Chùa Hải-Đức in Jacksonville

[Home] [Up] [Điểm Sách] [Sutras] [Dharma Talks] [GĐPT] [Sinh Hoạt] [Our Activities] [Pháp Thoại audio mp3] [Tin Tức Phật Giáo] [Thuyết Pháp] [Thơ Văn] [Ngoại Điển] [Phật Học] [Tụng Kinh] [Nghi Lễ - Rituals]

                       

KINH VÔ LƯỢNG THỌ

 H.T. Thích Tuệ Đăng

 

 

MỤC LỤC

 

LỜI TỰA

LỜI BẠT

NGHI THỨC LỄ TỤNG

QUYỂN THƯỢNG

QUYỂN HẠ

BÁT NHĂ BA LA MẬT ĐA TÂM KINH

BÀI TỤNG KINH RỒI SÁM HỐI VÀ HỒI HƯỚNG

BÀI NIỆM PHẬT CỦA NGÀI ĐẠI THẾ CHÍ BỒ TÁT

LỄ TỔNG

PHÁT NGUYỆN TỊNH ĐỘ

TAM TỰ QUY

 

 

LỜI TỰA

 

Giáo lư đấng Thế Tôn trải qua 2.516 năm đến nay vẫn c̣n có công năng thù thắng siêu việt, đánh bạt nghiệp chướng phiền năo cứu thoát chúng sinh khỏi trầm luân trong vũng lầy sanh tử. Đối với người con Phật chân chánh, thành tâm cầu đạo giải thoát, lời châu ngọc của Ngài quả thật là một môn diệu được. Kinh điển qua những lần kết tập rồi lưu truyền đến bây giờ đă hướng dẫn tâm thức con người vươn lên cảnh giới trang nghiêm, thanh tịnh, gột sạch tội cấu, ái nhiễm của cơi đời ô trọc hung hăn này. 

Muốn đạt tới cảnh giới an vui giải thoát, điều kiện tiên quyết là phải lắng được tâm, gạn được ư như lời Phật thuyết: “Tùy kỳ tâm tịnh tắc Phật độ tịnh". (Tâm ḿnh an tịnh th́ cơi Phật hiện ra). Hiểu được như vậy hành giả tự thân rực rỡ quang minh và sẽ thấy cơi trang nghiêm của Phật. Sự kiện lắng được tâm, gạn được ư này nằm trong pháp môn Tịnh Độ mà đấng Thế Tôn đă chúc lũy cho chúng sanh trong đời Mạt Pháp qua các yếu kinh: Kinh Bi Hoa, Kinh A Di Đà, Kinh Vô Lượng Thọ và Kinh Quán Vô Lượng Thọ. 

Những kinh giáo này nhằm tạo duyên khởi từ bi, trí tuệ cho người biết hồi tâm phục thiện, ngơ hầu thăng hoa cuộc sống cao đẹp trong thế giới đảo điên, mê muội. Hành giả gột sạch trần cấu bằng cách thanh lọc tâm, làm tiêu ma nghiệp chướng được xem là nguyên động lực giao lưu qua cơi nước Cực Lạc, quốc độ của giải thoát thanh tịnh, trang nghiêm. Đó chính là miếng đất tâm rơi những phấn thông vàng. Hành giả có thể mường tượng lời kinh huyền diệu ḥa theo năm tháng lắng sâu vào tâm thức hữu t́nh để sinh thành quả phúc uy nghiêm, cao cả. Quư hóa thay! Kinh giáo của pháp môn Tịnh Độ. 

- Kinh A Di Đà quảng diễn cảnh giới trang nghiêm thanh tịnh của cơi nước Cực Lạc. 

- Kinh Vô Lượng Thọ, Kinh Bi Hoa xuất sinh từ công năng tu tập của Ngài Pháp Tạng Tỷ Khưu, ngộ nhập cảnh giới Cực Lạc phát khởi trí tuệ khi hành tŕ. 

- Kinh Quán Vô Lượng Thọ dạy các pháp tu quán tưởng Đức Phật Vô Lượng Thọ làm cơ duyên ứng hợp với cơi nước Cực Lạc. Chung quy, pháp môn Tịnh Độ cốt lấy: "Niệm giác bất tư nghị làm thể". Bởi thế, nếu một niệm không móng lên th́ đó là cái toàn nhất của con người thể nhập vào tự tánh nhiệm mầu. Ở đây, Tịnh Độ đă ḥa nhập với Thiền là một. Hành giả không nên cố chấp, phân biệt Tịnh Độ hay Thiền. V́ lẽ cả hai (Thiền, Tịnh Độ) đều đưa hành giả đến cảnh giới bát ngát của hạnh Phật Thừa.  

Tuy nhiên, Thiền đối với hạng hạ căn thật khó hành tŕ, bởi lẽ Thiền là nhiếp tất cả tâm trí vào cái thấy hiện tiền để trí tuệ quán chiếu và bao trùm tất cả trong một cái thấy toàn diện, nhất như. Lộ tŕnh này quả thật là khó khăn nên chỉ dành cho những bậc thượng căn, thượng trí, mới đủ khả năng tư duy quán niệm. Nhận thấy phần đông Phật tử đang trên đường tập tu nên pháp môn Tịnh Độ dễ dàng dung hợp với tất cả, mọi căn cơ đều có thể thực hành được. Hành giả, khi hành tŕ pháp môn Tịnh Độ đạt đến trạng thái nhất tâm bất loạn, ấy là Thiền rồi vậy.  

Bởi lẽ, Thiền hay Tịnh Độ đều đi đến mục đích chung là minh tâm kiến tánh. Phật tử phải nhận thức rằng: "Tiềm năng diệu dụng của công đức thụ tŕ kinh là bất tư ngh́". Có thể hiểu được ư chỉ thâm diệu này th́ lúc tŕ kinh Vô Lượng Thọ mới cảm nhận được 48 đại nguyện hóa độ chúng sanh nhập cảnh giới an vui giải thoát của Ngài Tỷ Khưu Pháp Tạng mà đấng Thế Tôn đă thuyết giáo và chúc lũy cho các chúng Bồ Tát, Duyên Giác và Thanh Văn tại núi Kỳ Xà Quật thuộc thành Vương Xá thật là vô cùng diệu dụng.  

Kinh Vô Lượng Thọ gồm có 4 phần chính yếu như sau: 

1) Do cơ duyên Đại Giác khởi lên và chư Cổ Phật xuất hiện nơi núi Kỳ Xà Quật. Đức Phật nhân đó, thuyết Kinh Vô Lượng Thọ. 

2) Nhân duyên Ngài Tỉ Khưu Pháp Tạng phát 48 đại nguyện trước đấng Thế Tôn và nhờ công đức tu tập thù thắng, đức hạnh thâm mật Ngài thành tựu Pháp thân hiệu A Di Đà, thể hiện cảnh giới như tâm nguyện và ngự trị cơi nước tên là Cực Lạc ở phương Tây. 

3) Cảnh giới trang nghiêm thanh tịnh của cơi nước Cực Lạc gồm: Quang minh vô lượng, Thọ mệnh vô lượng và Thánh chúng vô lượng, cộng vào đó là đường sá, lầu gác, ao Thất Bảo, lại đủ các loại chim tiếng hót trong trẻo, cỏ hoa tươi nhuận, phô bày muôn sắc, phảng phất hương thơm. Lại có, từ những cánh sen hồng tự nhiên thai sanh thánh chúng, diện mạo sáng ngời, đoan chính mà nhật nguyệt không thể sánh bằng. Lại có, y phục tốt, thức ăn sang, tự nhiên hóa thành do tâm niệm. Tất cả đều sang trọng quư báu vô cùng. 

4) Những duyên khởi mầu nhiệm của trí tuệ trong cơi nước Cực Lạc và công đức tu tập tinh tấn đem lại lợi ích giải thoát tuyệt vời cho hành giả chân chính nhuần nhuyễn tŕ tụng, quán xét minh mẫn và tâm không c̣n ô nhiễm. 

Tôi nhận thấy kinh Vô Lượng Thọ có nhiều nghĩa lư thâm diệu, triển khai trí tuệ quang minh và công đức tŕ tụng kinh nầy thật là diệu dụng, xuất phát từ bản tâm thanh tịnh. Cũng bởi giá trị cao thâm đó, tôi đă tha thiết trong việc lưu truyền nên thành tâm phiên dịch bản kinh này từ Nho văn của ngài Khang Tăng Khải đời Tào Ngụy ra Việt ngữ để quư Phật tử thường tụng hàng ngày hoặc trong các khóa lễ cầu siêu. 

Dịch kinh này, chúng tôi chỉ có một tâm nguyện mong mọi người dứt bỏ tà kiến, mê chấp, xem các pháp là như huyễn như hóa, đồng thời cùng nhau tinh tiến thực hành thiện pháp ngơ hầu đem lại lợi lạc an vui giải thoát cho kẻ c̣n, người mất. 

                                    Nam mô A Di Đà Phật.

                                    Tác đại chứng minh. 

Sài Thành, Mùa hạ năm Canh Tuất 1970.

Sa môn Thích Tuệ Đăng cẩn chí. 

 

 

LỜI BẠT

 

Sống giữa hệ lụy trần gian đầy dẫy ma chướng; giáo lư của đấng Thế Tôn vẫn đủ khả năng thù thắng siêu việt; bạt nghiệp chướng xóa phiền năo trong đời sống của người thành tâm cầu đạo giải thoát. Giáo lư măi măi vẫn là nguồn năng lực phấn đấu, sinh động tiềm tàng trong bốn mươi tám ngàn pháp môn. Trong Tam Tạng kinh điển, châu liên ngọc kết; nâng nhẹ những tâm hồn, khai sáng những trí tuệ ở hầu hết các tŕnh độ, giai cấp dân gian chỉ có pháp môn Tịnh Độ là được phổ cập nhất. 

Kinh điển căn bản kết tập lời châu ngọc của đấng Thế Tôn đầy đủ nghĩa lư chân thật khiến tâm thức con người đạt tới cảnh giới trang nghiêm, thanh tịnh, thấy cơi Phật sinh động hữu t́nh trước mắt mà khởi sinh trí tuệ từ bi chính là kinh Vô Lượng Thọ. 

Lời châu ngọc Thế Tôn chúc lũy cho chúng sinh ở thời kỳ mạt pháp trong kinh Vô Lượng Thọ đă diễn đạt công năng tu tập của Ngài Tỷ Khưu Pháp Tạng (chính là hiện thân của Đức Phật A Di Đà với 48 đại nguyện hóa độ chúng sinh vào những cảnh giới an vui, giải thoát; đă thể hiện thật rơ ràng chất nhân bản vượt thoát sự vây bủa của các ngẫu kiện phi lư, gột sạch ái nhiễm trần cấu bằng tâm thanh tịnh và trí quán xét minh mẫn nhằm hướng dẫn tâm thức tham đắm mộng huyễn trở về bản chân thanh tịnh, phá lưới vô minh và thực hiện cảnh giới như tâm nguyện. 

V́ lợi ích diệu dụng của kinh Vô Lượng Thọ đối với người Phật tử chân chính trong cuộc sống hiện tại. Ḥa Thượng Thích Tuệ Đăng đă tận tâm phiên dịch từ bản Nho văn của ngài Khang Tăng Khải ra Việt ngữ, nhằm triển khai nghĩa lư vi diệu, duyên khởi trí tuệ quang minh và đức hạnh thâm mật cho hành giả trong việc tŕ tụng kinh này. 

Tôi nhận thấy sự hoan hỷ lạ lùng phấn chấn trong tâm hồn ḿnh sau khi đọc toàn bộ kinh Vô Lượng Thọ mà Ḥa Thượng đă trao cho tôi (niềm giao cảm thanh thoát này có chăng là do sự cố gắng chuyển ngữ của Ḥa Thượng) v́ không có phương tiện ấn tống (hành) nên Ḥa Thượng đă yêu cầu tôi phổ biến đến quảng đại Phật tử, nhằm khuyến hóa sự tu dưỡng tâm thức và bổ sung kinh điển trong phương trượng của thập phương đáp ứng như cầu hoằng pháp trong hoàn cảnh hiện tại. 

Tôi mong cầu và hy vọng quư vị cũng sẽ phát tâm khuyến hóa góp phần công đức ấn tống và phổ biến kinh Vô Lượng Thọ, khai thông sâu rộng hơn nguồn nước Từ Bi đến những tâm hồn khao khát cuối cùng. 

                                    Nam mô A Di Đà Phật.

                                    Tác đại chứng minh.

 

Sa môn Thích Minh Phát.

 

 

 

NGHI THỨC LỄ TỤNG

 

 

LỄ TAM BẢO

(cung kính) 

Nhất tâm đảnh lễ Tam Bảo thường trụ khắp Pháp giới mười phuơng. (3 lễ) 

 

NGUYỆN HƯƠNG

(quỳ chấp tay đọc)

 

            Nguyện hương này như mây,

            Bay tỏa khắp mười phương.

            Trong vô biên cơi Phật,

            Hóa vô số diệu hương.

            Năm thứ hương thơm ngát,

            Trang nghiêm để cúng dường.

            Trọn đủ Bồ Tát Đạo,

            Thành tựu Như Lai hương. 

Nhất tâm đảnh lễ Tam Bảo thường trụ khắp Pháp giới mười phương. (1 lễ)

 

 

TÁN PHẬT

(đứng chấp tay đọc)

 

            Sắc thân Như Lai đẹp,

            Thế gian không ai bằng.

            Chẳng sánh, chẳng nghĩ bàn,

            Nên nay con đảnh lễ.

            Tướng Phật đẹp vô cùng,

            Trí tuệ Phật cũng thế.

            Tất cả Pháp thường trụ,

            V́ thế con quy y.

            Trí lớn nguyện lực lớn,

            Độ khắp cả quần sanh.

            Khiến bỏ thân nóng khổ,

            Sinh sang nước mát vui.

            Nay con sạch ba nghiệp,

            Quy y và lễ tán.

            Nguyện con cùng chúng sanh,

            Đồng sanh về Tịnh Độ.

 

            Úm phạ nhật ra vật. (3 lần)

 

 

CỬU BÁI TÂY PHƯƠNG

(vừa lễ vừa đọc)

 

- Nhất tâm đảnh lễ:   

            Thường tịch quang Tịnh Độ,

            A Di Đà Như Lai,

            Pháp thân mầu thanh tịnh,

            Khắp pháp giới chư Phật. 

- Nhất tâm đảnh lễ:  

            Thật báo trang nghiêm độ,

            A Di Đà Như Lai,

            Thân tướng hải vi trần,

            Khắp pháp giới chư Phật. 

- Nhất tâm đảnh lễ: 

            Phương tiện thánh cư độ,

            A Di Đà Như Lai,

            Thân trang nghiêm giải thoát,

            Khắp pháp giới chư Phật. 

- Nhất tâm đảnh lễ: 

            Cơi An Lạc phương Tây,

            A Di Đà Như Lai,

            Thân căn giới Đại Thừa,

            Khắp pháp giới chư Phật. 

- Nhất tâm đảnh lễ: 

            Cơi An Lạc phương Tây,

            A Di Đà Như Lai,

            Thân hóa đến mười phương,

            Khắp pháp giới chư Phật. 

- Nhất tâm đảnh lễ: 

            Cơi An Lạc phương Tây,

            Giáo hạnh lư ba kinh,

            Tột nói bày y chánh,

            Khắp pháp giới Tôn Pháp. 

- Nhất tâm đảnh lễ: 

            Cơi An Lạc phương Tây,

            Quán Thế Âm Bồ Tát,

            Thân tử kim muôn ức,

            Khắp pháp giới Bồ Tát. 

- Nhất tâm đảnh lễ: 

            Cơi An Lạc phương Tây,

            Đại Thế Chí Bồ Tát,

            Thân trí sáng vô biên,

            Khắp pháp giới Bồ Tát. 

- Nhất tâm đảnh lễ: 

            Cơi An Lạc phương Tây,

            Thanh tịnh đại hải chúng,

            Thân hai nghiêm: Phước, Trí,

            Khắp pháp giới Thánh chúng. 

Con nay khắp v́ bốn ơn ba cơi cùng chúng sanh trong pháp giới đều nguyện dứt trừ ba chướng nên qui mạng sám hối. (1 lễ)  

 

CHÍ TÂM SÁM HỐI (quỳ chấp tay đọc)

 

Đệ tử  ... và chúng sanh trong pháp giới, từ đời vô thủy đến nay, bị vô minh che đậy nên điên đảo mê lầm. Lại do sáu căn ba nghiệp, quen theo pháp chẳng lành, rộng phạm mười điều dữ cùng năm tội vô gián và tất cả các tội khác, nhiều vô lượng vô biên, nói không thể hết. Mười phương các Đức Phật thường ở trong đời, tiếng pháp không dứt, hương mầu đầy khắp, pháp vị ngập tràn, buông ánh sáng sạch, soi thấu tất cả. Lư mầu thường trụ, đầy dẫy hư không. 

Con từ vô thủy đến nay, sáu căn che mù, ba nghiệp tối tăm, chẳng thấy, chẳng nghe, chẳng hay chẳng biết. V́ nhân duyên đó trôi măi trong ṿng sanh tử, trải qua các đường dữ  trăm ngàn muôn kiếp, không lúc nào ra khỏi. Trong kinh nói rằng: Đức Tỳ Lô Giá Na, hiện thân khắp cả chỗ, chỗ của Đức Phật ở, gọi là Thường Tịch Quang; cho nên phải biết cả thảy các pháp đều là Phật pháp, mà con không rơ lại theo gịng vô minh; v́ thế trong trí Bồ Đề mà thấy không thanh tịnh, trong cảnh giải thoát mà sanh ràng buộc. Nay mới tỏ ngộ, nay mới chừa bỏ ăn năn, phụng đối trước các Đức Phật và Đức A Di Đà Thế Tôn mà phát lồ sám hối làm cho đệ tử cùng pháp giới chúng sanh, tất cả tội nặng do ba nghiệp sáu căn, gây tạo từ đời vô thủy, hoặc đời hiện tại, hay đời vị lai ; hoặc chính ḿnh gây tạo hoặc biểu người, hay là thấy nghe người gây tạo mà vui theo; hoặc nhớ, hoặc chẳng nhớ; hoặc biết, hoặc chẳng biết; hoặc nghi, hoặc chẳng nghi; hoặc che giấu, hoặc chẳng che giấu; thảy đều được rốt ráo thanh tịnh. 

Đệ tử sám hối rồi, sáu căn cùng ba nghiệp trong sạch, không lỗi lầm, căn lành tu tập cũng trọn thanh tịnh, thảy đều hồi hướng dùng trang nghiêm Tịnh Độ khắp cùng chúng sanh, đồng sanh về nước Cực Lạc. 

Nguyện xin Đức Phật A Di Đà, thường đến hộ tŕ, làm cho căn lành của đệ tử hiện tiền thêm lên, chẳng mất nhân duyên Tịnh Độ, đến giờ lâm chung, thân an niệm chánh, xem nghe đều rơ ràng, tận mặt thấy đức A Di Đà cùng các Thánh chúng, tay cầm đài hoa, tiếp dẫn đệ tử, trong khoảng sát na sanh ra trước Phật, đủ đạo hạnh Bồ Tát, rộng độ khắp chúng sanh, đồng thành Phật đạo. (vừa lễ vừa đọc) 

Đệ tử sám hối phát nguyện rồi, qui mạng đảnh lễ:

Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới, Đại Từ Đại Bi, A Di Đà Như Lai, Biến Pháp Giới Tam Bảo. (1 lễ) 

 

TÁN HƯƠNG (ngồi kiết già tụng) 

            Lư hương vừa bén chiên đàn,

            Khắp xông pháp giới đạo tràng mười phương.

            Hiện thành mây báu cát tường,

            Chư Phật thấy biết ngọn hương chí thiềng.

            Pháp thân toàn thể hiện tiền,

            Chứng minh hương nguyện phúc liền ban cho.

            Nam mô Hương Vân Cái Bồ Tát Ma Ha Tát. (3 lần) 

 

CHƠN NGÔN TỊNH KHẨU NGHIỆP 

Tu rị tu rị, ma ha tu rị, tu tu rị, ta bà ha. (3 lần)

 

CHƠN NGÔN TỊNH THÂN NGHIỆP 

Tu đa lị, tu đa lị, tu ma lị, ta bà ha. (3 lần)

 

CHƠN NGÔN TỊNH TAM NGHIỆP 

Án, ta phạ bà phạ, truật đà ta phạ, đạt mạ ta phạ, bà phạ truật độ hám. (3 lần)

 

CHƠN NGÔN TỊNH THỔ ĐỊA 

Nam mô tam măn đá một đà nẫm, án, độ rô độ rô, địa vĩ tát bà ha. (3 lần)

 

CHƠN NGÔN PHỔ CÚNG DƯỜNG 

Án, nga nga nẵng, tam bà phạ, phiệt nhật ra hồng. (3 lần) 

 

KỆ KHAI KINH

 

            Pháp Phật cao siêu rất nhiệm mầu,

            Ngh́n muôn ức kiếp dễ hay đâu.

            Con nay nghe thấy, xin tŕ tụng,

            Nguyện tỏ Như Lai nghĩa thật sâu.

 

            Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. (3 lần)  

 

QUYỂN THƯỢNG

 

Tôi nghe như vầy: Một thời, Đức Phật trụ trong núi Kỳ Xà Quật thuộc thành Vương Xá, cùng với một vạn hai ngàn vị đại Tỉ Khưu. Những vị đó đều là bậc đại Thánh đă đạt được phép thần thông. Các vị ấy tên là: tôn giả Liễu Bản Tế, tôn giả Chính Nguyện, tôn giả Chính Ngữ, tôn giả Đại Hiệu, tôn giả Nhân Hiền, tôn giả Ly Cấu, tôn giả Danh Văn, tôn giả Thiện Thật, tôn giả Cụ Túc, tôn giả Ngưu Vương, tôn giả Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp, tôn giả Già Da Ca Diếp, tôn giả Na Đề Ca Diếp, tôn giả Ma Ha Ca Diếp, tôn giả Xá Lợi Phất, tôn giả Đại Mục Kiền Liên, tôn giả Kiếp Tân Na, tôn giả Đại Trụ, tôn giả Đại Tịnh Chí, tôn giả Ma Ha Chu Na, tôn giả Măn Nguyện Tử, tôn giả Ly Chướng, tôn giả Lưu Quán, tôn giả Kiên Phục, tôn giả Diện Vương, tôn giả Dị Thừa, tôn giả Nhân Tính, tôn giả Gia Lạc, tôn giả Thiện Lai, tôn giả La Vân, tôn giả A Nan. Các vị trên đây đều là những bậc Thượng Thủ.

Lại cùng với các chúng đại thượng Bồ Tát trong kiếp hiện tại là: Phổ Hiền Bồ Tát, Diệu Đức Bồ Tát, Từ Thị Bồ Tát. Lại có mười sáu vị chính sĩ thuộc nhóm tại gia Bồ Tát là: Thiện Tư Nghị Bồ Tát, Tín Tuệ Bồ Tát, Không Vô Bồ Tát, Thần Thông Hoa Bồ Tát, Quang Anh Bồ Tát, Tuệ Thượng Bồ Tát, Trí Tràng Bồ Tát, Tịch Căn Bồ Tát, Nguyện Tuệ Bồ Tát, Hương Tượng Bồ Tát, Bảo Anh Bồ Tát, Trung Trụ Bồ Tát, Chế Hạnh Bồ Tát, Giải Thoát Bồ Tát, tất cả đều tuân theo giới đức của ngài Đại Sĩ Phổ Hiền.

Đức Phật có vô lượng hạnh nguyện của các Bồ Tát, an trụ vào các pháp, công đức trọn đầy, rồi dạo bước khắp mười phương, tùy theo phương tiện cứu độ chúng sanh, khiến cho tất cả qua khỏi đường sinh tử, vào được Pháp Tạng của chư Phật.

Lại nguyện ở trong vô lượng thế giới hiện thành Phật quả. Bấy giờ, ngài ở cung trời Đâu Suất, v́ muốn nói rộng chính pháp, nên từ cung trời ấy, giáng thần vào thai mẹ. Từ nách bên phải sinh ra, rồi đứng dậy hiện ra đi bảy bước; hào quang rực rỡ chiếu khắp mười phương, vô lượng cơi Phật, chấn động sáu cách. Trong giờ phút thiêng liêng này, một tay chỉ lên Trời, một tay chỉ xuống đất, Ngài cất tiếng tự xưng rằng: "Ta sẽ là Phật trên hết trong đời". Lúc ấy, hai vị vua Đế Thích và Phạm Thiên đến hầu khiến cả Trời và Người đều cung kính tin theo.

Ngài lại hiện ra học đủ các nghề: thi văn, lư, toán, bắn cung, cỡi ngựa; tập riêng thêm các môn vơ thuật, đọc hết những pho sách sử. Có lần Ngài ung dung dạo bước vườn sau, diễn vơ thi tài. Ngài lại biến hiện ra cung điện cực kỳ lộng lẫy, trong đó có sắc đẹp diễm kiều cùng cao lương mỹ vị. Lại một hôm, Ngài ra chơi ngoại thành, nh́n thấy người già, người bệnh, người chết; nh́n thấy cảnh tượng đó, Ngài nhận biết được cơi đời là vô thường, nên quyết ĺa ngôi báu, thần dân, quyến thuộc, tiền của, quyền quư cao sang, vào núi học đạo. Ngài cởi bỏ áo ngọc mũ châu quư báu, mặc áo nhà tu, cạo bỏ râu tóc, ngồi dưới gốc cây, siêng tu khổ hạnh, suốt sáu năm trường, y theo chính đạo, thực hành thiện pháp. Ngài lại hiện ra trong cơi đời ngũ trọc, thuận theo chúng sinh, cấu trần ô nhiễm tắm gội ở sông Ni Liên. Bấy giờ, chư Thiên giữ cành cây, Ngài vin lấy cành mà ra khỏi ao, liền có loài chim thiêng theo hầu Ngài tới nơi đạo tràng. Điềm lành cảm nghiệm, nêu rơ công phúc, thương nhận cỏ cúng dường, trải dưới cây Bồ Đề, ngồi xếp hai bàn chân lên đùi, nhập thiền định, phóng ra hào quang sáng lớn, khiến Ma Vương biết được, chúng liền kéo cả họ hàng, bè lũ đến mà thử thách tâm ư của Ngài. Ngài dùng trí lực giải trị, khiến chúng phải kinh sợ hàng phục. Chính nơi cội Bồ Đề đạo tràng, Ngài chứng ngộ thành bậc Đại Giác.

Bấy giờ, vua Đế Thích và Phạm Vương thỉnh cầu Ngài chuyển Pháp Luân. Ngài chấp nhận rồi rời đạo tràng, du phương thuyết pháp, đánh trống pháp, thổi loa pháp, cầm gươm pháp, dựng cờ pháp, dậy sấm pháp, lóe chớp pháp, tưới mưa pháp, nói thí pháp và thường đem tiếng pháp cảnh tỉnh thế gian. Ngài phóng hào quang soi khắp vô lượng cơi Phật. Tất cả các thế giới chấn động sáu cách, thâu tóm cả cơi ma, làm rung động cung điện của Ma Vương, khiến chúng Ma Vương sợ hăi đều quy phục cả. Ngài xé rách các lưới tà, tiêu diệt mọi thành kiến, đánh tan những phiền năo, lấp đầy mọi vực sâu ái dục, gạn sạch tâm ư, giữ trọn pháp thân, khai nguồn trí tuệ, rửa sạch tâm nhơ xấu, làm sáng đức thanh tịnh, truyền bá chính giáo, hóa độ chúng sinh, khiến tất cả đều được thấm nhuần công đức, phước báu lợi lạc.

Ngài lại đem pháp dược mầu nhiệm cứu chữa ba nỗi khổ của chúng sinh: một là làm việc cực nhọc sinh khổ, hai là hết vui đến buồn sinh khổ, ba là các pháp vô thường sinh khổ. Ngài lại hiển hiện vô lượng công đức, thọ kư cho các Bồ Tát thành bậc Chánh Đẳng Chánh Giác. Lại hiện ra cảnh giới sinh tử, hầu cứu chúng sinh diệt trừ phiền năo, vun trồng cội phúc, trọn đủ công đức, mầu nhiệm vô cùng.

Ngài lại đến các nước Phật, hiển bày giáo pháp bằng các việc đă tu hành, trong sạch không nhơ nhuốm. Ví như nhà huyễn thuật đă học tập thông suốt, rồi tùy theo ư muốn hiện ra các tướng lạ như: hiện làm đàn ông, hiện làm đàn bà v.v... không ǵ không hiện được.

Các vị Bồ Tát ở đây cũng giống như thế, các ngài học hết các pháp, quán thông kinh điển, thâu tóm sự lư, xét cùng nghĩa nhiệm, thấy biết xác thực. Rồi ở trong vô số cơi Phật đều hiện ra trọn đủ các pháp như thế, chỉ dẫn cho mười phương chúng sinh, vô lượng chúng sinh đều cùng hộ niệm. Cảnh giới chư Phật an trụ, Bồ Tát đều trụ trong đó; đại Thánh tọa nơi nào, đều có Bồ Tát tọa nơi đó. Giáo pháp của đức Như Lai thuyết giảng Bồ Tát đều tuyên dương một cách rốt ráo, là bậc Đại Sư cho các hàng Bồ Tát, các Ngài đem thiền định, trí tuệ thâm diệu chỉ bày cho chúng sinh đời mạt pháp thông hiểu các pháp tính, thấy rơ các pháp tướng và thấu suốt các cơi để cúng dường chư Phật. Lại hóa hiện thân h́nh lẹ như chớp nhoáng, biến hiện lưới vô úy, hiểu suốt mọi pháp huyễn hóa, xé rách lưới ma, cởi mọi ràng buộc; vượt qua địa vị Thanh Văn, Duyên Giác, được phép Tam Muội: Không, Vô Tướng, Vô Nguyện. Các ngài khéo lập phương tiện, chỉ rơ ba thừa: Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát. Sau khi giáo hóa đă xong, không c̣n sở hữu, các Ngài lại hiện ra có sanh tử, chứ thực ra các pháp cũng không vật ǵ thấy có, chẳng sanh, chẳng diệt, tất cả đều b́nh đẳng, thành diệu pháp vô lượng tổng tŕ bách thiên tam muội. Các căn trí tuệ, yên lặng vô cùng, vào sâu tới pháp tạng của Bồ Tát, được pháp Hoa Nghiêm Tam Muội của Phật, tuyên dương giảng nghĩa hết thảy kinh điển mà vẫn trụ vào pháp định sâu xa mầu nhiệm, thấy tất cả chư Phật hiện tại, trong một giây phút hiện ra khắp nơi, cứu giúp muôn loài, chịu nhiều khổ năo, phân biệt chỉ rơ chân thật, được trí biện tài của các đức Như Lai, rồi thể nhập tiếng nói của chúng sanh, khai hóa cho hết thảy, vượt qua các pháp sở hữu của thế gian, kiên tâm giữ đạo cứu đời. Đối với hết thảy chúng sanh, các Ngài tùy ư tự tại, lấy việc cứu giúp chúng sanh làm trách nhiệm nặng nề, giữ ǵn pháp tạng của chư Phật khiến cho thường c̣n chẳng mất. Lại khởi ḷng đại bi thương xót chúng sinh, diễn lời đại từ, trao con mắt Pháp, ngăn ba chốn dữ, mở cửa Bồ Đề, lại đem pháp không ai cầu thỉnh mà thí hóa cho chúng dân như người con trọn hiếu, kính thương cha mẹ, đối với chúng sanh như đối với chính ḿnh. Các Ngài đă gây mọi nhân lành, qua khỏi đường sanh tử, được vô lượng công đức của chư Phật. Trí tuệ sáng suốt của các Ngài cũng không thể nghĩ bàn. Các vị Bồ Tát Đại Sĩ như thế, không thể kể sao cho xiết, cùng một lúc tới dự hội.

Bấy giờ, Đức Thế Tôn thân căn vui đẹp, dáng điệu nghiêm tịnh, sắc mặt hồng sáng. Tôn giả A Nan thấy vậy, liền từ ṭa ngồi đứng dậy, trễ vai áo bên phải, quỳ gối chắp tay, bạch Phật rằng:

- Bạch Đức Thế Tôn! Hôm nay Đức Thế Tôn thân căn vui đẹp, thân tướng nghiêm tịnh, sắc mặt hồng sáng, như tấm gương trong sạch, sáng suốt trong ngoài, oai dũng rơ rệt, tướng tốt tuyệt vời, chưa từng thấy có. Kính bạch Đức Đại Thánh! Ḷng con nghĩ rằng: Hôm nay có lẽ Đức Thế Tôn trụ vào nơi pháp kỳ diệu! Hôm nay Đức Thế Hùng trụ vào chốn chư Phật trụ! Hôm nay Đức Thế Nhăn trụ vào hạnh của đấng Đạo Sư! Hôm nay Đức Thế Anh trụ vào đạo tối thắng! Hôm nay Đức Thiên Tôn hành theo đức của Đức Như Lai! Chư Phật ba đời: quá khứ, hiện tại, vị lai đă cùng một ư nghĩ độ sinh. Phải chăng hôm nay Đức Như Lai đang tư duy chư Phật tư duy chăng? V́ sao oai thần của Ngài chói sáng như vậy?

Bấy giờ, Đức Thế Tôn bảo Ngài A Nan rằng:

- A Nan! Có phải chư Thiên nhờ ông đến hỏi ta hay tự ông khởi ư hỏi việc đó?

A Nan bạch Phật rằng:

- Bạch Đấng Đại Bi Thế Tôn! Không phải chư Thiên đến nhờ con, chính tự bản thân con thấy biết mà hỏi việc đó.

Phật dạy rằng:

- Hay thay! Hay thay! A Nan, những điều ông hỏi thật là sâu xa! Như Lai đem ḷng đại bi vô tận, thương xót chúng sanh trong ba cơi nên mới thị hiện ra đời, khai sáng đạo giáo, để cứu vớt quần sinh khiến cho họ được nhiều lợi ích chân thật. Như Lai vô lượng ức kiếp khó gặp, khó thấy, cũng như hoa Ưu Đàm trải qua bao kiếp mới trổ một lần. Nay những điều ông hỏi có lợi ích khai hóa cho tất cả chư Thiên, nhân loại.

A Nan! Nên biết, Như Lai là bậc Chánh Giác, trí tuệ không thể suy lường thường khuyên dẫn và chế ngự tâm người, không ǵ ngăn ngại. Như Lai dùng sức một bữa ăn mà thọ mệnh được trăm ngàn vạn kiếp, vô số vô lượng c̣n hơn ở đây nhiều. Lại nữa, Như Lai thân căn vui đẹp, dáng điệu nghiêm tịnh, khuôn mặt hồng sáng. V́ sao vậy? V́ thiền định, trí tuệ của Như Lai sáng suốt vô cùng, tất cả các Pháp Như Lai đều được viên dung vô ngại.

A Nan, hăy nghe cho kỹ, bây giờ ta nói cho ông nghe.

A Nan bạch rằng:

- Vâng, con mong muốn được nghe.

Đức Phật bảo A Nan rằng:

- Về đời xưa kia, cách nay rất lâu xa, không thể tính bàn được là bao nhiêu kiếp, có Đức Đĩnh Quang Như Lai thị hiện ra đời, giáo hóa độ thoát vô lượng chúng sanh đều được đạo quả, rồi Ngài mới diệt độ. Thứ đến, có Đức Như Lai tên là Quang Viễn, thứ đến tên là Nguyệt Quang, thứ đến tên là Chiên Đàn Hương, thứ đến tên là Thiện Sơn Vương, thứ đến tên là Tu Di Thiên Quán, thứ đến tên là Tu Di Đẳng Diệu, thứ đến tên là Nguyệt Sắc, thứ đến tên là Chính Niệm, thứ đến tên là Ly Cấu, thứ đến tên là Vô Trước, thứ đến tên là Long Thiên, thứ đến tên là Dạ Quang, thứ đến tên là An Minh Đỉnh, thứ đến tên là Bất Động Địa, thứ đến tên là Lưu Ly Diệu Hoa, thứ đến tên là Lưu Ly Kim Sắc, thứ đến tên là Kim Tạng, thứ đến tên là Viêm Quang, thứ đến tên là Viêm Căn, thứ đến tên là Địa Chủng, thứ đến tên là Nguyệt Tượng, thứ đến tên là Nhật Âm, thứ đến tên là Giải Thoát Hoa, thứ đến tên là Trang Nghiêm Quang Minh, thứ đến tên là Hải Giác Thần Thông, thứ đến tên là Thủy Quang, thứ đến tên là Đại Hương, thứ đến tên là Ly Trần Cấu, thứ đến tên là Xả Yếm Ư, thứ đến tên là Bảo Viêm, thứ đến tên là Diệu Đỉnh, thứ đến tên là Dũng Lập, thứ đến tên là Công Đức Trí Tuệ, thứ đến tên là Tế Nhật Nguyệt Quang, thứ đến tên là Nhật Nguyệt Lưu Ly Quang, thứ đến tên là Vô Thượng Lưu Ly Quang, thứ đến tên là Tối Thượng Thủ, thứ đến tên là Bồ Đề Hoa, thứ đến tên là Nguyệt Minh, thứ đến tên là Nhật Quang, thứ đến tên là Hoa Sắc Vương, thứ đến tên là Thủy Nguyệt Quang, thứ đến tên là Trừ Si Minh, thứ đến tên là Độ Cái Hạnh, thứ đến tên là Tịnh Tín, thứ đến tên là Thiện Túc, thứ đến tên là Uy Thần, thứ đến tên là Pháp Tuệ, thứ đến tên là Loan Âm, thứ đến tên là Sư Tử Âm, thứ đến tên là Long Âm, thứ đến tên là Xử Thế. Các Đức Phật trên đây đều đă qua đời hết.

Sau đó, lại có Đức Phật tên Thế Tự Tại Vương, Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn.

Lúc ấy, có vị Quốc Vương nghe Phật thuyết pháp, sinh ḷng vui vẻ, liền phát tâm Vô Thượng Bồ Đề, ĺa cơi nước, bỏ ngôi vua, xuất gia làm Sa Môn, hiệu là Pháp Tạng, tài cao, trí dũng khác đời. Ngài Pháp Tạng đến chỗ Đức Thế Tự Tại Vương Như Lai, cúi đầu lễ dưới chân Phật, đi quanh theo phía bên phải ba ṿng, rồi quỳ gối chắp tay và khen ngợi rằng:

 

            Khuôn mặt hồng sáng chói,

            Oai đức tỏ vô cùng.

            Khỏa lấp cả không trung,

            Mặt trời không sánh nổi.

            Mặt trăng, ma ni châu,

            Cũng trở nên mờ tối.

            Cao giọng nói chánh pháp,

            Vang khắp cả mười phương.

            Giới, văn đều tinh tiến,

            Trí tuệ cũng không lường.

            Uy đức dũng mănh nhất,

            Trong đời ít ai bằng.

            Biển pháp của chư Phật,

            Sâu rộng mầu nhiệm thay!

            Đem trí thật suy xét,

            T́m thấy rơ cội nguồn.

            Vô minh và dục vọng,

            Thế Tôn ĺa tất cả.

            Bậc Sư Tử Nhân Hùng,

            Thần đức không thể lường.

            Trí tuệ rất cao thâm,

            Công huân thật rộng lớn.

            Oai tướng sáng hơn trăng,

            Chấn động cơi đại thiên.

            Con nguyện khi làm Phật,

            Lên ngôi Thánh Pháp Vương.

            Dứt hẳn đường sanh tử,

            Đến bên bờ giải thoát.

            Sáu phép là Bố Thí,

            Tŕ Giới và Nhẫn Nhục.

            Tinh tiến đến Thiền Định,

            Trí Tuệ là bậc nhất.

            Con thề khi thành Phật,

            Làm hết những nguyện này.

            Tất cả điều sợ hăi,

            Biến thành niềm an vui.

            Giả như có chư Phật,

            Trăm ngàn muôn ức triệu.

            Cùng các bậc đại Thánh,

            Nhiều như cát sông Hằng.

            Cúng dường hết tất cả,

            Chư Phật đại Thánh đó.

            Cũng không bằng cầu đạo,

            Kiên tâm không thoái chuyển.

            Chí tinh tiến như thế,

            Oai thần khó lường đuợc.

            Con khi được thành Phật,

            Sửa sang cơi nước này.

            Như cơi Niết Bàn kia,

            Thế gian không thể sánh.

            Chúng sinh trong nước đó,

            Cũng tốt đẹp lạ thường.

            Con nay ḷng thương xót,

            Độ thoát cho tất cả.

            Các chúng sanh sau này,

            Ḷng mong cầu tinh tiến.

            Đă đến nước con rồi,

            Đều an lành vui vẻ.

            May được Phật tin rơ,

            Tâm thành thật của con.

            Phát nguyện về Tịnh Độ,

            Nhờ tinh tiến tu hành.

            Mười phương các Đức Phật,

            Trí tuệ rộng thấu suốt.

            Biết rơ tâm hạnh con,

            Dù thân có mỏi ṃn.

            Trong mọi nỗi khổ đau,

            Con vẫn gắng tu hành,

            Dù chết chẳng ăn năn.

 

Phật bảo: 

- A Nan! Tỉ Khưu Pháp Tạng nói lời khen ngợi xong, lại bạch Phật rằng:  

- Bạch Đức Thế Tôn con phát tâm Vô Thượng Chánh Giác cúi xin Đức Phật rộng nói kinh pháp cho con nghe, con sẽ tu hành cho chóng thành chính giác, dứt bỏ gốc nguồn khổ năo trong đường sinh tử, để giữ lấy cơi nước Phật thanh tịnh trang nghiêm và pháp tạng mầu nhiệm của chư Phật. 

Bấy giờ Đức Thế Tự Tại Vương bảo Tỉ Khưu Pháp Tạng rằng:  

- Chắc ông đă biết cách tu hành để trang nghiêm cơi Phật rồi chăng? 

Tỉ Khưu Pháp Tạng bạch Phật:  

- Nghĩa ấy sâu rộng không thể nghĩ bàn, không phải cảnh giới của con. Kính xin Thế Tôn rộng ḷng diễn giải hạnh nguyện về cảnh giới Tịnh Độ của chư Phật cho con nghe. Nghe rồi, con sẽ y theo thuyết đó tu hành cho hoàn thành sở nguyện. 

Khi ấy, Đức Phật Thế Tự Tại Vương biết ông là người cao minh có chí nguyện sâu rộng, liền nói kinh cho Tỉ Khưu Pháp Tạng nghe rằng:  

- Ví như người lấy đấu để lường biển cả, trải qua nhiều kiếp c̣n có thể lường tới đáy sâu, lấy được của báu. Huống chi, người dốc ḷng tinh tiến cầu đạo không mỏi mệt, ắt sẽ có kết quả, nguyện ǵ mà chẳng được.  

Đức Phật Thế Tự Tại Vương lại nói rộng ra hai trăm năm mươi ức cơi nước chư Phật, việc lành dữ của trời và người, sự tốt xấu của cơi nước ứng hợp với tâm nguyện cho ngài Tỉ khưu Pháp Tạng nghe. Khi Tỉ Khưu Pháp Tạng nghe Phật nói thấy rơ hết cơi nước trang nghiêm, thanh tịnh, liền khởi sinh ư nguyện thù thắng tuyệt vời; tâm Ngài vắng lặng, chí không vướng mắc, giữ ǵn hạnh thanh tịnh, trang nghiêm Phật độ đầy đủ trong năm kiếp mà tất cả thế gian không ai sánh bằng. 

A Nan bạch Phật rằng:  

- Đức Phật ở cơi nước kia thọ được bao nhiêu tuổi?  

Đức Phật dạy rằng:  

- Thọ mệnh của Đức Phật ấy được bốn mươi hai kiếp. 

Lúc ấy, Tỉ Khưu Pháp Tạng giữ lấy hạnh thanh tịnh trong hai trăm mười ức cơi nước mầu nhiệm của chư Phật. Sau khi chứng quả, Ngài đến chỗ Đức Phật Thế Tự Tại Vương dập đầu lễ dưới chân Phật, đi chung quanh Phật ba ṿng rồi đứng lại, chấp tay bạch Phật rằng:  

- Lạy đức Thế Tôn! Con đă giữ được hạnh thanh tịnh để trang nghiêm cơi Phật rồi!  

Đức Phật bảo Tỉ Khưu Pháp Tạng rằng:  

- Ông nên biết bây giờ là lúc ông có thể nói ra cho tất cả đại chúng được sinh ḷng vui vẻ. Các vị Bồ Tát nghe nói rồi tu hành theo phép ấy, thành tựu vô số các điều nguyện lớn. 

Tỉ Khưu Pháp Tạng bạch Phật rằng:  

- Kính xin Đức Thế Tôn rủ ḷng thương xét cho các điều nguyện lớn của con sau đây: 

Điều nguyện thứ nhất: Nếu con được thành Phật mà trong cơi nước con c̣n có địa ngục, ngă quỷ, súc sinh th́ con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác. 

Điều nguyện thứ hai: Nếu con được thành Phật mà Trời, người trong cơi nước con sau khi thọ chung c̣n phải sa vào đường dữ th́ con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác. 

Điều nguyện thứ ba: Nếu con được thành Phật mà tất cả Trời, người trong cơi nước con thân không giống màu vàng y th́ con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác. 

Điều nguyện thứ tư: Nếu con được thành Phật mà tất cả Trời, người trong cơi nước con thân h́nh c̣n có kẻ đẹp, người xấu th́ con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác. 

Điều nguyện thứ năm: Nếu con được thành Phật mà Trời, người trong cơi nước con không biết rơ túc mệnh của ḿnh và những việc đă xảy ra trong trăm ngàn ức na do tha các cơi Phật th́ con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác. 

Điều nguyện thứ sáu: Nếu con được thành Phật mà Trời, người trong cơi nước con không được phép Thiên Nhăn, cho đến không thấy rơ trăm ngàn ức na do tha các cơi Phật th́ con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác. 

Điều nguyện thứ bảy: Nếu con được thành Phật mà Trời, người trong cơi nước con không được phép Thiên Nhĩ, không được nghe và thọ tŕ hết thảy lời thuyết pháp của trăm ngàn ức na do tha các Đức Phật th́ con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác. 

Điều nguyện thứ tám: Nếu con được thành Phật mà Trời, người trong cơi nước con không được thấy tâm trí kẻ khác, cho đến không biết rơ tâm niệm của hết thảy chúng sinh trong trăm ngàn ức na do tha các cơi Phật th́ con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác. 

Điều nguyện thứ chín: Nếu con được thành Phật mà Trời, người trong cơi nước con không được phép thần túc, trong một khoảng một niệm, cho đến không vượt qua được trăm ngàn ức na do tha các cơi Phật th́ con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác. 

Điều nguyện thứ mười: Nếu con được thành Phật mà Trời, người trong cơi nước con c̣n có ư niệm tham chấp thân h́nh th́ con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác. 

Điều nguyện thứ mười một: Nếu con được thành Phật mà Trời, người trong cơi nước con không trụ vào chính định và chứng quả Niết Bàn th́ con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác. 

Điều nguyện thứ mười hai: Nếu con được thành Phật mà ánh sáng c̣n có hạn lượng, không soi thấu được trăm ngàn ức na do tha các cơi Phật th́ con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác. 

Điều nguyện thứ mười ba: Nếu con được thành Phật mà thọ mệnh c̣n có hạn lượng, chỉ được trăm ngàn ức na do tha kiếp th́ con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác. 

Điều nguyện thứ mười bốn: Nếu con được thành Phật mà hàng Thanh Văn trong cơi nước con c̣n có thể tính đếm được và chúng sinh trong ba ngàn Đại Thiên thế giới ở trong trăm ngàn kiếp thành bậc Duyên Giác hết, rồi tính đếm mà biết được số đó là bao nhiêu th́ con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác. 

Điều nguyện thứ mười lăm: Nếu con được thành Phật mà Trời, người trong cơi nước con thọ mệnh c̣n có hạn lượng, trừ phi những bản nguyện riêng của họ muốn dài, ngắn đều được tự tại. Nếu không được như vậy th́ con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác. 

Điều nguyện thứ mười sáu: Nếu con được thành Phật mà Trời, người trong cơi nước con c̣n có ai nghe thấy tiếng chẳng lành th́ con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác. 

Điều nguyện thứ mười bảy: Nếu con được thành Phật mà vô lượng chư Phật ở mười phương thế giới không ngợi khen danh hiệu của con th́ con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác. 

Điều nguyện thứ mười tám: Nếu con được thành Phật mà chúng sinh trong mười phương dốc ḷng tin tưởng, muốn sinh về cơi nước con chỉ trong mười niệm, nếu không được toại nguyện th́ con chẳng trụ ở ngôi Chính Giác, trừ kẻ phạm năm tội nghịch và gièm chê chánh pháp. 

Điều nguyện thứ mười chín: Nếu con được thành Phật mà chúng sinh mười phương phát tâm Bồ Đề, tu các công đức, dốc ḷng phát nguyện, muốn sinh về cơi nước con, tới khi thọ chung mà con chẳng cùng đại chúng hiện ra chung quanh trước mặt người ấy th́ con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác. 

Điều nguyện thứ hai mươi: Nếu con được thành Phật mà chúng sinh trong mười phương nghe danh hiệu của con, để ḷng nhớ nghĩ đến nước con, tu trồng các công đức, dốc ḷng hồi hướng, cầu sinh về cơi nước con mà không được vừa ḷng th́ con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác. 

Điều nguyện thứ hai mươi mốt: Nếu con được thành Phật mà Trời, người trong cơi nước con chẳng được đầy đủ ba mươi hai tướng của bậc đại nhân th́ con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác. 

Điều nguyện thứ hai mươi hai: Nếu con được thành Phật, hết thảy chúng Bồ Tát ở cơi Phật phương khác sinh về cơi nước con, sau đó sẽ tới bậc Nhất Sinh Bổ Xứ, trừ bản nguyện riêng của mỗi vị tự tại hóa hiện, v́ thương xót chúng sanh mà rộng lớn, bền chắc như áo giáp, tu các công đức, độ thoát hết thảy, rồi qua khắp các cơi Phật, tu hạnh Bồ Tát và cúng dường mười phương chư Phật, khai hóa vô số chúng sanh khiến lập nên đạo Vô Thượng Chánh Giác. Chư vị vượt ngoài công hạnh, thông thường ở các địa vị mà tu tập theo hạnh nguyện của Đức Phổ Hiền. Nếu không được như thế th́ con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác. 

Điều nguyện thứ hai mươi ba: Nếu con được thành Phật mà các Bồ Tát trong cơi nước con, nương sức thần của Phật đi cúng dường các Đức Phật trong khoảng thời gian một bữa ăn mà không tới được vô số, vô lượng ức na do tha các cơi Phật th́ con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác. 

Điều nguyện thứ hai mươi bốn: Nếu con được thành Phật mà các Bồ Tát trong cơi nước con ở trước chư Phật hiện ra công đức, muốn có muôn vàn vật dụng để cúng dường. Nếu không được như ư th́ con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác. 

Điều nguyện thứ hai mươi lăm: Nếu con được thành Phật mà các Bồ Tát trong cơi nước con không diễn thuyết được Nhất Thiết Trí th́ con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác. 

Điều nguyện thứ hai mươi sáu: Nếu con được thành Phật, các Bồ Tát trong cơi nước con không được thân Kim Cương Na La Diên th́ con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác. 

Điều nguyện thứ hai mươi bảy: Nếu con được thành Phật mà Trời, người trong cơi nước cùng tất cả muôn vật không có h́nh sắc tốt đẹp, không thể tính lường, và hết thảy chúng sinh cho đến bậc đă được phép Thiên Nhăn mà không nói được rơ ràng danh số th́ con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác. 

Điều nguyện thứ hai mươi tám: Nếu con được thành Phật mà các Bồ Tát trong cơi nước con, cho đến kẻ có ít công đức nhất không thấy được ánh sáng muôn mầu của cây Bồ Đề cao bốn trăm vạn do tuần th́ con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác. 

Điều nguyện thứ hai mươi chín: Nếu con được thành Phật mà các Bồ Tát trong cơi nước con thụ tŕ, đọc tụng, giảng thuyết kinh pháp, mà không được trí tuệ biện tài th́ con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác. 

Điều nguyện thứ ba mươi: Nếu con được thành Phật mà trí tuệ biện tài của các Bồ Tát trong cơi nước con c̣n có hạn lượng th́ con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác. 

Điều nguyện thứ ba mươi mốt: Nếu con được thành Phật th́ cơi nước con thanh tịnh, soi thấy tất cả vô lượng, vô số thế giới chư Phật ở mười phương không thể nghĩ bàn, như tấm gương sáng thấy được h́nh dạng mặt mày của ḿnh. Nếu không được như vậy th́ con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác. 

Điều nguyện thứ ba mươi hai: Nếu con được thành Phật, trong cơi nước con, từ mặt đất đến hư không, cung điện, lâu đài, hồ ao, cây cỏ và muôn hoa đều được tạo nên bằng vô lượng của báu ḥa lẫn với ngàn thứ hương thơm. Tất cả đều xinh đẹp lạ lùng hơn cả cơi Trời và cơi người. Hương thơm của muôn vật tỏa ra ngào ngạt khắp mười phương thế giới. Bồ Tát ở các nơi ngửi hương thơm ấy đều tu theo hạnh của Phật. Nếu không được như thế th́ con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác. 

Điều nguyện thứ ba mươi ba: Nếu con được thành Phật, chúng sinh trong vô lượng thế giới chư Phật mười phương không thể nghĩ bàn, đều nhờ ánh quang minh của con chạm đến thân họ, khiến thân được nhẹ nhàng hơn cả Trời và người. Nếu không được như thế th́ con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác. 

Điều nguyện thứ ba mươi bốn: Nếu con được thành Phật mà chúng sinh trong vô lượng thế giới chư Phật mười phương không thể nghĩ bàn, nghe danh hiệu của con mà không được pháp Vô Sinh Pháp Nhẫn và các môn thâm tổng tŕ của bậc Bồ Tát th́ con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác. 

Điều nguyện thứ ba mươi lăm: Nếu con được thành Phật mà nữ nhân trong vô lượng thế giới chư Phật mười phương không thể nghĩ bàn, nghe danh hiệu con đều vui mừng, phát tâm Bồ Đề, chán ghét thân gái. Sau khi mệnh chung mà c̣n phải làm thân nữ nhân nữa th́ con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác. 

Điều nguyện thứ ba mươi sáu: Nếu con được thành Phật mà các Bồ Tát trong vô lượng thế giới chư Phật mười phương không thể nghĩ bàn, nghe danh hiệu con, sau khi thọ chung, thường tu phạm hạnh cho đến khi thành Phật. Nếu không được như thế th́ con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác. 

Điều nguyện thứ ba mươi bảy: Nếu con được thành Phật mà Trời và người trong cơi vô lượng thế giới chư Phật mười phương không thể nghĩ bàn, nghe danh hiệu con, cúi đầu đảnh lễ, năm vóc gieo xuống đất, vui mừng tu hạnh Bồ Tát, được hầu hết Trời và người kính trọng. Nếu không được như thế th́ con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác. 

Điều nguyện thứ ba mươi tám: Nếu con được thành Phật mà Trời và người trong cơi nước con muốn có y phục th́ y phục tốt đẹp tùy theo tâm niệm của họ tự nhiên hiện ra trên ḿnh họ. Nếu c̣n phải cắt may, nhuộm, giặt th́ con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác. 

Điều nguyện thứ ba mươi chín: Nếu con được thành Phật mà Trời và người trong cơi nước con không được sự hưởng thụ vui sướng bằng vị Tỉ Khưu đă dứt hết mọi phiền năo th́ con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác. 

Điều nguyện thứ bốn mươi: Nếu con được thành Phật mà các Bồ Tát trong cơi nước con tùy ư muốn thấy vô lượng thế giới trang nghiêm thanh tịnh của chư Phật ở mười phương đều được như nguyện. Chẳng hạn, nh́n trong cây báu thấy rơ hết cả như nh́n vào tấm gương sáng thấy rơ nhân diện. Nếu không được như thế th́ con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác. 

Điều nguyện thứ bốn mươi mốt: Nếu con được thành Phật mà các chúng Bồ Tát ở thế giới khác nghe danh hiệu con, từ đó đến khi thành Phật mà các sắc căn c̣n thiếu kém th́ con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác. 

Điều nguyện thứ bốn mươi hai: Nếu con được thành Phật mà các Bồ Tát ở thế giới phương khác nghe danh hiệu con, đều được chánh định giải thoát thanh tịnh; rồi trụ vào chánh định đó trong khoảng một ư niệm cúng dường vô lượng chư Phật Thế Tôn chẳng thể nghĩ bàn, mà vẫn không mất chính định. Nếu không được như thế th́ con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác. 

Điều nguyện thứ bốn mươi ba: Nếu con được thành Phật mà các Bồ Tát ở thế giới phương khác nghe danh hiệu con sau khi mệnh chung, thác sanh vào nhà tôn quư. Nếu không được như thế th́ con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác. 

Điều nguyện thứ bốn mươi tư: Nếu con được thành Phật mà các Bồ Tát ở thế giới phương khác nghe danh hiệu con vui mừng hớn hở, tu hạnh Bồ Tát, trọn đủ công đức. Nếu không được như thế th́ con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác. 

Điều nguyện thứ bốn mươi lăm: Nếu con được thành Phật mà các Bồ Tát ở thế giới phương khác nghe danh hiệu con đều được Phổ Đẳng Tam Muội, rồi trụ vào tam muội đó cho đến khi thành Phật, thường được thấy chư Phật chẳng thể nghĩ bàn. Nếu không được như thế th́ con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác. 

Điều nguyện thứ bốn mươi sáu: Nếu con được thành Phật mà các Bồ Tát trong cơi nước con muốn nghe pháp ǵ, đều theo chí nguyện ḿnh, tự nhiên được nghe. Nếu không được như thế th́ con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác.

 

Điều nguyện thứ bốn mươi bảy: Nếu con được thành Phật mà các Bồ Tát ở thế giới phương khác nghe danh hiệu con mà chẳng tới được bậc Bất Thoái Chuyển th́ con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác. 

Điều nguyện thứ bốn mươi tám: Nếu con được thành Phật mà các Bồ Tát ở phương khác, nghe danh hiệu con mà chẳng tới ngay được ba đức nhẫn: Âm Hưởng Nhẫn, Nhu Thuận Nhẫn và Vô Sanh Pháp Nhẫn. Đối với các pháp của Phật mà không chứng được bậc Bất Thoái Chuyển th́ con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác. 

Phật bảo A Nan rằng khi Pháp Tạng Tỉ Khưu nói xong những lời nguyện đó, liền làm bài kệ khen ngợi rằng:

 

            Con lập nguyện hơn đời,

            Quyết tới đạo vô thượng.

            Nguyện này không được toại,

            Thể chẳng thành Đẳng Giác.

            Con ở vô lượng kiếp,

            Chẳng làm đại thí chủ.

            Cứu giúp chúng sanh khổ,

            Thề chẳng thành Đẳng Giác.

            Tới khi con thành Phật,

            Khắp muôn phương thế giới.

            Nếu chẳng ai nghe danh,

            Thề chẳng thành Đẳng Giác.

            Ĺa dục tới chánh niệm,

            Tu hành theo Phạm hạnh.

            Chí cầu ngôi tối thượng,

            Làm thầy cả Trời, người.

            Sức thần tỏa hào quang,

            Soi khắp cả Đại Thiên.

            Tiêu trừ ba thứ độc,

            Cứu chúng sanh nguy nan.

            Mở rộng mắt trí tuệ,

            Diệt hết chốn tối tăm.

            Ngăn lấp mọi đường dữ,

            Khai thông các nẻo lành.

            Công phúc đều đầy đủ,

            Oai rạng tỏ mười phương.

            Nhật nguyệt ḥa sức sáng,

            Cũng không sao sánh bằng.

            V́ chúng khai tạng pháp,

            Rộng truyền công đức báu.

            Thường ở trong đại chúng,

            Thuyết pháp giọng sư tử.

            Cúng dường tất cả Phật,

            Trọn vẹn mọi công đức.

            Tuệ nguyện đều đầy đủ,

            Được làm thầy ba cơi.

            Trí vô ngại như Phật,

            Soi thấu khắp mọi nơi.

            Nguyện công đức của con,

            Bằng ngôi tôn quư nhất.

            Nếu nguyện này thành tựu,

            Cảm động đến ba cơi.

            Các thiên Thần trên không,

            Sẽ rải hoa nhiệm mầu.

 

Phật bảo A Nan rằng:  

- Tỉ Khưu Pháp Tạng nói, bài kệ đó xong th́ khắp cơi đất có sáu thứ chấn động, chư Thiên rải hoa đẹp xuống đầu Ngài như mưa. Trên không tự nhiên nổi lên tiếng nhạc ngợi khen rằng:  

- Chắc chắn Ngài sẽ thành bậc Vô Thượng Chánh giác.  

V́ những điều nguyện lớn của ngài Tỉ Khưu Pháp Tạng trọn đủ công đức, đúng thật không hư, vui cảnh tịch diệt, vượt khỏi thế gian. 

Này ông A Nan! Ngài Tỉ Khưu Pháp Tạng ở chỗ Đức Phật ấy, trong đại chúng tám bộ Thiên, Long, Dạ Xoa, Càn Thát Bà, A Tu La, Ca Lâu La, Khẩn Na La, Ma Hầu La Già phát lời thệ rộng, dựng lên nguyện lớn, rồi chuyên chí trang nghiêm cơi đất nhiệm mầu. Tỉ Khưu Pháp Tạng chăm lo cơi Phật, mở mang rộng lớn, xinh đẹp hơn các cơi khác. Công việc xây dựng liên tục, không suy, không biến, trải qua hàng triệu kiếp không thể nghĩ bàn. Ngài đă tu trồng vô lượng đức hạnh của bậc Bồ Tát, chẳng sanh ba tri giác: Dục giác, Sân giác và Hại giác; chẳng khởi ba tưởng: Dục tưởng, Sân tưởng và Hại tưởng, chẳng vướng sáu trần: Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc và Pháp. Thành tựu được đức nhẫn nhục, chẳng nài gian khổ, ít ham muốn, biết tạm đủ, không nhiễm tánh sân, si. Tâm thiền định thường yên lặng, trí tuệ không ngăn ngại. Không có ḷng dối trá, nịnh bợ quanh co, nét mặt hiền ḥa, lời nói thân thương biết trước ư người, sẵn ḷng giải đáp. Chí nguyện Ngài không hề mệt mỏi, dũng mănh tinh tiến, chuyên cầu pháp thanh tịnh, làm lợi ích cho chúng sanh, biết cung kính Tam Bảo, phụng thờ sư trưởng. Ngài dùng sức trang nghiêm tất cả, đầy đủ hạnh nguyện, khiến chúng sinh được thành tựu công đức. Ngài trụ vào các pháp Không: Không chấp tướng, Không phát nguyện, Không tạo tác và Không sinh khởi; quán tưởng các pháp như huyễn, ĺa bỏ lời nói thô ác, hại người và hại ḿnh, tu tập các việc tốt lành, khiến cho lợi người và lợi ḿnh.  

Quán tưởng như vậy rồi, ngài rời cơi nước, bỏ ngôi vua, không nghĩ đến sắc dục, tiền của, tự ḿnh tu hành sáu phép: Bố Thí, Tŕ Giới, Nhẫn Nhục, Tinh Tiến, Thiền Định và Trí Tuệ, lại dạy người khác tu theo. Bởi không biết bao nhiêu kiếp góp công chứa đức nên theo nơi ḿnh sanh, ư nghĩ ḿnh muốn, bao nhiêu kho báu tự nhiên hiện ra. Rồi giáo hóa, xây dựng cho vô số chúng sanh trụ vào đạo Vô Thượng Chánh Giác. Lại nữa, hoặc làm trưởng giả, cư sĩ thuộc ḍng tôn quư: hoặc làm vua nước nhỏ, vua nước lớn thuộc ḍng Sát Lỵ; hoặc làm chủ sáu cơi trời Dục Giới cho đến Phạm Vương và thường đem bốn món: y phục, thức ăn, đồ dùng, thuốc thang, cung kính cúng dường tất cả chư Phật. Những công đức như thế không sao kể xiết.  

Lại nữa, miệng thơm như hương sen, các lỗ chân lông tiết ra mùi hương chiên đàn tỏa khắp mười phương vô lượng thế giới. Nhân dạng đoan chánh, đẹp đẽ khác thường. Tay Ngài thường buông ra những của báu vô tận: y phục, thức ăn và các vật dụng để trang nghiêm như hương hoa, ngọc quư, lụa lọng và cờ phướn. Các việc như thế hơn cả Trời và người. Đối với hết thảy các pháp đều được tự tại. 

A Nan bạch Phật rằng:  

- Bồ Tát Pháp Tạng đă được thành Phật và được diệt độ hay chưa thành Phật và chưa được diệt độ?

 

Phật bảo A Nan:  

- Bồ Tát Pháp Tạng nay đă thành Phật và hiện ở phương Tây, cách đây mười muôn ức cơi. Thế giới của Đức Phật ấy tên là An Lạc. 

A Nan lại hỏi:  

- Đức Phật ấy thành Phật đến nay đă trải qua bao nhiêu kiếp rồi? 

Phật bảo:  

- Ngài thành Phật đến nay đă hơn mười kiếp. Cơi nước của Đức Phật ấy có bảy món báu tự nhiên: vàng, bạc, hổ phách, lưu ly, san hô, xà cừ, mă năo hợp nên làm đất, rộng răi thênh thang vô cùng. Các thứ báu ấy đều xen lẫn nhau, thật mầu nhiệm, rực rỡ, thanh tịnh và trang nghiêm hơn các cơi thế giới ở mười phương. Tính chất của các món báu ấy cũng quư như của báu trên cơi Trời thứ sáu. Lại nữa, cơi nước ấy không có núi Tu Di, Kim Cương và các núi khác; cũng không có bể lớn, bể nhỏ, khe, ng̣i, giếng, hang, sông; nhưng v́ có sức thần của Phật nên muốn thấy th́ được thấy; cũng không có cảnh địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh và chướng nạn; cũng không có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông. Khí hậu thường điều ḥa, chẳng lạnh, chẳng nóng. 

Bấy giờ, A Nan bạch Phật rằng:  

- Bạch Thế Tôn! Nếu cơi nước kia không có núi Tu Di th́ bốn vị Thiên Vương và cơi Trời Đao Lợi nương tựa vào đâu?  

Phật bảo A Nan:  

- Từ cơi Diệu Thiên thứ ba đến cơi Sắc Cứu Kính đều thung dung tự tại nên y cứ được. 

A Nan bạch Phật:  

- Đó là hạnh nghiệp và quả báo không thể nghĩ bàn! 

Phật bảo A Nan:  

- Hạnh nghiệp và quả báo không thể nghĩ bàn. V́ sao? V́ nhờ sức lành công đức của chúng sanh trụ vào hạnh nghiệp ở cơi đất ấy, cho nên mới được như vậy. 

A Nan bạch Phật:  

- Con thật không nghi ngờ pháp ấy, nhưng chỉ v́ thương chúng sanh đời mạt pháp sanh tâm nghi ngờ nên mới hỏi nghĩa đó. 

Đức Phật bảo A Nan:  

- Ánh sáng oai thiêng của Đức Phật Vô Lượng Thọ cao quư bậc nhất, ánh sáng của các Đức Phật đều không thể sánh kịp, dù chiếu đến trăm thế giới Phật, hoặc ngàn thế giới Phật, nhẫn đến chiếu tới các cơi Phật về phương Đông nhiều như số cát sông Hằng, rồi đến phương Nam, phương Tây, phương Bắc và bốn phương kề cận: hoặc có ánh sáng tỏa ra bảy thước, hoặc một do tuần, hoặc ba, bốn, năm do tuần, cứ gấp lên cho đến khi tỏa sáng khắp tất cả thế giới các cơi Phật cũng không sánh kịp. V́ thế, Đức Phật Vô Lượng Thọ có những tên hiệu là: Vô Lượng Quang Phật, Vô Biên Quang Phật, Vô Ngại Quang Phật, Vô Đối Quang Phật, Viêm Vương Quang Phật, Thanh Tịnh Quang Phật, Hoan Hỷ Quang Phật, Trí Tuệ Quang Phật, Bất Đoạn Quang Phật, Nan Tư Quang Phật, Vô Xứng Quang Phật, Siêu Nhật Nguyệt Quang Phật. 

Nếu có chúng sanh nào gặp ánh sáng ấy th́ ba cấu (tham, sân, si) đều tiêu tan hết, thân tâm nhẹ nhàng, vui mừng hớn hở, phát ḷng Bồ Đề. Dù họ đọa nơi ba đường (địa ngục, ngă quỷ, súc sanh) vô cùng đau khổ mà thấy ánh sáng ấy đều được nghỉ ngơi không c̣n khổ năo. Sau khi chết đi, cũng nhờ đó mà được giải thoát. 

Ánh sáng rực rỡ của Đức Phật Vô Lượng Thọ soi tỏ mười phương các cơi nước Phật, chẳng những ta nay khen ngợi ánh sáng của ngài mà đến các Đức Phật, Bồ Tát, Duyên Giác và Thanh Văn cũng đều khen ngợi như thế. Nếu có chúng sanh nào biết được công đức oai thiêng trong ánh sáng của ngài; ngày đêm dốc ḷng nhắc nhở, ngợi khen, theo ư ḿnh nguyện được sanh về cơi nước của Ngài và được các chúng Bồ Tát, Thanh Văn cùng ngợi khen công đức của ḿnh. Sau cùng, khi chứng Phật Đạo, được hết thảy chư Phật, Bồ Tát mười phương ngợi khen ánh sáng của ḿnh như đă ngợi khen ánh sáng của đức Phật Vô Lượng Thọ. 

Đức Phật bảo:  

- Như Lai nói ra ánh sáng oai thiêng của Đức Phật Vô Lượng Thọ, cao xa và mầu nhiệm khác thường, dù cho trọn một kiếp cũng chưa thể hết được. 

Lại nữa, thọ mệnh của Đức Phật Vô Lượng Thọ lâu dài không thể tính kể. Ông có hiểu chăng? Ví như vô số chúng sanh trong thế giới mười phương đều được thân người khiến cho các bậc Duyên Giác, Thanh Văn cùng luận bàn suy nghĩ, dồn mọi trí lực trong trăm ngàn muôn kiếp cũng khó mà biết được hạn lượng, thọ mệnh dài hay ngắn của các hàng Bồ Tát, Thanh Văn, Trời và người ở cơi nước Ngài. 

Lại nữa, thọ mệnh của các Bồ Tát, Thanh Văn khó mà tính lường được, v́ họ đều là những bậc thần thông, trí tuệ cao thâm, oai lực tự tại, nắm được tất cả thế giới trong bàn tay. 

Phật bảo A Nan rằng:  

- Trong buổi hội đầu tiên của Đức Phật kia, số chúng Bồ Tát cùng Thanh Văn như ngài Đại Mục Kiền Liên và trăm ngàn muôn ức vô lượng vô số trong a tăng kỳ na do tha kiếp cho đến lúc diệt độ, nhân tính cộng lại cũng không thể xét rơ được số lượng như biển cả sâu rộng không cùng. Nếu có người chẻ một sợi tóc ra làm trăm phần, rồi lấy một phần thấm một giọt nước, theo ư ông, giọt nước ấy đối với biển cả kia có gọi là nhiều chăng? 

A Nan bạch Phật:  

- Giọt nước thấm vào một phần sợi tóc so với biển cả nhiều hay ít chẳng phải kẻ có tài tính toán, nói năng, ví dụ, so sánh mà biết được. 

Phật bảo A Nan:  

- Các bậc Bồ Tát, Thanh Văn trong buổi hội đầu tiên như ông Mục Kiền Liên đối với trăm ngàn vạn ức na do tha kiếp số lượng biết được cũng như một giọt nước ở trong biển lớn. 

Lại nữa, khắp cơi nước của Ngài có bảy loại cây quư báu mọc đầy đủ như: vàng, bạc, lưu ly, pha lê, san hô, mă năo, xà cừ có cây được kết hợp bằng nhiều món báu như: cây vàng có lá, bông và trái bằng bạc. Cây bạc có lá, bông và trái bằng vàng. Cây lưu ly và cây pha lê cũng kết hợp như thế. Cây thủy tinh có lá, bông và trái bằng lưu ly. Cây san hô có lá, bông và trái bằng mă năo. Cây mă năo có lá, bông và trái bằng lưu ly. Cây xà cừ có lá, bông và trái bằng các thứ báu. Có cây báu, gốc bằng vàng tía, thân bằng bạc trắng, cành bằng lưu ly, nhánh bằng thủy tinh, lá bằng san hô, bông bằng mă năo, trái bằng xà cừ. Hoặc có cây báu: gốc bằng bạc trắng, thân bằng lưu ly, cành bằng thủy tinh, nhánh bằng san hô, lá bằng mă năo, bông bằng xà cừ, trái bằng vàng tía. Hoặc có cây báu: gốc bằng lưu ly, thân bằng thủy tinh, cành bằng san hô, nhánh bằng mă năo, lá bằng xà cừ, bông bằng vàng tía, trái bằng bạc trắng. Hoặc có cây báu: gốc bằng thủy tinh, thân bằng san hô, cành bằng mă năo, nhánh bằng xà cừ, lá bằng vàng tía, bông bằng bạc trắng, trái bằng lưu ly. Hoặc có cây báu: gốc bằng san hô, thân bằng mă năo, cành bằng xà cừ, nhánh bằng vàng tía, lá bằng bạc trắng, bông bằng xà cừ, nhánh bằng vàng tía, lá bằng bạc trắng, bông bằng lưu ly, trái bằng thủy tinh. Hoặc có cây báu: gốc bằng mă năo, thân bằng xà cừ, cành bằng bạc tía, nhánh bằng bạc trắng, lá bằng lưu ly, bông bằng thủy tinh, trái bằng san hô. Hoặc có cây báu: gốc bằng xà cừ, ḿnh bằng vàng tía, cành bằng bạc trắng, nhánh bằng lưu ly, lá bằng thủy tinh, bông bằng san hô, trái bằng mă năo. Các hàng cây bằng nhau, thân sát với nhau, cành chạm với nhau, lá hướng vào nhau, bông thuận với nhau và trái hợp với nhau, thật là tươi thắm, nh́n không thể xiết. Gió thường nổi lên, phát ra năm thứ tiếng cung thương ḥa hợp, thật là nhiệm mầu. 

Lại nữa, cây Bồ Đề của Đức Vô Lượng Thọ cao bốn vạn dặm, chu vi gốc cây năm ngàn do tuần, cành lá x̣e ra bốn bên hai mươi vạn dặm, được kết hợp tự nhiên bằng tất cả các báu vật. Lại lấy ngọc Nguyệt Quang Ma Ni và Tŕ Hải Luân Bảo là vua của các báu vật mà trang nghiêm cho cây ấy. Xung quanh, dọc cây rủ xuống những chuỗi hạt quư lấp lánh trăm vạn mầu khác lạ, chói sáng vô cùng. Lại có lưới báu trân diệu che trùm phía trên nên tất cả những vẻ trang nghiêm tốt đẹp đều tùy đó mà hiện ra. Gió thiền lay động các cây báu gây ra nhiều tiếng pháp nhiệm mầu. Tiếng ấy lan rộng khắp cơi Phật. Người nào có duyên lành nghe tiếng ấy sẽ được pháp nhăn thâm sâu, trụ vào ngôi Bất Thoái, sau sẽ chứng được Phật Quả. Căn tai thông suốt không sinh bệnh khổ. Mắt thấy mầu cây, mũi ngửi hương cây, miệng nếm vị cây, thân chạm vào ánh sáng của cây, sáu căn thông suốt, không c̣n bệnh tật phiền năo nữa. Tâm với pháp duyên theo, đều được pháp nhăn thâm diệu, trụ vào ngôi Bất Thoái Chuyển, chứng thành Phật đạo. 

Này ông A Nan! Trời và người ở cơi kia nếu ai trông thấy cây ấy th́ được ba Pháp nhẫn là: Âm Hưởng nhẫn, Nhu Thuận Nhẫn và Vô Sanh Pháp Nhẫn. Đó là nhờ vào sức oai thần và sức bản nguyện: Nguyện măn túc, Nguyện minh liễu, Nguyện kiên cố và Nguyện cứu kính của Đức Phật Vô Lượng Thọ Phật. 

Phật bảo A Nan rằng:  

- Có hàng ngàn tiếng nhạc của các vị Đế Vương, Chuyển Luân Thánh Vương lên tới cơi Trời thứ sáu, kỹ nhạc âm thanh hơn gấp ngàn vạn ức lần. Muôn tiếng nhạc trên cơi Trời thứ sáu cũng không bằng tiếng nhạc của các cây thất bảo ở cơi Phật Vô Lượng Thọ gây ra. Tiếng nhạc tự nhiên ấy tấu lên những pháp âm trong trẻo, du dương, mầu nhiệm, ḥa nhă hơn các tiết điệu âm thanh ở thế giới mười phương.

Giảng đường, tịnh xá, cung điện, lâu đài tự nhiên hiện ra, được trang trí bằng bảy báu vật. Lại lấy các ngọc báu: trân châu, minh nguyệt, ma ni, kết làm tràng hoa chuỗi hột giăng phủ ở trên đó. 

Lại có những ao tắm, hoặc mười, hai mươi, ba mươi cho đến trăm ngàn do tuần, dài, rộng, nông, sâu đều như nhau ở trong, ngoài và tả, hữu. Nước tám công đức phẳng lặng tràn đầy, trong veo, sạch sẽ, mát thơm như nước cam lộ. Ao vàng ṛng th́ đáy bằng cát bạc trắng; ao bạc trắng th́ đáy bằng cát vàng ṛng; ao thủy tinh th́ đáy bằng cát lưu ly; ao lưu ly th́ đáy bằng cát thủy tinh; ao san hô th́ đáy bằng cát hổ phách; ao hổ phách th́ đáy bằng cát san hô; ao xà cừ th́ đáy bằng cát mă năo; ao mă năo th́ đáy bằng cát xà cừ; ao ngọc trắng th́ đáy bằng cát vàng tía; ao vàng tía th́ đáy bằng cát ngọc trắng. Hoặc có hai món báu, ba món báu cho đến bảy món báu cùng kết hợp mà thành. Trên bờ ao có cây chiên đàn, hoa lá tỏa ra, hương thơm ngào ngạt khắp nơi. Lại có những loại sen ở cơi Trời như: hoa Ưu Bát La, hoa Bát Đàn Ma, hoa Câu Mâu Đầu, hoa Phân Đà Lợi đủ mầu tươi đẹp nở khắp trên mặt nước. Các Bồ Tát và Thanh Văn ở cơi Phật kia khi vào ao báu, tùy theo ư muốn sẽ được toại nguyện, như muốn nước ngập chân, nước liền ngập chân; muốn tới đầu gối, nước liền tới đầu gối; muốn tới ngang lưng, nước liền tới ngang lưng; muốn tới cổ, nước liền tới cổ; muốn tưới vào ḿnh, nước liền tưới vào ḿnh; muốn nước trở lại, nước liền trở lại. Điều ḥa lạnh ấm tự nhiên theo ư muốn. 

Nước ấy trong sáng, lắng sạch, yên lặng như hư không và có tác dụng làm cho tinh thần sáng suốt, thân thể tốt đẹp, gột sạch những nhơ bẩn trong tâm. Lại có cát báu lấp lánh ở bất cứ nơi nào, sâu thẳm cũng thấy rơ ràng. Ḍng nước chảy quanh, chẳng chậm, chẳng mau, nhẹ nhàng êm ả, xoay vần khắp ao. Sóng gợn lăn tăn tự nhiên gây nên vô số tiếng mầu nhiệm theo chỗ đáp ứng, ở đâu cũng nghe thấy được. Hoặc nghe tiếng Phật, hoặc nghe tiếng Pháp, hoặc nghe tiếng Tăng; hoặc tiếng Tịch Tĩnh, tiếng Không, Vô Ngă, tiếng Đại Từ Bi, tiếng Ba La Mật, tiếng Thập Lực Vô Úy Bất Cộng Pháp, các tiếng Thông Tuệ, tiếng Vô Sở Tác, tiếng Bất Khởi Diệt, tiếng Vô Sinh Nhẫn, cho đến tiếng Cam Lộ Quán Đỉnh và những tiếng pháp mầu nhiệm khác... Những tiếng như thế, xứng hợp chỗ nghe, vui thích vô cùng. Tiếng ấy tùy theo nghĩa thanh tịnh, ĺa dục, vẳng lặng, chân thật; tùy theo pháp Vô Sở Úy Bất Cộng của sức Tam Bảo; tùy theo đạo sở thành của bậc Bồ Tát, Thanh Văn thông sáng, không có cái tên tam đồ, khổ nạn, chỉ có tiếng khoái lạc tự nhiên. Bởi thế, cơi nước ấy được gọi là nước An Lạc. 

Này ông A Nan! Những người được sanh qua cơi nước của Đức Phật A Di Đà đều được công đức đầy đủ, thần thông, âm thanh mầu nhiệm và sắc thân thanh tịnh như thế. Lại có cung điện, chỗ ở trang nghiêm, y phục đầy đủ, thức ăn uống, hoa hương mầu nhiệm và vật dụng để trang sức cũng như nhũng vật tự nhiên trên cơi Trời thứ sáu. Khi muốn ăn th́ tự nhiên trước mặt hiện ra bát bằng thất bảo: vàng, bạc, lưu ly, xà cừ, mă năo, san hô, hổ phách, minh nguyệt, trân châu theo ư ḿnh muốn. Hàng trăm thức ăn tự nhiên mà có đủ cả. Thực ra, tuy nói có các thức ăn uống nhưng chẳng ăn uống ǵ, chỉ thấy mầu sắc, ngửi mùi hương, nếu nghĩ đến ăn th́ tự nhiên no đủ. Thân tâm không ham đắm vị ǵ, nên hiện ra rồi lại biến đi, tới bữa ăn lại hiện ra như cũ. Cơi nước Đức Phật A Di Đà thanh tịnh, an vui tự tại, kỳ diệu ngang tới cảnh Niết Bàn Vô Vi. 

Các hàng Bồ Tát, Thanh Văn, Trời và người ở cơi ấy, trí tuệ cao minh, thần thông diệu dụng, h́nh trạng giống nhau, không hề sai khác. Bởi v́, thuận theo hạnh nguyện khác nhau nên mới có cái tên Trời, người. Lại nữa, diện mạo đoan chính, trên đời hiếm có, dáng dấp nhiệm mầu, chẳng phải Trời, chẳng phải người, hưởng thụ cái thân vô hư, cái thể vô cực của tự nhiên. 

Đức Phật bảo A Nan:  

- Ví như trong đời h́nh dung người hành khất có thể giống ông Vua chăng? 

A Nan bạch Phật:  

- Bạch Đức Thế Tôn! Người hành khất gầy ốm, xấu xa, ngu độn, hèn kém gấp trăm ngàn vạn ức lần vị vua, dù người ấy ở bên cạnh vị vua cũng không thể lấy ǵ so sánh được. V́ lẽ, người hành khất tầm thường hèn hạ, áo chẳng đủ che thân, ăn không đủ no dạ, đói rét khốn khổ, đều bởi nghiệp quả trước kia, giàu có bất nhân, đă chứa chất nhiều tiền của mà c̣n gian tham keo kiệt; chẳng tin nhân quả, không chịu làm lành, tội ác dẫy đầy chất cao như núi. Rồi khi chết đi, gia sản tiêu tan, suốt đời khổ thân, tích lũy cho người mà chẳng ích ǵ cho ḿnh, không phúc đức để nương tựa, nên phải đọa vào chốn dữ, chịu khổ đời đời. Tội không siêu thoát nên dù được làm người chỉ là hạng hèn hạ, dốt nát quê mùa, bị đời khinh rẻ. C̣n các vị vua được tôn trọng nhất trong cơi người, đều do đời trước đă chứa góp nhiều công đức, rộng ḷng ban ân, bố thí, thương yêu cứu giúp mọi người, tin Phật làm lành, không tranh chấp thiệt hơn, sau khi chết đi, được sanh lên cơi Trời, hưởng phúc an vui. C̣n người làm nhiều điều thiện, nay được sinh vào vương tộc, cao sang quyền thế, ai cũng kính trọng, ăn ngon, mặc đẹp, thỏa ḷng sắm sửa. Được như vậy là nhờ phước đức xưa kia

Phật bảo A Nan rằng:  

- Ông nói phải đấy, vua tuy là bậc tôn quư trong loài người, h́nh tướng đoan chính, nhưng so với bậc Chuyển Luân Thánh Vương th́ rất là hèn kém, cũng như người hành khất bên cạnh vị vua vậy. Bậc Chuyển Luân Thánh Vương oai tướng tốt đẹp lạ thường là đệ nhất trong thiên hạ, nhưng so với vua Đế Thích trên cơi Trời Đao Lợi th́ lại xấu gấp vạn ức lần không thể sánh kịp. Nếu đem Vua Đế Thích so với bậc vua trên cơi Trời thứ sáu là Tha Hóa Tự Tại Thiên th́ hơn kém nhau gấp trăm ngàn ức lần. Nếu bậc vua ở cơi Trời thứ sáu so với các Bồ Tát, Thanh Văn trong cơi nước của Đức Phật Vô Lượng Thọ th́ vẻ đẹp tươi sáng của các ngài gấp trăm ngàn vạn ức lần, chẳng có thể sánh được. 

Phật bảo A Nan:  

- Trời và người trong cơi nước Phật Vô Lượng Thọ th́ y phục, thức ăn uống, hoa hương, chuỗi hạt, tàn lọng, phan phướn, âm thanh, chỗ ở, nhà cửa, cung điện, lâu đài, đều xứng hợp với h́nh sắc cao thấp, lớn nhỏ. Lại có các món báu, hoặc một, hai cho đến vô lượng các món báu, theo ư ḿnh muốn là sẽ có ngay. Lại dùng các thứ áo tốt đẹp làm bằng các món báu trải khắp cơi đất để tất cả Trời, người dạo đi trên đó. Lại có vô lượng lưới báu trùm hết cơi Phật, lưới ấy đan bằng vàng, ngọc, trân châu và trăm ngàn thứ quư báu đẹp đẽ lạ lùng để tô điểm trang nghiêm khắp cơi. Lại có chuông báu rủ xuống, màu sắc rực rỡ vô cùng. Lại có gió đức hiu hiu tự nhiên dấy lên, điều ḥa, man mác, chẳng lạnh chẳng nóng, chẳng chậm chẳng mau, thổi vào những mạng lưới và các cây báu, diễn ra vô lượng pháp âm nhiệm mầu, tỏa ra muôn thứ đức hương ḥa nhă. Nếu có người nào nghe và ngửi được những hương ấy th́ tâm niệm nhơ xấu tự nhiên lắng xuống và thân tâm đều được yên vui, như vị Tỉ Khưu được phép chính định. Lại có gió thổi hoa rơi khắp; cùng cơi Phật, rơi theo từng mầu sắc mềm chịu, tươi thắm, ngào ngạt hương thơm. Chân đi trên đó, lún xuống bốn tấc, khi nhấc chân lên, lại trở về như cũ. 

Sau rốt, đất liền nứt ra, chôn vùi mất hoa, không c̣n một cánh. Lại tùy theo thời tiết, gió thổi hoa rơi, đến sáu lần như thế. Lại có những hoa sen báu đầy khắp thế giới, mỗi một bông hoa có trăm ngàn ức cánh. Ánh sáng của hoa ấy có vô lượng sắc mầu: mầu xanh th́ ánh xanh, mầu trắng th́ ánh trắng, mầu tím th́ ánh tím, mầu vàng th́ ánh vàng, mầu đỏ th́ ánh đỏ và mầu tía th́ ánh tía, chói lọi rực rỡ như mặt trời và mặt trăng. Trong mỗi một bông hoa tỏa ra ba trăm sáu mươi ngàn ức ánh sáng. Trong mỗi một ánh sáng hiện ra ba mươi sáu trăm ngàn ức Đức Phật, thân mầu vàng tía, tướng đẹp khác thường. Tất cả các Đức Phật lại phóng ra trăm ngàn ánh sáng, v́ chúng sinh cả mười phương mà nói pháp nhiệm mầu, khiến tất cả trở về chính đạo của Phật.

 

Hết Quyển Thượng 

 

QUYỂN HẠ

 

Đức Phật bảo A Nan:  

- Nếu có chúng sanh nào sanh vào cơi ấy, đều trụ vào chánh định. V́ sao vậy? V́ trong nước của Đức Phật ấy không có tà kiến và bất định. Mười phương chư Phật Như Lai nhiều như cát sông Hằng đều cùng khen ngợi công đức oai thiêng của Đức Phật Vô Lượng Thọ chẳng thể nghĩ bàn. Nếu có chúng sanh nào nghe danh hiệu của Ngài mà tín tâm hoan hỷ, dốc ḷng hồi hướng dù trong một niệm, nguyện sanh sang cơi nước ấy, liền được văng sanh, trụ vào ngôi Bất Thoái Chuyển, chỉ trừ những kẻ phạm năm nghịch tội và gièm chê chính pháp. 

Hết thảy Trời và người trong mười phương thế giới, nếu ai dốc ḷng nguyện sanh sang nước ấy th́ được chia làm ba bậc: 

Bậc trên là những người đă bỏ nhà, dứt dục, xuất gia làm Sa Môn, phát tâm Bồ Đề, chuyên niệm danh hiệu Đức Phật Vô Lượng Thọ, tu các công đức, nguyện sanh sang cơi nước ấy. Những người này khi chết đi sẽ thấy Đức Phật Vô Lượng Thọ cùng đại chúng hiện ra trước mặt, liền được theo Đức Phật Vô Lượng Thọ sanh qua cơi nước của Ngài tự nhiên hóa sanh trong đóa hoa thất bảo, trụ vào ngôi Bất Thoái Chuyển, trí tuệ dũng mănh, thần thông tự tại. 

Này ông A Nan:  

- Bởi thế, những người nào ở cơi Ta Bà này mà muốn được thấy Đức Phật Vô Lượng Thọ th́ nên phát tâm Vô Thượng Bồ Đề, tu hành công đức, liền được sanh về cơi nước của Ngài. 

Bậc giữa là các Trời và người trong mười phương thế giới, nếu có ai dốc ḷng nguyện sanh về cơi nước của Phật Vô Lượng Thọ, dù chẳng làm được Sa Môn, tu công đức lớn, nhưng nếu phát tâm Vô Thượng Bồ Đề, chuyên niệm danh hiệu Đức Phật Vô Lượng Thọ, tu thiện được nhiều hay ít, chịu giữ trai giới, xây dựng tháp tượng, cúng dường Sa Môn, treo phan, thắp đèn, rải hoa, đốt hương, đem những việc đó hồi hướng, nguyện sanh về cơi nước của Đức Phật Vô Lượng Thọ. Những người ấy khi chết đi, Đức Phật Vô Lượng Thọ cùng đại chúng hóa hiện thân h́nh đẹp đẽ như Phật, hiện ra trước mặt. Người ấy liền theo Đức Hóa Phật mà văng sinh về cơi nước của Ngài, trụ vào ngôi Bất Thoái Chuyển, công đức và trí tuệ gần bằng bậc trên. 

Bậc dưới là các Trời và người trong mười phương thế giới, nếu có ai dốc ḷng muốn sanh về cơi nước của Phật Vô Lượng Thọ, giả sử chẳng làm được công đức ǵ, nhưng nhờ phát tâm Vô Thượng Bồ đề, chuyên niệm danh hiệu Phật Vô Lượng Thọ, nguyện sanh về cơi nước của Ngài. Sau khi nghe pháp sâu xa mầu nhiệm, vui mừng, tin ưa, chẳng sanh nghi hoặc, dù trong một niệm, niệm danh hiệu Đức Phật ấy, đem ḷng chí thành nguyện sanh về cơi nước của Ngài, nên khi chết đi, mộng thấy Đức Phật Vô Lượng Thọ và được văng sanh. Công đức, trí tuệ của người ấy gần bằng bậc giữa. 

Phật bảo A Nan:  

- Đức Phật Vô Lượng Thọ oai thiêng vô cùng. Trong mười phương thế giới, chư Phật Như Lai vô lượng, vô biên chẳng thể nghĩ bàn đều khen ngợi Ngài. Vô lượng, vô số Bồ Tát, Thanh Văn ở các cơi Phật về phương Đông nhiều như số cát sông Hằng, đều tới chỗ Đức Phật Vô Lượng Thọ, cung kính cúng dường, đồng thời các Bồ Tát, Thanh Văn xin nhận lănh kinh pháp, rồi cùng giáo hóa các phương Tây, Nam và Bắc. Bốn phương Đông Nam, Tây Nam, Đông Bắc, Tây Bắc và phương trên, phương dưới cũng đều như thế cả. 

Bấy giờ Đức Thế Tôn liền nói bài tụng rằng:

 

            Các cơi Phật phương Đông,

            Số như cát sông Hằng.

            Chư Bồ Tát, Thanh Văn,

            Tới chầu Vô Lượng Giác.

            Các Bồ Tát, Thanh Văn,

            Đều tới nghe Kinh pháp.

            Đem theo hoa Trời đẹp,

            Hương báu, áo quư giá.

            Cúng dường Vô Lượng Giác,

            Khắp nơi tấu nhạc trời.

            Tiếng ḥa nhă vang lừng,

            Ngợi khen đức thâm diệu.

            Cúng dường Vô Lượng Giác,

            Thần thông, tuệ tuyệt vời.

            Thâm nhập Pháp sâu xa,

            Thật vẹn toàn công đức.

            Trí tuệ tựa mặt trời,

            Đánh tan mây sinh tử.

            Chẳng ai sánh ví bằng,

            Cung kính nhiễu ba ṿng.

            Cúi lạy Vô Thượng Tôn,

            Thấy cơi Phật nghiêm tịnh.

            Mầu nhiệm không kể xiết,

            Liền phát tâm Vô Thượng.

            Nguyện nước con cũng vậy,

            Lúc ấy Đức Di Đà.

            Hân hoan trên nét mặt,

            Miệng tuôn nhiều ánh sáng.

            Chiếu khắp cả mười phương,

            Thân thể tỏa hào quang.

            Ba ṿng chói xán lạn,

            Tất cả Trời và người.

            Đều vui mừng hớn hở,

            Quán Thế Âm Đại Sĩ.

            Xốc áo, cúi đầu hỏi:

            “Phật cười v́ cớ ǵ?

            Xin cho biết tôn ư!”

            Tiếng Phạm như sấm vang,

            Cất lên tám tiếng đáp.

            V́ Bồ Tát muốn biết,

            Hăy lắng nghe ta nói.

            Chính sĩ mười phương lại,

            Ta biết hết nguyện họ.

            Chí cầu cơi nghiêm tịnh,

            Quyết định sẽ thành Phật.

            Hiểu rơ hết thảy Pháp,

            Như mộng huyễn, tiếng vang.

            Đầy đủ các điều nguyện,

            Tất sẽ được cơi này.

            Hiểu Pháp như bóng chớp,

            Rốt ráo đạo Bồ Tát.

            Đủ các cội công đức,

            Quyết định sẽ thành Phật.

            Thông suốt các pháp tính,

            Đều là không, vô ngă.

            Chuyên cầu cơi Phật tịnh,

            Tất sẽ được cơi này.

            Phật dạy các Bồ Tát,

            Trụ vào An Dưỡng Phật.

            Nghe Pháp vui tu hành,

            Sớm được chốn thanh tịnh.

            Tới nước nghiêm tịnh kia,

            Mau chứng được thần thông.

            Hẳn Đức Vô Thượng Tôn,

            Ghi nhận cho thành Phật.

            Sức bản nguyện của Phật,

            Nghe danh muốn văng sanh.

            Đều về tới cơi đó,

            Từ đấy không lui chuyển.

            Bồ Tát khởi chí nguyện,

            Nguyện nước ḿnh cũng vậy.

            Niệm độ khắp hết thảy,

            Danh tỏ đủ mười phương.

            Phụng thờ ức vị Phật,

            Phi hóa khắp mọi cơi.

            Cung kính và hân hoan,

            Về tới nơi An Dưỡng.

            Nếu người không thiện tâm,

            Chẳng được nghe kinh này.

            Người trai giới thanh tịnh,

            Mới được nghe chính pháp.

            Lại từng thấy Thế Tôn,

            Thời tin được việc này.

            Khiêm, kính, nghe, vâng, làm

            Tâm vui mừng hớn hở.

            Kẻ kiêu mạn lười biếng,

            Khó thể tin pháp này.

            Đời trước thấy chư Phật,

            Ham nghe Pháp như vâỵ.

            Bồ Tát hoặc Thanh Văn,

            Chẳng xét được tâm Phật.

            Ví như kẻ mù ḷa,

            Muốn làm người dẫn đạo.

            Biển trí tuệ Như Lai,

            Sâu rộng không bờ bến.

            Nhị Thừa chẳng lường được,

            Chỉ riêng Phật tỏ rơ.

            Giả sử hết mọi người,

            Đều tu hành đắc đạo.

            Tịnh tuệ biết vốn không,

            Ức kiếp nghĩ trí Phật.

            Cùng tận tâm giảng thuyết,

            Hết đời cũng chẳng biết.

            Phật tuệ không ngằn mé,

            Thanh tịnh cùng như thế.

            Thọ mệnh rất khó được,

            Đời Phật cũng khó gặp.

            Người có tín tuệ khó,

            Nếu nghe tinh tiến cầu.

            Nghe pháp thường chẳng quên,

            Thấy kính được phúc lớn.

            Cùng ta là bạn hiền,

            Bởi thế nên phát tâm.

            V́ đời đầy đau khổ,

            Nên phải cầu chính pháp.

            Sẽ chứng được Phật đạo,

            Rộng độ gịng sinh tử.

 

Phật bảo A Nan:  

- Bồ Tát trong cơi nước ấy sẽ được bổ vào ngôi vị Phật, trừ những Bồ Tát có bản nguyện, v́ chúng sanh đem công đức hoằng thệ để trang nghiêm cho ḿnh và muốn độ thoát hết cả chúng sanh chóng thành Phật quả.  

Này A Nan! Các chúng Thanh Văn trong cơi Phật ấy, ánh sáng nơi ḿnh phóng ra tám thước, c̣n ánh sáng của Bồ Tát chiếu sáng một trăm do tuần. Trong các Bồ Tát đó, có hai vị Bồ Tát tôn quư vào bậc nhất, nên ánh sáng oai linh chiếu khắp ba ngàn Đại Thiên thế giới. 

A Nan bạch Phật:  

- Hai vị Bồ Tát ấy danh hiệu là ǵ? 

Đức Phật bảo:  

- Vị thứ nhất tên là Quán Thế Âm, vị thứ hai tên là Đại Thế Chí. Hai vị Bồ Tát đó đều ở cơi Sa Bà này tu hạnh Bồ Tát, khi mệnh chung chuyển hóa sanh sang cơi nước Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà. 

Này A Nan! Những người nào sanh sang cơi nước ấy đều có đủ ba mươi hai tướng tốt, trí tuệ đầy đủ, thâm nhập các pháp, thông suốt tới chỗ cốt yếu mầu nhiệm thần thông diệu dụng, các căn sáng sủa, nhanh nhẹn. Những người căn tính sút kém th́ thành tựu được hai đức nhẫn: Âm Hưởng Nhẫn và Nhu Thuận Nhẫn; những người căn tính nhanh nhẹn th́ được đức Vô Sinh Pháp Nhẫn, không thể kể xiết. 

Lại nữa, những vị Bồ Tát ấy, trước khi thành Phật, chẳng bị rơi vào chốn ác, thần thông tự tại, lại biết rơ sanh mệnh đời trước. Trừ những người sanh qua các phương khác là cơi đời ngũ trọc ác thế th́ thị hiện cùng chúng sanh ở những cơi ấy cũng như cơi nước của ta đây vậy. 

Phật bảo A Nan:  

- Bồ Tát ở cơi nước ấy nương oai thần của Phật, dù trong khoảng một bữa ăn, đi tới vô lượng thế giới mười phương, cung kính cúng dường chư Phật Thế Tôn, tùy theo tâm ḿnh tưởng niệm tự nhiên hóa sanh ra vô số vô lượng những thứ cúng dường như hoa, hương, kỹ nhạc, áo lọng, cờ, phướn, ứng niệm liền đến, những thứ quư báu mầu nhiệm khác lạ, trong đời hiếm có, rồi đem dâng rải vào chư Phật và các chúng Bồ Tát, Thanh Văn. Ở trong hư không hóa thành cây lọng hoa mầu sáng rực rỡ, mùi thơm tỏa ngát khắp nơi. Hoa ấy có chu vi bốn trăm dặm, cứ như thế lần lượt gấp lên măi, cho tới khi che kín cả ba ngàn Đại Thiên thế giới. Tuỳ theo thứ lớp trước sau rồi lần lượt biến mất. Các vị Bồ Tát ấy, đều cùng đẹp ḷng vui vẻ. Ở trong hư không, nhạc Trời cũng trỗi lên. Tiếng nhạc tuyệt vời mầu nhiệm, ca ngợi công đức của Phật, thỉnh trụ kinh pháp với tâm vô cùng hoan hỉ. Cúng dường chư Phật xong, trước khi ăn, bỗng nhẹ cất ḿnh lên trở về cơi nước của ḿnh. 

Phật bảo A Nan:  

- Đức Phật Vô Lượng Thọ khi ban truyền giáo pháp cho các Bồ Tát, Thanh Văn, Trời và người đều nhóm họp hết cả ở giảng đường Thất Bảo, rộng tuyên đạo giáo, diễn xướng pháp mầu. Tất cả đều trong ḷng hoan hỉ, tỏ ngộ được đạo lư. 

Ngay lúc đó, bốn phương trời tự nhiên nổi gió, thổi vào cây thất bảo phát ra những tiếng Cung, Thương, Giốc, Chủy, Vũ, vô lượng các thứ hoa đẹp theo gió bay đi, rải ra bốn phía, tự nhiên cúng dường chẳng dứt. Tất cả chư Thiên đều đem trăm ngàn thứ hoa, hương, kỹ nhạc trên cơi Trời để cúng dường Đđức Phật Vô Lượng Thọ, các chúng Bồ Tát, Thanh Văn th́ rải hoa hương và tấu âm nhạc. Kẻ trước người sau, kẻ qua người lại, tưng bừng vui vẻ, không thể kể xiết. 

Phật bảo A Nan:  

- Các hàng Bồ Tát sanh qua cơi Phật Vô Lượng Thọ, nếu ai có thể giảng thuyết th́ thường tuyên chính pháp, bởi theo trí tuệ thông đạt của ḿnh, không trái không lầm. Đối với muôn vật ở cơi ấy, không ai có tâm ngă sở (coi vật là của ḿnh), không trái không lầm. Đối với muôn vật ở cơi ấy, không ai có tâm đắm nhiễm, đi lại tự tại, không ưa thích cũng không ghét bỏ vật ǵ, không phân biệt ḿnh với kẻ khác, chẳng ganh đua và chẳng tranh chấp. Lại có tâm đại từ bi nhiêu ích đối với chúng sanh, không có tâm ương ngạnh giận hờn. Ĺa khỏi hết những phiền năo làm dao động nên tâm hoàn toàn thanh tịnh, không chán nản biếng nhác. Lại có tâm b́nh đẳng, tâm đắc thắng, tâm thâm diệu, tâm thiền định, tâm ham pháp, vui pháp và mừng pháp. Lại dứt các phiền năo, ĺa tâm ác thú, suy xét tường tận việc làm của Bồ Tát, đầy đủ vô lượng công đức, được pháp Thiền Định thâm diệu và thần thông quang minh trí tuệ. Ư chí nương vào bảy phần Giác Ngộ, theo pháp Phật mà tu tâm, nhục nhăn trong suốt, phân biệt tỏ rơ mọi điều. Thiên nhăn thông suốt không có hạn lượng. Pháp nhăn quán xét cùng tột các lẽ đạo. Tuệ nhăn thấy rơ lẽ thật dẫn tới bờ giác ngộ. Phật nhăn tṛn vẹn biết rơ pháp tính. Đem trí vô ngại diễn thuyết cho người nghe. Quán thấy ba cơi đều như hư không. Chí cầu Phật pháp, đủ các biện tài, trừ diệt phiền năo cũa chúng sanh. 

Lại nữa, tính thể từ Như Lai mà sanh ra nên hiểu rơ các pháp là Như Như Bất Động. Khéo hiểu nghĩa Tập Đế, Diệt Đế là phương tiện. Chẳng ham lời thế tục, vui ở nghĩa Đại Thừa. Tu các căn lành, chí sùng Phật đạo. Biết tất cả pháp đều vẳng lặng, sanh thân và phiền năo đều hết. Nghe pháp cao sâu, ḷng không nghi ngại, chăm chỉ tu hành, đức tính đại bi, sâu xa mầu nhiệm, che chở khắp cơi, xét cùng nghĩa đạo Nhất Thừa, đến bờ Giác Ngộ. Tuệ tâm phát khởi, quyết đoán lưới nghi hoặc. Giáo pháp của Phật bao la không ǵ vượt ra ngoài được. Trí tuệ như biển cả, thiền định như núi cao, ánh tuệ quang sáng chói hơn cả mặt trời, mặt trăng. Pháp trong sạch của các ngài đầy đủ trọn vẹn như núi Tuyết, khiến các công đức đều trong sạch như cơi đất rộng không phân biệt những vật sạch, dơ, tốt, xấu; như nước sạch rửa hết cát, bụi, bẩn, nhơ; như lửa nồng đốt cháy tất cả củi phiền năo; như băo loạn quay cuồng khắp thế giới không ǵ ngăn cản; như hư không chẳng vướng mắc vật ǵ; như hoa sen ở các cơi thế gian không hề nhuốm bẩn; như cỗ xe lớn chở hết chúng sinh thoát ṿng sinh tử; như trên tầng mây, tiếng sấm pháp lớn vang dậy, thức tỉnh những người mê muội; như trận mưa lớn, pháp cam lộ thấm nhuần chúng sinh, như núi Kim Cương, chúng ma ngoại đạo chẳng thể lay chuyển; như Phạm Thiên Vương đối với các pháp lành là điều tôn quư; như cây Ni Câu Loại che khắp tất cả; như hoa Ưu Đàm Bát hiếm có khó t́m; như loài chim cánh vàng oai hùng hàng phục ngoại đạo; như loài chim lăng du không tích lũy vật ǵ; như ngưu vương không vật ǵ thắng được; như tượng vương điều phục rất giỏi; như mănh sư không sợ hăi vật ǵ. 

Đức Đại Từ lồng lộng như cơi hư không, diệt hết ḷng ganh tị nên chẳng ghét kẻ hơn ḿnh. Chăm vui cầu pháp, ḷng không biết chán, cũng không biết đủ. Thường hay tuyên rộng chính pháp mà không mỏi mệt. Đánh trống pháp, dựng cờ pháp, rọi đèn tuệ phá tan vô minh. Tu sáu điều ḥa kính, thường làm việc pháp thí. Chí dũng mănh tinh tiến, tâm không yếu mềm. Làm ngọn đèn sáng cho đời và ruộng phúc cho chúng sinh. Lại làm thầy dẫn đạo, b́nh đẳng chẳng ghét, chẳng yêu chỉ vui với chính đạo, không có vui buồn nào khác. Nhổ sạch gai ham muốn, an ổn chúng sanh. Công đức và trí tuệ chẳng ai sánh bằng khiến mọi người đều tôn kính. Diệt hết tham, sân, si, dạo chơi bằng các pháp thần thông, đầy đủ khí lực như: lực nhân, lực duyên, lực ư, lực nguyện, lực phương tiện, lực thường, lực định, lực tuệ, lực đa văn, lực thí, lực giải, lực nhẫn, lực nhục, lực tinh tiến, lực thiền định và lực trí tuệ, lực chính niệm chỉ quán, mọi lực thông minh, lực như pháp để điều phục chúng sanh. Lại nữa, h́nh tướng tốt đẹp và công đức biện tài trang nghiêm trọn đủ, không ai sánh bằng. Cung kính cúng dường vô lượng chư Phật, thường được chư Phật ngợi khen, được các hạnh Ba La Mật của Bồ Tát. Tu các phép Tam Muội: Không, Vô Tướng, Vô Nguyện, Bất Sinh, Bất Diệt và các môn Tam Muội, xa rời địa vị Duyên Giác và Thanh Văn. 

Này A Nan! Các Bồ Tát ấy thành tựu vô lượng công đức như vậy, ta chỉ nói sơ qua cho ông nghe đấy thôi, nếu nói rộng ra th́ trăm ngàn muôn kiếp cũng không hết được. 

Phật bảo Di Lặc Bồ Tát và tất cả Trời, người rằng: Các Bồ Tát, Thanh Văn: 

- Trong cơi nước Phật Vô Lượng Thọ có công đức, trí tuệ chẳng sao kể xiết. Cơi nước ấy thật nhiệm mầu, an vui và thanh tịnh như thế, sao chẳng gắng sức làm lành, nghĩ đến đạo pháp tự nhiên, nương vào nơi không trên không dưới trống rỗng bao la mà chuyên cần tinh tiến, gắng sức cầu nguyện, khiến dứt ṿng luân hồi, sanh về cơi nước An Lạc, dứt hẳn năm đường dữ, tới con đường không hiểm nguy. Đường đó tuy b́nh an và dễ qua, nhưng lại không có người chịu tu. Cơi nước đó chẳng có điều trái nghịch, muốn ǵ đều toại nguyện. Sao chẳng bỏ việc đời, chuyên cầu đạo đức để được sống lâu măi măi, yên vui không cùng. 

Song, người đời thói bạc, chẳng chịu làm lành, tranh nhau những việc trái lẽ, tranh nhau nhiều việc trong cơi đời cực khổ dữ tợn này. Họ cần cù làm việc, mong thỏa măn vật chất cho đời ḿnh. Chẳng cứ sang, hèn, giàu, nghèo, già rẻ, trai, gái đều lo nghĩ nhiều về tiền của. Dù có hay không, cũng đều lo nghĩ, sợ hăi, buồn khổ trong ḷng. V́ quá lo nghĩ nên tâm thần rối loạn, chẳng lúc nào được yên vui, yên tĩnh. Kẻ có ruộng lo ruộng, người có nhà lo nhà; nhẫn đến lo cả ḅ, ngựa, lục súc, tôi tớ, tiền của và các việc ăn mặc v.v... Chất chứa nghĩ suy, lo buồn sợ hăi. Lại lo bị những tai nạn bất thường như giặc cướp, nước, lửa, kẻ thù, chủ nợ, làm cho tiêu tan lụn bại gia sản; quanh quẩn lo buồn, không lúc nào nguôi! Kết giận trong ḷng, chẳng rời lo lắng nên tâm ư cố bám, ham thích không lúc nào buông bỏ. Nhưng khi bể gẫy, dập nát, đem vứt bỏ đi, thân thác qua đời, chẳng có vật ǵ đi theo ḿnh cả. 

Kẻ giàu sang cũng có những nỗi lo âu, suy tính nhiều điều, cần khổ như thế, nên sinh ra bệnh tật. Kẻ nghèo cùng hèn hạ, thiếu kém mọi bề. Ví như không ruộng th́ lo có ruộng, không nhà th́ lo có nhà, không trâu, ngựa, lục súc, tôi tớ, tiền của và ăn mặc v.v... th́ lo sao cho có đủ. Khi đă có đủ rồi lại tiêu tan mất, sinh ra buồn khổ, nên lại lập kế t́m mưu sao cho có lại. Khi chưa gặp thời suy tính chẳng được, thân tâm mỏi mệt, ngồi đứng chẳng yên, lo nghĩ chất chồng, cực khổ như thế, nên sinh bệnh tật. Hoặc lại ngồi không, cuộc đời phế bỏ, chẳng chịu làm lành, tu đức hành đạo. Đến khi mệnh chung, thần thức phải sanh vào nơi xa khác, dù thiện hay ác cũng không hay biết. 

Người sống trong cơi đời, cha con, anh em, vợ chồng, họ hàng, nội ngoại, phải kính thương nhau, không được tị hiềm, nên giúp đỡ lẫn nhau, không được tham xẻn; phải giữ ḥa thuận, vui vẻ từ lời nói đến cử chỉ không nghịch chống nhau, không ḷng tranh chấp, hận thù. Ḷng tranh chấp, oán hận trong cơi đời này, chỉ nóng lên một chút mà trở nên thù oán dữ dội đến đời sau. V́ gây oán thù nên mưu hại lẫn nhau, tuy hiện tại không hành động ngay được, nhưng sự dồn nén vào cay độc của oán hận trong tinh thần, khiến khắc ghi trong tạng thức chẳng rời nhau được. Do đó, khi chết đi, cùng lúc tái sinh t́m nhau báo oán, trả thù! 

Người đời thường thương yêu dây dưa ham muốn, nên trôi lăn trong ṿng sanh tử, lại sanh một ḿnh, tử một ḿnh, đi một ḿnh, lại một ḿnh, buồn khổ hay vui sướng tự ḿnh làm ḿnh chịu, chẳng ai thay thế được. Thiện ác biến hóa, họa phúc đi theo, sanh vào chốn khác, mờ mờ mịt mịt, chẳng hay biết được; mỗi người mỗi ngả, vĩnh viễn chia ĺa, mong gặp lại nhau, thật khó lắm vậy! Nay được gần gũi, sao chẳng bỏ mọi chuyện vô ích, gắng sức chuyên cần tu thiện, lúc c̣n khỏe mạnh tinh tiến nguyện độ chúng sanh để được thọ mệnh lâu dài. 

Lợi ích như thế, sao chẳng cầu đạo Vô Thượng mà c̣n đợi chờ chi nữa? Người đời thường chẳng tin làm lành th́ gặp lành, tu đạo sẽ chứng đạo; chẳng tin bố thí th́ được phúc, người chết lại sanh ra. V́ không tin thiện ác, cho ḿnh là phải, lại nghe lời nhau, từ cha đến con, kẻ trước người sau, tổ tiên ông bà, chẳng biết đạo đức; thần thức ngu tối, tâm ư nhiễm ô, chẳng hiểu sanh tử, thiện ác, cát hung, họa phúc thế nào, nên hành động liều lĩnh. Sống chết lẽ thường, cùng nhau nối tiếp. Hoặc cha khóc con, hoặc con khóc cha, vợ chồng anh em thương khóc lẫn nhau. Tráo trở trên dưới, cội rễ vô thường, đều phải đi qua, chẳng giữ thường được. Lời Phật dạy bảo, ít người chẳng tin, cho nên trôi quanh trong đường sanh tử; không bao giờ ngừng. Những người như thế, đần độn ngu tối, chẳng tin kinh pháp, tâm không lo xa, ư khoái lạc thú, ngu si mê hoặc, ham dục tham tài, kiêu căng giận dữ. Đó là v́ chẳng hiểu đạo đức tu hành đắc đạo, nên chịu ác thú, sanh tử không cùng, thật đáng thương thay! 

Sang hèn giàu nghèo, tôn ty trên dưới, đều mang ḷng sát hại độc ác, gây sự càn dở, ác khí mờ mịt, nghịch với trời đất, chẳng thuận ḷng người, làm điều trái ác, nên phải tội nặng. Tuổi thọ chưa hết đă bị chết đi, đọa vào đường dữ, quẩn quanh trong đó, hàng ngàn ức kiếp, không hẹn ngày ra, nói sao cho hết, nhiều nỗi đau thương! 

Phật bảo Di Lặc Bồ Tát và Trời, người rằng:  

- Phải suy nghĩ kỹ, gắng làm việc thiện, tránh xa việc ác, v́ ái dục vinh hoa vốn chẳng thường c̣n. Nay gặp Phật ở đời, cần phải tinh tiến cầu đạo, ai có chí nguyện muốn sinh về Cực Lạc, ắt sẽ được trí tuệ, công đức hơn hết, đừng chiều theo dục vọng mà phụ kinh giới. Nếu có nghi hoặc, không hiểu nghĩa kinh, nên đem hỏi Phật, xin Ngài chỉ dạy cho. 

Bồ Tát Di Lặc quỳ gối bạch Phật rằng:  

- Uy thần của Phật thật là tôn quư. Theo lời Phật dạy; con đă nghe và suy nghĩ kỹ lời nói chân thiện đó, quả đúng người đời như vậy. Nay Phật từ mẫn, chỉ dạy đạo lớn, khiến Trời, người đều đội ơn lành, tỉnh tai sáng mắt, giải thoát lo khổ và muôn loại đều được thấm nhuần ân đức, Phật tuệ thông suốt tám phương, trên dưới, quá khứ, vị lai cùng mọi việc hiện tại. Ngày nay chúng con đều được độ thoát là nhờ ở đức khiêm tu cần khổ, cầu đạo đời trước của Phật. Ân đức của Phật che khắp, phúc lộc cao vời, quang minh soi suốt, mở cửa Niết Bàn. Phật là đấng Pháp Vương, đứng trên các bậc Thánh, làm thầy tất cả cơi người, theo chỗ tâm nguyện, đều khiến đắc đạo. Nay được gặp Phật, lại được nghe hồng danh đức Phật Vô Lượng Thọ, tất cả đều vui mừng, tâm trí được mở mang sáng suốt. 

Phật bảo Bồ Tát Di Lặc:  

- Ông nói phải đấy, nếu có người nào tin kính Đức Phật th́ người ấy có phúc thiện lớn, v́ lâu lắm Phật mới thị hiện một lần. Nay ta làm Phật ở cơi đời nầy, diễn nói kinh pháp, truyền bá đạo giáo, cắt lưới nghi ngờ, nhổ gốc ái dục, lấp mọi nguồn ác, đi khắp Tam Giới, không đâu trở ngại. Trí tuệ mở mang, tóm thâu lư đạo, cầm giữ mối giềng, phân minh rơ rệt, chỉ bảo năm chốn, độ kẻ chưa độ, dứt hẳn sinh tử, đến đạo Niết Bàn. 

Di Lặc nên biết:  

- Ông từ vô số kiếp tới nay, tu hạnh Bồ Tát, cứu độ chúng sinh, từ lúc đắc đạo cho đến khi vào Niết Bàn, không thể kể số được. Ông cùng mười phương Trời, người và tứ chúng nhiều kiếp xoay vần trong năm đạo, lo sợ cần khổ, không thể nói hết. Đời nay gặp Phật, được nghe kinh pháp, lại được nghe tên Phật Vô Lượng Thọ, thật vui sướng lắm thay! Tôi mừng giùm cho ông đó. Ông nay cũng nên tự chán mọi nỗi thống khổ về sanh, lăo, bệnh, tử và sự xấu bất tịnh, chẳng đáng vui kia. Tự ḿnh nên quyết đoán, thân ngay, tâm chính, làm nhiều việc thiện, sửa ḿnh trong sạch, rửa bỏ tâm nhơ. Lời nói tin thật, nết na ngay thẳng, ư nghĩ, việc làm ứng hợp với nhau. Người đă độ được ḿnh, lại cứu người khác, tinh tiến cầu nguyện, chứa thêm nhân lành. Tuy có mỏi mệt nhưng được sanh về cơi Phật Vô Lượng Thọ, vui sướng không cùng, an vui măi măi. Đă nhổ hết gốc rễ sanh tử, lại không c̣n khổ nạn, tham giận, ngu si. Lúc ấy, muốn thọ một kiếp, một trăm kiếp hay ngàn ức vạn kiếp cũng tùy theo ư ḿnh, đều có thể được. Đó là pháp Vô Vi tự nhiên, gần với đạo Niết Bàn. Các ông tâm nguyện điều ǵ, đều phải tinh tiến, không nên ngờ vực, kẻo hối không kịp, giữa chừng ăn năn, tự làm tội lỗi, sinh vào cung điện Thất Bảo nơi biên địa kia, trong năm trăm năm, chịu mọi gian khổ. 

Di Lặc bạch rằng:  

- Con xin ghi nhận lời dạy vô cùng quư báu của Phật, chăm chỉ tu học, vâng làm theo lời Phật dạy, chẳng dám nghi ngờ điều ǵ. 

Phật bảo Di Lặc:  

- Các ông ở trong đời này, ngay ḷng thật dạ, chẳng làm việc dữ, công đức rất lớn, mười phương thế giới chẳng ai sánh bằng. Tại sao? V́ cơi nước chư Phật, các hàng Trời và người, chỉ làm các điều lành, chẳng làm những điều dữ, nên dễ dàng khai hóa. Nay ta làm Phật ở thế gian này, trong đó có năm sự dữ, năm sự đau, năm sự đốt, rất là cực khổ. Như Lai giáo hóa quần sinh khiến bỏ năm sự dữ, rời năm sự đau, ĺa năm sự đốt; khiến giữ năm sự lành, để dẫn đến phúc đức trường thọ của đạo Niết Bàn, thật là vô cùng khó khăn. 

Năm sự dữ là ǵ? Năm sự đau là ǵ? Năm sự đốt là ǵ? Làm thế nào tiêu trừ năm sự dữ, khiến giữ năm sự lành, để cho đầy đủ phúc đức, khi chết đi được sinh lên cơi Trường Thọ Niết Bàn. 

Sự dữ thứ nhất: Từ Trời, người cho đến các loài giun, bọ, đều cùng ham làm những việc bạo ác, mạnh bắt nạt yếu, mưu hại lẫn nhau, chèn ép đánh giết, cắn nuốt lẫn nhau. Chẳng biết tu thiện, ác nghịch vô đạo, tự nhiên chịu lấy tội vạ về sau. Thần minh ghi nhớ, chẳng tha kẻ phạm. Thế nên có kẻ nghèo khó thấp hèn, ăn xin côi cút, câm ngọng điếc mù, xấu xa ngây dại, chẳng kịp được người. Vả lại, có kẻ giàu sang, thông minh tài trí là do tu thiện tích đức, thực hành thiện pháp trong những đời trước. Nhưng nay lại thành nghiệp ác gây nên tội lỗi. Lúc sống vướng phải pháp luật thế gian, lao tù đày đọa, chịu mọi h́nh phạt, rơ ràng trước mắt, khó mong ra khỏi. Đến khi chết đi, vào cơi u minh, hoặc lâu hoặc mau, chuyển sang thân khác, phải chịu tam đồ thật là cực khổ. Thần hồn t́nh thức tự nhiên cùng sanh, báo oán lẫn nhau triền miên không dứt. Ác báo chưa hết, chẳng rời được nhau, loanh quanh trong đó, không hẹn ngày ra, khó được giải thoát, khổ đau rên xiết. Đó là sự dữ thứ nhất, sự đau thứ nhất, sự đốt thứ nhất. Ví như lửa dữ đốt cháy thân người, nhưng nếu người biết được th́ dù ở trong lửa dữ, một ḷng chống ư, ngay ḿnh sửa nết, làm mọi điều lành, chẳng làm điều dữ, liền được độ thoát, được phúc đức lớn, nên khi qua đời, được sanh lên cơi Thượng Thiên Nê Hoàn. Đó là sự lành lớn thứ nhất. 

Sự dữ thứ hai: Người trong thế gian, cha con, anh em, chồng vợ không biết nghĩa lư, chẳng theo pháp luật, tâm ư buông lung, hoang dâm kiêu ngạo, nịnh nọt chẳng ngay, nói năng không thật; ghét người hiền, chê người thiện, bẫy người vào chỗ oan uổng. Bậc trên bất minh, tin dùng kẻ dưới; kẻ dưới tự ư, gian giảo nhiều bề, mưu mô tham nhũng, hại kẻ trung lương, trái nghịch ư trời. Dưới lừa dối trên, con lừa dối cha; bà con quen biết, dối gạt lẫn nhau; ai nấy đều mang ḷng tham muốn, giận hờn, ngây dại, coi ḿnh cao trọng, tham lam quá độ, sang hèn trên dưới, đều như vậy cả. Làng xóm chợ thôn, người ngu kẻ dại, bóc lột lẫn nhau, kết thành oan trái. Giầu có keo sẻn, chẳng chịu giúp người, tham ái quá nặng, khổ xác nhọc tâm. Cứ như thế măi, không nơi nương cậy; trong cơi u minh, đi lại một ḿnh; thiện ác họa phúc, theo nghiệp đầu thai. Hoặc ở chốn vui, hoặc vào nơi khổ, sau đó mới hối th́ đă muộn rồi. Người trong thế gian tâm ngu trí mọn, chê ghét người lành, chẳng ḷng kính mến. Hành động gian tham, ŕnh lấy của người, khi tiêu xài hết lại đi t́m kiếm. Tâm tà chẳng chính, chẳng chịu nghĩ suy, việc đến xảy ra, bấy giờ mới hối. 

Lúc sống vướng phải pháp luật thế gian, theo tội ḿnh làm, chịu lấy h́nh phạt. Ngoài ra Thiên Thần ghi tên vào sổ nên khi chết đi, thần hồn bị đọa vào trong đường dữ, khổ năo không lường. Quanh quẩn trong đó, nhiều đời nhiều kiếp, không hẹn ngày ra, khổ đau khôn xiết! Đó là sự dữ lớn thứ hai, sự đau thứ hai, sự đốt thứ hai. Ví như lửa dữ đốt cháy thân người. Nhưng nếu người biết được th́ dù ở trong đó, một ḷng chống ư, ngay ḿnh sửa nết, không làm việc dữ, chỉ làm việc lành, liền được độ thoát, được phúc đức lớn, nên khi qua đời được sanh lên cơi Thượng Thiên Niết Bàn. Đó là sự lành lớn thứ hai. 

Sự dữ thứ ba: Người ta sanh trong thế gian đều là sống gửi, tuổi thọ chẳng được bao nhiêu. Trên là bậc hiền minh, trưởng giả, tôn quư hào phú; dưới là kẻ bần cùng hạ tiện, bại liệt ngu si; giữa là người ác, thường mang ḷng tà, chỉ nghĩ dâm dật, phiền năo, ái dục giao loạn, ngồi đứng chẳng yên; ư tham tiếc giữ, chỉ muốn lấy được; ḍm ngó sắc đẹp, thói tà hiện ra, vợ ḿnh chán ghét, đi lại ngoại t́nh; tổn hại gia cang, làm điều trái phép, tụ hợp kết bè, ra quân đánh lộn, chỉ nghĩ việc ác, làm càn làm bậy, trộm cắp của người; dông tâm phởn ư, mệt xác t́m vui chốc lát. Hoặc đối với họ hàng, chẳng kể người nên kẻ dưới, bà con nội ngoại buồn khổ chán ghét, lại cũng chẳng sợ phép nước cấm ngăn. Tội dữ như thế, chạm đến cả người và quỷ; nhật nguyệt soi thấy, thần minh xét biết, nên bị đọa vào tam đồ khổ năo; quanh quẩn trong đó, nhiều đời nhiều kiếp, chẳng hẹn ngày ra, khổ đau khôn xiết! Đó là sự dữ lớn thứ ba. Ví như lửa mạnh đốt cháy thân người. Nhưng nếu người biết được, th́ dù ở trong đó, một ḷng chống ư, ngay ḿnh sửa nết, chỉ làm việc lành, chẳng làm việc dữ, liền được độ thoát, được phúc đức lớn, nên khi qua đời, được sanh lên cơi Thượng Thiên Niết Bàn. Đó là sự lành lớn thứ ba. 

Sự dữ thứ bốn: Người trong thế gian chẳng nghĩ tu thiện, chỉ xúi giục nhau làm những việc ác. Hoặc nói hai chiều, nói lời độc ác, nói lời gian dối, nói lời thêu dệt, gièm pha, ghen ghét, phá hại người hiền, chẳng hiếu cha mẹ, khinh nhờn sư trưởng, chẳng giữ thành tín với bầu bạn. Tự cao tự đại, cho ḿnh có học, cậy thế làm càn, lấn át người khác; không biết xấu hổ, chẳng sợ Trời đất, Thần Minh, Nhật Nguyệt, coi thường tất cả. May nhờ đời trước làm nhiều phúc đức nên được tiếp giúp cho chút ơn lành. Đời nay làm dữ, phúc đức mất hết, các thiện quỷ thần đều xa bỏ cả. Trơ trọi một ḿnh, không nơi nương tựa. Tuổi thọ khi hết, sự dữ đi theo, tội báo kéo lôi, không sao ĺa bỏ, đành phải đi trước vào trong vạc lửa, thân tâm tan nát, tinh thần đau khổ, tới lúc ấy rồi, ăn năn không kịp. Cho nên phải lăn lộn trong tam đồ khổ năo nhiều đời nhiều kiếp, không hẹn ngày ra, khổ đau khôn xiết! Đó là sự dữ thứ tư, sự đau thứ tư, sự đốt thứ tư, khổ sở khôn cùng. Ví như lửa dữ, đốt cháy thân người. Nhưng nếu người biết được th́ dù ở trong đó, một ḷng chống ư, ngay ḿnh sửa nết, chỉ làm việc lành, chẳng làm việc dữ, liền được độ thoát, được phúc đức lớn, nên khi qua đời, được sanh lên cơi Thượng Thiên Niết Bàn. Đó là sự lành thứ

Sự dữ thứ năm: Người ở thế gian dựa dẫm lười biếng, chẳng chịu làm lành, sửa ḿnh tu tập. Cha mẹ dạy bảo, trợn mắt giận dữ, nói năng chẳng ḥa, trái ngược ngang bướng. Giống như oan gia, chẳng hơn chẳng kém, lấy cho bừa băi, ai cũng ghét chê, quên ơn trái nghĩa không tâm báo đền. Nghèo cùng túng thiếu, sanh tâm làm liều, dông dỡ chơi bời, bạc bài gian lận, số tiền lấy được, dùng nuôi thân ḿnh, đắm say rượu thịt, ăn uống không chừng, tâm ư buông lung, ngang tàng xấc xược; chẳng biết phải trái, cưỡng ép t́nh người. Thấy người hiền thiện, đem ḷng ganh ghét, không lễ không nghĩa, chẳng kiêng nể ǵ. Tự cho ḿnh phải, chẳng kể khuyên can. Lục thân quyến thuộc hoặc no hay đói, chẳng cần. nghĩ đến; chẳng nghĩ công ơn cha mẹ, chẳng giữ đạo nghĩa thầy bạn. Tâm thường nghĩ điều dữ, miệng thường nói điều dữ, thân thường làm việc dữ, chẳng làm một chút lành. Chẳng tin chư Phật, Kinh Pháp, Thánh Hiền; chẳng tin tu đạo th́ được giải thoát, chẳng tin chết rồi c̣n có sanh nữa, chẳng tin làm lành được lành, làm dữ chịu dữ. Lại muốn giết cả Phật, Thánh, khuấy rối chúng Tăng; muốn hại đến cả cha mẹ, anh em, họ hàng, lục thân ghét bỏ, mong cho chết đi. Tâm ư người đời phần nhiều như vậy. Ngu dại mờ tối, lại cho ḿnh khôn ngoan sáng suốt; chẳng biết sanh từ đâu lại, chết sẽ đi đâu, chẳng nhân chẳng thuận, trái nghịch trời đất mà vẫn cầu mong được sống lâu. Phật có từ tâm dạy bảo, khiến cho tỏ ngộ đường sanh tử, thiện ác th́ lại chẳng chịu tin theo. Tâm bị nghẽn lấp, ư chẳng mở mang. Đến khi sắp chết, những sự ăn năn, sợ hăi dồn đến th́ dù muốn lo làm lành, ăn năn sửa đổi, làm sao kịp được. Trong khoảng trời đất, năm đạo rơ ràng: Trời, Người, Địa Ngục, Ngă Quỷ, Súc Sanh mênh mông mờ mịt, thiện ác báo ứng, họa phúc theo nhau, tự ḿnh chịu lấy, chẳng ai thay được. Người lành làm việc lành từ vui vào chỗ vui, từ sáng vào chỗ sáng; người dữ làm việc dữ từ khổ vào chỗ khổ, từ tối vào chỗ tối. Lẽ ấy không ai biết được, chỉ có Phật mới biết rơ thôi. Lời dạy chỉ bảo, nhưng ít kẻ tin theo. Sống chết chẳng ngừng, đường dữ chẳng dứt. Người đời như thế khó thể nói hết. Cho nên mới có ba đường khổ năo, lăn lộn trong đó, nhiều đời nhiều kiếp khó được giải thoát, đau khổ nói sao cho xiết. Đó là sự dữ thứ năm, sự đau thứ năm, sự đốt thứ năm, khổ sở không cùng. Ví như lửa mạnh đốt cháy thân người. Nhưng nếu người nào biết được, dù ở trong đó, một ḷng chống ư, ngay ḿnh sửa nết, chỉ làm việc lành, chẳng làm việc dữ th́ được độ thoát, được phúc đức lớn, nên khi chết đi, được sinh lên cơi Thượng Thiên Niết Bàn. Đó là sự lành thứ năm. 

Phật bảo Di Lặc rằng:  

- Ta bảo với các ông, đời có năm sự dữ, năm sự đau, năm sự đốt khổ sở như vậy. Tất cả chỉ v́ làm điều dữ, chẳng chịu làm điều lành nên mới phải ra vào trong các đường dữ. Hoặc ngay hiện tại mắc bệnh hiểm nghèo, mong chết chẳng được, mong sống chẳng xong. Tội báo hiển hiện khiến cho mọi người đều được trông thấy. Đến khi chết đi, theo việc đă làm, vào ba đường dữ, tự đốt lẫn nhau, khổ sở khốn cùng đến bao đời sau, cùng gây kết oán. Khởi từ việc nhỏ liền thành ác lớn, đều bởi tham tài đắm sắc, chẳng chịu làm ơn bố thí, ngu si tham dục hối thúc, tư tưởng chạy theo tâm ḿnh, phiền năo trói buộc chẳng cởi ra được. Giành lợi về ḿnh, không xét phải trái. Giàu sang sung sướng, hiện thời vui dạ, chẳng hay nhẫn nhục, chẳng chăm tu thiện. Uy thế không được bao, rồi cũng tan biến hết, khiến tâm thân lao khổ, lâu ngày thành nguy kịch. Thể đạo thường nhiên, xưa nay vẳng lặng, tựa như cung tên, giương, buông vẫn giữ. Màng lưới nhân quả đều hợp lẫn nhau, như bóng theo h́nh, tuy thưa khó lọt. Riêng ḿnh côi cút, sống trong cảnh ấy mà chẳng hay biết, thật thẹn lắm thay! 

Thế gian như vậy, ta thật thương họ, nên đem sức thần trừ diệt việc dữ, đưa tới điều lành. Xóa sạch ư quấy, giữ ǵn kinh giới, chịu làm theo đạo pháp, chẳng hề sai trái, hầu mong giải thoát tới đạo Niết Bàn. 

Phật lại dạy rằng:  

- Ông cùng với các hàng Trời, người và người đời sau được nghe kinh Phật, phải suy nghĩ kỹ. Thực hành theo lời Phật dạy, tâm ngay hạnh chính; bậc trên nhất nên làm việc lành để dẫn dụ kẻ dưới, khuyên bảo lẫn nhau khiến ai nấy tự giữ ḿnh cho ngay chính. Tôn bậc Thánh, kính người lành, nhân nghĩa từ bi. Lời Phật dạy bảo, không hề sai trái. Ḷng mong cứu đời, nhổ dứt gốc mọi sự dữ trong đường sanh tử, xa lánh tam đồ là ba đường dữ, vô cùng lo sợ khổ đau. Các người hăy nên trồng nhiều cây đức, ban ơn bố thí, đừng phạm giới cấm; nhẫn nhục, tinh tiến, thiền định, trí tuệ; giáo hóa lẫn nhau, tu phúc làm thiện. Chính tâm thành ư, trai giới thanh tịnh, một ngày một đêm, công đức c̣n hơn làm lành một trăm năm ở cơi Phật Vô Lượng Thọ. Tại sao vậy? V́ cơi nước Đức Phật ấy, vô vi tự nhiên, chứa mọi sự lành, không có mảy may sự dữ. Cơi Ta Bà tu thiện mười ngày mười đêm c̣n hơn làm lành một ngàn năm ở các cơi Phật phương khác. Tại sao vậy? V́ ở các cơi Phật phương khác, người làm lành nhiều, kẻ làm dữ ít, phúc đức tự nhiên, không có chỗ để tạo nên sự dữ. Chỉ ở cơi Ta Bà có nhiều sự dữ, chẳng có tự nhiên. Khổ công tham muốn, lừa dối lẫn nhau, mệt tâm nhọc thân, ăn cay uống đắng, việc dữ như thế nối tiếp không ngừng. Ta thương các người là hàng Trời, người nên khổ tâm dạy bảo, khiến tu thiện nghiệp. Tùy nghi dạy bảo, trao cho kinh pháp. Nếu ai được tin, theo ư sở nguyện, đều khiến cho chứng được đạo quả. Phật đi đến đâu, nước làng khu xóm, chẳng đâu chẳng được nhờ ơn giáo hóa. Thiên hạ ḥa thuận, nhật nguyệt sáng trong, mưa gió thuận ḥa, tai nạn chẳng khởi. Nước giàu dân yên, binh đao vô dụng. Chuộng đức dấy nhân, chăm tu lễ nhượng. 

Phật lại dạy rằng:  

- Ta thương xót người là các Trời, người c̣n hơn cha mẹ thương nghĩ đến con. Nay ta làm Phật ở cơi đời này, hàng phục năm sự dữ, tiêu trừ năm sự đau, diệt tắt năm sự đốt, đem sự lành, trừ sự dữ, nhổ sạch cái khổ sanh tử, khiến cho được năm đức, lên tới cơi an lạc vô vi. Khi ta nhập diệt rồi, kinh đạo sẽ mất dần, loài người dua nịnh dối trá, trở lại làm mọi sự dữ nên bị năm sự dốt, năm sự đau y như trước kia. Càng lâu về sau, càng thêm cực khổ, nói không thể hết. Đó là ta chỉ nói sơ qua cho các ngươi nghe, các ngươi nên suy nghĩ cho kỹ, khuyên bảo lẫn nhau, theo như kinh pháp Phật, dạy mà tu hành, không được trái phạm. 

Bấy giờ Bồ Tát Di Lặc, chắp tay bạch rằng:  

- Những lời Phật dạy rất đúng, người đời quả thật như vậy. Như Lai ḷng từ thương xót chúng sanh, khiến cho hết thảy đều được độ thoát. Chúng con xin ghi nhận lời dạy quư trọng của Phật, chẳng dám trái sai. 

Phật bảo A Nan:  

- Ông hăy đứng dậy, sửa lại y phục, chấp tay cung kính, đỉnh lễ Đức Phật Vô Lượng Thọ. Mười phương cơi nước chư Phật Như Lai thường cũng ngợi khen Phật Vô Lượng Thọ không ngừng không ngớt. 

Bấy giờ A Nan đứng dậy, sửa lại y phục, thẳng ḿnh hướng về phía Tây, cung kính chấp tay, năm vóc sát đất, đỉnh lễ Đức Phật Vô Lượng Thọ, bạch rằng:  

- Lạy Đức Thế Tôn! Con nguyện được thấy Đức Phật Vô Lượng Thọ ở cơi nước An Lạc, và các đại chúng Bồ Tát, Thanh Văn.  

Bạch xong, tức thời Đức Phật Vô Lượng Thọ buông hào quang sáng lớn, soi khắp tất cả thế giới chư Phật, lần lượt núi Kim Cương, núi Tu Di, các núi lớn nhỏ, cung điện, Trời, người đều cùng hiện ra hết cả. Ví như nước lớn tràn ngập thế giới, muôn vật trong đó ch́m đắm chẳng hiện, chỉ thấy nước lớn mênh mông bát ngát, ánh hào quang sáng của Đức Phật kia cũng giống như thế. Tất cả ánh hào quang của Bồ Tát, Thanh Văn đều bị che mờ bởi ánh hào quang rực rỡ của Đức Phật. 

Bấy giờ A Nan và tứ chúng liền trông thấy Đức Phật Vô Lượng Thọ: oai đức cao vời như núi Tu Di, cao hơn tất cả trong các thế giới. Nương theo ánh sáng hào quang vô cùng mầu nhiệm của Đức Phật Vô Lượng Thọ, các Bồ Tát, Thanh Văn, Trời, người bên cơi Cực Lạc cũng thấy được rơ ràng Đức Phật Thích Ca ở cơi Sa Bà đang v́ đại chúng mà thuyết pháp. 

Lúc ấy, Phật hỏi A Nan và Từ Thị Bồ Tát rằng:  

- Trong cơi nước kia, từ mặt đất trở lên, đến cơi trời Tịnh Cư, trong đó có những vật mầu nhiệm, thanh tịnh, tự nhiên, các ông trông thấy hết không?  

A Nan đáp:

- Dạ, chúng con đă thấy. 

- Các ông có nghe tiếng lớn của Đđức Phật Vô Lượng Thọ truyền đi khắp tất cả thế giới để giáo hóa chúng sanh chăng?  

A Nan đáp:  

- Dạ, chúng con đă nghe!  

- Các ông có thấy nhân dân cơi nước kia nương nơi cung điện thất bảo rộng lớn trăm ngàn do tuần, đi khắp mười phưong cúng dường chư Phật, mà không bị trở ngại chăng?  

A Nan đáp:  

- Dạ, chúng con đă thấy.  

- Các ông có thấy, nhân dân cơi nước kia, có loài thai sanh chăng?  

A Nan đáp:  

- Dạ, chúng con đă thấy. Loài thai sanh đó, ở nơi cung điện, rộng trăm do tuần, hoặc năm trăm do tuần, họ thụ hưởng mọi sự khoái lạc, tự nhiên như trên cơi trời Đao Lợi vậy. 

Bấy giờ, Từ Thị Bồ Tát bạch Phật rằng:  

- Bạch Thế Tôn! V́ nhân duyên ǵ, nhân dân nước kia, người th́ thai sanh, kẻ lại hóa sanh?  

Phật bảo Từ Thị:  

- Nếu có chúng sanh tu các công đức, nguyện sanh về cơi kia, nhưng đem ḷng ngờ vực th́ chẳng rơ được trí của Phật, trí chẳng thể nghĩ bàn, trí chẳng thể ngợi khen, trí đại thặng rộng lớn, trí trên hơn hết, không có trí nào sánh bằng. Đối với các thứ trí ấy, ngờ vực chẳng tin. Song c̣n biết tin tội tin phúc, tu tập điều lành, nguyện sanh về cơi Cực Lạc. 

Những chúng sanh đó khi mệnh chung lại được sanh nơi cung điện kia, thọ năm trăm tuổi, thường chẳng thấy Phật, chẳng nghe kinh pháp, chẳng thấy Bồ Tát, Thanh Văn, Thánh chúng. Bởi thế, ở cơi nước kia gọi là thai sanh. Nếu có chúng sanh, tin rơ Phật trí cho đến thắng trí, làm mọi công đức, ḷng tin hồi hướng, sẽ được hóa sanh trong hoa thất bảo, ngồi xếp bằng tṛn, trong khoảng giây phút, thân tướng trang nghiêm, công đức trí tuệ, đều trọn đủ cả, như các Bồ Tát vậy. 

Lại nữa, Từ Thị! Các Đại Bồ Tát ở phương khác phát tâm muốn được thấy Đức Phật Vô Lượng Thọ và các chúng Bồ Tát, Thanh Văn bên nước của Ngài để cung kính cúng dường, th́ các Bồ Tát ấy, khi mệnh chung được sinh về cơi Phật Vô Lượng Thọ, tự nhiên hóa sanh, trong hoa thất bảo.  

Di Lặc nên biết:  

- Bậc hóa sanh th́ có trí tuệ rộng lớn. C̣n hạng thai sanh th́ trí tuệ thấp kém, trong năm trăm năm chẳng được thấy Phật, chẳng nghe kinh pháp, chẳng thấy Bồ Tát, các chúng Thanh Văn; không được cúng dường chư Phật, chẳng biết phép tắc Bồ Tát, chẳng được tu tập công đức. Hạng người này, bởi đời trước không có trí tuệ, ngờ vực trong lúc tu nhân, nên hậu quả là như vậy. 

Phật bảo Di Lặc:  

- Ví như Chuyển Luân Thánh Vương có nhà tù bằng bảy tứ báu, trang hoàng đẹp đẽ, trần thiết giường mùng, treo các dây lọng. Nếu có thái tử phạm tội với vua, liền bị giam vào trong đó, cột bằng khóa vàng, rồi cung cấp cho mọi thứ: cơm nước, áo quần, giường nệm, hoa hương, kỹ nhạc, giống như vua Chuyển Luân, không thiếu thứ ǵ. Vậy theo ư ông, các vị thái tử có thích ở nơi ấy chăng?  

- Bạch Đức thế Tôn! Chắc hẳn không thích. Chỉ muốn t́m đủ mọi cách, cầu mọi thế lực, mong được ra khỏi chốn ấy. 

Phật bảo Di Lặc:  

- Chúng sanh tu phúc, cũng giống như thế, v́ c̣n ngờ vực trí tuệ của Phật, nên tuy sanh vào cung điện bảy báu, không có h́nh phạt, không có khổ sở. Nhưng trong năm trăm năm, chẳng thấy Tam Bảo, chẳng được cúng dường, chẳng được tu các nhân lành, nên lấy đó làm khổ. Tuy vui có thừa, nhưng cũng chẳng vui bằng cơi Phật Vô Lượng Thọ. Nếu chúng sinh ấy biết được lỗi ḿnh, ăn năn tự trách, cầu ĺa khỏi đấy liền được như ư, dần được đến chỗ cơi Phật Vô Lượng Thọ và vô lượng vô số các cơi Phật khác, cung kính cúng dường và tu mọi công đức.  

Di Lặc nên biết:  

- Hễ có Bồ Tát nào sanh tâm ngờ vực là mất lợi lớn. V́ thế, nên phải hiểu rơ và tin tưởng vào trí tuệ tuyệt vời của chư Phật. 

Bồ Tát Di Lạc bạch Phật rằng:  

- Bạch Đức Thế Tôn! Ở thế giới Ta Bà có được bao nhiêu vị Bất Thoái Bồ Tát, sinh về cơi Phật Vô Lượng Thọ?  

Phật bảo Di Lặc:  

- Ở thế giới này có sáu mươi bảy ức vị Bất Thoái Bồ Tát văng sanh sang cơi nước ấy. Mỗi một vị Bồ Tát đă từng cúng dường vô số chư Phật, gần bằng sự cúng dường của Di Lặc vậy. C̣n các tiểu hạnh Bồ Tát và người tu tập công đức c̣n ít th́ số văng sanh chẳng thể kể xiết. 

Chẳng những ở cơi ta, mà các cơi Phật phương khác cũng đều có các Bồ Tát văng sanh sang cơi Cực Lạc. 

Một là cơi Phật Viễn Chiếu, cơi ấy có một trăm tám mươi ức Bồ Tát đă được văng sanh sang cơi nước ấy. 

Hai là cơi Phật Bảo Tạng, cơi ấy có chín mươi ức Bồ Tát đă được văng sanh sang cơi nước ấy. 

Ba là cơi Phật Vô Lượng Âm, cơi ấy có hai trăm hai mươi ức Bồ Tát đă được văng sanh sang cơi nước ấy. 

Bốn là cơi Phật Cam Lộ Vị, cơi ấy có hai trăm năm mươi Bồ Tát, đă được văng sanh sang cơi nước ấy. 

Năm là cơi Phật Long Thắng, cơi ấy có mười bốn ức Bồ Tát đă được văng sanh sang cơi nước ấy. 

Sáu là cơi Phật Thắng Lực, cơi ấy có một vạn bốn ngàn Bồ Tát đă được văng sanh sang cơi nước ấy. 

Bảy là cơi Phật Sư Tử, cơi ấy có năm trăm Bồ Tát đă được văng sanh sang cơi nước ấy. 

Tám là cơi Phật Ly Cấu Quang, cơi ấy có tám mươi ức Bồ Tát đă được văng sanh sang cơi nước ấy. 

Chín là cơi Phật Đức Thủ, cơi ấy có sáu mươi ức Bồ Tát đă được văng sanh sang cơi nước ấy. 

Mười là cơi Phật Diệu Đức Sơn, cơi ấy có sáu mươi ức Bồ Tát đă được văng sanh sang cơi nước ấy. 

Mười một là cơi Phật Nhân Vương, cơi ấy có mười ức Bồ Tát đă được văng sanh sang cơi nước ấy. 

Mười hai là cơi Phật Vô Thượng Hoa, cơi ấy có vô số các bậc Bất Thoái Bồ Tát, trí tuệ dũng mănh, đă từng cúng dường vô số chư Phật. Chỉ trong bảy ngày mà thu nhiếp được các pháp kiên cố của các Đại Sĩ đă từng tu tập trăm ngàn ức kiếp. Các Bồ Tát ấy đă được văng sanh sang cơi nước ấy. 

Mười ba là cơi Phật Vô Úy, cơi ấy có bảy trăm chín mươi ức Đại Bồ Tát, c̣n tiểu Bồ Tát và các Tỉ Khưu chẳng thể kể xiết, đă được văng sanh sang cơi nước ấy. 

Phật bảo Di Lặc:  

- Chẳng những chỉ có các vị Bồ Tát trong mười bốn cơi Phật ấy được văng sanh, mà c̣n rất nhiều Bồ Tát ở mười phương thế giới cơi Phật, số được văng sanh, cũng nhiều như vậy. Nay ta chỉ nói lược danh hiệu chư Phật mười phương và các Bồ Tát, Tỉ Khưu được sanh sang cơi ấy. Nếu nói rộng ra th́ suốt đêm ngày, trong cả một kiếp, cũng không thể hết được. 

Phật bảo Di Lặc:  

- Nếu có người được nghe danh hiệu của Đức Phật Vô Lượng Thọ sanh tâm vui mừng chỉ trong một niệm, cũng biết người ấy, được lợi ích lớn, công đức tṛn đầy. 

Này Di Lặc! Nếu có lửa dữ, đầy khắp ba ngàn Đại Thiên thế giới, gắng sức vượt qua, được nghe kinh này, vui mừng tin ưa, chịu giữ đọc tụng, theo như Phật dạy mà tu hành th́ được lợi ích không thể kể xiết. 

V́ sao vậy? V́ có nhiều Bồ Tát muốn được nghe kinh này. Nếu lại có người, được nghe kinh này th́ đạo Vô Thượng quyết không lui chuyển. Do đó, nên phải chuyên tâm tin chịu, tŕ tụng, khiến được thấy Phật Vô Lượng Thọ và tất cả cảnh vật kỳ diệu ở cơi nước Cực Lạc. 

Nay Như Lai v́ chúng sanh mà nói kinh này, nếu làm điều ǵ, trước nên cầu thỉnh và thực hành ngay. Đừng để khi ta diệt độ rồi, lại sanh tâm ngờ vực. Như Lai đem ḷng từ bi thương xót nói cho ông rơ: Về đời mạt pháp, kinh giáo diệt hết, chỉ c̣n riêng kinh này trụ lại một trăm năm, nếu có người nào gặp được kinh này, tùy theo ư nguyện, đều được độ thoát. 

Phật bảo Di Lặc:  

- Như Lai ra đời, khó gặp khó thấy, kinh giáo của Phật khó được khó nghe, thắng pháp của Bồ Tát, các pháp Ba La Mật, cũng khó được nghe; gặp bậc Thiện tri thức, được nghe pháp mà tu hành cũng lại là rất khó. Nếu người nghe kinh này mà tín tâm chịu giữ th́ lại càng khó, chẳng ǵ khó hơn. V́ thế, pháp của Như Lai, làm như vậy, nói như vậy, dạy như vậy, phải tin theo, đúng pháp mà tu hành. 

Khi Đức Thế Tôn nói kinh này, vô số chúng sanh nghe rồi đều phát tâm Vô Thượng Chính Giác. Một vạn hai ngàn na do tha ngựi được Pháp nhăn thanh tịnh, hai mươi ức chư Thiên nhân dân được quả A La Hán, tám mươi vạn Tỉ Khưu được Lậu Tận Ư Giải, bốn mươi ức Bồ Tát được ngôi Bất Thoái Chuyển; rồi đem công đức thệ nguyện rộng lớn mà trang nghiêm cho ḿnh, đến đời sau này th́ thành bậc Chánh Giác. 

Lúc ấy, ba ngàn Đại Thiên thế giới sáu thứ chấn động, ánh sáng lớn chiếu khắp mười phương các cơi nước, trăm ngàn âm nhạc tự nhiên trỗi lên, vô số hoa thơm ngào ngạt từ trên không rải xuống. 

Phật nói kinh này xong, Bồ Tát Di Lặc và các Bồ Tát ở mười phương lại, Trưởng Lăo A Nan, các đại Thanh Văn và tất cả đại chúng đều vui mừng tin chịu vâng làm. 

 

BÁT NHĂ BA LA MẬT ĐA TÂM KINH

 

Ngài Bồ Tát Quán Tự Tại khi thực hành thâm sâu về trí tuệ Bát Nhă Ba La Mật, th́ soi thấy năm uẩn đều là không, do đó vượt qua mọi khổ đau ách nạn.

Nầy Xá Lợi Tử, sắc chẳng khác ǵ không, không chẳng khác ǵ sắc, sắc chính là không, không chính là sắc, thọ tưởng hành thức cũng đều như thế.

Nầy Xá Lợi Tử, tướng không của các pháp ấy chẳng sinh chẳng diệt, chẳng nhơ chẳng sạch, chẳng thêm chẳng bớt.

Cho nên trong cái không đó, nó không có sắc, không thọ tưởng hành thức.

Không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân ư.

Không có sắc, thanh, hương vị, xúc pháp.

Không có nhăn giới cho đến không có ư thức giới.

Không có vô minh, mà cũng không có hết vô minh. Không có già chết, mà cũng không có hết già chết.

Không có khổ, tập, diệt, đạo.

Không có trí cũng không có đắc, v́ không có sở đắc.

Khi vị Bồ Tát nương tựa vào trí tuệ Bát Nhă nầy th́ tâm không c̣n chướng ngại, v́ tâm không chướng ngại nên không c̣n sợ hăi, xa ĺa được cái điên đảo mộng tưởng, đạt cứu cánh Niết Bàn.

Các vị Phật ba đời v́ nương theo trí tuệ Bát Nhă nầy mà đắc quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

Cho nên phải biết rằng Bát Nhă Ba La Mật Đa là đại thần chú, là đại minh chú, là chú vô thượng, là chú cao cấp nhất, luôn trừ các khổ năo, chân thật không hư dối.

Cho nên khi nói đến Bát Nhă Ba La Mật Đa, tức là phải nói câu chú: 

Yết đế yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha. (3 lần)

(Qua rồi qua rồi, qua bên kia rồi, tất cả qua bên kia rồi, giác ngộ rồi đó!) 

 

BÀI TỤNG KINH RỒI SÁM HỐI VÀ HỒI HƯỚNG

 

Đệ tử chúng con, v́ nghiệp ma ngăn cản, thần chí lẫn rối, căn tính u minh, tự nhiên sinh ra, ư nghĩ quanh co, dáo dở chất chồng. Tuy mắt nh́n tới chữ mà tâm chạy theo việc khác, lầm cả chữ, sai cả câu. Giọng đọc th́ nặng nhẹ không đều, hiểu biết lại chấp theo tà kiến. Hoặc v́ công việc lấn cướp mất chí, tâm chẳng để vào kinh. Tụng niệm th́ lúc đứng lúc ngồi, đứt đoạn, bỏ dở, cách quảng, lướt qua. Tụng lâu sanh ra trễ năi, v́ việc trái ư sanh ra tức giận. Chốn nghiêm tịnh, hoặc làm cho dơ dếch, nơi tôn kính, hoặc trở lại khinh nhờn. Thân miệng y xiêm, chẳng được thanh tịnh, y hậu lễ lạy, thiếu vẻ trang nghiêm; cúng dường chẳng được đúng phép, ở vào nơi không phải chỗ. Kinh sách mở gấp, làm cho nhàu rối; hoặc để rơi rớt, dơ bẩn, rách nát. Tất cả đều chẳng chuyên chẳng thành, rất thẹn hổ, rất sợ hăi. Kính xin chư Phật, Bồ Tát khắp pháp giới, hư không giới, cùng hết thảy Thánh Chúng, Hộ Pháp, Thiên Thần, Thiên Long từ bi thương xót, cho chúng con được sám hối, sạch hết tội lỗi, khiến công đức tụng kinh này, đuợc vẹn tṛn vừa ư. 

Đệ tử chúng con lại thành tâm phát nguyện, hồi hướng, v́ c̣n lo sợ việc phiên dịch, nhuận sắc sai lầm, chú giải không đúng; truyền dạy có sai lạc, âm thích có lầm lẫn, so sánh sửa đổi có thiếu sót, viết chép in cắt có lẫn lộn. Những lỗi lầm đó, dù các vị Pháp Sư hay mọi người khác, chúng con cũng hết xin v́ họ mà sám hối. Kính nhờ sức uy thần của Phật, khiến cho tội chướng được tiêu trừ. Và xin chư Phật thường quay bánh xe pháp, cứu vớt cho muôn loài. 

Sau nữa, nguyện đem công đức tụng kinh, tŕ chú này, hồi hướng cho các vị Hộ Pháp, Long Thiên, Thần linh núi sông trong ba cơi, các vị Thiên Thần giữ ǵn chốn Ǵa Lam, cầu mong được hạnh phúc, an lạc, ḥa b́nh, chí thiện, để trang nghiêm đạo quả Vô Thượng Bồ Đề và nguyện cho khắp cả chúng sanh trong pháp giới cùng vào được cảnh giới Pháp thân của chư Phật. (3 tiếng chuông sang hiệu mơ). 

 

 

BÀI NIỆM PHẬT CỦA NGÀI ĐẠI THẾ CHÍ BỒ TÁT

(Trong kinh Thủ Lăng Nghiêm)

 

Ngài Đại Thế Chí, con đấng Pháp Vương, cùng năm mươi hai vị đại Bồ Tát đồng hàng với Ngài, liền từ chỗ ngồi, đứng dậy dập đầu lễ dưới chân Phật mà bạch Phật rằng: 

- Con nhớ đời xưa, cách đây nhiều kiếp, như cát sông Hằng, có Phật ra đời, hiệu Ngài là Vô Lượng Quang; mười hai Như Lai, cùng nối ngôi nhau, ra trong một kiếp, Như Lai cuối cùng, hiệu Ngài là Siêu Nhật Nguyệt Quang. Ngài dạy con pháp Niệm Phật Tam Muội. 

Ví như hai người: Một người chuyên nhớ, một người cứ quên; hai người như thế, dù có gặp nhau, cũng như không gặp; dù có thấy nhau, cũng như không thấy. Vậy hai người phải cùng nhớ đến nhau, rất là thân thiết, cứ như thế măi, cho hết kiếp này, lại sang kiếp khác, như bóng với h́nh, chẳng xa rời nhau. 

Mười phương Như Lai, thương nhớ chúng sanh, như mẹ nhớ con; nếu con trốn chạy, th́ mẹ dẫu nhớ, c̣n làm ǵ được. Nếu con nhớ mẹ, như mẹ nhớ con, mẹ con đời đời, chẳng rời xa nhau. Nếu tâm chúng sanh, nhớ Phật niệm Phật, đời này đời sau, quyết định thấy Phật, cách Phật chẳng xa. Chẳng nhờ đến pháp phương tiện nào khác, mà cũng tỏ ngộ được tâm của ḿnh, như người ướp hương, thân có mùi hương; pháp này gọi là Hương Quang Trang Nghiêm. 

Chỗ bản thân con, dùng tâm niệm Phật, vào Vô Sanh Nhẫn. Nay ở cơi này, tiếp người niệm Phật, về nơi Tịnh Độ. Phật hỏi đến con, pháùp tu viên thông, con không chọn lựa, con chỉ thu nhiếp, tất cả sáu căn, chuyên một tịnh niệm, nối nhau liền liền, được pháùp chánh định, ấy là thứ nhất.

 

BÀI NIỆM PHẬT

 

            Thân Phật Di Đà vàng chói lọi,

            Tướng tốt rực rỡ chẳng ai b́.

            Mắt xanh trong lặng bốn biển lớn,

            Mi sáng tỏa lồng năm núi Di.

            Hào quang hóa ra vô số Phật,

            Lại hóa rất nhiều các Bồ Tát.

            Bốn mươi tám nguyện độ chúng sanh,

            Chín phẩm đều lên bờ Đại Giác.

 

            Nam mô Tây Phương Cực lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật. (3 lần)

            Nam mô A Di Đà Phật. (108 lần).

            Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát. (3 lần)

            Nam mô Đại Thế Chí Bồ Tát. (3 lần)

            Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát. (3 lần)

            Nam mô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát. (3 lần) 

 

LỄ TỔNG
(đứng hoặc quỳ, vừa đọc vừa lễ)

 

Quy mệnh đảnh lễ Tam Bảo, thường trụ suốt ba đời khắp mười phương, hết cả Hư không và Pháp giới. (1 lễ)

Quy mệnh đảnh lễ Đức Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni, là Giáo chủ cơi Ta Bà. (1 lễ)

Quy mệnh đảnh lễ Đức Phật A Di Đà, là Giáo chủ ở cơi Cực Lạc phương Tây. (1 lễ)

Quy mệnh đảnh lễ Đức Phật Di Lặc, là Giáo chủ ở cơi Ta Bà đời mai sau. (1 lễ)

Nhất tâm đảnh lễ Đức Bồ Tát Đại Trí Văn Thù cùng các vị Đại Bồ Tát ở khắp Pháp giới, (1 lễ)

Nhất tâm đảnh lễ Đức Bồ Tát Đại Hạnh Phổ Hiền cùng các vị Đại Bồ Tát ở khắp Pháp giới. (1 lễ)

Nhất tâm đảnh lễ Đức Bồ Tát Đại Bi Quán Thế Âm cùng các vị Đại Bồ Tát ở khắp Pháp giới. (1 lễ)

Nhất tâm đảnh lễ Đức Bồ Tát Đại Lực Đại Thế Chí cùng các vị Đại Bồ Tát ở khắp Pháp giới. (1 lễ)

Nhất tâm đảnh lễ Đức Bồ Tát Địa Tạng Vương cùng các vị Đại Bồ Tát ở khắp Pháp giới. (1 lễ)

Nhất tâm đảnh lễ các vị Bồ Tát trong Hải Hội Thanh Tịnh cùng Hiền Thánh Tăng ở khắp Pháp giới. (1 lễ)

Nhất tâm đảnh lễ các vị Bồ Tát Lịch Đại Tổ Sư. (1 lễ)

Nhất tâm đảnh lễ các vị Bồ Tát Hộ Pháp chư Thiên.(1 lễ)

Nhất tâm đảnh lễ Đức Bồ Tát Hộ Pháp Vi Đà, là bậc được các cơi Trời tôn kính và ba châu vâng theo. (1 lễ) 

Con nay nguyện v́ khắp cả bốn ân, ba cơi, pháp giới chúng sanh, dứt khỏi ba chướng, chí thành phát nguyện.

(1 lễ) 

 

PHÁT NGUYỆN TỊNH ĐỘ
(quỳ tụng)

 

Đệ tử chúng con (Đệ tử con là...) 

            Nhất tâm quy mệnh,

            Phật A Di Đà.

            Ở cơi Cực Lạc,

            Xin lấy Tịnh Quang.

            Soi cho chúng con,

            Xin đem Từ tuệ.

            Thu nhiếp chúng con,

            Nay con chính niệm.

            Niệm danh hiệu Phật,

            V́ đạo Bồ Đề.

            Cầu sanh Tịnh Độ,

            Phật xưa đă thề:

            "Nếu có chúng sanh,

            Muốn sanh sang nước.

            Cực Lạc của ta,

            Dốc ḷng tin ưa.

            Từ người niệm nhiều,

            Cho đến những người.

            Niệm mười danh hiệu,

            Nếu chẳng được sanh.

            Th́ ta thề quyết,

            Chẳng lên ngôi Phật."

            V́ nhân duyên ấy,

            Mà người niệm Phật.

            Mới được vào trong,

            Bể đại thệ nguyện.

            Của đức Như Lai,

            Nhờ từ lực Phật.

            Mọi tội tiêu hết,

            Căn lành thêm lớn.

            Đến giờ lâm chung,

            Tự ḿnh biết trước.

            Thân không đau khổ,

            Tâm chẳng tham luyến.

            Ư chẳng điên đảo,

            Như vào Thiền định.

            Phật cùng Thánh chúng,

            Tay cầm đài vàng.

            Lại đón tiếp con,

            Chỉ trong giây lát.

            Sanh sang Cực Lạc,

            Hoa nở thấy Phật.

            Được nghe Phật thừa,

            Phật tuệ liền khai.

            Độ khắp chúng sanh,

            Bồ Đề măn nguyện.  (Dứt mơ 3 tiếng chuông) 

 

TAM TỰ QUY

 

Tự quy y Phật, nguyện cho chúng sanh, hiểu rơ đạo lớn, phát tâm Bồ Đề.(1 lễ)

Tự quy y Pháp, nguyện cho chúng sanh, thấu suốt Kinh tạng, trí tuệ như biển.(1 lễ)

Tự quy y Tăng, nguyện cho chúng sanh, thống nhất đại chúng, hết thảy không ngại.(1 lễ). 

 

HỒI HƯỚNG

 

            Nguyện đem công đức này,

            Hồi hướng cho tất cả,

            Đệ tử cùng chúng sanh,

            Đều cùng thành Phật đạo.

 

             Minh Quang posted October 28, 2005
 

[Home] [Up] [Kinh Chánh-Pháp-Hoa, mục lục] [Kinh A Di Đà] [Kinh Đại Báo Phụ Mẫu Trọng Ân] [Kinh Hoa Nghiêm - Trí Tịnh dịch] [Kinh Địa Tạng] [Kinh Tứ Thập Nhị Chương] [Kinh Vu Lan Bồn] [Kinh Di Giáo] [Kinh Diệu Pháp Liên Hoa] [Công Phu Khuya] [Kinh Quán Vô Lượng Thọ] [Kinh A Di Đà nghĩa] [Kinh Thiện Sanh] [Bích Nham Lục] [Đàm Vô Đức Tứ Phần Luật] [Khuyến Phát Bồ Đề Tâm Văn] [Đại Thừa Kim Cang Kinh Luận] [Kinh Ngọc] [Thập Nhị Môn Luận - Thích Thanh Từ] [Kinh A Di Đà Yếu Giải] [Kinh Dược Sư - Thích Huyền Dung] [Kinh Địa Tạng bản dịch ở Bắc Việt] [Kinh Vô Lượng Thọ - Tuệ Đăng] [Kinh Lăng Già - TN Trí Hải] [Kinh Bát Chu Tam Muội] [Kinh Lăng Già - Tuệ Khai] [Kinh Thắng Man - Thanh Từ] [Kinh Giải Thâm Mật 1] [Kinh Pháp Bảo Đàn1] [Kinh Hư Không Tạng Bồ Tát] [Kinh Duy Ma Cật 1] [Kinh Ngũ Bách Danh Quán Thế Âm] [Chứng Đạo Ca - Vĩnh Giác] [Địa Tŕ Bồ Tát Giới Bổn] [Địa Tŕ Bồ Tát Giới Bổn Tiên Yếu] [Bồ Tát Giới - Thích Trí Quang] [Kinh Lục Độ Tập - Đại Tạng Kinh 152] [Kinh Phạm Vơng Bồ Tát Tâm Địa Phẩm Lược Sớ] [Mục Lục Càn Long Đại Tạng Kinh] [Kinh Đại An Ban Thủ Ư] [Luận A Tỳ Đàm Về Việc Thành Lập Thế Giới] [Kinh Diệu Pháp Liên Hoa - Minh Định dịch] [Kinh Diệu Pháp Liên Hoa - Tuệ Hải dịch] [Luận Đại Thừa Khởi Tín - Mă Minh - Lê Đ́nh Thám dịch] [Kinh Thắng Man Phu Nhân Hội - Chân Hiền Tâm dịch giải] [Kinh Dược Sư - Tuệ Nhận dịch]