Chùa Hải-Đức in Jacksonville

[Home] [Up] [Điểm Sách] [Sutras] [Dharma Talks] [GĐPT] [Sinh Hoạt] [Our Activities] [Pháp Thoại audio mp3] [Tin Tức Phật Giáo] [Thuyết Pháp] [Thơ Văn] [Ngoại Điển] [Phật Học] [Tụng Kinh] [Nghi Lễ - Rituals]

                       

KINH VÔ LƯỢNG THỌ

 H.T. Thích Tuệ Đăng

 

 

MỤC LỤC

 

LỜI TỰA

LỜI BẠT

NGHI THỨC LỄ TỤNG

QUYỂN THƯỢNG

QUYỂN HẠ

BÁT NHĂ BA LA MẬT ĐA TÂM KINH

BÀI TỤNG KINH RỒI SÁM HỐI VÀ HỒI HƯỚNG

BÀI NIỆM PHẬT CỦA NGÀI ĐẠI THẾ CHÍ BỒ TÁT

LỄ TỔNG

PHÁT NGUYỆN TỊNH ĐỘ

TAM TỰ QUY

 

 

LỜI TỰA

 

Giáo lư đấng Thế Tôn trải qua 2.516 năm đến nay vẫn c̣n có công năng thù thắng siêu việt, đánh bạt nghiệp chướng phiền năo cứu thoát chúng sinh khỏi trầm luân trong vũng lầy sanh tử. Đối với người con Phật chân chánh, thành tâm cầu đạo giải thoát, lời châu ngọc của Ngài quả thật là một môn diệu được. Kinh điển qua những lần kết tập rồi lưu truyền đến bây giờ đă hướng dẫn tâm thức con người vươn lên cảnh giới trang nghiêm, thanh tịnh, gột sạch tội cấu, ái nhiễm của cơi đời ô trọc hung hăn này. 

Muốn đạt tới cảnh giới an vui giải thoát, điều kiện tiên quyết là phải lắng được tâm, gạn được ư như lời Phật thuyết: “Tùy kỳ tâm tịnh tắc Phật độ tịnh". (Tâm ḿnh an tịnh th́ cơi Phật hiện ra). Hiểu được như vậy hành giả tự thân rực rỡ quang minh và sẽ thấy cơi trang nghiêm của Phật. Sự kiện lắng được tâm, gạn được ư này nằm trong pháp môn Tịnh Độ mà đấng Thế Tôn đă chúc lũy cho chúng sanh trong đời Mạt Pháp qua các yếu kinh: Kinh Bi Hoa, Kinh A Di Đà, Kinh Vô Lượng Thọ và Kinh Quán Vô Lượng Thọ. 

Những kinh giáo này nhằm tạo duyên khởi từ bi, trí tuệ cho người biết hồi tâm phục thiện, ngơ hầu thăng hoa cuộc sống cao đẹp trong thế giới đảo điên, mê muội. Hành giả gột sạch trần cấu bằng cách thanh lọc tâm, làm tiêu ma nghiệp chướng được xem là nguyên động lực giao lưu qua cơi nước Cực Lạc, quốc độ của giải thoát thanh tịnh, trang nghiêm. Đó chính là miếng đất tâm rơi những phấn thông vàng. Hành giả có thể mường tượng lời kinh huyền diệu ḥa theo năm tháng lắng sâu vào tâm thức hữu t́nh để sinh thành quả phúc uy nghiêm, cao cả. Quư hóa thay! Kinh giáo của pháp môn Tịnh Độ. 

- Kinh A Di Đà quảng diễn cảnh giới trang nghiêm thanh tịnh của cơi nước Cực Lạc. 

- Kinh Vô Lượng Thọ, Kinh Bi Hoa xuất sinh từ công năng tu tập của Ngài Pháp Tạng Tỷ Khưu, ngộ nhập cảnh giới Cực Lạc phát khởi trí tuệ khi hành tŕ. 

- Kinh Quán Vô Lượng Thọ dạy các pháp tu quán tưởng Đức Phật Vô Lượng Thọ làm cơ duyên ứng hợp với cơi nước Cực Lạc. Chung quy, pháp môn Tịnh Độ cốt lấy: "Niệm giác bất tư nghị làm thể". Bởi thế, nếu một niệm không móng lên th́ đó là cái toàn nhất của con người thể nhập vào tự tánh nhiệm mầu. Ở đây, Tịnh Độ đă ḥa nhập với Thiền là một. Hành giả không nên cố chấp, phân biệt Tịnh Độ hay Thiền. V́ lẽ cả hai (Thiền, Tịnh Độ) đều đưa hành giả đến cảnh giới bát ngát của hạnh Phật Thừa.  

Tuy nhiên, Thiền đối với hạng hạ căn thật khó hành tŕ, bởi lẽ Thiền là nhiếp tất cả tâm trí vào cái thấy hiện tiền để trí tuệ quán chiếu và bao trùm tất cả trong một cái thấy toàn diện, nhất như. Lộ tŕnh này quả thật là khó khăn nên chỉ dành cho những bậc thượng căn, thượng trí, mới đủ khả năng tư duy quán niệm. Nhận thấy phần đông Phật tử đang trên đường tập tu nên pháp môn Tịnh Độ dễ dàng dung hợp với tất cả, mọi căn cơ đều có thể thực hành được. Hành giả, khi hành tŕ pháp môn Tịnh Độ đạt đến trạng thái nhất tâm bất loạn, ấy là Thiền rồi vậy.  

Bởi lẽ, Thiền hay Tịnh Độ đều đi đến mục đích chung là minh tâm kiến tánh. Phật tử phải nhận thức rằng: "Tiềm năng diệu dụng của công đức thụ tŕ kinh là bất tư ngh́". Có thể hiểu được ư chỉ thâm diệu này th́ lúc tŕ kinh Vô Lượng Thọ mới cảm nhận được 48 đại nguyện hóa độ chúng sanh nhập cảnh giới an vui giải thoát của Ngài Tỷ Khưu Pháp Tạng mà đấng Thế Tôn đă thuyết giáo và chúc lũy cho các chúng Bồ Tát, Duyên Giác và Thanh Văn tại núi Kỳ Xà Quật thuộc thành Vương Xá thật là vô cùng diệu dụng.  

Kinh Vô Lượng Thọ gồm có 4 phần chính yếu như sau: 

1) Do cơ duyên Đại Giác khởi lên và chư Cổ Phật xuất hiện nơi núi Kỳ Xà Quật. Đức Phật nhân đó, thuyết Kinh Vô Lượng Thọ. 

2) Nhân duyên Ngài Tỉ Khưu Pháp Tạng phát 48 đại nguyện trước đấng Thế Tôn và nhờ công đức tu tập thù thắng, đức hạnh thâm mật Ngài thành tựu Pháp thân hiệu A Di Đà, thể hiện cảnh giới như tâm nguyện và ngự trị cơi nước tên là Cực Lạc ở phương Tây. 

3) Cảnh giới trang nghiêm thanh tịnh của cơi nước Cực Lạc gồm: Quang minh vô lượng, Thọ mệnh vô lượng và Thánh chúng vô lượng, cộng vào đó là đường sá, lầu gác, ao Thất Bảo, lại đủ các loại chim tiếng hót trong trẻo, cỏ hoa tươi nhuận, phô bày muôn sắc, phảng phất hương thơm. Lại có, từ những cánh sen hồng tự nhiên thai sanh thánh chúng, diện mạo sáng ngời, đoan chính mà nhật nguyệt không thể sánh bằng. Lại có, y phục tốt, thức ăn sang, tự nhiên hóa thành do tâm niệm. Tất cả đều sang trọng quư báu vô cùng. 

4) Những duyên khởi mầu nhiệm của trí tuệ trong cơi nước Cực Lạc và công đức tu tập tinh tấn đem lại lợi ích giải thoát tuyệt vời cho hành giả chân chính nhuần nhuyễn tŕ tụng, quán xét minh mẫn và tâm không c̣n ô nhiễm. 

Tôi nhận thấy kinh Vô Lượng Thọ có nhiều nghĩa lư thâm diệu, triển khai trí tuệ quang minh và công đức tŕ tụng kinh nầy thật là diệu dụng, xuất phát từ bản tâm thanh tịnh. Cũng bởi giá trị cao thâm đó, tôi đă tha thiết trong việc lưu truyền nên thành tâm phiên dịch bản kinh này từ Nho văn của ngài Khang Tăng Khải đời Tào Ngụy ra Việt ngữ để quư Phật tử thường tụng hàng ngày hoặc trong các khóa lễ cầu siêu. 

Dịch kinh này, chúng tôi chỉ có một tâm nguyện mong mọi người dứt bỏ tà kiến, mê chấp, xem các pháp là như huyễn như hóa, đồng thời cùng nhau tinh tiến thực hành thiện pháp ngơ hầu đem lại lợi lạc an vui giải thoát cho kẻ c̣n, người mất. 

                                    Nam mô A Di Đà Phật.

                                    Tác đại chứng minh. 

Sài Thành, Mùa hạ năm Canh Tuất 1970.

Sa môn Thích Tuệ Đăng cẩn chí. 

 

 

LỜI BẠT

 

Sống giữa hệ lụy trần gian đầy dẫy ma chướng; giáo lư của đấng Thế Tôn vẫn đủ khả năng thù thắng siêu việt; bạt nghiệp chướng xóa phiền năo trong đời sống của người thành tâm cầu đạo giải thoát. Giáo lư măi măi vẫn là nguồn năng lực phấn đấu, sinh động tiềm tàng trong bốn mươi tám ngàn pháp môn. Trong Tam Tạng kinh điển, châu liên ngọc kết; nâng nhẹ những tâm hồn, khai sáng những trí tuệ ở hầu hết các tŕnh độ, giai cấp dân gian chỉ có pháp môn Tịnh Độ là được phổ cập nhất. 

Kinh điển căn bản kết tập lời châu ngọc của đấng Thế Tôn đầy đủ nghĩa lư chân thật khiến tâm thức con người đạt tới cảnh giới trang nghiêm, thanh tịnh, thấy cơi Phật sinh động hữu t́nh trước mắt mà khởi sinh trí tuệ từ bi chính là kinh Vô Lượng Thọ. 

Lời châu ngọc Thế Tôn chúc lũy cho chúng sinh ở thời kỳ mạt pháp trong kinh Vô Lượng Thọ đă diễn đạt công năng tu tập của Ngài Tỷ Khưu Pháp Tạng (chính là hiện thân của Đức Phật A Di Đà với 48 đại nguyện hóa độ chúng sinh vào những cảnh giới an vui, giải thoát; đă thể hiện thật rơ ràng chất nhân bản vượt thoát sự vây bủa của các ngẫu kiện phi lư, gột sạch ái nhiễm trần cấu bằng tâm thanh tịnh và trí quán xét minh mẫn nhằm hướng dẫn tâm thức tham đắm mộng huyễn trở về bản chân thanh tịnh, phá lưới vô minh và thực hiện cảnh giới như tâm nguyện. 

V́ lợi ích diệu dụng của kinh Vô Lượng Thọ đối với người Phật tử chân chính trong cuộc sống hiện tại. Ḥa Thượng Thích Tuệ Đăng đă tận tâm phiên dịch từ bản Nho văn của ngài Khang Tăng Khải ra Việt ngữ, nhằm triển khai nghĩa lư vi diệu, duyên khởi trí tuệ quang minh và đức hạnh thâm mật cho hành giả trong việc tŕ tụng kinh này. 

Tôi nhận thấy sự hoan hỷ lạ lùng phấn chấn trong tâm hồn ḿnh sau khi đọc toàn bộ kinh Vô Lượng Thọ mà Ḥa Thượng đă trao cho tôi (niềm giao cảm thanh thoát này có chăng là do sự cố gắng chuyển ngữ của Ḥa Thượng) v́ không có phương tiện ấn tống (hành) nên Ḥa Thượng đă yêu cầu tôi phổ biến đến quảng đại Phật tử, nhằm khuyến hóa sự tu dưỡng tâm thức và bổ sung kinh điển trong phương trượng của thập phương đáp ứng như cầu hoằng pháp trong hoàn cảnh hiện tại. 

Tôi mong cầu và hy vọng quư vị cũng sẽ phát tâm khuyến hóa góp phần công đức ấn tống và phổ biến kinh Vô Lượng Thọ, khai thông sâu rộng hơn nguồn nước Từ Bi đến những tâm hồn khao khát cuối cùng. 

                                    Nam mô A Di Đà Phật.

                                    Tác đại chứng minh.

 

Sa môn Thích Minh Phát.

 

 

 

NGHI THỨC LỄ TỤNG

 

 

LỄ TAM BẢO

(cung kính) 

Nhất tâm đảnh lễ Tam Bảo thường trụ khắp Pháp giới mười phuơng. (3 lễ) 

 

NGUYỆN HƯƠNG

(quỳ chấp tay đọc)

 

            Nguyện hương này như mây,

            Bay tỏa khắp mười phương.

            Trong vô biên cơi Phật,

            Hóa vô số diệu hương.

            Năm thứ hương thơm ngát,

            Trang nghiêm để cúng dường.

            Trọn đủ Bồ Tát Đạo,

            Thành tựu Như Lai hương. 

Nhất tâm đảnh lễ Tam Bảo thường trụ khắp Pháp giới mười phương. (1 lễ)

 

 

TÁN PHẬT

(đứng chấp tay đọc)

 

            Sắc thân Như Lai đẹp,

            Thế gian không ai bằng.

            Chẳng sánh, chẳng nghĩ bàn,

            Nên nay con đảnh lễ.

            Tướng Phật đẹp vô cùng,

            Trí tuệ Phật cũng thế.

            Tất cả Pháp thường trụ,

            V́ thế con quy y.

            Trí lớn nguyện lực lớn,

            Độ khắp cả quần sanh.

            Khiến bỏ thân nóng khổ,

            Sinh sang nước mát vui.

            Nay con sạch ba nghiệp,

            Quy y và lễ tán.

            Nguyện con cùng chúng sanh,

            Đồng sanh về Tịnh Độ.

 

            Úm phạ nhật ra vật. (3 lần)

 

 

CỬU BÁI TÂY PHƯƠNG

(vừa lễ vừa đọc)

 

- Nhất tâm đảnh lễ:   

            Thường tịch quang Tịnh Độ,

            A Di Đà Như Lai,

            Pháp thân mầu thanh tịnh,

            Khắp pháp giới chư Phật. 

- Nhất tâm đảnh lễ:  

            Thật báo trang nghiêm độ,

            A Di Đà Như Lai,

            Thân tướng hải vi trần,

            Khắp pháp giới chư Phật. 

- Nhất tâm đảnh lễ: 

            Phương tiện thánh cư độ,

            A Di Đà Như Lai,

            Thân trang nghiêm giải thoát,

            Khắp pháp giới chư Phật. 

- Nhất tâm đảnh lễ: 

            Cơi An Lạc phương Tây,

            A Di Đà Như Lai,

            Thân căn giới Đại Thừa,

            Khắp pháp giới chư Phật. 

- Nhất tâm đảnh lễ: 

            Cơi An Lạc phương Tây,

            A Di Đà Như Lai,

            Thân hóa đến mười phương,

            Khắp pháp giới chư Phật. 

- Nhất tâm đảnh lễ: 

            Cơi An Lạc phương Tây,

            Giáo hạnh lư ba kinh,

            Tột nói bày y chánh,

            Khắp pháp giới Tôn Pháp. 

- Nhất tâm đảnh lễ: 

            Cơi An Lạc phương Tây,

            Quán Thế Âm Bồ Tát,

            Thân tử kim muôn ức,

            Khắp pháp giới Bồ Tát. 

- Nhất tâm đảnh lễ: 

            Cơi An Lạc phương Tây,

            Đại Thế Chí Bồ Tát,

            Thân trí sáng vô biên,

            Khắp pháp giới Bồ Tát. 

- Nhất tâm đảnh lễ: 

            Cơi An Lạc phương Tây,

            Thanh tịnh đại hải chúng,

            Thân hai nghiêm: Phước, Trí,

            Khắp pháp giới Thánh chúng. 

Con nay khắp v́ bốn ơn ba cơi cùng chúng sanh trong pháp giới đều nguyện dứt trừ ba chướng nên qui mạng sám hối. (1 lễ)  

 

CHÍ TÂM SÁM HỐI (quỳ chấp tay đọc)

 

Đệ tử  ... và chúng sanh trong pháp giới, từ đời vô thủy đến nay, bị vô minh che đậy nên điên đảo mê lầm. Lại do sáu căn ba nghiệp, quen theo pháp chẳng lành, rộng phạm mười điều dữ cùng năm tội vô gián và tất cả các tội khác, nhiều vô lượng vô biên, nói không thể hết. Mười phương các Đức Phật thường ở trong đời, tiếng pháp không dứt, hương mầu đầy khắp, pháp vị ngập tràn, buông ánh sáng sạch, soi thấu tất cả. Lư mầu thường trụ, đầy dẫy hư không. 

Con từ vô thủy đến nay, sáu căn che mù, ba nghiệp tối tăm, chẳng thấy, chẳng nghe, chẳng hay chẳng biết. V́ nhân duyên đó trôi măi trong ṿng sanh tử, trải qua các đường dữ  trăm ngàn muôn kiếp, không lúc nào ra khỏi. Trong kinh nói rằng: Đức Tỳ Lô Giá Na, hiện thân khắp cả chỗ, chỗ của Đức Phật ở, gọi là Thường Tịch Quang; cho nên phải biết cả thảy các pháp đều là Phật pháp, mà con không rơ lại theo gịng vô minh; v́ thế trong trí Bồ Đề mà thấy không thanh tịnh, trong cảnh giải thoát mà sanh ràng buộc. Nay mới tỏ ngộ, nay mới chừa bỏ ăn năn, phụng đối trước các Đức Phật và Đức A Di Đà Thế Tôn mà phát lồ sám hối làm cho đệ tử cùng pháp giới chúng sanh, tất cả tội nặng do ba nghiệp sáu căn, gây tạo từ đời vô thủy, hoặc đời hiện tại, hay đời vị lai ; hoặc chính ḿnh gây tạo hoặc biểu người, hay là thấy nghe người gây tạo mà vui theo; hoặc nhớ, hoặc chẳng nhớ; hoặc biết, hoặc chẳng biết; hoặc nghi, hoặc chẳng nghi; hoặc che giấu, hoặc chẳng che giấu; thảy đều được rốt ráo thanh tịnh. 

Đệ tử sám hối rồi, sáu căn cùng ba nghiệp trong sạch, không lỗi lầm, căn lành tu tập cũng trọn thanh tịnh, thảy đều hồi hướng dùng trang nghiêm Tịnh Độ khắp cùng chúng sanh, đồng sanh về nước Cực Lạc. 

Nguyện xin Đức Phật A Di Đà, thường đến hộ tŕ, làm cho căn lành của đệ tử hiện tiền thêm lên, chẳng mất nhân duyên Tịnh Độ, đến giờ lâm chung, thân an niệm chánh, xem nghe đều rơ ràng, tận mặt thấy đức A Di Đà cùng các Thánh chúng, tay cầm đài hoa, tiếp dẫn đệ tử, trong khoảng sát na sanh ra trước Phật, đủ đạo hạnh Bồ Tát, rộng độ khắp chúng sanh, đồng thành Phật đạo. (vừa lễ vừa đọc) 

Đệ tử sám hối phát nguyện rồi, qui mạng đảnh lễ:

Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới, Đại Từ Đại Bi, A Di Đà Như Lai, Biến Pháp Giới Tam Bảo. (1 lễ) 

 

TÁN HƯƠNG (ngồi kiết già tụng) 

            Lư hương vừa bén chiên đàn,

            Khắp xông pháp giới đạo tràng mười phương.

            Hiện thành mây báu cát tường,

            Chư Phật thấy biết ngọn hương chí thiềng.

            Pháp thân toàn thể hiện tiền,

            Chứng minh hương nguyện phúc liền ban cho.

            Nam mô Hương Vân Cái Bồ Tát Ma Ha Tát. (3 lần) 

 

CHƠN NGÔN TỊNH KHẨU NGHIỆP 

Tu rị tu rị, ma ha tu rị, tu tu rị, ta bà ha. (3 lần)

 

CHƠN NGÔN TỊNH THÂN NGHIỆP 

Tu đa lị, tu đa lị, tu ma lị, ta bà ha. (3 lần)

 

CHƠN NGÔN TỊNH TAM NGHIỆP 

Án, ta phạ bà phạ, truật đà ta phạ, đạt mạ ta phạ, bà phạ truật độ hám. (3 lần)

 

CHƠN NGÔN TỊNH THỔ ĐỊA 

Nam mô tam măn đá một đà nẫm, án, độ rô độ rô, địa vĩ tát bà ha. (3 lần)

 

CHƠN NGÔN PHỔ CÚNG DƯỜNG 

Án, nga nga nẵng, tam bà phạ, phiệt nhật ra hồng. (3 lần) 

 

KỆ KHAI KINH

 

            Pháp Phật cao siêu rất nhiệm mầu,

            Ngh́n muôn ức kiếp dễ hay đâu.

            Con nay nghe thấy, xin tŕ tụng,

            Nguyện tỏ Như Lai nghĩa thật sâu.

 

            Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. (3 lần)  

 

QUYỂN THƯỢNG

 

Tôi nghe như vầy: Một thời, Đức Phật trụ trong núi Kỳ Xà Quật thuộc thành Vương Xá, cùng với một vạn hai ngàn vị đại Tỉ Khưu. Những vị đó đều là bậc đại Thánh đă đạt được phép thần thông. Các vị ấy tên là: tôn giả Liễu Bản Tế, tôn giả Chính Nguyện, tôn giả Chính Ngữ, tôn giả Đại Hiệu, tôn giả Nhân Hiền, tôn giả Ly Cấu, tôn giả Danh Văn, tôn giả Thiện Thật, tôn giả Cụ Túc, tôn giả Ngưu Vương, tôn giả Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp, tôn giả Già Da Ca Diếp, tôn giả Na Đề Ca Diếp, tôn giả Ma Ha Ca Diếp, tôn giả Xá Lợi Phất, tôn giả Đại Mục Kiền Liên, tôn giả Kiếp Tân Na, tôn giả Đại Trụ, tôn giả Đại Tịnh Chí, tôn giả Ma Ha Chu Na, tôn giả Măn Nguyện Tử, tôn giả Ly Chướng, tôn giả Lưu Quán, tôn giả Kiên Phục, tôn giả Diện Vương, tôn giả Dị Thừa, tôn giả Nhân Tính, tôn giả Gia Lạc, tôn giả Thiện Lai, tôn giả La Vân, tôn giả A Nan. Các vị trên đây đều là những bậc Thượng Thủ.

Lại cùng với các chúng đại thượng Bồ Tát trong kiếp hiện tại là: Phổ Hiền Bồ Tát, Diệu Đức Bồ Tát, Từ Thị Bồ Tát. Lại có mười sáu vị chính sĩ thuộc nhóm tại gia Bồ Tát là: Thiện Tư Nghị Bồ Tát, Tín Tuệ Bồ Tát, Không Vô Bồ Tát, Thần Thông Hoa Bồ Tát, Quang Anh Bồ Tát, Tuệ Thượng Bồ Tát, Trí Tràng Bồ Tát, Tịch Căn Bồ Tát, Nguyện Tuệ Bồ Tát, Hương Tượng Bồ Tát, Bảo Anh Bồ Tát, Trung Trụ Bồ Tát, Chế Hạnh Bồ Tát, Giải Thoát Bồ Tát, tất cả đều tuân theo giới đức của ngài Đại Sĩ Phổ Hiền.

Đức Phật có vô lượng hạnh nguyện của các Bồ Tát, an trụ vào các pháp, công đức trọn đầy, rồi dạo bước khắp mười phương, tùy theo phương tiện cứu độ chúng sanh, khiến cho tất cả qua khỏi đường sinh tử, vào được Pháp Tạng của chư Phật.

Lại nguyện ở trong vô lượng thế giới hiện thành Phật quả. Bấy giờ, ngài ở cung trời Đâu Suất, v́ muốn nói rộng chính pháp, nên từ cung trời ấy, giáng thần vào thai mẹ. Từ nách bên phải sinh ra, rồi đứng dậy hiện ra đi bảy bước; hào quang rực rỡ chiếu khắp mười phương, vô lượng cơi Phật, chấn động sáu cách. Trong giờ phút thiêng liêng này, một tay chỉ lên Trời, một tay chỉ xuống đất, Ngài cất tiếng tự xưng rằng: "Ta sẽ là Phật trên hết trong đời". Lúc ấy, hai vị vua Đế Thích và Phạm Thiên đến hầu khiến cả Trời và Người đều cung kính tin theo.

Ngài lại hiện ra học đủ các nghề: thi văn, lư, toán, bắn cung, cỡi ngựa; tập riêng thêm các môn vơ thuật, đọc hết những pho sách sử. Có lần Ngài ung dung dạo bước vườn sau, diễn vơ thi tài. Ngài lại biến hiện ra cung điện cực kỳ lộng lẫy, trong đó có sắc đẹp diễm kiều cùng cao lương mỹ vị. Lại một hôm, Ngài ra chơi ngoại thành, nh́n thấy người già, người bệnh, người chết; nh́n thấy cảnh tượng đó, Ngài nhận biết được cơi đời là vô thường, nên quyết ĺa ngôi báu, thần dân, quyến thuộc, tiền của, quyền quư cao sang, vào núi học đạo. Ngài cởi bỏ áo ngọc mũ châu quư báu, mặc áo nhà tu, cạo bỏ râu tóc, ngồi dưới gốc cây, siêng tu khổ hạnh, suốt sáu năm trường, y theo chính đạo, thực hành thiện pháp. Ngài lại hiện ra trong cơi đời ngũ trọc, thuận theo chúng sinh, cấu trần ô nhiễm tắm gội ở sông Ni Liên. Bấy giờ, chư Thiên giữ cành cây, Ngài vin lấy cành mà ra khỏi ao, liền có loài chim thiêng theo hầu Ngài tới nơi đạo tràng. Điềm lành cảm nghiệm, nêu rơ công phúc, thương nhận cỏ cúng dường, trải dưới cây Bồ Đề, ngồi xếp hai bàn chân lên đùi, nhập thiền định, phóng ra hào quang sáng lớn, khiến Ma Vương biết được, chúng liền kéo cả họ hàng, bè lũ đến mà thử thách tâm ư của Ngài. Ngài dùng trí lực giải trị, khiến chúng phải kinh sợ hàng phục. Chính nơi cội Bồ Đề đạo tràng, Ngài chứng ngộ thành bậc Đại Giác.

Bấy giờ, vua Đế Thích và Phạm Vương thỉnh cầu Ngài chuyển Pháp Luân. Ngài chấp nhận rồi rời đạo tràng, du phương thuyết pháp, đánh trống pháp, thổi loa pháp, cầm gươm pháp, dựng cờ pháp, dậy sấm pháp, lóe chớp pháp, tưới mưa pháp, nói thí pháp và thường đem tiếng pháp cảnh tỉnh thế gian. Ngài phóng hào quang soi khắp vô lượng cơi Phật. Tất cả các thế giới chấn động sáu cách, thâu tóm cả cơi ma, làm rung động cung điện của Ma Vương, khiến chúng Ma Vương sợ hăi đều quy phục cả. Ngài xé rách các lưới tà, tiêu diệt mọi thành kiến, đánh tan những phiền năo, lấp đầy mọi vực sâu ái dục, gạn sạch tâm ư, giữ trọn pháp thân, khai nguồn trí tuệ, rửa sạch tâm nhơ xấu, làm sáng đức thanh tịnh, truyền bá chính giáo, hóa độ chúng sinh, khiến tất cả đều được thấm nhuần công đức, phước báu lợi lạc.

Ngài lại đem pháp dược mầu nhiệm cứu chữa ba nỗi khổ của chúng sinh: một là làm việc cực nhọc sinh khổ, hai là hết vui đến buồn sinh khổ, ba là các pháp vô thường sinh khổ. Ngài lại hiển hiện vô lượng công đức, thọ kư cho các Bồ Tát thành bậc Chánh Đẳng Chánh Giác. Lại hiện ra cảnh giới sinh tử, hầu cứu chúng sinh diệt trừ phiền năo, vun trồng cội phúc, trọn đủ công đức, mầu nhiệm vô cùng.

Ngài lại đến các nước Phật, hiển bày giáo pháp bằng các việc đă tu hành, trong sạch không nhơ nhuốm. Ví như nhà huyễn thuật đă học tập thông suốt, rồi tùy theo ư muốn hiện ra các tướng lạ như: hiện làm đàn ông, hiện làm đàn bà v.v... không ǵ không hiện được.

Các vị Bồ Tát ở đây cũng giống như thế, các ngài học hết các pháp, quán thông kinh điển, thâu tóm sự lư, xét cùng nghĩa nhiệm, thấy biết xác thực. Rồi ở trong vô số cơi Phật đều hiện ra trọn đủ các pháp như thế, chỉ dẫn cho mười phương chúng sinh, vô lượng chúng sinh đều cùng hộ niệm. Cảnh giới chư Phật an trụ, Bồ Tát đều trụ trong đó; đại Thánh tọa nơi nào, đều có Bồ Tát tọa nơi đó. Giáo pháp của đức Như Lai thuyết giảng Bồ Tát đều tuyên dương một cách rốt ráo, là bậc Đại Sư cho các hàng Bồ Tát, các Ngài đem thiền định, trí tuệ thâm diệu chỉ bày cho chúng sinh đời mạt pháp thông hiểu các pháp tính, thấy rơ các pháp tướng và thấu suốt các cơi để cúng dường chư Phật. Lại hóa hiện thân h́nh lẹ như chớp nhoáng, biến hiện lưới vô úy, hiểu suốt mọi pháp huyễn hóa, xé rách lưới ma, cởi mọi ràng buộc; vượt qua địa vị Thanh Văn, Duyên Giác, được phép Tam Muội: Không, Vô Tướng, Vô Nguyện. Các ngài khéo lập phương tiện, chỉ rơ ba thừa: Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát. Sau khi giáo hóa đă xong, không c̣n sở hữu, các Ngài lại hiện ra có sanh tử, chứ thực ra các pháp cũng không vật ǵ thấy có, chẳng sanh, chẳng diệt, tất cả đều b́nh đẳng, thành diệu pháp vô lượng tổng tŕ bách thiên tam muội. Các căn trí tuệ, yên lặng vô cùng, vào sâu tới pháp tạng của Bồ Tát, được pháp Hoa Nghiêm Tam Muội của Phật, tuyên dương giảng nghĩa hết thảy kinh điển mà vẫn trụ vào pháp định sâu xa mầu nhiệm, thấy tất cả chư Phật hiện tại, trong một giây phút hiện ra khắp nơi, cứu giúp muôn loài, chịu nhiều khổ năo, phân biệt chỉ rơ chân thật, được trí biện tài của các đức Như Lai, rồi thể nhập tiếng nói của chúng sanh, khai hóa cho hết thảy, vượt qua các pháp sở hữu của thế gian, kiên tâm giữ đạo cứu đời. Đối với hết thảy chúng sanh, các Ngài tùy ư tự tại, lấy việc cứu giúp chúng sanh làm trách nhiệm nặng nề, giữ ǵn pháp tạng của chư Phật khiến cho thường c̣n chẳng mất. Lại khởi ḷng đại bi thương xót chúng sinh, diễn lời đại từ, trao con mắt Pháp, ngăn ba chốn dữ, mở cửa Bồ Đề, lại đem pháp không ai cầu thỉnh mà thí hóa cho chúng dân như người con trọn hiếu, kính thương cha mẹ, đối với chúng sanh như đối với chính ḿnh. Các Ngài đă gây mọi nhân lành, qua khỏi đường sanh tử, được vô lượng công đức của chư Phật. Trí tuệ sáng suốt của các Ngài cũng không thể nghĩ bàn. Các vị Bồ Tát Đại Sĩ như thế, không thể kể sao cho xiết, cùng một lúc tới dự hội.

Bấy giờ, Đức Thế Tôn thân căn vui đẹp, dáng điệu nghiêm tịnh, sắc mặt hồng sáng. Tôn giả A Nan thấy vậy, liền từ ṭa ngồi đứng dậy, trễ vai áo bên phải, quỳ gối chắp tay, bạch Phật rằng:

- Bạch Đức Thế Tôn! Hôm nay Đức Thế Tôn thân căn vui đẹp, thân tướng nghiêm tịnh, sắc mặt hồng sáng, như tấm gương trong sạch, sáng suốt trong ngoài, oai dũng rơ rệt, tướng tốt tuyệt vời, chưa từng thấy có. Kính bạch Đức Đại Thánh! Ḷng con nghĩ rằng: Hôm nay có lẽ Đức Thế Tôn trụ vào nơi pháp kỳ diệu! Hôm nay Đức Thế Hùng trụ vào chốn chư Phật trụ! Hôm nay Đức Thế Nhăn trụ vào hạnh của đấng Đạo Sư! Hôm nay Đức Thế Anh trụ vào đạo tối thắng! Hôm nay Đức Thiên Tôn hành theo đức của Đức Như Lai! Chư Phật ba đời: quá khứ, hiện tại, vị lai đă cùng một ư nghĩ độ sinh. Phải chăng hôm nay Đức Như Lai đang tư duy chư Phật tư duy chăng? V́ sao oai thần của Ngài chói sáng như vậy?

Bấy giờ, Đức Thế Tôn bảo Ngài A Nan rằng:

- A Nan! Có phải chư Thiên nhờ ông đến hỏi ta hay tự ông khởi ư hỏi việc đó?

A Nan bạch Phật rằng:

- Bạch Đấng Đại Bi Thế Tôn! Không phải chư Thiên đến nhờ con, chính tự bản thân con thấy biết mà hỏi việc đó.

Phật dạy rằng:

- Hay thay! Hay thay! A Nan, những điều ông hỏi thật là sâu xa! Như Lai đem ḷng đại bi vô tận, thương xót chúng sanh trong ba cơi nên mới thị hiện ra đời, khai sáng đạo giáo, để cứu vớt quần sinh khiến cho họ được nhiều lợi ích chân thật. Như Lai vô lượng ức kiếp khó gặp, khó thấy, cũng như hoa Ưu Đàm trải qua bao kiếp mới trổ một lần. Nay những điều ông hỏi có lợi ích khai hóa cho tất cả chư Thiên, nhân loại.

A Nan! Nên biết, Như Lai là bậc Chánh Giác, trí tuệ không thể suy lường thường khuyên dẫn và chế ngự tâm người, không ǵ ngăn ngại. Như Lai dùng sức một bữa ăn mà thọ mệnh được trăm ngàn vạn kiếp, vô số vô lượng c̣n hơn ở đây nhiều. Lại nữa, Như Lai thân căn vui đẹp, dáng điệu nghiêm tịnh, khuôn mặt hồng sáng. V́ sao vậy? V́ thiền định, trí tuệ của Như Lai sáng suốt vô cùng, tất cả các Pháp Như Lai đều được viên dung vô ngại.

A Nan, hăy nghe cho kỹ, bây giờ ta nói cho ông nghe.

A Nan bạch rằng:

- Vâng, con mong muốn được nghe.

Đức Phật bảo A Nan rằng:

- Về đời xưa kia, cách nay rất lâu xa, không thể tính bàn được là bao nhiêu kiếp, có Đức Đĩnh Quang Như Lai thị hiện ra đời, giáo hóa độ thoát vô lượng chúng sanh đều được đạo quả, rồi Ngài mới diệt độ. Thứ đến, có Đức Như Lai tên là Quang Viễn, thứ đến tên là Nguyệt Quang, thứ đến tên là Chiên Đàn Hương, thứ đến tên là Thiện Sơn Vương, thứ đến tên là Tu Di Thiên Quán, thứ đến tên là Tu Di Đẳng Diệu, thứ đến tên là Nguyệt Sắc, thứ đến tên là Chính Niệm, thứ đến tên là Ly Cấu, thứ đến tên là Vô Trước, thứ đến tên là Long Thiên, thứ đến tên là Dạ Quang, thứ đến tên là An Minh Đỉnh, thứ đến tên là Bất Động Địa, thứ đến tên là Lưu Ly Diệu Hoa, thứ đến tên là Lưu Ly Kim Sắc, thứ đến tên là Kim Tạng, thứ đến tên là Viêm Quang, thứ đến tên là Viêm Căn, thứ đến tên là Địa Chủng, thứ đến tên là Nguyệt Tượng, thứ đến tên là Nhật Âm, thứ đến tên là Giải Thoát Hoa, thứ đến tên là Trang Nghiêm Quang Minh, thứ đến tên là Hải Giác Thần Thông, thứ đến tên là Thủy Quang, thứ đến tên là Đại Hương, thứ đến tên là Ly Trần Cấu, thứ đến tên là Xả Yếm Ư, thứ đến tên là Bảo Viêm, thứ đến tên là Diệu Đỉnh, thứ đến tên là Dũng Lập, thứ đến tên là Công Đức Trí Tuệ, thứ đến tên là Tế Nhật Nguyệt Quang, thứ đến tên là Nhật Nguyệt Lưu Ly Quang, thứ đến tên là Vô Thượng Lưu Ly Quang, thứ đến tên là Tối Thượng Thủ, thứ đến tên là Bồ Đề Hoa, thứ đến tên là Nguyệt Minh, thứ đến tên là Nhật Quang, thứ đến tên là Hoa Sắc Vương, thứ đến tên là Thủy Nguyệt Quang, thứ đến tên là Trừ Si Minh, thứ đến tên là Độ Cái Hạnh, thứ đến tên là Tịnh Tín, thứ đến tên là Thiện Túc, thứ đến tên là Uy Thần, thứ đến tên là Pháp Tuệ, thứ đến tên là Loan Âm, thứ đến tên là Sư Tử Âm, thứ đến tên là Long Âm, thứ đến tên là Xử Thế. Các Đức Phật trên đây đều đă qua đời hết.

Sau đó, lại có Đức Phật tên Thế Tự Tại Vương, Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn.

Lúc ấy, có vị Quốc Vương nghe Phật thuyết pháp, sinh ḷng vui vẻ, liền phát tâm Vô Thượng Bồ Đề, ĺa cơi nước, bỏ ngôi vua, xuất gia làm Sa Môn, hiệu là Pháp Tạng, tài cao, trí dũng khác đời. Ngài Pháp Tạng đến chỗ Đức Thế Tự Tại Vương Như Lai, cúi đầu lễ dưới chân Phật, đi quanh theo phía bên phải ba ṿng, rồi quỳ gối chắp tay và khen ngợi rằng:

 

            Khuôn mặt hồng sáng chói,

            Oai đức tỏ vô cùng.

            Khỏa lấp cả không trung,

            Mặt trời không sánh nổi.

            Mặt trăng, ma ni châu,

            Cũng trở nên mờ tối.

            Cao giọng nói chánh pháp,

            Vang khắp cả mười phương.

            Giới, văn đều tinh tiến,

            Trí tuệ cũng không lường.

            Uy đức dũng mănh nhất,

            Trong đời ít ai bằng.

            Biển pháp của chư Phật,

            Sâu rộng mầu nhiệm thay!

            Đem trí thật suy xét,

            T́m thấy rơ cội nguồn.

            Vô minh và dục vọng,

            Thế Tôn ĺa tất cả.

            Bậc Sư Tử Nhân Hùng,

            Thần đức không thể lường.

            Trí tuệ rất cao thâm,

            Công huân thật rộng lớn.

            Oai tướng sáng hơn trăng,

            Chấn động cơi đại thiên.

            Con nguyện khi làm Phật,

            Lên ngôi Thánh Pháp Vương.

            Dứt hẳn đường sanh tử,

            Đến bên bờ giải thoát.

            Sáu phép là Bố Thí,

            Tŕ Giới và Nhẫn Nhục.

            Tinh tiến đến Thiền Định,

            Trí Tuệ là bậc nhất.

            Con thề khi thành Phật,

            Làm hết những nguyện này.

            Tất cả điều sợ hăi,

            Biến thành niềm an vui.

            Giả như có chư Phật,

            Trăm ngàn muôn ức triệu.

            Cùng các bậc đại Thánh,

            Nhiều như cát sông Hằng.

            Cúng dường hết tất cả,

            Chư Phật đại Thánh đó.

            Cũng không bằng cầu đạo,

            Kiên tâm không thoái chuyển.

            Chí tinh tiến như thế,

            Oai thần khó lường đuợc.

            Con khi được thành Phật,

            Sửa sang cơi nước này.

            Như cơi Niết Bàn kia,

            Thế gian không thể sánh.

            Chúng sinh trong nước đó,

            Cũng tốt đẹp lạ thường.

            Con nay ḷng thương xót,

            Độ thoát cho tất cả.

            Các chúng sanh sau này,

            Ḷng mong cầu tinh tiến.

            Đă đến nước con rồi,

            Đều an lành vui vẻ.

            May được Phật tin rơ,

            Tâm thành thật của con.

            Phát nguyện về Tịnh Độ,

            Nhờ tinh tiến tu hành.

            Mười phương các Đức Phật,

            Trí tuệ rộng thấu suốt.

            Biết rơ tâm hạnh con,

            Dù thân có mỏi ṃn.

            Trong mọi nỗi khổ đau,

            Con vẫn gắng tu hành,

            Dù chết chẳng ăn năn.

 

Phật bảo: 

- A Nan! Tỉ Khưu Pháp Tạng nói lời khen ngợi xong, lại bạch Phật rằng:  

- Bạch Đức Thế Tôn con phát tâm Vô Thượng Chánh Giác cúi xin Đức Phật rộng nói kinh pháp cho con nghe, con sẽ tu hành cho chóng thành chính giác, dứt bỏ gốc nguồn khổ năo trong đường sinh tử, để giữ lấy cơi nước Phật thanh tịnh trang nghiêm và pháp tạng mầu nhiệm của chư Phật. 

Bấy giờ Đức Thế Tự Tại Vương bảo Tỉ Khưu Pháp Tạng rằng:  

- Chắc ông đă biết cách tu hành để trang nghiêm cơi Phật rồi chăng? 

Tỉ Khưu Pháp Tạng bạch Phật:  

- Nghĩa ấy sâu rộng không thể nghĩ bàn, không phải cảnh giới của con. Kính xin Thế Tôn rộng ḷng diễn giải hạnh nguyện về cảnh giới Tịnh Độ của chư Phật cho con nghe. Nghe rồi, con sẽ y theo thuyết đó tu hành cho hoàn thành sở nguyện. 

Khi ấy, Đức Phật Thế Tự Tại Vương biết ông là người cao minh có chí nguyện sâu rộng, liền nói kinh cho Tỉ Khưu Pháp Tạng nghe rằng:  

- Ví như người lấy đấu để lường biển cả, trải qua nhiều kiếp c̣n có thể lường tới đáy sâu, lấy được của báu. Huống chi, người dốc ḷng tinh tiến cầu đạo không mỏi mệt, ắt sẽ có kết quả, nguyện ǵ mà chẳng được.  

Đức Phật Thế Tự Tại Vương lại nói rộng ra hai trăm năm mươi ức cơi nước chư Phật, việc lành dữ của trời và người, sự tốt xấu của cơi nước ứng hợp với tâm nguyện cho ngài Tỉ khưu Pháp Tạng nghe. Khi Tỉ Khưu Pháp Tạng nghe Phật nói thấy rơ hết cơi nước trang nghiêm, thanh tịnh, liền khởi sinh ư nguyện thù thắng tuyệt vời; tâm Ngài vắng lặng, chí không vướng mắc, giữ ǵn hạnh thanh tịnh, trang nghiêm Phật độ đầy đủ trong năm kiếp mà tất cả thế gian không ai sánh bằng. 

A Nan bạch Phật rằng:  

- Đức Phật ở cơi nước kia thọ được bao nhiêu tuổi?  

Đức Phật dạy rằng:  

- Thọ mệnh của Đức Phật ấy được bốn mươi hai kiếp. 

Lúc ấy, Tỉ Khưu Pháp Tạng giữ lấy hạnh thanh tịnh trong hai trăm mười ức cơi nước mầu nhiệm của chư Phật. Sau khi chứng quả, Ngài đến chỗ Đức Phật Thế Tự Tại Vương dập đầu lễ dưới chân Phật, đi chung quanh Phật ba ṿng rồi đứng lại, chấp tay bạch Phật rằng:  

- Lạy đức Thế Tôn! Con đă giữ được hạnh thanh tịnh để trang nghiêm cơi Phật rồi!  

Đức Phật bảo Tỉ Khưu Pháp Tạng rằng:  

- Ông nên biết bây giờ là lúc ông có thể nói ra cho tất cả đại chúng được sinh ḷng vui vẻ. Các vị Bồ Tát nghe nói rồi tu hành theo phép ấy, thành tựu vô số các điều nguyện lớn. 

Tỉ Khưu Pháp Tạng bạch Phật rằng:  

- Kính xin Đức Thế Tôn rủ ḷng thương xét cho các điều nguyện lớn của con sau đây: 

Điều nguyện thứ nhất: Nếu con được thành Phật mà trong cơi nước con c̣n có địa ngục, ngă quỷ, súc sinh th́ con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác. 

Điều nguyện thứ hai: Nếu con được thành Phật mà Trời, người trong cơi nước con sau khi thọ chung c̣n phải sa vào đường dữ th́ con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác. 

Điều nguyện thứ ba: Nếu con được thành Phật mà tất cả Trời, người trong cơi nước con thân không giống màu vàng y th́ con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác. 

Điều nguyện thứ tư: Nếu con được thành Phật mà tất cả Trời, người trong cơi nước con thân h́nh c̣n có kẻ đẹp, người xấu th́ con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác. 

Điều nguyện thứ năm: Nếu con được thành Phật mà Trời, người trong cơi nước con không biết rơ túc mệnh của ḿnh và những việc đă xảy ra trong trăm ngàn ức na do tha các cơi Phật th́ con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác. 

Điều nguyện thứ sáu: Nếu con được thành Phật mà Trời, người trong cơi nước con không được phép Thiên Nhăn, cho đến không thấy rơ trăm ngàn ức na do tha các cơi Phật th́ con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác. 

Điều nguyện thứ bảy: Nếu con được thành Phật mà Trời, người trong cơi nước con không được phép Thiên Nhĩ, không được nghe và thọ tŕ hết thảy lời thuyết pháp của trăm ngàn ức na do tha các Đức Phật th́ con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác. 

Điều nguyện thứ tám: Nếu con được thành Phật mà Trời, người trong cơi nước con không được thấy tâm trí kẻ khác, cho đến không biết rơ tâm niệm của hết thảy chúng sinh trong trăm ngàn ức na do tha các cơi Phật th́ con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác. 

Điều nguyện thứ chín: Nếu con được thành Phật mà Trời, người trong cơi nước con không được phép thần túc, trong một khoảng một niệm, cho đến không vượt qua được trăm ngàn ức na do tha các cơi Phật th́ con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác. 

Điều nguyện thứ mười: Nếu con được thành Phật mà Trời, người trong cơi nước con c̣n có ư niệm tham chấp thân h́nh th́ con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác. 

Điều nguyện thứ mười một: Nếu con được thành Phật mà Trời, người trong cơi nước con không trụ vào chính định và chứng quả Niết Bàn th́ con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác. 

Điều nguyện thứ mười hai: Nếu con được thành Phật mà ánh sáng c̣n có hạn lượng, không soi thấu được trăm ngàn ức na do tha các cơi Phật th́ con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác. 

Điều nguyện thứ mười ba: Nếu con được thành Phật mà thọ mệnh c̣n có hạn lượng, chỉ được trăm ngàn ức na do tha kiếp th́ con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác. 

Điều nguyện thứ mười bốn: Nếu con được thành Phật mà hàng Thanh Văn trong cơi nước con c̣n có thể tính đếm được và chúng sinh trong ba ngàn Đại Thiên thế giới ở trong trăm ngàn kiếp thành bậc Duyên Giác hết, rồi tính đếm mà biết được số đó là bao nhiêu th́ con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác. 

Điều nguyện thứ mười lăm: Nếu con được thành Phật mà Trời, người trong cơi nước con thọ mệnh c̣n có hạn lượng, trừ phi những bản nguyện riêng của họ muốn dài, ngắn đều được tự tại. Nếu không được như vậy th́ con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác. 

Điều nguyện thứ mười sáu: Nếu con được thành Phật mà Trời, người trong cơi nước con c̣n có ai nghe thấy tiếng chẳng lành th́ con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác. 

Điều nguyện thứ mười bảy: Nếu con được thành Phật mà vô lượng chư Phật ở mười phương thế giới không ngợi khen danh hiệu của con th́ con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác. 

Điều nguyện thứ mười tám: Nếu con được thành Phật mà chúng sinh trong mười phương dốc ḷng tin tưởng, muốn sinh về cơi nước con chỉ trong mười niệm, nếu không được toại nguyện th́ con chẳng trụ ở ngôi Chính Giác, trừ kẻ phạm năm tội nghịch và gièm chê chánh pháp. 

Điều nguyện thứ mười chín: Nếu con được thành Phật mà chúng sinh mười phương phát tâm Bồ Đề, tu các công đức, dốc ḷng phát nguyện, muốn sinh về cơi nước con, tới khi thọ chung mà con chẳng cùng đại chúng hiện ra chung quanh trước mặt người ấy th́ con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác. 

Điều nguyện thứ hai mươi: Nếu con được thành Phật mà chúng sinh trong mười phương nghe danh hiệu của con, để ḷng nhớ nghĩ đến nước con, tu trồng các công đức, dốc ḷng hồi hướng, cầu sinh về cơi nước con mà không được vừa ḷng th́ con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác. 

Điều nguyện thứ hai mươi mốt: Nếu con được thành Phật mà Trời, người trong cơi nước con chẳng được đầy đủ ba mươi hai tướng của bậc đại nhân th́ con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác. 

Điều nguyện thứ hai mươi hai: Nếu con được thành Phật, hết thảy chúng Bồ Tát ở cơi Phật phương khác sinh về cơi nước con, sau đó sẽ tới bậc Nhất Sinh Bổ Xứ, trừ bản nguyện riêng của mỗi vị tự tại hóa hiện, v́ thương xót chúng sanh mà rộng lớn, bền chắc như áo giáp, tu các công đức, độ thoát hết thảy, rồi qua khắp các cơi Phật, tu hạnh Bồ Tát và cúng dường mười phương chư Phật, khai hóa vô số chúng sanh khiến lập nên đạo Vô Thượng Chánh Giác. Chư vị vượt ngoài công hạnh, thông thường ở các địa vị mà tu tập theo hạnh nguyện của Đức Phổ Hiền. Nếu không được như thế th́ con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác. 

Điều nguyện thứ hai mươi ba: Nếu con được thành Phật mà các Bồ Tát trong cơi nước con, nương sức thần của Phật đi cúng dường các Đức Phật trong khoảng thời gian một bữa ăn mà không tới được vô số, vô lượng ức na do tha các cơi Phật th́ con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác. 

Điều nguyện thứ hai mươi bốn: Nếu con được thành Phật mà các Bồ Tát trong cơi nước con ở trước chư Phật hiện ra công đức, muốn có muôn vàn vật dụng để cúng dường. Nếu không được như ư th́ con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác. 

Điều nguyện thứ hai mươi lăm: Nếu con được thành Phật mà các Bồ Tát trong cơi nước con không diễn thuyết được Nhất Thiết Trí th́ con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác. 

Điều nguyện thứ hai mươi sáu: Nếu con được thành Phật, các Bồ Tát trong cơi nước con không được thân Kim Cương Na La Diên th́ con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác. 

Điều nguyện thứ hai mươi bảy: Nếu con được thành Phật mà Trời, người trong cơi nước cùng tất cả muôn vật không có h́nh sắc tốt đẹp, không thể tính lường, và hết thảy chúng sinh cho đến bậc đă được phép Thiên Nhăn mà không nói được rơ ràng danh số th́ con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác. 

Điều nguyện thứ hai mươi tám: Nếu con được thành Phật mà các Bồ Tát trong cơi nước con, cho đến kẻ có ít công đức nhất không thấy được ánh sáng muôn mầu của cây Bồ Đề cao bốn trăm vạn do tuần th́ con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác. 

Điều nguyện thứ hai mươi chín: Nếu con được thành Phật mà các Bồ Tát trong cơi nước con thụ tŕ, đọc tụng, giảng thuyết kinh pháp, mà không được trí tuệ biện tài th́ con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác. 

Điều nguyện thứ ba mươi: Nếu con được thành Phật mà trí tuệ biện tài của các Bồ Tát trong cơi nước con c̣n có hạn lượng th́ con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác. 

Điều nguyện thứ ba mươi mốt: Nếu con được thành Phật th́ cơi nước con thanh tịnh, soi thấy tất cả vô lượng, vô số thế giới chư Phật ở mười phương không thể nghĩ bàn, như tấm gương sáng thấy được h́nh dạng mặt mày của ḿnh. Nếu không được như vậy th́ con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác. 

Điều nguyện thứ ba mươi hai: Nếu con được thành Phật, trong cơi nước con, từ mặt đất đến hư không, cung điện, lâu đài, hồ ao, cây cỏ và muôn hoa đều được tạo nên bằng vô lượng của báu ḥa lẫn với ngàn thứ hương thơm. Tất cả đều xinh đẹp lạ lùng hơn cả cơi Trời và cơi người. Hương thơm của muôn vật tỏa ra ngào ngạt khắp mười phương thế giới. Bồ Tát ở các nơi ngửi hương thơm ấy đều tu theo hạnh của Phật. Nếu không được như thế th́ con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác. 

Điều nguyện thứ ba mươi ba: Nếu con được thành Phật, chúng sinh trong vô lượng thế giới chư Phật mười phương không thể nghĩ bàn, đều nhờ ánh quang minh của con chạm đến thân họ, khiến thân được nhẹ nhàng hơn cả Trời và người. Nếu không được như thế th́ con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác. 

Điều nguyện thứ ba mươi bốn: Nếu con được thành Phật mà chúng sinh trong vô lượng thế giới chư Phật mười phương không thể nghĩ bàn, nghe danh hiệu của con mà không được pháp Vô Sinh Pháp Nhẫn và các môn thâm tổng tŕ của bậc Bồ Tát th́ con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác. 

Điều nguyện thứ ba mươi lăm: Nếu con được thành Phật mà nữ nhân trong vô lượng thế giới chư Phật mười phương không thể nghĩ bàn, nghe danh hiệu con đều vui mừng, phát tâm Bồ Đề, chán ghét thân gái. Sau khi mệnh chung mà c̣n phải làm thân nữ nhân nữa th́ con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác. 

Điều nguyện thứ ba mươi sáu: Nếu con được thành Phật mà các Bồ Tát trong vô lượng thế giới chư Phật mười phương không thể nghĩ bàn, nghe danh hiệu con, sau khi thọ chung, thường tu phạm hạnh cho đến khi thành Phật. Nếu không được như thế th́ con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác. 

Điều nguyện thứ ba mươi bảy: Nếu con được thành Phật mà Trời và người trong cơi vô lượng thế giới chư Phật mười phương không thể nghĩ bàn, nghe danh hiệu con, cúi đầu đảnh lễ, năm vóc gieo xuống đất, vui mừng tu hạnh Bồ Tát, được hầu hết Trời và người kính trọng. Nếu không được như thế th́ con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác. 

Điều nguyện thứ ba mươi tám: Nếu con được thành Phật mà Trời và người trong cơi nước con muốn có y phục th́ y phục tốt đẹp tùy theo tâm niệm của họ tự nhiên hiện ra trên ḿnh họ. Nếu c̣n phải cắt may, nhuộm, giặt th́ con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác. 

Điều nguyện thứ ba mươi chín: Nếu con được thành Phật mà Trời và người trong cơi nước con không được sự hưởng thụ vui sướng bằng vị Tỉ Khưu đă dứt hết mọi phiền năo th́ con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác. 

Điều nguyện thứ bốn mươi: Nếu con được thành Phật mà các Bồ Tát trong cơi nước con tùy ư muốn thấy vô lượng thế giới trang nghiêm thanh tịnh của chư Phật ở mười phương đều được như nguyện. Chẳng hạn, nh́n trong cây báu thấy rơ hết cả như nh́n vào tấm gương sáng thấy rơ nhân diện. Nếu không được như thế th́ con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác. 

Điều nguyện thứ bốn mươi mốt: Nếu con được thành Phật mà các chúng Bồ Tát ở thế giới khác nghe danh hiệu con, từ đó đến khi thành Phật mà các sắc căn c̣n thiếu kém th́ con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác. 

Điều nguyện thứ bốn mươi hai: Nếu con được thành Phật mà các Bồ Tát ở thế giới phương khác nghe danh hiệu con, đều được chánh định giải thoát thanh tịnh; rồi trụ vào chánh định đó trong khoảng một ư niệm cúng dường vô lượng chư Phật Thế Tôn chẳng thể nghĩ bàn, mà vẫn không mất chính định. Nếu không được như thế th́ con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác. 

Điều nguyện thứ bốn mươi ba: Nếu con được thành Phật mà các Bồ Tát ở thế giới phương khác nghe danh hiệu con sau khi mệnh chung, thác sanh vào nhà tôn quư. Nếu không được như thế th́ con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác. 

Điều nguyện thứ bốn mươi tư: Nếu con được thành Phật mà các Bồ Tát ở thế giới phương khác nghe danh hiệu con vui mừng hớn hở, tu hạnh Bồ Tát, trọn đủ công đức. Nếu không được như thế th́ con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác. 

Điều nguyện thứ bốn mươi lăm: Nếu con được thành Phật mà các Bồ Tát ở thế giới phương khác nghe danh hiệu con đều được Phổ Đẳng Tam Muội, rồi trụ vào tam muội đó cho đến khi thành Phật, thường được thấy chư Phật chẳng thể nghĩ bàn. Nếu không được như thế th́ con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác. 

Điều nguyện thứ bốn mươi sáu: Nếu con được thành Phật mà các Bồ Tát trong cơi nước con muốn nghe pháp ǵ, đều theo chí nguyện ḿnh, tự nhiên được nghe. Nếu không được như thế th́ con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác.

 

Điều nguyện thứ bốn mươi bảy: Nếu con được thành Phật mà các Bồ Tát ở thế giới phương khác nghe danh hiệu con mà chẳng tới được bậc Bất Thoái Chuyển th́ con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác. 

Điều nguyện thứ bốn mươi tám: Nếu con được thành Phật mà các Bồ Tát ở phương khác, nghe danh hiệu con mà chẳng tới ngay được ba đức nhẫn: Âm Hưởng Nhẫn, Nhu Thuận Nhẫn và Vô Sanh Pháp Nhẫn. Đối với các pháp của Phật mà không chứng được bậc Bất Thoái Chuyển th́ con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác. 

Phật bảo A Nan rằng khi Pháp Tạng Tỉ Khưu nói xong những lời nguyện đó, liền làm bài kệ khen ngợi rằng:

 

            Con lập nguyện hơn đời,

            Quyết tới đạo vô thượng.

            Nguyện này không được toại,

            Thể chẳng thành Đẳng Giác.

            Con ở vô lượng kiếp,

            Chẳng làm đại thí chủ.

            Cứu giúp chúng sanh khổ,

            Thề chẳng thành Đẳng Giác.