lư giải và những chỗ thẳm sâu mà tác giả muốn gởi đến người đọc hay không? ấy mới là vấn đề chính. Ngoài ra cũng c̣n những phương diện khác nữa, chứ không phải chỉ đơn thuần có vậy. Nhưng riêng tôi cũng như người xưa đă nói: "Tôi thích bán những ǵ người ta thích mua, chứ tôi không bán những ǵ mà tôi thích bán". Cũng như thế ấy, tôi sẽ cho những ǵ người khác thích nhận chứ không phải tôi sẽ cho những ǵ mà tôi thích cho. Tôi xem mọi người, chúng sanh là đối tượng; chứ tuyệt nhiên tôi không là đối tượng của chúng sanh. V́ tôi chẳng là ǵ cả. Một Như Điển nầy cũng chỉ là cỏ đá mà thôi. Ở tôi muốn thể hiện ḷng từ bi; nên cố gắng xem mọi người và mọi loài có giá trị cao cả hơn ḿnh nhiều. Có như thế tôi mới là hóa thân của đất và nước được.

Rồi đây tứ đại nầy của tôi cũng sẽ ra tro bụi. Có thể là ngày mai, hay 5, 10 năm nữa. Mà cũng có thể lâu hơn 20 năm sau; nhưng sau đó là ǵ cơ? Là cỏ xanh, là bia trắng. C̣n ai nhắc đến ḿnh. Hay ḿnh cũng chỉ là một chúng sanh âm thầm như bao chúng sanh khác? Có thể là như thế. V́ tương lai nhân loại ở trên hành tinh nầy không dừng lại con số 6 tỷ người như trong hiện tại, mà là 8 hay 10 hoặc 20 tỷ v.v... rồi thế giới nầy sẽ ch́m sâu vào khổ đau cũng như ngấm sâu vào những tị hiềm cũng như chia rẽ. Lúc ấy cơi Nam Diêm Phù Đề nầy nếu có những chúng sanh nào đó xuất hiện, nó cũng chỉ là và cũng sẽ là một giọt nước li ti trong muôn ngàn giọt nước khác mà thôi. Thật ra ta chẳng là ǵ cả.

Phật ngày xưa đă thị hiện làm nhiều thân khác nhau. Có lúc phải làm hùm beo, sư tử. Có khi làm chim muông, thú dữ; nhưng tâm lúc nào cũng từ bi. Như một vị Bồ Tát muốn cứu khổ cho đời. C̣n chúng ta ngày nay có nhiều người mang thân lành đầy đủ; nhưng làm những việc thiếu ḷng từ. Do đó khi chết chắc khó sanh lại vào đường lành. Do vậy phải làm một cái ǵ đó, không phải cho có tính cách cao thượng, mà hăy v́ người hơn là v́ ḿnh, th́ kết quả lại khác hẳn đi.

Thế giới ngày nay người ta chủ trương là kinh tế hóa toàn cầu. Mới nghe qua th́ rất hay. V́ nhờ phương diện kinh tế phát triển mà con người có nhiều phương tiện hơn. Điều ấy không sai; nhưng chưa đúng hoàn toàn. V́ có biết bao nhiêu người nghèo càng nghèo hơn chỉ v́ sự phát triển kinh tế của một số nước lớn trên thế giới. Mới nghe qua th́ vô lư. Nhưng lẽ công bằng của tạo hóa là người nầy được th́ kẻ khác phải thua. Người nầy c̣n, kẻ khác phải mất. Do vậy mà Vua Bhutan trong hiện tại không chủ trương như thế, mà ông ta nói rằng: "Sự tăng trưởng kinh tế của nước tôi có nghĩa là dân tôi mỗi ngày làm được một việc thiện. V́ việc thiện càng nhiều th́ đời sống người dân sẽ có hạnh phúc. Hạnh phúc đó chính là một sự tăng trưởng kinh tế; chứ không phải kinh tế hiểu theo nghĩa là tiền bạc". Đúng là một lời vàng. Có lẽ trên thế giới nầy ít có vị nguyên thủ của quốc gia nào có được một tâm hồn và một nghĩa cử cao đẹp như thế ấy.

Một hôm tôi ngồi nghe một vị Đại Sư Tây Tạng giảng về Phật Pháp cho những người Đức nghe tại Chánh điện chùa Viên Giác, bằng tiếng Anh, về t́nh yêu và ḷng từ bi. Ông ta cũng đă giải thích rất nhiều về tự ngă, cố chấp và cá nhân chủ nghĩa và sau khi phân tích, ông ta nói như thế nầy: if you love him (her) as he (she) is then... có nghĩa là nếu anh (chị) yêu cô (anh) ta như anh (cô) ta là... th́... Câu nói rất đơn giản nhưng rất vi diệu. V́ lâu nay tất cả mọi thứ t́nh, chính ḿnh muốn t́nh ấy phải thuộc về ḿnh; nếu không lệ thuộc, sẽ sinh ra ganh tị, đố kỵ, nhỏ nhoi, hẹp ḥi, ích kỷ v.v... mà nếu đă thuộc về ḿnh th́ thuộc về cố chấp, ích kỷ; chứ không c̣n là t́nh yêu hay t́nh thương nữa. Do vậy nếu muốn yêu hay thương th́ hăy thương như ông (cô) ta là... Có nghĩa là họ sao th́ phải thương như vậy. Chứ đừng bắt buộc cái thương ấy thuộc về ḿnh. V́ ḿnh thật vô lư, ḿnh chẳng là cái ǵ cả.

Thế mà trong cuộc sống nầy chúng ta đă gây ra không biết bao nhiêu sự khổ đau cho nhau cũng chỉ v́ sự chấp ngă mà thôi. Sự chấp trước nầy do thức biến hiện mà thành. Nặng nề nhất là A Lại Da Thức cũng c̣n gọi là tàng thức. Thức nầy có 3 công năng chính chứa giữ là: hay chứa những sự kiện mà tâm ḿnh cho là hữu lư và cũng hay bị chứa những phân biệt bỉ thử. Rồi điều thứ ba quan trọng hơn có nghĩa là chỉ chứa đựng những ǵ thuộc về ngă chấp của ḿnh mà thôi. Từ đó mới sinh ra sơn hà đại địa, bỉ thử hơn thua...

Do vậy tôi tập quán như thị như trong Kinh Pháp Hoa phẩm Phương Tiện thứ 2 có dạy. Có như thế, như vậy, như là, để mà sống, mà chiêm nghiệm với cuộc đời. Cũng đừng nên bắt nó phải là, nhất là nó phải thuộc về ḿnh, quả là điều phi lư. V́ cái tôi nầy nó chẳng là ǵ cả.

Năm nay trong mùa An Cư Kiết Hạ nầy Chúng thường trú tại chùa Viên Giác là 24 vị. Thỉnh thoảng cũng có những vị khách Tăng từ nhiều nơi trên thế giới đến viếng thăm và mỗi lần như thế, tôi có cung thỉnh quư vị ấy giảng pháp cho giới xuất gia cũng như tại gia vào những giờ nhất định trong ngày. Năm nay th́ có nhiều Thầy đảm đương thế cho tôi, như Đại Đức Thích Đồng Văn, mới vừa xong Tiến Sĩ Phật Học tại Ấn Độ, tôi đă bảo lănh sang Đức và hiện phụ trách mỗi tuần 2 lần giảng cho chúng Sa Di và Sa Di Ni. Thầy Hạnh Tấn, Phó Trụ Tŕ Chùa Viên Giác là Phó Tiến Sĩ, cũng đang hướng dẫn mỗi tuần 2 lần cho Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni cũng như toàn chùa. Riêng tôi mỗi tuần chỉ c̣n lại một lần vào ngày thứ hai về Đại Trí Độ Luận cho tất cả chúng xuất gia. Mỗi lần như thế, đây cũng là cơ hội để gặp gỡ Tăng Ni trong chùa để có việc ǵ trọng đại th́ cũng đem ra thảo luận để thực hiện chung.

Không khí sinh hoạt trong chùa rất ḥa hài yên vui. Tuy mỗi ngày có lạy kinh Đại Bát Niết Bàn, mỗi chữ mỗi lạy. Cho đến nay đă lạy 430 trang của quyển một rồi. Tuy có hơi mệt sau 300 lạy mỗi đêm; nhưng mọi người chắc chắn ai cũng có một giấc ngủ an lành. Có nhiều Chú thưa với tôi rằng: Con không c̣n th́ giờ ǵ cả. Tôi bảo rằng như thế là tốt. V́ Phật và chư Tổ cũng bảo rằng: Người tu nên luôn luôn bận rộn như thế để cho những tạp niệm đừng xen vào.

Trong chùa có thêm độ 10 đến 15 người làm công quả hằng ngày. Như vậy mỗi ngày tại chùa Viên Giác có độ 40 người phải chu toàn cho mọi sự. Đó là chưa kể đến khóa Tu Gieo Duyên từ ngày 1 đến 14 tháng 7 mỗi năm, có độ 50 Tăng Ni và 100 Phật Tử về tham dự. Rồi th́ lễ lộc; hoặc Bát Quan Trai giới cuối tuần. Chùa Viên Giác vẫn luôn luôn bận rộn như thế. Nhưng trong cái bận rộn ấy ai cũng có được một niềm vui. V́ ḿnh có cơ hội phục vụ cho người khác. Đó cũng là một chút ư nghĩa trong việc hành Bồ Tát hạnh vậy. 

Tuy thời gian lại vô t́nh, thời gian lặng lẽ trôi; nhưng với tôi tất cả đều có ư nghĩa. Tất cả với tôi là những ân nghĩa ngh́n trùng. V́ có bao nhiêu người phải hy sinh cho ḿnh để ḿnh được rảnh rỗi và ngay cả thời gian và không gian ở xứ Đức nầy đă cho tôi một khoảng trống để có thể chen vào những tư tưởng của ḿnh để gởi đến quư độc giả khắp nơi về tác phẩm thứ 32 nầy. 

Mong rằng quư vị sẽ giữ lại ư và quên đi lời. 

Tác giả: Thích Như Điển

 

Chương  I. Phần Tổng Quát 

 

Nhiều người trong chúng ta chẳng biết Bhutan nằm ở đâu, v́ lẽ ít nghe nói đến. Ngay cả người Đức, v́ trong hiện tại chính phủ Đức vẫn chưa có ngoại giao chính thức với Bhutan.

Bhutan có 300 cây số chiều dài; 150 cây số chiều rộng. Diện tích 46.500 cây số vuông. Phía Tây Bắc giáp Tây Tạng. Phía Đông giáp Ấn Độ. Phía Nam giáp Pradesch thuộc Ấn Độ. Phía Bắc giáp Sikkim. Nh́n toàn diện Bhutan có 90% là núi và ở độ cao từ 1.100 mét cho đến 3.000 mét. Có nơi núi cao hơn nằm ở phía Hy Mă Lạp Sơn chạy dọc theo biên giới Ấn Độ.

Khí hậu ở nước nầy cũng giống như Florida của Mỹ hay Cairo của Ai Cập. Phía Nam khí hậu giống như các nước khác tại Á Châu. Phía cao nơi gần Hy Mă Lạp Sơn có nhiều tuyết. Nhiệt độ trung b́nh ở phía Nam có 15 độ C về đông và 30 độ C về mùa hè. Tại Paro về mùa đông thường -5 độ C và vào tháng bảy độ 30 độ C. Mỗi năm như vậy lượng mưa trung b́nh là 350 ml. Núi cao thường 0 độ C vào mùa đông và 10 độ C vào mùa hè.

Những núi cao tuyết hay rơi thường và ở những độ cao 2.400 mét đến 3.000 mét tuyết hay giữ lại cho đến tháng 3 mới tan. Mùa mưa thường hay xảy ra suốt miền Tây Nam từ đầu tháng 6 đến tháng 9. Có những đợt mưa cao nhất thế giới hằng năm là 9m50. Có lúc nước mưa cao dâng lên chừng 6 tầng lầu.

Bhutan tiếng Sanskrit gọi là Bhotant có nghĩa là miền cuối cùng của Tây Tạng. Cũng có nghĩa khác là vùng đất rất cao. Người Anh gọi là Bootan hoặc Bhotan. Xứ nầy cũng được gọi là xứ của rồng. Tôi những tưởng chỉ có Trung Hoa và Việt Nam lấy rồng làm biểu hiệu mà ngay cả Đại Hàn và Nhật Bản cũng ảnh hưởng. Ngày nay lại phát hiện thêm xứ Bhutan nữa. Trên các nóc chùa; nơi cung điện của Vua hay nơi những ghế ngồi trong cung điện đều có chạm h́nh những con rồng chầu hai bên. Rồng đối với các dân tộc Á Châu là những biểu tượng linh thiêng, sống động giúp vua cứu đời; nhưng ngược lại con rồng ở Âu Châu và theo tinh thần của Thánh Kinh th́ ngược lại. Cũng như chữ Vạn đối với người Phật Tử là một dấu hiệu thiêng liêng; nhưng đối với một số người Đức th́ họ rất sợ. V́ liên tưởng đến chế độ độc tài của Hitler. Đúng là khó nói và khó diễn tả.

 

Bắt đầu từ thế kỷ thứ 13 người dân mới đến ở tại xứ nầy. Như vậy cũng có thể nói là khi dân tộc Việt Nam ḿnh đă đến triều Trần, nghĩa là đă có khoa thi Tam Giáo đỗ Tiến Sĩ ra làm quan rồi, người Bhutan mới lập quốc. Dĩ nhiên trước đó họ cũng đă có những người địa phương sống khắp đó đây tại lănh thổ nầy; nhưng đến thế kỷ thứ 13 mới chính thức có tên gọi. Tôn giáo chính của Bhutan là Drukpa thuộc Đại Thừa Phật Giáo. Ở đây hầu như không có một tôn giáo ngoại lai nào bành trướng được ngay cả Hồi Giáo, Ấn Độ Giáo hay Thiên Chúa Giáo.

Dân số Bhutan thống kê vào năm 1994 là 600.000 người với 43% dưới 15 tuổi. Mức độ phát triển là 3,1% mỗi năm. Đây là mức độ cao nhất của thế giới. Do vậy đến năm 2001 có thể nói Bhutan có độ 1 triệu người sống rải rác trên một lănh thổ như Thụy Sĩ; nhưng đa phần núi cao ở đây không trồng trọt được. Thật ra trẻ em chết rất nhiều v́ phương tiện y học c̣n thô sơ. Nếu phương tiện y học tốt th́ sẽ bảo đảm được sức khỏe cho dân chúng tại đây rất nhiều.

Người Bhutan gồm có những dân tộc chính sinh sống tại đó. Đầu tiên là nhóm dân thiểu số, gọi là Sharchops; họ sống ở miền Đông Bhutan. Đây là cư dân căn bản của Bhutan; họ là những người được pha trộn giữa Ấn Độ và Mông Cổ. Không rơ di dân từ khi nào đến dăy đất nầy.

Giống người thứ hai gọi là Lhotshampa. Đây là người Népal bắt đầu lập nghiệp tại Bhutan vào cuối thế kỷ thứ 19 và họ vẫn dùng tiếng Népal để giao dịch với nhau. Những người Népal nầy thường theo Ấn Độ giáo và có một số ít theo Hồi Giáo.

Nhóm thứ ba được gọi là Ngalong. Nguồn gốc giống người nầy đến từ Tây Tạng và họ đến Bhutan vào thế kỷ thứ 9. Họ ở về phía Tây, giáp giới với Tây Tạng. Họ theo Phật Giáo và cho đến ngày nay họ vẫn c̣n nói tiếng Tây Tạng.

Như vậy nước Bhutan cũng tương đối giống nước Thụy Sĩ. V́ lẽ Thụy Sĩ có hơn 60% dân số nói tiếng Đức. Có 15% nói tiếng Pháp; 15% nói tiếng Ư và 10% c̣n lại nói tiếng địa phương. V́ lẽ Thụy Sĩ cũng là một quốc gia mới độc lập sau nầy; cho nên quốc gia họ phải có nhiều tiếng nói và nhiều dân tộc đến sống nơi đó. Có lẽ cũng v́ vị trí địa lư của Bhutan và Thụy Sĩ giống nhau; cho nên thể chế chính trị của Bhutan trong hiện tại họ cũng rập khuôn theo Thụy Sĩ. Mặc dầu tại Thụy Sĩ không c̣n vua nữa; nhưng địa vị Tổng Thống của Thụy Sĩ cũng chỉ có tính cách tượng trưng; trong khi đó Vua Bhutan vẫn c̣n một thực quyền đối với Quốc Hội và dân chúng.

Hội Đồng Quốc Gia của Bhutan có 154 Dân Biểu và chia ra làm 3 loại khác nhau. Loại một gồm 105 vị Dân Biểu đại diện cho 20 quận và đều được bầu trong 3 năm một lần. Loại thứ hai gồm đại diện cho 12 Tu viện Phật Giáo và cũng duy tŕ trong ṿng 3 năm. Nhóm thứ ba từ nhân dân và do nhà Vua bổ nhiệm. Gồm 20 viên chức Quận, Bộ Trưởng, Thứ Trưởng của chính phủ hoặc những nhân viên cao hơn để đảm đương việc nước.

Những người được bầu tuổi từ 25 trở đi. Nhà Vua trong hiện tại đă thay đổi hệ thống hành chánh nầy và đă được 2/3 dân chúng đồng ư. Vào tháng 6 năm 1998 nhà Vua cũng đă ban hành Hiến Pháp, cải thiện chính trị và lấy việc bỏ phiếu của dân bầu làm gốc.

Nhưng đặc biệt một điều là cho đến nay ở Bhutan vẫn chưa có đảng đối lập, mà họ chỉ có một đảng duy nhất. Đó là đảng của quốc gia Bhutan mà thôi. Không biết mai sau đây t́nh thế thay đổi ra sao th́ chưa biết; nhưng trong hiện tại họ sống rất là yên b́nh dưới sự lănh đạo của Vua và Hội Đồng Cố Vấn của Hoàng Gia cũng như các Bộ Trưởng và Dân Biểu.

Hội Đồng Cố Vấn của Hoàng Gia thành lập vào năm 1965 để cố vấn cho Vua cũng như cho Hội Đồng Bộ Trưởng trong những vấn đề quan trọng. Những vị nầy cố vấn cả những vấn đề chính trị trong Quốc Hội nữa. Vị Chủ Tịch của Hội Đồng nầy do Vua bổ nhiệm. Có tất cả là 6 vị; trong đó có 2 vị là Tu sĩ. Một trong 2 vị Tu sĩ nầy, phái đoàn chúng tôi đă gặp, sẽ đề cập tỉ mỉ hơn vào những chương sau.

Hội Đồng Bộ Trưởng của Bhutan trong hiện tại có tất cả là 8 Bộ. Nếu kể luôn Hội Đồng Cố Vấn của Hoàng Gia nữa, có nghĩa là hết thảy 9 Bộ. Gồm những Bộ như sau: 

1. Bộ Thương Mại Kỹ Nghệ

2. Bộ Y Tế

3. Bộ Giáo Dục

4. Bộ Tài Chánh

5. Bộ Ngoại Giao

6. Bộ Thiết Kế Đồ Án

7. Bộ Nông Nghiệp, và

8. Bộ Giao Thương. 

Năm 1998 nhà Vua đă chỉ định để thành lập Hội Đồng Bộ Trưởng nầy. Ông Bộ Trưởng Ngoại Giao lâu đời nhất thế giới là ông Lompo Dawa Tsering. Ông ta đă là Bộ Trưởng kể từ năm 1972 đến 1998. Kể từ năm 1998 vị Bộ Trưởng Ngoại Giao được chọn lựa bởi Hội Đồng Bộ Trưởng để điều hành việc ngoại giao với các nước bên ngoài.

Trên thực tế, cho đến hôm nay (2001) Bhutan chỉ có ngoại giao chính trị với 18 nước; đa phần tại Á Châu. Đặc biệt những nước Bắc Âu như Thụy Điển, Đan Mạch, Na Uy, Phần Lan có ngoại giao rất sâu rộng với xứ Bhutan. V́ lẽ các xứ Bắc Âu đang chủ trương bảo vệ môi sinh hầu như hoàn hảo tại Âu Châu nầy và Bhutan cũng lại là nước tại Á Châu duy nhất chủ trương bảo vệ môi sinh tuyệt đối như thế. Cho nên họ có ngoại giao với nhau là phải. Ngoài ra Bhutan cũng được những nước Bắc Âu nầy viện trợ hằng năm để bảo vệ môi sinh.

Đặc biệt tại các khách sạn hay ngân hàng tiền Na Uy, Đan Mạch, Thụy Điển và Phần Lan được nhân viên ở đây biết đến nhiều hơn là tiền Đức, Anh, Pháp, Mỹ v.v... Quả thật ở trong đời có nhiều việc khó tin, mà có thật. Trong khi đó ở những xứ khác th́ đồng tiền Bắc Âu ít được nhắc đến nhiều hơn là những đồng tiền thông dụng tại Âu Châu hay Mỹ Châu. Ngay như tại Đức nhiều lúc nhân viên ngân hàng không phân biệt được tiền nào là tiền của Na Uy và tiền nào là của Đan Mạch hay Thụy Điển; nếu họ không nh́n kỹ vào những ghi chú bên cạnh. Rồi đây 15 quốc gia Âu Châu sẽ xử dụng chung một đồng tiền; nhưng tiếng nói và phong tục tập quán th́ xứ nào họ giữ của xứ ấy. Có lẽ cũng sẽ tiện lợi dần dần. V́ thế giới càng ngày càng gần gũi với nhau hơn.

Năm 1994 Bhutan nhận được 77 triệu Mỹ kim tiền ngoại viện; đa phần là của Ấn Độ, Nhật Bản và các nước Bắc Âu. Nếu gặp những người ngoại quốc tại xứ nầy th́ đa phần là người Ấn Độ, Nhật Bản và Bắc Âu chứ người Đức rất ít. V́ lẽ mỗi năm Bhutan chỉ nhận từ 7 đến 8.000 người mà thôi. Mỗi người vào lănh thổ nầy mỗi ngày phải đóng 200 Mỹ kim để trả cho tiền ăn ở cũng như di chuyển. Trong số tiền nầy có 35% sung vào quỹ của quốc gia để lo cho vấn đề sức khỏe và giáo dục của dân chúng.

Nhà vua Jigme Dorji Wangchuck đă băng hà năm 1972; nhưng chính nhà vua nầy lần đầu tiên mới mở cửa cho người ngoại quốc vào Bhutan năm 1960. Nhóm đầu tiên du lịch vào Bhutan là năm 1974 do ông Lars Eric Lindblad tổ chức. Nhà vua đă khuyến khích chính phủ hạn chế việc du lịch và đánh tiền thuế cao vào người du lịch. Lúc ấy mỗi năm chỉ vào được Bhutan độ 200 người. Mỗi nhóm có 6 người hoặc nhiều hơn. Họ lúc ấy phải đóng 130 Mỹ kim mỗi ngày. Thời gian ấy chưa có phi trường; nên đa phần khách du lịch phải đến biên giới Ấn Độ, rồi từ đó mới đi bộ, đi ngựa hoặc có đoạn đường có thể xử dụng xe Bus để đi vào Bhutan. Riêng phái đoàn của chúng tôi 19 người không phải đóng một đô-la nào trong suốt 10 ngày ở tại Bhutan. Có lẽ đây cũng là một phái đoàn đặc biệt, sẽ tŕnh bày ở những chương sau.

Phi trường Paro nơi chúng tôi đến, được xây dựng năm 1983 và đến năm 1990 Bộ Trưởng Bộ Giao Thông Ấn Độ mới sang đây dự lễ khánh thành và giúp đỡ tài chánh và kể từ đó phi trường Paro mới được mở rộng ra. Druk Air lúc mới bắt đầu bay chỉ có 72 hành khách. Nhưng trong hiện tại ở Bhutan cũng mới chỉ có một chiếc máy bay, một phi trường và một phi đạo. Cho nên tôi gọi là Bhutan khó đến mà cũng khó về là vậy; nếu máy bay có sự cố.

Druk Air chỉ bay từ Paro qua Dhaka, qua Bangkok. Trở về Calcutta và Paro. Đó là đường bay thứ nhất. Đường bay thứ hai từ Paro đi Kathmandu rồi qua Delhi rồi trở về lại Paro. Tuy là bay hai đường bay qua 4 nước; nhưng chỉ có một chiếc máy bay và một phi hành đoàn chưa đến 10 người. Quả là một hăng hàng không rất khiêm nhường nhất nh́ trên thế giới. Do vậy mà đến Bhutan rồi mới hiểu Bhutan là ǵ?

Nhà vua trong hiện tại tên là Jigme Singye Wangchuck. Lúc Vua 16 tuổi th́ Vua cha băng hà. Vua cha tên là Jigme Dorji Wangchuck. Ông ta mất vào năm 1972 khi nhà vua mất mới 44 tuổi. Nhà vua nầy cũng là một vị vua cải cách của xứ Bhutan. Chính ông ta đă cho mở cửa để đón khách nước ngoài vào từ thập niên 60. C̣n trước đó th́ hoàn toàn không có.

Nhà vua trong hiện tại cũng giống như cha ḿnh được học ở Ấn Độ và Anh Quốc. Đức Vua cũng đă được tốt nghiệp trường Đại Học của Bhutan ở Paro. Ông ta cũng tiếp tục con đường giáo dục, kinh tế và ngoại giao giống như vua cha đă làm. Đó là việc bảo vệ môi sinh tốt cũng như giữ mức dân số nhỏ như hiện nay. Mức sống kinh tế tại Bhutan tuy không giàu như các nước Tây phương; nhưng dân chúng ở đây sống trong một quốc gia rất hạnh phúc.

Năm 1974 sau khi phong vương, nhà vua nầy chủ trương mở cửa cho Bhutan và đây là lần đầu tiên có các kư giả ngoại quốc vào quốc gia nầy. Có khoảng 287 vị khách được mời lúc đó. V́ lẽ đó cho nên những khách sạn cũng đă phải mọc lên để cung ứng cho nhu cầu nầy và sau đó dùng để đón khách du lịch.

Nhà vua cũng đă hiện đại hóa nền giáo dục và nhất là hệ thống y tế của quốc gia cùng với vai tṛ phát triển cộng đồng của người Bhutan. Ông ta có thể nói là một Kiến trúc sư cho việc bảo vệ môi sinh của Bhutan. Ông ta cũng tiếp tục phát triển những thành quả tốt đẹp mà vua cha đă để lại, giữ ǵn truyền thống văn hóa cổ truyền và chủ trương một quốc gia, một dân tộc.

Năm 1988 HoàngTộc đă làm lễ kết hôn cho nhà vua cùng với 4 chị em ruột của Ashi Dorji Wangmo, Ashi Tshering Pem, Ashi Tshering Yangdön và Ashi Sangay Choden. Nhà Vua và các Hoàng Hậu hiện có 5 Thái Tử và 5 Công Chúa, kể cả Thái Tử sắp nối ngôi.

Đây cũng là một điều ngoại lệ và cũng rất hiếm hoi cho các vị vua trên thế giới; mà cũng có thể nói rằng đây là phước đức của ḍng họ Ashi. Cả 4 chị em ruột đều lấy một chồng và người chồng ấy là Vua của xứ Bhutan. Cũng có thể v́ để tránh việc tranh giành ngôi thứ với nhau và cũng để khỏi có sự lật đổ một vương triều nên Hoàng tộc của Bhutan trong hiện tại đă chọn giải pháp như thế.

Tốt xấu, đúng sai hăy để cho hậu thế sẽ ghi vào sử sách; riêng về phương diện phước đức th́ phải thấy rằng nếu không gây nhân bố thí, giúp đời ở kiếp trước, th́ kiếp nầy khó có thể làm Vua và làm Hoàng Hậu. 

Sau đây là biểu đồ gia phả của Hoàng Hậu cũng như việc kết hôn với nhà Vua. ( Xem trang 26 & 27)

Đồng thời cũng nên biết qua về h́nh ảnh của nhà Vua và 4 Hoàng Hậu cũng như cha mẹ của Hoàng Hậu. 

 

Scanne:  (Trang 20C)  và  (Trang 20D)

Vua và 4 Hoàng Hậu

Cha Mẹ của Hoàng Hậu 

 

Đến thế kỷ thứ 16 th́ Bhutan chia ra nhiều địa phương khác nhau và đây cũng là cơ hội để năm 1644 quân Mông Cổ và Tây Tạng tấn công chiếm Bhutan. Vào năm 1644-1647 Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ V đă ngự giá đến Paro và năm 1648-1649 Tây Tạng đă chiếm trọn Bhutan. Ông Shabdrung Ngawang Namgyal đă chống lại Tây Tạng và đă thành công năm 1655. Ông ta sinh vào cuối thế kỷ thứ 16 (1594) và đến năm 1651 th́ từ trần. Cuộc chiến mà ông đă lănh đạo để chống lại Tây Tạng đă thành công rồi sau 4 năm ông mất. Do vậy h́nh ảnh của ông được xem như là một vị Thánh quan trọng của Bhutan. Hầu như chùa nào cũng có thờ.

H́nh hoặc tượng của ông ta ngồi, đội mũ đỏ, có râu dài, mặc y áo nhà tu và trên tay có cầm một b́nh nước cam lồ. Người Bhutan cũng thờ lạy ông như là một vị Bồ Tát.

Đến năm 1705 th́ Je Khenpo chết. Từ thân thể của ông có 3 tia sáng xuất hiện và điều ấy báo tin rằng sẽ tái sinh ra 3 h́nh thức khác nhau để lănh đạo quốc gia. Thời gian yên b́nh nầy kéo dài chừng 200 năm, sau đó th́ có nội chiến. V́ vậy cho nên năm 1729-1730 Tây Tạng đă lợi dụng sự bất ổn định của Bhutan nên đă xâm nhập lần thứ 3 và lần nầy người Tây Tạng cũng thua phải kéo binh về nước.

Tuy rằng kinh điển Phật Giáo cho đến ngày nay người Bhutan vẫn c̣n dùng tiếng Tây Tạng để tụng đọc và hành tŕ; nhưng h́nh thức cũng có đôi phần khác với Tây Tạng. V́ lẽ phong tục cũng như truyền thống và nghi lễ có nhiều điểm không  giống nhau.

Có lẽ đau đớn sau 3 lần bị chiếm đóng, cho nên người Bhutan không thích người Tây Tạng mấy. Cũng giống như người Đại Hàn không thích người Nhật vậy. Do vậy cái ǵ không đúng hay xấu xa, người Bhutan thường hay nói: Tại sao giống người Tây Tạng quá vậy.

Dân tộc và đất nước Việt Nam của chúng ta cũng đă bị người Trung Hoa đô hộ 3 lần. Bị người Pháp, người Nhật mỗi xứ một lần. Mỗi lần như vậy cả hằng ngàn năm, hàng trăm năm hay mấy chục năm; nhưng người Việt Nam phóng khoáng hơn; không trả thù khi kẻ đến xâm lăng bị thua. Sau đó th́ giao hảo tốt đẹp cũng như tay bắt mặt mừng, trao đổi văn hóa, kinh tế, chính trị, thương mại với nhau ngay cả những nước cựu thù. C̣n Bhutan bị Tây Tạng chiếm tổng cộng 3 lần chưa tới 30 năm mà mối thù truyền kiếp ấy vẫn c̣n dai dẳng nơi ḷng người Bhutan cho đến ngày hôm nay. Mặc dầu cả 2 nước đều là Phật Giáo; mà Phật Giáo của Bhutan ảnh hưởng không ít bởi Phật Giáo của Tây Tạng.

Hầu như tất cả những chùa của Bhutan đều thờ h́nh hoặc tượng của Ngài Padmasambhava. Ngài được xem như là một vị Phật thứ 2 sau Đức Thích Ca Mâu Ni đối với người Bhutan. Chữ Padmasambhava có nghĩa là Liên Hoa Sanh. Có nghĩa là Ngài hóa sanh từ hoa sen. Ngài xuất thân từ Ấn Độ. Năm 746 Ngài đă dùng thần thông để bay qua Bhutan, Sikkim và Tây Tạng để xiển dương Phật Pháp nơi đây. Do vậy mà cả 3 nước nầy đều thờ h́nh ảnh của Ngài rất trang trọng.

Ngài cũng được hiểu như một biểu tượng Đại Sư của Mật Giáo; nên gọi là Je Khenpo. Có nơi cũng gọi là Greru Rimpoche. H́nh hoặc tượng của Ngài tay mặt cầm hoa sen; tay trái cầm b́nh nước cam lồ. Ngài mặc áo đỏ đắp y vàng; đầu đội mũ đỏ viền xanh, dưới h́nh thức là một Tăng Sĩ. Vị nầy sau đó được đầu thai dưới nhiều h́nh thức khác nhau; có lúc địa vị của Ngài c̣n cao hơn cả vương quyền của Vua Bhutan nữa. Do vậy ở đầu thế kỷ thứ 20 mới có sự tranh chấp và tái sanh của Je Khenpo bị giết để chứng tỏ thế quyền cao hơn đạo giáo và vị Je Khenpo tái sanh tiếp theo bây giờ hiện đang ở tại Ấn Độ.

Ấn Độ là một quốc gia nơi phát sanh ra nhiều bậc giác ngộ, nhiều vĩ nhân trên thế giới; nhưng đồng thời Ấn Độ cũng là nơi tranh chấp nhiều giai cấp và nhiều hóa thân, để rồi măi cho đến bao giờ Ấn Độ cũng c̣n nằm trong sự huyền bí, như Hy Mă Lạp Sơn cho đến bao đời cũng chẳng có ai có thể biết được trong đó có những ǵ?

Vị vua của Bhutan có liên hệ với Anh Quốc tên là Ugyen Wangchuck. Ông ta lên ngôi ngày 17.12.1907. Có lẽ v́ lúc ấy do sự hiện diện của người Anh tại Ấn Độ; nên người Anh cũng muốn bành trướng thế lực của ḿnh qua các xứ lân cận của Ấn Độ. Cũng v́ lẽ Bhutan là một xứ núi non rất hiểm trở cho nên người Anh, ngay cả người Tây Tạng và Trung Quốc cũng đă chẳng thành công trong giấc mộng xâm lăng của ḿnh vậy.

Về đạo Thiên Chúa hoàn toàn không có ảnh hưởng ǵ tại xứ Bhutan nầy. Mặc dầu năm 1627 nghĩa là cách đây 400 năm về trước có Giáo sĩ Bồ Đào Nha ḍng Jesuit tên là Cacella và Cabral, họ đến từ Calcutta của Ấn Độ; nhưng sau 400 năm tại đây hầu như không có một nhà thờ và không có một người nào theo đạo Thiên Chúa giáo. Ngay cả Nhật Bản, mặc dầu các Giáo sĩ người Tây phương cũng đă đến đây vào thế kỷ thứ 16, 17 và cho đến nay sau 400 năm truyền giáo họ chỉ có con số tín hữu rất khiêm nhường là 0,001% so với trên 100 triệu dân số của Nhật Bản ngày nay.

Quân đội của Anh cũng đă t́m cách ảnh hưởng tại xứ Bhutan và Tây Tạng nên họ đă kư một hiệp ước vào năm 1774. Đây là thời kỳ mà người Âu Châu đi t́m các thuộc địa tại Á Châu và Mỹ Châu cũng như Phi Châu. Tuy nhiên với truyền thống lâu đời của Phật Giáo mà người dân đă hấp thụ; nên không thể một sớm một chiều mà có thể thay đổi tín ngưỡng của dân tộc họ cả hằng ngàn năm nay.

Phật Giáo giữ một vai tṛ quan trọng trong đời sống sinh hoạt hằng ngày của dân chúng. Người Népal và người Ấn Độ ở Bhutan th́ theo Hindu. Có cả đạo Bon từ Tây Tạng truyền sang đang có mặt tại những vùng thuộc Hy Mă Lạp Sơn. Những vị Tu sĩ của Bhutan đang đóng vai tṛ chính yếu trong đời sống cộng đồng. Con nhỏ của người Bhutan lúc 10 tuổi hầu như được đưa vào ở Tu viện để học kinh và tu hành. Bây giờ th́ truyền thống nầy không c̣n bị bắt buộc nữa. Tuy nhiên tôn giáo của quốc gia là Drukpa Kagyu là một nhánh của Mật Giáo, giống như Mật Giáo của Tây Tạng.

Trong Đạo Phật không phải là một tôn giáo c̣n tin Thượng Đế; nhưng Đạo Phật đă lấy hệ thống triết học và đạo đức học để răn dạy con người; nên đă ảnh hưởng rất sâu đậm trong quần chúng cũng như vua chúa. Phật Giáo cũng đă giải thích cuộc đời là vô thường, thế gian là giả hợp qua những bức tranh lụa của Phật Giáo nhằm chuyển hóa những biểu tượng nầy vào cuộc sống của mọi người, để ư thức được thế nào là sự hiện hữu của một kiếp nhân sinh vậy.

Đời sống chính trị tại Bhutan cũng như chính sách của chính phủ bị ảnh hưởng về Phật Giáo rất nhiều; nên đă bảo vệ thiên nhiên một cách toàn hảo và giữ lại những truyền thống tốt đẹp tự ngàn xưa. Việc bảo vệ thiên nhiên và bảo vệ văn hóa là hệ thống chính trị của Bhutan. V́ thế cho nên năm 1995 khi Quốc Hội họp và đă biểu quyết là giữ lại 60% rừng như xưa. Ai chặt cây bừa băi sẽ bị luật pháp nghiêm trị.

Năm 1991 chính phủ có thành lập một quỹ bảo vệ môi sinh để duy tŕ những hoạt động nầy. Được bảo trợ bởi WWF (Tổ chức bảo vệ môi trường), gồm các nước như Thụy Sĩ, Ḥa Lan, Na Uy và Phần Lan giúp đỡ. Quỹ nầy hiện có 25 triệu Mỹ kim để lo bảo vệ môi trường cho dân chúng Bhutan.

Nước Bhutan là một nước có môi trường thiên nhiên rất tốt. Rừng rậm vẫn c̣n nguyên vẹn. V́ dân số càng ngày càng tăng cho nên chính phủ đă ra lệnh cần phải bảo vệ môi sinh nhiều hơn nữa. Chính v́ rừng c̣n nguyên thủy cho nên có nhiều loại cây và hoa quư vẫn c̣n tồn tại dưới chân núi Hy Mă Lạp Sơn nầy. Có nhiều cây là dược thảo và theo sự kiểm kê của Sở Kiểm Lâm có đến 5.000 loại cây và hoa khác nhau đang có mặt tại rừng núi Bhutan nầy. Cũng v́ thiên nhiên c̣n tốt đẹp cho nên những động vật như khỉ, voi, báo tuyết vẫn c̣n hiện diện nơi đây. V́ có nơi nương tựa.

Do từ những lư do bảo vệ môi sinh một cách chặt chẽ có hệ thống như trên mà nhiều người đă quả quyết rằng: Nếu trong tương lai thế giới nầy có thể sụp đổ; nhưng xứ Bhutan vẫn c̣n là trong ư nghĩa nầy vậy. 

Đời sống của người dân tại Bhutan rất b́nh thường. Năm 1995 theo thống kê, b́nh quân đầu người mỗi năm là 470 US$. Đến năm 2001 có lẽ tăng thêm chút đỉnh. Tuyệt nhiên không nhờ vào lượng khách du lịch tới lui Bhutan mà đa phần 80% dân số sống về nghề nông và họ cũng không có tiền mặt nhiều nơi mỗi cá nhân.

Chính phủ xuất cảng 25% tiền điện và than, gỗ, xi-măng. Đây là những nguồn cung ứng chính cho sự sinh hoạt của cơ quan nhà nước và nhân dân. Ngoài ra Bhutan cũng đă cung ứng 457 loại nấm khác nhau cho ngoại quốc. Nghe đâu Nhật Bản thường mua nấm Suitake của Bhutan. Lư do là tại Bhutan có rừng nhiều và rừng c̣n ở dạng nguyên thủy. Cho nên những loại nấm xuất hiện ở đây rất được ngoại quốc ưa chuộng. Ngoài ra cây sả ép ra tinh dầu cũng đem xuất cảng ra các nước ngoài.

Trung b́nh cứ 100 người dân Bhutan như thế có 20 người làm Tăng Sĩ và đâu đâu cũng thấy chùa. Khắp nơi đều đặt dưới sự kiểm soát của hệ phái Je Khenpo tức hóa thân của Ngài Padmasambhava (Liên Hoa Sanh) và ảnh hưởng rất mạnh vào đời sống của mọi người dân. Nh́n vào tŕnh độ giáo dục của Tu viện tương đối cao so với đời sống thường nhật của dân chúng. V́ họ phải lam lũ làm ăn, ít có người đỗ đạt cao. Nếu có, đa phần xuất thân từ chùa chiền, tu viện. Điều nầy cũng dễ hiểu, ở những thế kỷ trước tại Việt Nam hay Trung Quốc và ngay cả Nhật Bản những danh Tăng, những nhà giáo dục đều xuất thân từ cửa chùa. Nơi ấy có đầy đủ điều kiện hơn, có thể đời sống tại đó kinh tế không khá lắm; nhưng đời sống tâm linh và đặc biệt là giáo dục phát triển rất mạnh.

Về việc giáo dục phổ thông cho quần chúng cho đến năm 1950 vẫn do các Tu viện nắm giữ và cho đến ngày nay cũng thế. Tuy nhiên ai muốn học thêm ở ngoài th́ phải đến Darjeelivy. Khắp nơi người dân Bhutan đều biết đọc biết viết. Số lượng chính xác vào năm 1984 là 28% và năm 1996 là 54%. Đa phần đường hướng giáo dục tại đây đều rập theo khuôn mẫu của các nước phương Tây.

Về giáo dục ở cấp bậc Đại Học th́ tại Bhutan hiện chỉ có một trường dạy về y khoa và kỹ sư. Đa phần những người trẻ được gởi ra nước ngoài để học Đại Học. Một số không có cơ hội ra nước ngoài th́ học tại Đại Học Sherubtse tại Kanglung nằm về phía Đông của Bhutan.

Ngay như Thimpu là thủ đô của Bhutan; nhưng tại đây hầu như không có một Đại Học nào cả. Ngay như Vua và Hoàng Hậu đương triều cũng đă học và tốt nghiệp tại Ấn Độ cũng như Anh Quốc; nên nói tiếng Anh rất thông suốt. Các vị Bộ Trưởng của Bhutan đa phần cũng được học tại Mỹ hoặc Âu Châu, cũng có một số vị học tại Á Châu và nh́n chung những người lănh đạo của đất nước Bhutan là những người trí thức.

Tôi đă có dịp tiếp xúc với các vị Tỉnh Trưởng tại địa phương Punakha cũng như vị Giám Đốc Viện Bảo Tàng Quốc Gia tại Paro; tất cả đều dùng tiếng Anh để trao đổi. Họ là những người rất thông thái và hiểu sâu vấn đề. Lư do là họ có nhiều cơ hội để xuất ngoại du học và làm việc, trao đổi quan hệ ngoại giao với ngoại quốc.

Chương thứ nhất nầy được viết ra một cách tổng quát về đất nước Bhutan do nhu cầu chung. Chúng tôi đă t́m nguồn tài liệu từ quyển sách du lịch nha đề là: Bhutan của Stan Armington. Ông ta là một Kỹ sư người Mỹ đă ở Népal 20 năm và hiện ông ta vẫn c̣n ở Kathmandu, thủ đô của Népal. Ông ta viết được cuốn sách nầy v́ do sự mở cửa của Bhutan từ năm 1974; nên Thầy Thông Trí đă cộng tác với tôi dịch từ Anh ngữ sang Việt ngữ một số mục cần thiết để giới thiệu đến quư độc giả xa gần.

Ngoài ra nhân chuyến viếng thăm Hannover và Hội Chợ Thế Giới vào ngày 27.7.2000, Hoàng Hậu Ashi Dorji Wangmo Wangchuck đă tặng cho Hạnh Hảo Frank một quyển sách nhan đề: of Rainbows and Clouds. Trong sách nầy có nhiều h́nh ảnh rất đặc biệt và tôi đă xử dụng phổ hệ cũng như một vài h́nh ảnh đặc biệt đó. Chỉ trong Chương nầy mà thôi. C̣n những Chương sau bài viết và h́nh ảnh đều do chính tác giả hay những người cận sự chụp lại và làm nên tác phẩm nầy.

Mục đích duy nhất của việc ghi lại tác phẩm nầy là để t́m hiểu thêm về một quốc gia theo Phật Giáo tại Á Châu về phong tục cũng như tập quán cũng như đề cao vấn đề môi sinh tại Bhutan trong hiện tại. Tuyệt nhiên không có một ư ǵ khác. Ngoài ra nếu những người Việt Nam có cơ hội đọc được sách nầy cũng sẽ có một số ư niệm tổng quát về một quốc gia, mà biết đâu trong tương lai họ sẽ có cơ hội được đến thăm xứ sở huyền bí nầy.

 

Chương  II. Nhân duyên hội ngộ với Bhutan

 

"Tất cả các pháp đều do nhân duyên sanh và tất cả các pháp đều do nhân duyên diệt" là đúng. Đó là chân lư ngàn đời của vạn pháp mà chư Phật trong quá khứ đă dạy. Chư Phật trong hiện tại đang dạy và chư Phật trong vị lai cũng chỉ dạy như thế mà thôi.

Năm 2000 là năm bận rộn của Hội Chợ Thế Giới tại thành phố Hannover, ai cũng biết như thế cả, mà cả thành phố như sống dậy vươn lên để sánh vai cùng thế giới; nên ở đây cái ǵ cũng chạy đua cả. Chạy đua với thời gian và chạy đua với mọi hoàn cảnh; không những trong năm 2000 mà trước đó một hai năm người dân của Hannover cũng đang có tâm trạng ấy. Đâu... vào giữa năm 1999 có một người Bhutan đến chùa và tự giới thiệu là Kunzang Thinley; người đứng đầu Viện Bảo Tàng tại Thimphu, thủ đô của Bhutan, muốn gặp tôi để tŕnh bày một số vấn đề nhân EXPO năm 2000 tại Hannover. Hôm đó có Frank Sanzenbacher tức là Thầy Hạnh Hảo, người Đức. Ông ta nói tiếng Anh rất trôi chảy, mặc dầu ông ta cũng nói được tiếng Đức. Ông ta tŕnh bày rằng: Để hoàn thành một ṭa nhà của Bhutan tại khu triển lăm EXPO Hannover trong năm 2000 th́ chính phủ phải gởi sang Đức 20  người thợ và chỉ dựng ngôi nhà nầy cũng như trang trí bên trong phải cần 6 tháng như thế, mà nơi ăn chốn ở lại chẳng có. Do vậy, ông ta có ư nhờ chùa Viên Giác giúp dùm. V́ đường đi từ chùa đến khu triển lăm chỉ cần 10 phút đi bộ là đến. Dĩ nhiên là tôi rất vui mừng. V́ biết rằng Bhutan không giàu có mấy, vả lại là một quốc gia Phật Giáo tại Á Châu rất ít người biết đến, ngay cả tôi. Do vậy mà tôi đă đồng ư không điều kiện là cứ tự nhiên đến ở và ngay cả ăn uống, tắm giặt suốt trong thời gian xây dựng ấy và chùa Viên Giác sẽ không lấy một lệ phí nào cả. Dĩ nhiên là ông ta rất vui mừng.

Qua trao đổi, tôi thường hay nhấn mạnh rằng: Tuy Phật Giáo của quư quốc có khác về lễ nghi và truyền thống với Phật Giáo Việt Nam; nhưng trong thâm tâm tôi th́ không có sự phân biệt giữa Tiểu Thừa với Đại Thừa hay giữa Đại Thừa với Kim Cang Thừa, mà chỉ có một Thừa duy nhất - đó là Phật Thừa mà thôi. Ông ta có vẻ vui khi tôi đề cập như thế. Cũng chính từ quan điểm khởi đi từ ḷng tôi như vậy, cho nên chùa Viên Giác tại Hannover đă đón tiếp rất nhiều chư Tăng Ni, Phật Tử khắp nơi trên thế giới không phân biệt Nam Bắc Tông hay Phật Giáo Nhật Bản, Đại Hàn v.v...

Cuối cùng th́ tháng 11 năm 1999 đă có 20 người Bhutan đến ở chùa Viên Giác. Chỉ có một vài người nói tiếng Anh rành th́ thông dịch lại cho những người c̣n lại. Họ sống rất kham nhẫn và làm việc rất tận tụy. Mặc dầu mùa Đông năm 1999 bước sang năm 2000 ấy rất lạnh. Nhiều khi họ chẳng ngại tuyết băng giá lạnh, ngày nào cũng như ngày ấy, có khi ngay cả ngày chủ nhật họ cũng đi làm. Họ là những nghệ nhân tạo nên những tác phẩm hữu h́nh ấy; nhưng hầu như họ đều vô danh, chẳng có một ai để lại tên tuổi của ḿnh trên những tác phẩm có nghệ thuật cao như vậy. Có lẽ đây là quan điểm chung của những người Á Châu theo Phật Giáo chăng? Ngay cả những Thiền Sư, sống vang lừng một thuở mà khi ra đi lại chẳng để dấu vết nào. Đúng là:

Cuộc đời có cũng như không

Sớm c̣n tối mất bận ḷng làm chi!

Mà bận ḷng làm chi nữa khi tất cả đều bị vô thường chi phối. Nh́n họ, lúc nào họ cũng mỉm cười. Nhiều lúc nói họ không hiểu, tôi bảo Hạnh Tấn nói tiếng Tây Tạng, lại có một số người hiểu. Họ rất lịch sự, chỉ có một điều là ít siêng năng tắm rửa mà thôi. Có lẽ họ bị ảnh hưởng bởi ở xứ cao chăng? V́ lẽ giọt nước ngọt rất quư cho những trường hợp như thế.

Mỗi buổi sáng họ tự nấu ăn cho luôn cả buổi trưa. Sau khi dùng sáng xong, họ cho cơm vào hộp và mang theo để đến trưa dùng tại chỗ. Những ngày đầu tiên họ hoàn toàn dùng chay như ở chùa; nhưng có lẽ v́ công việc nặng; nên những tháng sau đó buổi trưa họ ăn uống bên ngoài tự do hơn. Họ đi từ sáng sớm đến chiều tối mới về. Khi về th́ họ dùng cơm chiều chung với chùa. Đặc biệt họ ăn rất cay; không thua ǵ người Đại Hàn mấy. Nghe đâu họ cũng có xuất cảng ớt cho Đại Hàn để làm Kim Chi đó.

Lâu lâu th́ Hạnh Hảo thưa với tôi là: Sư Phụ nên cho họ đi thăm Hamburg hoặc Berlin hay tham dự những trận đá banh với các anh em Gia Đ́nh Phật Tử. Họ rất vui, v́ mỗi lần như thế có cơ hội để thi thố tài năng của ḿnh cũng như xem phong cảnh địa phương cho biết để khi về lại quê c̣n kể lại cho thân nhân, bè bạn nghe nữa chứ!

Một hôm anh Kunzang dẫn ông Bộ Trưởng Bộ Xây Dựng đến gặp tôi để cảm ơn và nhân danh Chính phủ Bhutan tặng những tấm Thangkha có giá trị cho chùa. Nhân cơ hội nầy tôi cũng đă tŕnh bày là Phật Giáo Việt Nam cũng như Phật Giáo Đức muốn có một gian hàng nhỏ tại chùa Bhutan ở khu EXPO để giới thiệu về những sinh hoạt Phật Giáo tại đây. Dĩ nhiên là ông ta bằng ḷng và cũng đă chẳng có một điều kiện nào hết. Đây cũng là nơi mà cho Hạnh Hảo cũng như những người Đức Phật Giáo suốt trong 6 tháng triển lăm có cơ hội giới thiệu về sinh hoạt Phật Giáo của từng nhóm và từng Tông phái Phật Giáo khác nhau cho những người Đức đi tham quan.

Câu chuyện không dừng tại đó. V́ lẽ sau khi triển lăm xong ngôi chùa Bhutan nầy phải dỡ đi nơi khác. Do vậy họ cũng cần chỗ ăn ở cho 10 người làm trong ṿng 2 tháng và xin ở lại chùa. Tôi cũng đă đồng ư luôn. Đây là những nhân duyên chính để sau nầy tôi có được những sự liên hệ tiếp theo.

Ngày chờ đợi khai mạc Hội Chợ Thế Giới EXPO năm 2000 cũng đă đến. Hôm đó là ngày 1 tháng 6 năm 2000. Từ bên Pháp qua có chư Tăng Bhutan và người Pháp tu theo Phật Giáo Bhutan đến làm lễ. Đầu tiên họ dùng các nhạc cụ như kèn, tù và, trống, linh đi ra tận ngơ để đón rước vị khách quư đến từ Bhutan. Đó là ông Bộ Trưởng Ngoại Giao của xứ nầy.

 

Chư Tăng Bhutan đón rước ông Bộ Trưởng Ngoại Giao

Về nghi lễ ngoại giao th́ tôi không biết rơ phải chào như thế nào; cho nên người phụ tá chỉ tôi là khi gặp ông Ngoại Trưởng nên cầm một dải khăn trắng túm lại một đầu, c̣n đầu khác th́ bung dài ra và đưa lên trao qua ông Bộ Trưởng. 

 

Nghi lễ đón ông Bộ Trưởng Ngoại Giao Bhutan 

Sau khi tiếp chuyện bằng tiếng Anh với ông Bộ Trưởng, ông ta rất vui mừng và cảm động khi thấy Phật Giáo Việt Nam đă hỗ trợ hết ḿnh cho Phật Giáo Bhutan như thế; nên trong bài diễn văn của ông đọc hôm đó, nhân danh Chính phủ cũng đă cảm ơn Phật Giáo Việt Nam chúng ta.

Khi nói chuyện với ông Bộ Trưởng th́ ông Đại Sứ Toàn Quyền Bhutan tại Âu Châu cũng đến gần để tiếp chuyện.

Ông ta rất trẻ và lịch lăm. Ngôn ngữ ngoại giao vẫn là tiếng Anh. Chúng tôi nói chuyện về đủ mọi đề tài. Sẵn đó tôi có dịp để đề cập rằng sang năm 2001 chúng tôi muốn sang thăm xứ Bhutan một lần cho biết. Ông Bộ Trưởng Ngoại Giao nói rằng tại đây có ông Đại Sứ. Mọi việc sẽ do ông Đại Sứ lo sắp đặt cho chuyến đi nầy. Thế là từ đó tôi tiếp chuyện với ông Đại Sứ. Được biết cả Âu Châu chỉ có một Ṭa Đại Sứ của Bhutan và Ṭa Đại Sứ nầy hiện đóng tại Thụy Sĩ.

 

Tiếp chuyện cùng ông Bộ Trưởng và ông Đại Sứ Toàn Quyền của Bhutan.

 

Sau đây là tên của ông Đại Sứ cũng như địa chỉ và số điện thoại. Nếu quư vị nào ở Âu Châu th́ nên liên lạc nơi đây để được hướng dẫn thêm.

 

Mr. BAP KESANG

Ambassador of the Kingdom of Bhutan

Chancery: 17 - 17 Chemin du Champ d' Anier

CH - 1209 Genève

Tel.  022 - 799 0890  FAX.  022 - 799 0899

 

Đến tham dự lễ khai mạc chùa Bhutan hôm đó ngoài tôi ra c̣n có chư Tăng chùa Viên Giác, các vị Sư người Đức tu theo phái Thiền Nhật Bản ở Steyerberg cũng như vị Sư người Lào.

 

Chư Tăng chùa Viên Giác và Đức tham dự lễ khai mạc.

 

Hôm ấy chỉ đặc biệt làm lễ theo Phật Giáo Bhutan c̣n các truyền thống Phật Giáo khác th́ không cử hành. Lư do có lẽ v́ thời gian không đủ, mà nhân viên chính phủ th́ phải tham dự nhiều nơi khác nhau; nên nghi lễ có phần giản lược bớt. Tuy nhiên thời gian cũng đă kéo dài đến 2 tiếng đồng hồ. 

Sau khi dự lễ xong th́ mọi người được mời đến quầy thức ăn để điểm tâm bằng nhiều loại thực phẩm khác nhau theo truyền thống Tây phương do người Việt Nam nấu. Những người khác th́ tham gia đi xem các pḥng triển lăm.

 

Toàn cảnh ngôi chùa Bhutan tại EXPO

Tháp tùng với ông Ngoại Trưởng để đi xem triển lăm.

 

Trên chánh điện có thờ Phật ở giữa. Hai bên thờ Ngài Guru Rimpoche (Padmasambhava) và Ngài Shabdrung Rimpoche; người có công thống nhất đất nước Bhutan và giành lại độc lập từ người Tây Tạng. H́nh ảnh 2 vị nầy ở bất cứ chùa nào của Bhutan cũng được thấy trưng bày.

Bên tầng dưới có treo những tấm h́nh thác nước, phong cảnh thiên nhiên cũng như đồ thủ công nghệ của Bhutan. Có pḥng triển lăm nơi dệt vải. Có pḥng trưng bày những loại thuốc gia truyền, cây cỏ của phương Đông. Trong tầng dưới cũng có một pḥng lớn được ngăn ra để làm chỗ ngồi thiền, mà tôi đă có mấy lần đến đây để hướng dẫn người Đức khi tham quan chùa Bhutan.

 

Cùng với Thượng Tọa Thích Quảng B́nh, ông Đại Sứ, ông Ngoại Trưởng

và Thầy Shukhashito tham quan các gian hàng.

 

Mỗi ngày như thế có 4 hay 5 lần tham thiền. Mỗi lần độ 30 đến 45 phút. Trong 6 tháng ấy có rất nhiều trường phái Phật Giáo khác nhau của nước Đức đến đây hướng dẫn cho người Đức.

Một hôm tôi hỏi hai Thầy Gap Tshering và Kinga T. Dorji người Bhutan rằng:

- Tại sao quư Thầy không hướng dẫn người tham quan ?

Quư Thầy cười và trả lời rằng:

- V́ họ hỏi nhiều câu khó lắm.

Theo tôi nghĩ th́ tiếng Anh của hai Thầy ấy đủ để giao dịch; nhưng khi đi vào chuyên môn, quả là vấn đề không đơn thuần chút nào. Mặc dầu quư Thầy cũng đă xong Cao Học tại Ấn Độ.

 

Toàn cảnh chùa Bhutan và khách tham quan.

 

Ban đầu hai Thầy nầy cũng cư ngụ tại chùa Viên Giác; nhưng sau đó th́ họ dọn ra ở luôn ngoài chùa Bhutan này cho tiện đi lại cũng như ăn uống.

Đă có lúc báo chí loan tin rằng: Thành phố Hannover là thành phố chùa Phật Giáo. Mà quả thật thế, ở đầu đường Karlsruher là chùa Viên Giác. Kế tiếp trong khuôn viên EXPO là chùa Népal. Kiến trúc một nửa theo Ấn Giáo và một nửa theo Phật Giáo. Sau đó là chùa Bhutan. Chùa nầy mặc dầu triển lăm xong vẫn c̣n nguyên vẹn chứ không phải bị dỡ đi. Rồi chùa Tích Lan, Thái Lan, Lào v.v... đúng là một thành phố... Chùa. Nhưng sau tháng 10 năm 2000 các chùa nầy lần lượt thiên di đi nơi khác. Những tưởng đâu chùa Bhutan sẽ về ngự trị tại Steyerberg; nhưng v́ đấu giá chưa xứng giá; nên cuối cùng Phật Giáo bên Pháp đă thắng và chùa Bhutan đă thiên di về đó. C̣n chùa Népal nghe nói v́ kêu giá quá đắt, chẳng có ai đoái hoài đến; nhưng cuối cùng rồi cũng phải dỡ đi; chẳng biết đem đi đâu. C̣n các chùa khác th́ làm trong khu triển lăm; nên việc xếp đặt lại không khó khăn ǵ mấy.

Chùa Bhutan được quần chúng đi xem đánh giá và cho điểm là chùa đẹp nhất trong khu triển lăm. V́ ngôi chùa đă nói lên hết được ư nghĩa của đề tài triển lăm năm 2000 là: Con người, thiên nhiên và kỹ thuật. Cả 3 khía cạnh nầy ngôi chùa Bhutan đều có đầy đủ cả.

Tôi đang bận rộn bao nhiêu chuyện cho EXPO và khóa học Phật Pháp Âu Châu kỳ thứ 13 dự định tổ chức tại Amiens - Pháp Quốc, từ ngày 20 đến 30 tháng 7 năm 2000, th́ nghe Hạnh Hảo nói rằng: Bên chính phủ Bhutan báo tin ngày 27.7.2000 sau khi Hoàng Hậu ghé thăm chùa Bhutan muốn ghé thăm chùa Viên Giác. Tôi ngỡ ngàng và lo lắng. V́ lẽ những ngày ấy tất cả chùa, ngay cả tôi cũng như Phật Tử tại Đức đều ở tại Pháp để tham gia khóa học; không thể đón tiếp Hoàng Hậu mà không chuẩn bị kỹ càng được.

Do vậy mà tôi nói với Hạnh Hảo rằng: Hăy bảo với người Đại Diện là Thầy phải có mặt ở Pháp. V́ chương tŕnh đă định sẵn và ở đó có nhiều vấn đề quan trọng cần phải làm. C̣n ở nhà Hạnh Hảo nên tiếp Hoàng Hậu đi. Cuối cùng rồi ngày ấy cũng đă đến. Hạnh Hảo và Thầy Shukhashito đă tiếp Hoàng Hậu tại chùa Bhutan nầy.

 

Hoàng Hậu Ashi Dorji Wangmo Wangchuck, Thầy Shukhashito và Thầy Hạnh Hảo vào ngày 27.7 tại Hannover.

 

Hạnh Hảo th́ như quư vị đă biết, sau khi tốt nghiệp Thạc Sĩ (Cao Học) tại Đại Học Hamburg th́ lo cho chùa Viên Giác hai năm về người Đức. Sau đó lo cho EXPO và sau EXPO th́ tôi cho đi Népal và Bhutan để tham cầu học đạo. Sau khi ở Nepal và Bhutan 5 tháng th́ về lại Đức và hiện tại đang nhập thất tại Ḥa Lan nơi Niệm Phật Đường của Thượng Tọa Thích Minh Giác.

C̣n Thầy Shukhashito là người Đức, xuất gia theo truyền phái Tiểu Thừa của Thái Lan, rành tiếng Anh và cũng đă có dịp ở chung với Chúng lư tại chùa Viên Giác một thời gian. Sau 7, 8 năm lưu học tại Á Châu, bây giờ Thầy ấy về lại Đức và làm một cái cốc nơi vườn nhà của cha mẹ để tu tịnh. Thỉnh thoảng vẫn ghé thăm chùa và hỗ trợ một số công tác có liên quan đến người Đức.

Vào lúc 20 giờ ngày 27 tháng 7 năm 2000 tại chùa Bhutan có tổ chức chiêu đăi và xem văn nghệ, có sự hiện diện của Hoàng Hậu. Cả Hạnh Hảo và Thầy Shukhashito đều có tham dự buổi chiêu đăi nầy.

Địa điểm chùa Bhutan trong khuôn viên EXPO 2000

Vé mời tham dự văn nghệ.

Sau khi ở Pháp về, tôi có hỏi Hạnh Hảo là cuộc tiếp rước như thế nào và Hoàng Hậu ra sao? th́ Hạnh Hảo chỉ cho tôi một số gói quà to tướng đang chờ tôi khui ra, do Hoàng Hậu tặng đấy. Tôi nh́n những gói quà mà ḷng tự thấy hơi khó xử. V́ đă không tiếp đón Hoàng Hậu mà c̣n nhận quà nữa xem sao được. Tuy nhiên tôi cũng đă cho người mở ra. Đầu tiên là một ghế trầm hương để ngồi thuyết pháp, mà ghế nầy cho măi đến bao giờ tôi cũng chẳng dám ngồi. V́ sợ giống chuyện trong kinh Thủy Sám đă kể về Viên Án và Triệu Thố lắm. Vả lại cá nhân ḿnh chẳng xứng đáng ǵ cả; nên lại để nguyên như vậy.

Riêng tấm thảm th́ rất đẹp, dệt bằng tay, chiều dài độ 2 thước, chiều ngang 1 thước. Trên ấy có thêu 3 hoa mẫu đơn màu sắc rất tuyệt vời. Xanh, vàng, đỏ là 3 màu chính của thảm nầy. Tôi hiện để tấm thảm nầy nơi pḥng làm việc của tôi.

Trên hai kiện hàng nầy tôi thấy 3 tờ giấy nhỏ:

Tờ thứ nhất có dấu hiệu của Hoàng Gia "Royal Government of Bhutan" và tên là VVIP. Nghĩa là very very importan person. Có nghĩa là "của người rất rất quan trọng". Hay Việt N