Chùa Hải-Đức in Jacksonville
|
|
Phạm Thiên Thư
KINH NGỌC (QUA SUỐI MÂY HỒNG) Thi Hoá Tư Tưởng Kim Cang Kinh Vajracchedika Prajna Paramita Sutra
Chùa Khánh Anh Xuất Bản 1993
Nahi etehi yànehi gaccheyya agatam Dhammapada
nào nhờ xe mây biếc Thích Già Mâu Ni
LỜI GIỚI THIỆU
Thầy Tuệ Không Phạm Thiên Thư một sinh viên tốt nghiệp Phật Khoa Vạn Hạnh đă có sáng kiến và can đảm thi hóa Kinh Kim Cương để cúng dường chánh pháp. Tôi nói sáng kiến v́ rất ít có Phật tử nếu không phải là chưa có, đă dùng thể thơ mà diễn đạt nghĩa chân không diệu hữu của Đại Thừa. Tôi nói can đảm v́ chỉ có tuổi trẻ mới can đảm làm những chuyện phi thường và thật là phi thường khi cả gan thi hóa bản kinh "Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm". Thật sự, xưa kia Đức Phật cũng đă dùng thể kệ (gàthà hay sloka) để thuyết pháp độ sanh. Thể kệ tức là thể thơ ngày nay vậy. Gọi là để tán thán công đức thi hóa của thầy Tuệ Không, tôi ghi sau đây bài kệ bằng chữ Sanskrit. bản kệ này được dịch ra chữ Hán như sau:
Nhược dĩ sắc kiến
ngă
Ye màm rùpena
càdràksurye Thích Minh Châu Viện Trưởng Viện Đại Học Vạn Hạnh
TỰA
Đứng trước cảnh tàn sát, lắng nghe tiếng rên siết, tự cảm thấy ḿnh bất lực, mà tụng niệm kinh Kim Cương th́ lại thấy tâm hồn dịu lại.
Mầu nhiệm thay Kim-Cương! Ước ǵ ḷng tôi biến thành Kim-Cương để xóa tan biên giới Ta với phi Ta, để liễu ngộ sinh tử, để hết trụ vào Ta, cho cái tâm giải thoát. Phải chăng đấy là cái Tâm "Ưng vô sở trụ mà sinh" nó đă dẫn dắt Huệ Năng về Tào Khê, nó đă làm cho Thái-Tông khoát nhiên tự ngộ vai tṛ lănh đạo nhân dân "dĩ thiên hạ tâm vi tâm - dĩ thiên hạ dục vi dục". Vào sinh ra tử suốt cả một đời ngơ hầu thực hiện cái nghĩa vô tâm:
"Lưu thủy hạ sơn phi hữu ư Không có ư mà làm, với cái tâm không tâm! Thật khó lắm thay! Cao siêu thay! Ở vào thời mạt pháp, chính là thời khắp mặt đất mong cầu thánh chúa ra đời, Di-Lạc giáng thế. Cho nên để dọn đường cho hành động vô tâm tưởng như chỉ c̣n tâm lư nghệ thuật họa may làm cho con người tin tưởng vào Đạo Vô Cầu ở thế giới. V́ chỉ có cảm xúc mỹ nghệ mới gợi đuợc ở ḷng người ư vị Trang Chu mộng làm hồ điệp, để nh́n thế giới với đôi mắt kim cương:
Nhất thiết hữu vi pháp Vậy thầy Phạm Thiên Thư đă cảm ứng mà thi hóa kinh Kim Cương Bát Nhă. Nên lắm thay! Gia Định nay tựa mồng một, tháng tư, năm Canh Tuất
NGUYỄN-ĐĂNG-THỤC
Nguyện cúng dường kinh tạng thơ hoa
Phạm Thiên Thư
NGỢI KINH
thân như sương đầu cỏ tụ mười cơi trăng sao nhập ḍng thơ thâm diệu mộng thức dưới hoa đào
DÂNG KINH
cánh lan ngọc cong cong mười viền trăng thu khuyết hoa khép tay trầm hương qui-y tôn kính Phật
MỞ KINH
giấy cỏ hoa mây trắng chép đôi ḍng kinh thơ suối nào vi diệu tụng trang nghiêm cơi Phật thừa
I
Mây hào quang về hội hoa suối cũng yên nghe pháp hội nhân do
con chim thu cơi tịnh cũng về hội ta bà trùng trùng mây mây biếc hoa trải cúng dường hoa
trong khu vườn mai trắng sương đọng mấy từng hoa sao tụ nước xá-vệ hương ngát mười cơi xa
trên trụ đá mây đỏ trải chiếu cơi lưu ly Phật kết kim cương tọa chim tụng pháp diệu kỳ
hai ngàn năm trăm vị tỳ-kheo rực pháp-y dưới thềm đá mây nổi dưới thềm hoa uy nghi
II
Giữa rừng hoa tịch mặc Thoảng tiếng suối thần rơi Thiện hiện khải thỉnh
giữa đại chúng tịch mịch hiền giả tu-bồ-đề đứng dậy chắp tay ngọc hoa trắng trải hoàng-y
vô ngàn, vô ngàn năm mây hương một lần tỏa vô ngàn, vô ngàn năm cơi ngọc nở sao lạ
đức vô thượng như-lai chúng sanh cầu đạo cả chí an trụ nơi đâu pháp trừ tâm huyễn vọng ?
III
hoa vàng khe đá cũ trang nghiêm cơi đại thừa đại thừa chính tông
thiện nam như ngọc trên đài sen như hoa mai đông một sớm nở lắng nhuần sương tụ mười cơi sao
chúng sinh cầu đạo cả như trăng hiện hư không hào quang vô lượng biển mười cơi sáng mênh mông
nguyện độ hết chúng sanh loài sinh từ trứng ngọc loài sinh từ thai hoa loài sinh hồ suối nước loài hóa sinh cơi trời loài có sắc không sắc lăng đăng bụi vàng rơi loài có tưởng, không tưởng tan hợp thoáng mây trôi
chúng sinh như sương tụ chúng sinh như mây tan mười cơi bóng mây nổi nhập vô-dư niết-bàn vô lượng, vô biên độ mà không một chúng sanh đồng cùng như tánh trí từ biển lặng vô minh
bồ tát thiên chấp ta của ta, rồi khác ta chấp chặt thọ gỉa tướng chúng sanh tướng hằng sa chưa thành bồ tát đạo
IV
dặm mây hồng muôn cơi nào v́ ngấn lệ hoa diệu hành vô trụ
thực hành pháp bố thí chẳng chấp thức căn trần vô ngă vô sở trụ vô ngại cơi phù vân
như mười phương sao biếc mười phương cơi hư không bố thí vô tướng trụ công đức chẳng suy lường
bồ tát trụ tâm ta như trăng tụ sương ngọc như tĩnh lự mặt trời mạch sống mười cơi nước
V
Phiến hoa mai trắng nở cửa động khép xuân thu như lư thực kiến
dùng tâm thân huyễn vọng nh́n vạn pháp mây trôi thấy chăng như lai tướng ? chỉ thấy nước trăng xuôi
thân tướng không chân thực gỉa dối bóng mây đưa vượt qua vô chướng ngại phương tiện như lai thừa
VI
ba cơi ngọc lưu ly nở mặt rời không tiện chính tín hy hữu
tu bồ đề tác bạch: đứng vô thượng pháp vương chúng sinh có tin thực cửa trí huệ chân thường
người tu tŕ phước huệ nguyện phát thanh tịnh tâm tin pháp ngọc chân thực muôn xưa thiện kiếp trồng vô lượng kho châu ngọc nghiệp đức tụ trăm sông
không chấp vạn hữu tướng ngă, pháp, sạch tâm không chính pháp như bè ngọc dùng qua ngọn suối hồng chân đến bờ vi diệu bè cũng thả xuôi sông
VII
mây hồng kết giải suối nào cần thuyền trăng đưa vô đắc vô thuyết
nầy hiền gỉa bồ đề diễn bầy ư chân thực tôi được chính pháp chăng ? và trao quyền pháp ư ?
không pháp nào vô thượng phương tiện, phương tiện thôi! ngài chưa thuyết một pháp v́ tánh chẳng y lời
đạt ư, như thực ư ĺa lời, như thực lời đạt trí, như thực trí ư, lời ngọn sóng khơi
vô lượng hiển thánh tăng pháp vô vi tu hành từ chân tâm vắng lặng sái biệt độ quần sanh
VIII
tặng trùng hoa giọt ngọc nào bằng thơ đại bi y pháp xuất sinh
người đem biển châu ngọc vô lượng núi lưu ly rộng cho muôn cơi nước khắp cỏ hoa phù đề công đức vô biên lượng! chưa bằng tụng một ḍng kim cương biển trí tuệ
hoặc diễn vi diệu thơ cúng dường nhất thiết tướng v́ vô lượng Như-Lai từ phẩm kinh ngọc này chứng vô thượng chính giác phật pháp, không phật pháp mới tạm gọi phật thừa thế gian tức phật pháp nhuần làn giải thoát mưa cỏ cây trổ hoa ngát
IX
cơi đất hồng mă năo nở muôn chúng hoa thơm nhất tướng vô tướng
thánh quả tu-đà-hoàn gọi nhập ḍng giải thoát chẳng gọi tu-đà-hoàn v́ thực không quả đạt như đầm sâu bùn tanh ngại v́ hoa trổ ngát
thánh quả tư-đà-hàm c̣n một lần sinh tử chẳng gọi tư-đà-hàm v́ chẳng nơi lai khứ như ao bợn bùn nhơ khóm sen xanh thường trụ
thánh quả a-na-hàm chẳng trong ṿng dục-giới không gọi a-na-hàm v́ chẳng nơi ngăn ngại muôn cơi một cơn mây mưa từ vô lượng trải thánh quả a-la-hán bậc an trụ niết bàn chẳng là a-la-hán v́ ngă, pháp mây tan như mặt trời thanh tịnh muôn cơi giáp tâm đan
nay con tu tịch tịnh vắng lặng như hư không nên chẳng gọi tịch tịnh v́ động tĩnh ngoài ṿng
X
một bông hồng tịnh mặc trang nghiêm cơi bụt vàng trang nghiêm phật độ
xưa hội Phật Nhiên Đăng tôi đắc pháp nào chăng ? ngài đắc vô sở đắc vượt ngă, pháp tâm băng
vô lượng bồ-tát-hạnh cơi Phật làm trang nghiêm hạnh nguyện không sở nguyện trang nghiêm thực trang nghiêm !
bồ tát khởi sinh tâm thanh tịnh như hư không vô nguyện, vô sở trụ viên măn một tâm đồng như mưa khắp phương cơi riêng ǵ chốn tây đông
XI
cao cao từng mây biếc sao kết ḍng thơ hoa vô vi thắng phúc
người phát tâm bố thí ngọc, sao đầy hư không vàng, cuộn long giang cát chưa bằng tụng kinh này hoặc kết ḍng thơ ngọc vào mật ư như lai tạo vô lượng nghiệp đức vô lượng trợ thần oai vàng ngọc thêm chấp chặt tham si lệ đổ hoài thấm ḍng thơ giải thoát cứu độ khắp trần ai
XII
trăng không ĺa đáy suối sen trắng ngát đầm xanh tôn trọng chính giáo
người diễn nói kinh này dù một câu đạo vị khắp cơi quỷ, trời, người cúng dường như tháp Phật
tôn kinh này nơi đâu đó hào quang chư Phật tŕ tụng trang ngọc kinh tựu thành pháp bậc nhất
XIII
y trụ trang diệu kinh lắng tan ba nghiệp vọng như pháp thụ tŕ
hiền giả tu-bồ-đề dưới thềm mây đá biếc tôn kinh này tên ǵ ? phụng tŕ sao như thực ?
này hiền gỉa bồ đề tên kinh gọi kim cương bát-nhă ba-la-mật thụ tŕ như danh trên
Phật thuyết ba-la-mật chẳng phải ba-la-mật mới thật ba-la-mật ĺa tướng như thực tâm, phương tiện lời biện biệt
chính pháp như bè ngọc phương tiện vượt sông mê bừng tự tánh bồ-đề, bè sông như thực trí
vô cùng bụi nhỏ vàng khắp đại-thiên thế-giới ông nghĩ bụi nhiều chăng ? vô lượng bụi vàng này cũng không nhiều, không nhỏ tạm gọi bụi vàng thôi Như-Lai gọi thế giới thế giới thực không nơi tạm gọi là thế giới
như gợn mây đáy nước ĺa bóng để nh́n trời mây mười phương tan tụ bóng nào có một nơi ĺa kinh một chữ nhỏ tức xa như thực lời nệ chấp một câu nhỏ chân tướng măi xa vời chấp sóng chẳng thấy nước vọng tâm măi nổi trôi ĺa sóng để thấy nước sóng, nước một trùng khơi vào, ra không ngăn ngại chân , vọng chẳng riêng nơi
ba mươi hai tướng quư có thấy được Như-Lai bóng hoa in đáy suối nào biết thực hoa mai chẳng nệ tướng mây nổi sá ǵ nghĩa Như-Lai
người mang vô thủy kiếp như đáy cát sông trong phát đại nguyện bố thí như người chuyển kinh này in tụng ḍng thơ nhỏ hoặc diễn giải thoát thơ chúng sinh vô lượng độ phúc đức ngút mây mờ
XIV
cánh cửa ngọc vi diệu mở tụng mười cơi sao ly tướng tịch duyệt
mười phương trời châu ngọc thắp sáng từng lời kinh xuôi về biển trí tuệ hiền gỉa tu bồ đề
đức vô thượng Như-Lai mở cửa ngọc vi diệu! con từ vô thủy nay mới nghe kinh mầu nhiệm ư tuyệt vời mây bay!
có người nghe mật nghĩa vào biển thanh tịnh tâm khởi tướng vàng chân thực tựu thành đức hy hữu thật tướng, tức không tướng mới là thâm mật thân thật tánh, tức không tánh thân, ư nắm phù vân
nay con được thụ tŕ nương từ âm thần lực thâm hiểu ngọc vàng kinh để vào Như-Lai-Ư
vô lượng kiếp kiếp sau người tụng đôi lời ngọc phát tâm vô lượng từ tựu thành nhất thiết đức
ĺa gỉa ngă huyễn vọng chẳng nệ tướng tụ tan chúng sinh nguyện độ hết địa ngục chuyển niết bàn
sau nghiệp chúng sâu dầy có người tụng kinh ngọc sợ hăi chẳng sinh ḷng v́ tịnh không ngă, pháp hy hữu, hy hữu thay!
đệ nhất ba-la-mật chẳng phải ba-la-mật mới thật ba-la-mật nhập thể tánh tṛn đầy xa ĺa ngôn tự thuyết
nhẫn nhục ba-la-mật mê, ngộ chẳng xa ĺa ngă, pháp thể không lặng cầu ǵ bên bờ kia
tiền thân tôi một kiếp từng bị Ca-Lợi vương hành hạ cắt thân thể tâm chẳng sinh giận buồn v́ ngă, pháp không lặng
lại nhớ thủa quá khứ tôi là vị tiên tu nhập đại hạnh nhẫn nhục ngă, pháp tướng xa ĺa
người cầu đạo bồ đề phát tâm vô lượng độ ĺa gỉa tướng mây hồng bố thí vô sở trụ
chư tướng, không thực tướng chúng sinh, không chúng sinh lời chân như b́nh đẳng không dối trá mảy may
khởi hạnh nguyện bố thí chưa ĺa tướng huyễn mê như người trong ngục đất quờ quạng có thấy ǵ !
khởi hạnh nguyện bố thí chẳng v́ sự, tướng mê như người mở mắt sáng dưới mặt trời lưu ly thấu rơ pháp chân, vọng
mai sau có người nào thụ tŕ phẩm kinh ngọc vào biển trí Như-Lai tựu thành vô lượng đức
XV
giọt sương đọng đài sen ảnh chiếu ba cơi bụi tŕ kinh công đức
có người đem thân mệnh như phù sa hồng hà bố thí muôn ức kiếp có người trộm nghe kinh khởi ḷng tin thanh tịnh đức vô lượng vô biên hơn đại nguyện bố thí trải thân ngọc tam thiên vàng ngọc đắp ngục tối ḍng kinh mở năo phiền
v́ người khởi đại tâm phát nguyện tối thượng thừa tôi mở pháp vi diệu ai đọc tụng thọ tŕ diễn giải chân thực ư vào biển huệ lưu ly tựu thành vô lượng đức là chuyển đạo Như-Lai cứu người trong lửa vực
người chấp trược ngă kiến chúng sinh, thọ gỉa kiến như tù ngục trong thân đối với kinh ngọc này không thụ tŕ tụng đọc chẳng thấy pháp NhưLai ch́m sâu ḍng suối độc !
nơi nào mở kinh này ngâm tụng ḍng thơ nhỏ khắp cơi quỉ trời người cúng dường vô lượng độ như kim thân Như-Lai như tháp thờ xá lợi thường tại giữa mây bay
XVI
vô cùng trăng sao vỡ vô cùng bọt nước tan năng tịnh nghiệp chướng
người tŕ tụng kinh này bị người khác khinh chê v́ nghiệp trước sâu dầy nay nghiệp tội tiêu tan khởi phát thanh tịnh tâm chứng vô lượng đạo quả như sen ướp, trầm xông
trải qua vô lượng kiếp tôi theo Phật Nhiên Đăng cúng dường vô lượng Phật công đức chẳng so bằng người tụng phẩm kinh ngọc nghĩa thâm diệu suy tầm ngă, pháp thể không tịch thực chứng đạo viên dung
XVII
rửa tay tam giới mộng sông cuộn bụi vàng rơi cứu kinh vô ngă
Hiền gỉa tu-bồ-đề trải tọa cụ lưu ly chắp tay lan bạch ngọc tán thán pháp diệu kỳ!
đức vô thượng Thế-Tôn truyền tâm đạo Bồ-Đề pháp nào ư an trụ ? pháp nào đẹp huyễn mê ?
người thiện nam, thiện nữ khởi tâm đại Bồ-Đề hết thảy chúng sinh độ chúng sinh diệt độ rồi như không một chúng sanh mê, ngộ vô sai biệt đồng tánh trí tựu thành
tu-bồ-đề hiền gỉa ư ông nghĩ thế nào ? tôi theo Phật Nhiên Đăng chứng đạo vàng vô thượng ?
như mật ư Như lai xưa Nhiên Đăng Phật hội chẳng một pháp ngoài tâm không chính đẳng, chính giác
nếu một pháp ngoài tâm tôi vào vô thượng giác cổ Phật Nhiên Đăng nào thụ kư sao thành Phật: hiệu Thích Ca Mâu Ni
bồ tát chấp ngă tướng huyễn tướng khởi trùng trùng như mắt quáng hoa không chưa thành bồ tát đạo !
thực ra không pháp nào khởi tâm cầu vô thượng thực ra không pháp nào gọi chính đẳng chính giác
xưa nay đạo không lặng mê, ngộ chẳng ngoài ṿng một tâm giáp mười cơi biển lặng bóng trăng trong
Như-Lai là diệu nghĩa như như vạn pháp thường xưa nay không một pháp như bóng chớp hoa sương
không một pháp bồ tát không ta cũng không người không trang nghiêm cơi phật mật nguyện hoa vàng tươi !
làm trang nghiêm cơi Phật tức trang nghiêm cơi người ngă, pháp bóng mây nổi vào ra ḍng nước xuôi
XVIII
một thể nước thanh tịnh mây sương suôí biển đông nhất thể đồng quán
hiền giả tu-bồ-đề diễn bày ư chân thực ! tôi có nhục nhăn chăng ? quả ngài có nhục nhăn
hiền giả tu-bồ-đề diễn bày ư chân thực ! tôi có thiên nhăn chăng ? quả ngài được thiên nhăn
hiền giả tu-bồ-đề diễn bày ư chân thực ! tôi có tụê nhăn chăng ? quả ngài có tụê nhăn
hiền giả tu-bồ-đề diễn bày ư chân thực ! tôi có pháp nhăn chăng ? quả ngài chứng pháp nhăn
hiền giả tu-bồ-đề diễn bày ư chân thực ! tôi có Phật nhăn chăng ? quả ngài có Phật nhăn
vô lượng số sông hồng vô lượng cát phù giang như vô lượng cơi Phật vô lượng tâm chúng sinh tôi đều như thực quán tướng đồng dị mang mang hoá sinh vô lượng kiếp không ngoài tâm viên đồng thể không sanh, trụ, diệt
XIX
mặt trời trí huệ sáng mười cơi một tâm không pháp giới thông hóa
bố thí vô lượng ngọc bằng tất cả tam thiên phúc đức nhiều vô lượng từ một đại nhân duyên
nếu như phúc thật có chẳng thể lượng ít nhiều v́ vốn không thật có phương tiện nói bao nhiêu
nghiệp duyên như sóng nổi phúc đức như bọt trôi khi gío yên biển lặng t́m đâu bọt giữa khơi
XX
ĺa sương un bọt nổi tâm hiện một ḍng trong ly sắc ly tưởng
nhờ kim thân đầy đủ có thấy tướng Như-Lai không qua thân mây nổi mà thấy đức Như Lai
gọi sắc thân đầy đủ nào phải sắc thân thường mới gọt thân đầy đủ huệ đức tạng Kim Cương
qua vạn tướng tốt đẹp có thấy được Như-Lai ? không qua tướng mây gấm mà thấy dấu Như-Lai
đầy đủ tướng tốt đẹp không phải tướng tṛn đầy mới tạm gọi đủ tướng như bóng suối chim bay
như hoa nổi hư không như mây ch́m đáy nước ĺa sắc tướng, tâm không chẳng t́m đâu một bước
XXI
không lời vàng thức ngộ tâm thể có mê đâu phi thuyết sở thuyết
người chấp Như-Lai pháp là không hiểu nghĩa mầu nghe pháp không chấp pháp cầu pháp không người cầu tôi hằng phương tiện thuyết mê ngộ có xa đâu
vô lượng kiếp kiếp sau người khởi tâm thanh tịnh biết cầu đạo nơi đâu ?
t́m mộng trong giấc mộng người mê, chẳng thấy mê xưa nay không ngă, pháp t́m đâu lối bồ đề
XXII
mở mắt dứt mộng lớn mê ngộ chẳng đôi bờ vô pháp khả đắc
đức vô thượng Như-Lai tâm không chỗ sở đắc đạo cả chẳng trong ngoài nào có được mảy may
không một pháp vô thượng chẳng cho cũng chẳng cầu không hư, cũng không thực mới gọi pháp nhiệm mầu
XXIII
tâm mười cơi hư không nẻo vào đâu lối ngơ tịnh tâm hành thiện
pháp như như b́nh đẳng, không thấp cũng không cao vô ngă, vô thọ gỉa vô nhân, vô chúng sanh do tu vạn pháp lành, nẻo vào vô thượng đạo
pháp lành, không pháp lành, dùng pháp, không nệ pháp. lợi lạc khắp chúng sinh niết bàn vô thượng đạt.
XXIV
tiếng chuông vàng thức chúng cơi mộng thoảng tơ sương phúc trí vô tỷ
có người dùng báu ngọc, góp triệu dăy trường sơn. rộng cho đến côn trùng, phúc đức vô lượng bể. không bằng một ḍng kệ, tŕ tụng hoặc diễn bầy, ca ngâm kinh ngọc này, khiến bừng tam giới mộng. nghiệp đức nước ngh́n sông, cứu độ nhất thiết khổ, cúng dường Phật mười phương.
XXV
mưa ngọc trải mười cơi vô lượng chúng hoa thơm hóa vô sở hóa
các ông chớ bảo rằng Như Lai độ chúng sinh v́ ngă, pháp không tịch nhân duyên tự độ ḿnh ḿnh là đảo ngọc sáng giữa biển vọng vô minh ḿnh, mắt xích phiền năo độ người tức độ ḿnh
Như Lai tạm nói ngă chỉ phương tiện giải bày kẻ mê chấp thật có như lặng suối t́m mây
XXVI
vàng vàng hoa mướp nở mang mang hạt bụi rơi pháp thân phi tướng
ba mươi hai tướng ngọc, chẳng quán được Như-Lai. dùng sắc không thấy Phật, pháp thân nào trong ngoài.
dùng thân vàng thấy Phật, dùng khánh ngọc cầu ta, người đó lạc tà đạo, đũa ngọc gắp sao tà.
XXVII
ngọn suối sương un trắng ŕ rào bọt nước xô vô đoạn vô diệt
xa ĺa thân huệ ngọc, nên chứng đạo bồ đề. từ ư đó cầu đạo, vạn pháp diệt tan đi.
v́ phát tâm vô thượng không chấp pháp đoạn trừ xá chi mây tan hợp, chân thực tướng như như.
XXVIII
vào ra cơn mây nổi áo rũ bụi vàng rơi bất thụ bất tham
bồ tát dùng thơ ngọc, như cát nổi cửu long, vô lượng kiếp bố thí. có vị chứng pháp không, được tạo thành pháp nhẫn. công đức kể vô cùng, hơn núi vàng biển ngọc.
vạn pháp không thật ngă, ḥa hợp đốm mây xanh. chẳng tham chấp phước đức, không hưởng phước quả sinh. tâm ngọc không đắm nhiễm, tṛn tịnh nhật quang minh.
XXIX
chân khỏa ngọn suối trong tan mấy từng sao biếc vô nghi vô tĩnh
có người chấp Như-Lai, là như lui, như tới. là như nằm, như ngồi, thật không hiểu nghĩa nói,
Như-Lai không đâu lại, không do nơi nào đi. Như-Lai như thực trí, v́ khởi ngộ tan mê. ngă, pháp thể không tịch, không đi cũng không về.
XXX
một ngọn suối cát trắng thả mười cơi mây bay nhất hợp ly tướng
nếu có người thiện nam, đem đại thiên thế giới, nghiền nát như bụi vàng. ông nghĩ bụi nhiều chăng ?
tu-bồ-đề tác bạch: vô cùng hạt bụi vàng v́ nếu bụi có thực, Như-Lai không nghĩ bàn. thực tướng ĺa ngôn thuyết, ẩn dụ ư mang mang.
những hạt bụi nhỏ đó, tức không phải bụi vàng, mới thật là bụi nhỏ. Thực tướng khó suy bàn, chẳng chấp phương tiện thuyết,
ba ngh́n cơi đại thiên. không ba ngh́n thế giới, mới gọi đại tam thiên. vị thể không biện biệt.
nếu cơi kia có thực, h́nh tướng hợp như mây, một h́nh tướng hợp lại, tức không phải tướng này. mới gọi tướng hợp lại, nhân duyên giấc mộng vầy, như ánh chớp trời ngọc, như thoảng nắm sương bay.
h́nh tướng mây tan hợp, lời không thể nghĩ suy. ḷng tham chấp sự tướng, nghe thêm chẳng ích ǵ. như dưới cầu nước chảy, vừa đó đă qua đi.
tôi thuyết, phương tiện thuyết, người nghe, không chấp nghe, bỏ quên lời bặt ư, tự hiện tâm bồ dề. mười phương nào ngăn ngại.
XXXI
máu huyết cất nhật nguyệt một cơi ánh lưu ly trí kiến bất sinh
nếu có người cho rằng: Phật nói ngă, nhân kiến, chúng sanh, thọ, gỉa kiến, có hiểu ư tôi chăng ?
người nào đó hiểu nghĩa, phương tiện thuyết Như-Lai. lời nói không trọn ư, người nghe chẳng vẹn lời. v́ tập kiến chấp chặt, càng xa nghĩa diệu vời. người phát tâm bồ đề, tin, thấy, biết như thực. chấp trược chẳng sinh ḷng, thực chứng minh huệ đức.
viên ngọc dấu trong tay, nghe lời, tin lời thế chẳng khởi tâm giữ lời, cốt ĺa xem ngọc thể. niềm tin thoảng bóng mây.
XXXII
một cành hoa mai nở trang nghiêm đồi thông hồng vô hóa phi chân
có người dùng mưa ngọc, rộng cho khắp tam thiên. phúc đức vô lượng bể, chưa bằng viết ḍng kệ. tŕ tụng hoặc diễn bầy ca ngâm kinh ngọc này, khiến tỉnh tam giới mộng. nghiệp đức nước trùng dương, cứu độ nhất thiết khổ. đền ơn Phật mười phương.
người nhập kinh diệu này, xa ĺa huyễn ngă pháp, vô ngại bóng mây bay, cúng dường nhất thiết vật. tự tại giữa vần xoay, thể như như bất động,
trùng trùng pháp hữu vi, như huyễn mộng bọt nước, như bóng chớp sương mai, thường quán tưởng như thị,
Phật nói kinh này rồi, hoa cúng dường phơi phới. chim tụng vi diệu âm, mây về mười cơi giới. trưởng lăo tu-bồ-đề tỳ khưu, tỳ khưu ni, ưu bà tắc bà di, khắp cơi quỉ trời người, hoa hỷ bừng pháp hội.
KHÉP KINH
chẳng nương bè trúc ngọc, vượt qua suối mây hồng, con chim vô lượng kiếp, về tha trái nhăn không.
ĐỘNG HOA VÀNG
chim từ bỏ động hoa thưa người từ tóc biếc đôi bờ hạ đông lên non kiếm hạt tơ hồng đập ra chợt thấy đôi ḍng hạc bay
Qua Suối Mây Hồng - phụ lục
NGĂ PHÁP MÂY NỔI
Tôi đang ngồi trên một chiếc ghế, một chiếc bàn viết gỗ nâu đặt ngay khung cửa sổ nh́n xuống khu đất cỏ xanh nằm xuôi hai bên con sông đọng nước tịch mịch. Khung cửa này là lối ngơ của hoàng hôn, của trăng sao, hoa cỏ và cả những tiếng chim lạnh buốt hắt vào tâm thức tôi mỗi chiều. Tất cả thế giới đó kết lại làm huyết bào nuôi dưỡng khí chất, nuôi dưỡng mảnh thân thể hiu hắt, rừng núi của những dù nấm hóa thân làm tinh tú mỗi đêm. Tôi , nuôi dưỡng tạo vật trong ḿnh, cưu mang tất cả nhật nguyệt mất máu ... Tôi tựu thành con xoáy khủng khiếp của vô lượng hành tinh lấp lánh trong ḍng ngân hà xa xăm. Tôi là một kết hợp dồn nén của tinh lực vũ trụ, của những dải mây huyền bí nhất, những mạch nguồn sâu thẳm nhất như bầy ngựa xanh chuyển vó, như ngàn ngàn con sông mang hoa lá dồn về. Tôi là đại dương nơi băo gío hát ca, nơi tụ đọng lớn lao của nước mắt loài người. Những ống máu trong tôi cuồng nộ như trăm ngàn ḍng Hồng Hà mang cát đỏ nuôi dưỡng h́nh hài. Trái tim tôi: Một nửa là cao nguyên Tây Tạng, nơi nghi ngút tuyết bay, nơi tím ngắt mặt trời, và một nửa là vực sâu của đại dương. Mỗi nhịp đập là lăng đăng mây bay, là gầm gừ biển lớn, là muốn xô nghiêng cánh cửa Âm, Dương, là vẫy gọi mặt trăng đầu thai vào mặt trời để trần gian ch́m toàn thể trong bóng tối thân mật, vắng vẻ, vĩnh cửu của mọi nhăn pháp so đo. Bây giờ thỏi nến vàng ệch lù mù trước mặt, chỉ đủ sức quyến rũ những con dế lang thang, những cánh bướm bỏ sương mù vào sưởi ấm. Tôi rất quư những bạn láng giềng này, những khúc ca, những cuộc chơi rong trọn kiếp, mà không bao giờ t́m thấy giữa loài người. Tất cả mọi tiếng ca chỉ c̣n lại trong tiếng rú thống thiết của ư thức thất bại. Tất cả mọi bước chân rong ruổi là những bước chạy trốn tù ngục tự thân. Cũng dưới ngọn lửa này, những trang kinh càng trở nên héo úa, những trang giấy nghi ngút tà dương. Mỗi phiến giấy thơm trở nên một chiếc lá khô xào xạc, những chiếc lá cuối mùa của một cồn rừng ǵa thâm u vắng vẻ. Những nét chữ cổ hiện thân từng đốt xương mục, từng nghành củi đeo đét th́ thào, từng cỗ xương chim ră nát, từng mảnh sỏi vô hồn ... Tất cả chỉ c̣n là bèo bọt lênh đênh trên cơn hồng thủy ư niệm dâng ào ạt trong tôi. Tôi hú gọi mật nghĩa về nhập xác. Tôi chuyển tinh năng vào từng ngữ ngôn hồi sinh. Tôi kết tinh tú lại làm ḍng kinh thơ nhật nguyệt. Tất cả bừng sáng trên một tâm địa huy hoàng. Mỗi ḍng kinh Kim Cương là một suối tóc biêng biếc hiu hiu, là sợi mưa thu lăng đăng, là một lấm chấm hoa đào, là sợi hương thơm tan loăng từng mây, là dế đá ngủ giữa mặt trăng và đàn ca năo nuột, là Nhị tướng giao nhau đẻ ngược ra Đấng vô cùng. Tôi gọi hồn thiên thu nhập với gang tay. Tôi chiêu vía vô cùng hiện giữa sương bụi. Tôi đốt xác hoàng hôn làm triêu dương mở mắt. Mỗi ḍng kinh thơ, là một mạch máu. Mỗi mạch máu là ḍng tinh khí mặt trời, là một hơi thở băo tố. Tôi thở bằng kinh thơ, cưu mang từng túi phổi. Tôi đâm nổ ư thức tôi cho những ḍng kinh vọt ra như vô vàn cây mống trời. Nút xoáy tinh lực không c̣n, tôi vỡ tung như trăm ngàn mảnh mây hào quang kiêu ngạo vỗ cánh vào vũ trụ. Mỗi chữ, mỗi nét mực xanh là mỗi cô đọng tinh lực vũ trụ. Sức mạnh của một biển cả thu gọn trong nét chữ bùa chú ngàn cân dưới cán bút ấn quyết xẻ núi. Tôi chỉ c̣n là kết hợp tạm bợ của sa mạc ư niệm, nằm chờ tiếng réo huyền bí của gío rừng tóc vô lượng ḍng kinh. Tôi c̣n vô lượng chiếc kén tơ của con tằm đang mọc cánh thoát h́nh vỗ cánh ra đi làm trăng sao vằng vặc. Bây giờ đúng ba giờ đêm. Mỗi vị sư là mỗi thế giới tịch mịch, mà mỗi gian pḥng là những cảnh giới vũ trụ riêng biệt. Quí thầy ngủ yên ấm như một bóng trăng hiền từ trong giọt sương. Chỉ c̣n tôi và ḍng sông dưới kia vẫn tỉnh thức cô quạnh. Tôi phải thức với ḍng sông, thức vĩnh cửu cho ḍng sông chảy măi, tôi chợt bâng khuâng trước một bóng bóng dáng trên tường. Không đó chỉ là chân dung của tổ Bồ-Đề vác thuyền trượng khai thị trên vai, treo chiếc giầy cỏ vi mạt vô minh như một chấm than chênh vênh cuối cùng; chiếc giầy duy nhất đạp lên Nhị tướng để ĺa cả sự ra đi. Trở về và ra đi cũng chỉ là sự gỉa danh, chỉ sự lênh đênh của cuộn mây trắng. Trở về chỉ là sự ra đi trùng sinh, sự ra đi nhập diệu, v́ hoàng hôn bên này là triêu dương bên nọ, cũng như lá cờ vĩnh cửu chỉ tung bay trong nhận thức, ḍng sông chỉ chuyển dịch trong huyết mạch, bia mộ chỉ là bia mộ của ảo tưởng thường tại; ảo tưởng này là biến chứng của tâm bệnh tham chấp và mê loạn. Sự chết không phải là sự trở về mà là sự ra đi đột biến, sự vượt cầu vào mây khói. Cây cầu lửng như là dấu nối ngắn ngủi giữa hai đầu của sự vô cùng - là một ảo giác hiện nổi lên giữa vô cùng tím ngắt cỏ hoa. Cỏ hoa là hiện thân của vô cùng vi diệu. Kẻ yêu cỏ hoa là kẻ đi vào vô cùng. T́nh yêu là chân tướng của vô cùng - chim non trong hốc cây - Mẹ dậy tiếng hót tŕu mến - Ngụ từ bất tuyệt thiên thu. Ngụ từ là liếc mắt mầu nhiệm. Ngụ từ là ngọn tóc bâng khuâng. Ngụ từ là tiếng em nước suối. Ngụ từ là tiếng bồ câu gù nhau trong hốc cây. Ngụ từ là con chim nho nhỏ tha cỏ lên cành. Ngụ từ là câu hỏi vu vơ: Sao em áo xanh đă vàng lệ đợi. Ngụ từ là muôn về trong một. Ngụ từ là ngôn ngữ tinh nguyên. Ngụ từ là nụ cười mầu nhiệm. Ngụ từ là ẩn tích của ngôn ngữ. Ngụ từ là ngụ từ. Kẻ lữ thứ qua cầu, muốn mau qua cầu như một cơn mưa thu, v́ đường c̣n xa, c̣n bao nhiêu núi cao mây trắng cám dỗ, c̣n bao nhiêu cồn hoa suối mát đợi chờ, rồi đến một thị trấn nào đó ít lâu lại làm lại cuộc ra đi. V́ máu huyết thường hằng sôi động ra đi. Tôi rất thèm những chuyến xe chợ xọc xạch, vừa mang tôi đi, vừa dằn vặt tôi, cũng như tôi vừa ra đi vừa dằn vặt ḿnh trọn kiếp. Tôi chán ngán hết mọi tỉnh lị. Tôi thèm một chỗ ngồi bên cửa xe, hút một cối thuốc, nh́n lên cây cao lăng đăng sương dài theo cỗ xe dong duổi t́m kiếm mảnh mặt trời vàng cuối núi. Tôi chỉ thèm chuyển dịch. Khinh thị những phố núi, đèo mây, những viện rượu ven rừng ngừng nghỉ. Nhổ nước bọt vào những ga mưa, chợ phố, những hang hốc cư ngụ. Tôi sống trọn vẹn bằng máu huyết ca hát lên đường. Chỉ có ra đi mới giải thoát. Giải thoát sự giải thoát mới giải thoát. Ra đi là bản chất của dịch hóa vũ trụ. sự ra đi cuối cùng, sự ra đi tột đỉnh là ra đi của sự ra đi, ra đi trong nỗi không tịch sấm sét. Một chiều, có lẽ vào một mùa hạ thật xa, ngày ấy như một cánh chim biếc đă rụng xuống ven núi rũ xương. Tôi cắp tấm nhựa về một ruộng lúa ngoại ô, nằm hút thuốc nh́n trời, việc nh́n trời cao đối với tôi cũng cần thiết như đóa hoa, sách quư, trông cây và như hai bữa cơm rau thanh đạm. Tôi chợt thích thú đón xe đi Vũng Tầu và t́m được chuyến xe cuối ngày lưa thưa hành khách. Thế rồi cỗ xe chợ ǵa cũng vừa kịp thả tôi xuống thành phố cùng với vừng sao đêm chi chít trên băi biển. Tôi vời khung xe gỗ ngựa chất đầy bóng tối về phía băi sau. Vó ngựa lọc cọc rơi mưa trên con đường cheo leo lưng núi. Tôi bỏ xuống chọn một quán ăn có cây đèn gío vàng ệch trên tường. Gọi một phần ăn, một ly rượu nâu đậm, một phin cà phê rồi ngả lưng nhồi cối thuốc hút nh́n biển. Biển đêm trở thành cây dương cầm gỗ huyền hoặc. Những ngọn sóng ŕ rào trong hốc đá, những ngọn gío hú vi vu cuồn cuộn chung quanh. Những bờ cây nào rũ tóc. Những đỉnh non nào le lói trăng sao. Biển chỉ c̣n những tiếng khóc, những tiếng thổn thức, tiếng nấc nghẹn thống thiết, tiếng nguyền rủa th́ thầm, tiếng hát ca man rợ. Biển là hiện thân của sự đau khổ chất chứa; nơi tụ đọng tất cả nước mắt loài người và trùng thú. Biển là dấu chấm hết vĩ đại nhất của thiên thu, cũng như giếng mắt huyền nhiệm của xử nữ, nơi vắng bặt sau cùng của mọi bản anh hùng ca chuyển núi. Biển là nước mắt kết thành tiếng khóc, tiếng khóc tự kết thành nước mắt. Nước mắt tự vỡ ra âm thanh năo nuột. Biển là vũng máu thiên thu, vũng máu vô ngàn năm tím ngắt. Biển là giọt máu duy nhất c̣n lại, chứng tích của cuộc ám hại, sau khi tên sát nhân vĩnh cửu xa bay. Biển là cỗ trống đồng meo mốc thúc giục mây xám lên đường. Biển thường xuyên tung tín điều cho loài người man rợ. Biển quyến rũ máu huyết hát ca. Biển là thông điệp thăm thẳm của thông điệp và sấm dậy; vắng vẻ ghê rợn và bùng nổ kinh hoàng. Hỡi con nước bất măn kia. Ta vứt xuống ngươi một cọng râu khinh thị. Hỡi dấu chấm câu hun hút kia. Ngươi nhỏ xuống lưng chúng đời sống như một ḍng văn ngô nghê. Hỡi thông điệp mê hoặc kia. Ngươi chỉ cần thiết cho những ngọn núi rầu rĩ. Hỡi thủy huyệt huyên náo kia, hăy trả mây trắng hồi sinh, hỡi bầy ngựa thiên thu kia. Hăy ḥ hét lên đường. Hỡi trùng dương sương muối kia hăy đổ xuống nụ cười thêm mặn. Tôi ngạo nghễ đứng lên trong những cử chỉ và khuôn mặt thật thô, bỏ xuống băi cát theo dấu chân một suối tóc thủy quái về cuối băi. Thân lau sậy đó đă mất hút từ khi cây đèn băo vàng ệch tắt phụt trên cột quán lần thứ nhứt, cũng như viền trăng lúc đó mất hút trong cơn mây đen ào bay. Một con chim nào mất dấu trên bầu trời, một tiếng chim nào chết đuối trên biển động. Dấu chân thứ nhất. Dấu chân thứ hai. Dấu chân thứ ba. Dấu chân thứ tư. Dấu chân thứ năm, thứ saú.... Ḍng chân hiện ra cùng với mảnh trăng trên băi cát, tôi gián tâm thức vào cuộc truy tầm dấu tích. Ḍng chân hút dài về cuối băi. Tôi măi theo và phát hiện thêm một ḍng chân đậm hơn ngược chiều. Những dấu chân đực cái giao nhau chần chừ, rồi trở thành những xoáy cát sâu hoẳm. Tôi ngồi xuống nh́n đôi chân ḿnh, đôi chân như h́nh ảnh cuộc sống, những dấu chân, những biểu tượng rơi rớt quẩn quanh. Hồi nhỏ, trước mỗi lần chui vào tấm phản gỗ hoàng tâm, đặt sau lưng khung cửa đất nh́n ra những tháp núi un sương ảo nghiệm, nghe tiếng dế gáy bùi tai, nằm thở hiu hắt với mảnh nguyệt đầu giường, mẹ tôi lại đem soi chân ra ánh trăng, nếu c̣n cát bụi là bế tôi ra con suối nhỏ đầu nhà, đem khỏa chân con xuống ḍng nước róc rách, cho cát bụi xuôi theo con suối với sao đêm. Có lẽ từ những ngày mất hút đó cùng với ánh trăng nơi trang trại Đá Trắng; một cơi sương khói tít mù. Tôi đă lớn lên và đă bao lần rửa chân mà thật ra chưa một lần nào sạch cát: cát hồng, cát tía, cát xanh, cát bẩn tưởi, cát hào quang ... tất cả mọi thứ bám đầy chân và lấp dần huyết mạch, đóng sạn trong tim, tụ lại nếp óc làm nên sa mạc, một thứ sa mạc đầy băo nổi và xương ngựa khô. Tôi đă gián bao nhiêu dấu chân trên mảnh đất này. Những dấu chân thèm đất, hút nhựa sống từ ḷng đất nuôi dưỡng tâm linh, chuyển vào đất những thất bại tức tưởi, gơ trên đất những âm động lao xao. Dấu chân đuổi theo những dấu chân. Dấu chân chạy trốn những dấu chân. Dấu chân khoan thai phỉnh gạt. Dấu chân sợ hăi chù chừ. Mỗi bàn chân là một ngọn cây cằn cỗi, một loại hoa xương rồng ngát hương. Mỗi ngón chân là một nụ sinh lực hồng hào, là một nhành hoa ngà ngọc. Mỗi người là một thân cây mọc ngược; gốc từ không trung, hấp thụ thanh khí nhật nguyệt, tinh chất cỏ hoa máu huyết biển núi. Mười nhành rễ chim bay, hút mật hoa hồng, uống suối ngọc thạch, hứng nhụy thông cao, mang thể chất vũ trụ vào sinh trưởng. Tất cả mọi con đường đều h́nh thành bằng những dấu chân. Những dấu chân ngàn xưa c̣n nạm đá cẩm tỏa sáng. Nhũ+ng dấu chân hôm nay đặt lên con đường rêu phong đó; những phiến đá kết tinh nô lệ, những dấu chân hôm nay ra đi chẳng tự tại chút nào, dù mỗi người đều có ư thức rằng ḿnh tự do một cách tù túng, mơ ước tự do một cách nô lệ. Những dấu chân mờ dần trên băi biển, rồi vô tăm tích dưới những đợt sóng đen tối. Cơn thủy triều đă dậy như một hàng dừa xanh. Ḍng chân trên cát biển bây giờ hiện rơ trong tôi như một ḍng mực, như những nét chữ kỳ diệu của trang kinh Kim Cương. Tất cả mọi con đường, mọi ước vọng, mọi vóc dáng, mọi khuôn diện chợt vắng lặng trong tôi như một con chim bay tấp vào cơn mây đen, như một ḷng suối cát biếc không vẩn gợn mây đục, như giọt nước ôm trọn vầng trăng. Trong giếng khơi thanh tịnh đó chợt hiện lên một bông hoa tím ngắt, nhỏ như đầu kim, một đóm hoa rơi, một chấm hoa mùa thu của kư ức. Không đó chỉ là một bọt nước nổi lên, phản ảnh chùm sao ly ti, chùm Bắc đẩu le lói biến hiện. Tôi chợt khinh thị tất cả tư tưởng, phẫn nộ với tất cả vách đá chiếm hữu mặt trời, độc quyền mặt trăng, ăn cắp tinh tú ngh́n xưa, đè nặng bóng tối huyền nghĩa xuống tâm thức con người. Tôi muốn chẻ tất cả tượng gỗ xuống nhóm lại bếp lửa nhân gian cho mọi sự sống ḥ reo lên đường, cho ngh́n suối mang hoa xuống non, cho trăm sông mang máu hồng về biển, cho trùng dương thả mây trắng phiêu bồng, cho rừng già thố lộ với núi cỏ, cho sỏi đá t́nh tự với chim muông, cho tinh tú nhào vào mạch máu, cho em hong tà dương từng ngọn tóc, cho anh vợi hoàng hôn trong mắt xanh, cho mùa đông cất cánh, cho thung lũng thay mầu, cho xuân thu đổi áo, cho tất cả chiến tranh, tất cả h́nh thái phơi sương nḥa lệ thực sự vắng lặng nơi mỗi người. Mặt trời phải sống dậy nơi mỗi người. Mặt trời không c̣n là xác chết, không là vụn đá, không là sa mạc ứ đọng huyết mạch. Mặt trời trùng sinh. Mọi con đường nổ tung. Mọi dấu chân tỉnh thức. Mọi bàn tay mọc cánh thăng hoa. Tôi đọc được mật nghĩa từ một ḍng chân mất hút trên băi biển. Tôi đứng dậy bâng khuâng, và trọn đêm bới cát, đắp mũi tên vàng từ bờ xa cắm phập xuống biển xanh. Sáng hôm sau tôi từ băi biển thức dậy với mặt trời. Một con chim xanh đậu trên đầu mũi tên như một cầu lửng cát vàng bắc xuống biển. Con chim ca hát hiu hiu, rồi lao cánh mất hút trên sóng biếc như một mũi tên bích ngọc. Tôi tiểu tiện vào biển và nhặt một vỏ ṣ trắng, ôm giọt nước xanh trong kẹt đá với mặt trời rực rỡ ly ti. Tôi bỏ lên, t́m vào quán ăn rồi đáp xe về tỉnh. Qua một kiếp sống nổi nêng, mỗi người đă vượt qua bao nhiêu cây cầu; một cây cầu trúc vàng, một cây cầu đá xám, một cây cầu tre La Ngà, một cây cầu ván thiên, một cây cầu sắt rỉ ... Bao nhiêu con cầu dựng lên để tiếp nối những ḍng chân, những bước đi không bao giờ ngừng nghỉ, v́ tư tưởng là ra đi, ra đi từ bản chất, ra đi trên những dấu chân, trên những nẻo đường ảo tưởng, những lối quạnh tàn trăng. Giấc mơ cũng là sự ra đi, ra đi trong dấu chân hoài niệm và thao thức. Chỉ có giấc ngủ say, giấc ngủ mệt thiếp, giấc ngủ chết lịm, giấc ngủ của Đạo gia, giấc ngủ của kẻ đau nhừ thất bại, và hoan hỷ trong sự thành công mĩ măn nhất, tột đỉnh nhất của ư thức thất bại, đồng nhất trong sự thất bại ném tung gỉa ngă xuống cỏ, một giấc ngủ không lo nghĩ, không tham vọng, không chấp nhặt v́ tất cả đều thất bại, v́ nhất tức nhất thiết, v́ nhất thiết tức nhất, v́ cỏ hoa cũng là tứ chi, v́ nước mắt tha nhân cũng làm ḿnh rướm máu, ḿnh khóc bằng máu, thở bằng nhịp tim, ăn uống bằng nhật nguyệt, cưu mang sự đau khổ loài người trên mỗi sợi tóc, trong mỗi chân lông, trên mỗi tế bào, trên mỗi vó ngựa ư thức trong rừng rậm tịch mịch, vượt qua khỏi bờ Nhân Ngă, nhẩy vọt vào đồng nhất với đại đồng. Chỉ c̣n lại một vầng trăng giữa thiên thu, giữa rừng tóc bồng bềnh mây nổi. Vừng trăng là nụ cười, nụ cười là con mắt, con mắt tịch mịch nhiệm mầu, con mắt nuôi nấng hào quang, con mắt cửa ngơ vào đại thể, con mắt cuối cùng của một nhân sinh xao xuyến. Con mắt đó vẫn ngủ êm trong mỗi người. Đó là giấc ngủ thanh tịnh nhất. Giấc ngủ cuối cùng ra đi, ra đi cả sự ra đi; mọi dấu chân xoáy tṛn làm tinh tú, mọi tinh tú nổ tung làm mọi cơi giới châu ngọc lưu ly. Một giấc ngủ Không Tịch, gối đầu, duỗi chân trên hai đỉnh tuyệt vô song. Nụ cười của Phật Thích Ca là thông điệp của sự thất bại ư thức. Tất cả quyền uy điện ngọc, và ḷng thương yêu rộng lớn và trí sáng suốt vô cùng, và ḷng dũng cảm vô biên và nỗi đau nhức vô lượng của chúng sinh, những bước chân lênh đênh cầu giải thoát những đạo sư ngủ gật trong rừng tối siêu h́nh ... Tất cả những tương quan hiện tượng đó, tất cả những cung bực mê loạn đó đă đưa Phật đến cuối cùng của sự thất bại và nhẩy vọt vào Tự Tánh Không của vạn pháp, nổ tung mọi thức tướng sai biệt, dứt vọng niệm, thể nhập vào tạng tính chân như, cho cây trải hoa cúng dường, cho chim diễn bầy vi diệu, cho trùng trùng tạng kinh luận mở cửa treo trăng. Ngă pháp đều không tự tánh, nên chỉ là giả lập, gỉa tướng, một phương tiện hư ngụy để vượt hư ngụy; một bè trúc xanh nổi nênh qua ngọn suối mây hồng. Viết trong đêm đầu thu 1969 Pháp Vân Thiền Viện
HIỆN HÓA PHÁP Thầy Quảng Trí
Mùa mưa năm nay lại về như một bầy câu trắng. Bầy chim mang theo những trái biếc; những cánh hoa và những rung động xào xạc. Trong cuộc đời chúng ta đă bao lần đuổi bầy mưa đi, gọi mây lớn về. Tâm hồn, mỗi kẻ đă biến đi mất hút bao nhiêu trận băo núi thổi tới, những xoáy gío hồng cuồng bạo, những cơn giông xanh nhẩy múa từ vách đá, từ đại dương, từ hốc sỏi, từ những ngọn cỏ, những cổ thư, những cửa hẹp, những đầu ngón tay, những suối mắt, những nụ cười, sợi tóc và kể cả những cơn mê loạn chính ḿnh. Những cuộn gío dấy đất, rên xiết, hú hếu rồi mất hút tịnh yên trong một tâm giới không lặng. Trận băo nào cũng bắt đầu từ chính ḿnh, và mất dấu từ chính ḿnh. Những trận băo hằn lên thân thể như bao nhiêu đường roi xanh quận lại tâm thức như một ổ rắn lục. Tại sao chúng ta phải cưu mang ? Mỗi nét mi, mỗi nốt tay, mỗi nhành chân, mỗi lời nói và hơi thở, tôi thấy đều là rắn, đều là những mầm mống dấy động nổi loạn. Tại sao chúng ta không thả chúng xuống ḍng sông ? Phải chăng chúng ta đă hoàn toàn bất lực, đă ung thối từ khi mới nở hoa, đă côi cút và bị tước đoạt bắt đầu từ một thức giới gỉa tưởng, đă mệt mỏi trên những bước thang hào quang bắc tới một thứ tuyệt đối hăo huyền. Trong mỗi chúng ta đều có sẵn những chốn ẩn trú, những cơn phố tịch liêu, những trạm ngựa ủ rũ, những ga sương tháng mười, những chợ khu âm động, những di chúc rầu rĩ c̣n ứ đọng trong máu huyết mỗi người. Chúng ta sống hoàn toàn bằng cái chết. Tất cả tử khí đó đă làm tê cứng gân máu chúng ta. Chúng ta chỉ c̣n lại một thứ xác khô canh giữ di ngôn trong ngôi cổ mộ thất lạc. Tôi muốn ra đi tất cả, từ bỏ tất cả, như một lăo đại hành khất, như một thiền sư vân thủy lang thang, như một con chuồn chuồn huyết dụ, như một vệt sao rơi, như một tia chớp giữa mộ đá tàn lụi. Tôi muốn ra đi khỏi những lời nói, những ư nghĩ, những t́nh cảm vụn vặt. Tôi muốn ra đi khỏi cả sự ra đi. Tôi muốn yêu mến thất bại để phá hủy mọi tham vọng. Tôi muốn sự từ khước cuối cùng đối với tất cả nơi trú quán siêu h́nh. Tôi muốn trở nên một tế bào reo ca trong cơ thể nhân loại. Tôi muốn đâm nổ con mắt, v́ tất cả mọi bước chân sợ hăi đều bắt đầu từ con mắt. Tôi muốn ngả co dưới một lớp tuyết trắng. Tôi cũng thèm tư cách thản nhiên của vách núi. Tôi thèm cuộc rong chơi như nước xanh. Tôi muốn không c̣n mọi ước muốn. Nhưng tôi vẫn t́m kiếm trí khôn, quỉ biện, lảm nhảm ... Đó là mọi hiện tượng bạc nhược, hèn mọn nghiệp dĩ. Tôi vẫn lừa đảo ḿnh trước cái chết bằng tất cả thành công và hạnh phúc bẩn tưởi. Tóm lại, tôi vẫn chuẩn bị cho sự nhắm mắt cuối cùng quá nhiều. Tôi có thói quen tự nghĩ về ḿnh. Trước đây ba mươi năm và lẻ một ngày, th́ tôi chỉ là con tinh trùng nguyên sơ trong một môi trường trong suốt. Rồi, quán tưởng đến bẩy mươi năm sau, tôi lại nguyên vẹn c̣n một nắm xương mục giữa những rễ cây gặm mút chằng chịt, và bên trên một thảm cỏ xanh, những thiếu nữ đang vít cành, hái trái xương tủy tôi ăn thích thú. Từ nhăn quan này tôi trở nên yêu mến mọi người và tất cả đời sống đều trở nên khôi hài kỳ hoặc. Một lần, tôi đi xem cuộc đua ngựa, tôi chợt nổi cười nghiêng ngả: Tôi thấy gần hai chục con tinh trùng người cưỡi gần trên hai chục con tinh trùng ngựa phóng đua măi miết, trước mấy trăm con tinh trùng đang ḥ hét và đánh cờ bạc; có con mặt hoa da phấn, có con đội mũ hút thuốc nghênh ngang. Ôi! Thật là khôi hài. Tôi lại chợt có ảo giác: chung quanh tôi, mấy trăm bộ xương trắng nhởn đang bầy cách gặm lẫn nhau. Ôi! Tôi muốn ù té chạy khỏi băi chết ghê rợn này. Nhưng, tôi chợt nhận ra ḿnh trong số đó, cũng chỉ là khung xương. Tôi chợt kinh tởm chính ḿnh. Từ sự bắt đầu tạo dựng mỏng manh đến sự hủy phá cuối cùng bi thảm hiện đến trong tôi chưa đầy một hơi thở. Tôi chợt đứng ngoài ḍng dịch hóa. Bên ngoài những h́nh thể gỉa tưởng và cảm thấy ḿnh rỗng không tịch mịch; những cơn mây chiều dường như phiêu bạt trong tôi, như một đàn cá thu kéo về theo tiếng réo của trùng dương, khúc hát huyền bí của tâm thể. Tất cả mọi khổ năo đều bắt đầu từ ư thức. Sự giải phóng tối hậu phải là sự giải phóng con người ra khỏi gỉa ngă, và thiên chấp sai biệt. Con người vượt thoát hiện tượng giới tức là chuyển đổi tư tưởng giới, giải phóng mọi ràng buộc nô lệ, mọi định thức giáo điều, để bước vào ngưỡng cửa một tâm giới mới, an trụ ở vô trụ. Vô trụ mà thực ra dung hóa được toàn thể trở lực. Tôi cho rằng Hiện Hóa Pháp của người Việt hoàn toàn bỏ xa Biện Chứng pháp của Hégel; một thứ biện chứng duy lư, ngưng đọng dựa trên những đường xoáy ảo tưởng: một đầu là ngôi vị tối cao, một đầu là hư vô mở rộng. Hiện Hóa Pháp Việt Nam không dựa trên một định thức, một con đường nào, nên không chỗ bắt đầu và cũng không nơi cuối cùng, mà chỉ là cánh cửa mở tung nhận thức, đập tan mọi kiến chấp hư ngụy để đối mặt với thực tại ảo diệu, duyên khởi, toàn khắp và nhất như của ḍng sống, "Khôn cũng chết, Dại cũng chết, Biết th́ sống", "Khôn, Dại" là hai mặt của cuộc đời, là hai cực của tiêu chuẩn hành động, là hai vế của Nhị nguyên. "Cũng chết" là tự chuyển biến đắp đổi dung hóa lẫn nhau. "Biết th́ sống" tức là vượt mâu thuẫn để điều ngự mâu thuẫn, nổ tung thiên chấp gỉa tướng, trực nhập ḍng sinh hóa mênh mang, tan rữa mọi vực bờ Nhân Ngă, vắng lặng mọi tham vọng so đo, và dẫn đến B́nh Đẳng Tánh Trí của muôn loài một vô môn quan dung thông Vô ngại. Đó là ch́a khóa để mở cửa những bế tắc chiến tranh, là sinh mạch của ṇi giống Việt: Hiếu ḥa Hiếu sinh nhưng kiên cường tự chủ. Mọi h́nh thái chiến tranh chỉ là chiến tranh của Quyền và Lợi. Mọi mê chấp Quyền và Lợi chỉ là sự sai lầm về nhận thức. Mọi kiến quan sai lầm chỉ là hậu quả của tâm bệnh bỏ quên bản chất và đánh mất thực tại. Vậy, đời sống lịch sử chỉ là một tiếp diễn đào thải và liên tục bắt đầu từ mỗi ư thức, mỗi cá nhân và mỗi thế hệ. Sự bắt đầu luôn luôn vươn tới sự tỉnh thức tự thân ra khỏi hang động ẩn trú của mọi nỗi sợ hăi, và lề thói trá ngụy trong một tinh thần dung hóa và sáng tạo truyền kiếp. Tất cả mọi ngữ ngôn, mọi nhăn quan chỉ là không của hư Ngụy. Nó có thể đóng lại và cũng có thể mở toang vào Nhật Nguyệt. Chỉ khi nào không c̣n người nh́n ngắm Nhật Nguyệt và cũng không c̣n Nhật Nguyệt để nh́n ngắm, th́ lúc đó không c̣n dụng tướng của cánh cửa và tâm thức trụ nhập với cỏ tím hoa vàng, đó là Nhập Pháp Thân Thường Trụ Như Lai. Tôi viết những ḍng chữ này thực cuồng lưu. Tôi tự biết ḿnh đang nốc từng đấu nước biển để bốc lửa cơn khát. Những đấu nước có thể là máu, là nước mắt là mồ hôi của biển xanh. Tôi tự biết những ḍng chữ bất lực và hư huyễn này không kêu gọi được ǵ trong cuộc chiến tranh VietNam và mọi réo gọi trong cuộc chiến hiện nay càng đẩy con người vào ngơ cụt đầy hoang mang và thù hận chồng chất. Viết đă là phản bội ḿnh lẫn người đọc. Nên tôi muốn những ḍng mực này, xin như những giọt nước, những gợn mây, những hơi gío thu thoang thoảng gợn nổi trăm ngàn con ốc trên da thịt hiu hiu. Nó sẽ tan biến trong một tâm thể sinh động và nổ tung sấm sét. Nó chỉ là ngọn cỏ nổi nênh dưới chân thiền sư vượt suối, không tạo nên một con đường nào v́ những bước chân đă trở nên thừa thăi của kẻ trên đ̣. Bây giờ nắng đă bắt đầu rực rỡ trên những cánh bướm vàng quẩn quanh những đóa hoa trắng thơm vừa nở trên thành cửa sổ. Cho tôi được dừng bút nơi đây trở về Phật Viện, vác cuốc xuống vườn trồng cải xanh.
Viết tại thư viện Vạn Hạnh cuối thu 1969 Tuệ Không Phạm Thiên Thư
đại nguyện Nguyễn Thị Minh
Trầm thơm quyện tỏa hồn mơ Trà sen nhấp giọng ngâm thơ ngọc vàng
Mỗi ḍng là ánh từ quang Mỗi trang là khói chiên đàn thoảng xa
Mong sao mười cơi Ta Bà Bao nhiêu cát sỏi trần sa trở ḿnh
Kinh Ngọc là khối quang minh Là đường cứu độ chúng sinh mọi loài
Nguyện cho khắp cơi trần ai Tỉnh cơn ác mộng nở đài liên hoa
Trầm tư Thơ Ngọc, Đạo Ca Mỗi người là một pháp ṭa trí bi
Cảm tác khi đọc Kinh Ngọc SaiGon ngày đầu xuân Tân Hợi Bồ Tát Giới - Đức Minh Nguyễn Thị Minh
với ḍng Kinh Ngọc trần thị tuệ mai
Trong miền cát bụi phiêu du đă ngày mê mải, đă mùa trầm luân mắt xanh ánh biếc phai dần nh́n người kinh hăi, tưởng thân tật nguyền mịt mờ khuôn mặt hoa niên tóc chiêm bao rụng khô miền hỗn mang e như xuân đất trời tàn cây khô da thịt ngổn ngang rừng người
Chợt thơm hương phấn tuyệt vời âm thanh Kinh Ngọc nở mười phương hoa
Thắp lên ánh sáng Đạo Ca ngàn mùa xuân trước dựng mùa xuân nay
Rừng đời trổ lộc muôn cây ḷng đời chim hót ấm đầy t́nh thương tóc chiêm bao mướt trầm hương ôm bờ vai ngọt - vô thường - chân như ...
tặng bác phạm thiên thư bùi giáng
chùa
chạy quanh khu vực thần tiên mỏi chân mười ngón kết liên bốn mùa vườn cây trái ngọt trái chua mù sương hấp dẫn về chùa ngủ quên
cây mọc
Đạp thanh từ tiết phiêu bồng Hỷ căn du hư thần không ngậm vành cây trời mọc đất trút nhanh giờ đi bên khắc đêm thanh loạn ngày
quận
Giây rừng rút động chiều trưa góp sương châu quận về mưa thị thành xa từ lũng tạ âm thanh T́nh vân nhứ mạo xuân xanh chiên đàn
Bùi Giáng
trụ vũ
vườn dâu
vườn dâu năm trước c̣n không sớm nay nở với vừng đông một cành chim linh hót tiếng vô thanh quê hương ta hạt gieo lành ngh́n năm
hoa mướp
hoa mướp tṛn như trăng tháng tám tṛn như tâm của đức Mầu-Ni gío khơi thổi động cành phơ phất hoa mướp muôn đời chẳng nói chi
con kiến
sớm mai mặt trời mọc trong ánh sáng diệu huyền của tâm linh trên cành xoài lá xanh đông phương những con kiến hành hương về ánh sáng
Tôi nghe nhất thể nhiệm mầu khởi điệu t́nh ca
Lê Nghị
giọt về một mai giang - tố quan - hà một lần nữa thác là sa giọt về núi ầm đổ ngọn triều khê Cuộc chơi thành Đá Cuộc về thành không
VÀO CƠI KHÔNG TỊCH Vũ Tài Lục
Gốc rễ tín ngưỡng Phật học là chữ "Không" (néant) Không chẳng phải là Vô (nothing) v́ Vô là cái ǵ quay lưng lại với Hữu (something) cho nên chỉ là tương đối. Không mới thật là tuyệt đối. Không của nhà Phật xuất phát từ kinh nghiệm sinh hoạt bản thân. Theo Phật thể chứng th́ loài người mê lầm rất sợ hăi cảnh giới Không đó v́ Không là nơi vô t́nh vô vật, t́nh cảm vật chất đều tiêu diệt. Bởi sợ cảnh giới Không nên cố bấu víu vào Tâm hoặc Vật để mong t́m ra niềm an ủi mỗi khi nghĩ đến khoảng khắc của phút lâm chung. Bởi mê lầm nên nhận Không ra Chết. Thật ra Chết mới là t́nh trạng giải thể của vật chất và tinh thần chứ chưa phải là tiêu diệt. C̣n ở cảnh giới Không th́ hết thẩy mọi cơ duyên cũng như bi khổ đều tan biến mất. Giác ngộ được ư nghĩa chân Không th́ vẫn đứng ngang nhiên ở cơi đời mà siêu nhiên thoát tục.
Lặng ngồi xem cuộc bể dâu thay Kinh Kim Cương ghi những lời Phật giảng dẫn đường vào cảnh giới Không để phá bỏ những mê lầm về sự biện nhận cảnh giới này. Tên kinh gồm tám chữ là: Kim Cương bát nhă ba la mật đa kinh. "Ba la mật" dịch âm của tiếng Phạn có nghĩa là "bờ bên kia" ư chỉ một việc đă viên măn. "Bát nhă" là "trí tuệ". Kim Cương là tên một khoáng chất rất rắn, rất sắc, chất rắn sắc của nó nguyên lai vẫn đầy đủ không phải nhờ các vật khác rèn đúc, Phật lấy nó mà ví dụ như trí tuệ của người ta từ vô thủy ai ai cũng có khi thành bậc thánh nó cũng không thêm chút nào, lúc là phàm phu nó cũng không kém chút nào, nó đă không bị vô minh từ vô thủy làm ch́m đắm, trái lại nó c̣n chiếu tỏ để phá tan cái vô minh, ư như gío quét mây bay, gío tan sương móc. Khi có đủ Kim Cương bát nhă th́ người với pháp đều hết, sự với tướng đều không. Trong lời giảng Phật bảo ông Tư Bồ Đề rằng: Bồ tát nên xa ĺa hết thảy cái tướng hư vọng, phân biệt ḥa hợp mà phát cái tâm vô thượng chính đẳng chính giác, không nên y trụ vào lục trần mà sinh ḷng sai biệt, chỉ nên sinh cái tâm không trụ vào chỗ nào, nếu tâm c̣n có chỗ trụ, th́ là vào chỗ điên đảo không phải là trụ vào bát nhă vậy. Đọc thấu đáo kinh Kim Cương là có thể thấu triệt chữ Không của Phật học, bởi thế kinh Kim Cương là một loại kinh ở bậc cao. Sư cụ Thiều Chửu một vị rất uyên bác Phật học khi dịch kinh này đă viết: "Kinh này có nhiều nghĩa lắm, nguyên văn chữ Phạn dịch ra chữ Hán có đến sáu bản dịch khác nhau, các nhà chú giải th́ có hàng mấy trăm nhà, hiện văn tự c̣n lưu lại th́ cũng tới tám mươi hai nhà, mỗi nhà đều sở đắc một nghĩa đều có vẻ cao thâm huyền diệu cả, nhất là bộ Kim Cương huyền nghĩa của cụ Cát Tạng lại càng mênh mông bát ngát như trời như bể, bởi thế mà các Tổ xưa mới bảo rằng kinh này là kinh Vô lượng nghĩa, là kinh không thể lấy văn chữ, nói năng mà h́nh dung được. Các Tổ uyên bác là nhường nào mà c̣n kêu là khó, là không thể lấy văn chữ nói năng mà h́nh dung được th́ tôi, tôi là một kẻ kém đức có bao giờ dám cầm bút mà dịch." Nay khác hẳn với thái độ băn khoăn, khiêm tốn đến câu nệ của người thuộc thế hệ trước, thầy Phạm Thiên Thư táo bạo xông xáo vào kinh Kim Cương, chẳng phải chỉ để dịch mà thôi, Thư dám chuyển cả ư nghĩa bộ kinh này thành thơ rồi đặt cho một cái tên rất hay, rất thơ: Kinh Ngọc Qua Suối Mây Hồng. Phạm Thiên Thư đă thành công, cái thành công căn bản của Qua Suối Mây Hồng là phá bỏ sự ề à vẫn thường thấy trong các kinh sách với những câu "trầy vai áo chắp tay cung kính mà bạch Phật rằng ..." hay "lại nữa ông Tu bồ đề này" hoặc "Như nay con hiểu ư của Phật nói th́" v.v... nghe dễ chán và bực ḿnh. Bằng những lời thơ êm dịu, Qua Suối Mây Hồng làm cho người đọc như tựa lưng dưới bóng hoa nghe hồi chuông tĩnh tâm của ngôi cổ tự mà lim dim ngủ; vào cơi Không Tịch thanh thoát như người tiều phu nào đó ngày xưa mải mê xem tiên đánh cờ dựa cái búa bên cạnh, lúc tan cuộc cờ nh́n lại th́ cán búa đă mục. Bằng lời thơ êm dịu, Phạm Thiên Thư đẩy nhẹ con thuyền trí tuệ lướt trên gịng kinh cho người đọc thoải mái thênh thang đi tới cảnh giới Không ở giữa rừng hoa tịch mặc tháng ngày thoáng tiếng suối thần rơi. Đọc kinh Kim Cương người ta có thể đến hạnh bồ tát để xử sự với thế gian bằng thái độ trong nhiệt t́nh vẫn giữ niềm xa cách, ở vẻ nguội lạnh vẫn chan chứa ân t́nh. Nào những ai đă nguội ḷng giấc mộng oa tranh nh́n công danh như hạt nước đọng trên cánh hoa, phú quí như giọt sương bám trên ngọn cỏ, Hăy t́m đến gịng suối mát Kim Cương bát nhă VŨ TÀI LỤC
MỤC LỤC
Lời Giới Thiệu Tựa
Qua Suối Mây Hồng
1) pháp hội nhân do 2) Thiện hiện khải thinh 3) đại thừa chính tông 4) diệu hành vô trụ 5) như lư thực kiến 6) chính tín hy hữu 7) vô đắc vô thuyết 8) y pháp xuất sinh 9) nhất tướng vô tướng 10) trang nghiêm phật độ 11) vô vi thắng phúc 12) tôn trọng chính giáo 13) như pháp thụ tŕ 14) ly tướng tịch duyệt 15) tŕ kinh công đức 16) năng tịnh nghiệp chướng 17) cứu kinh vô ngă 18) nhất thể đồng quán 19) pháp giới thông hóa 20) ly sắc ly tướng 21) phi thuyết sở thuyết 22) vô pháp khả đắc 23) tịnh tâm hành thiện 24) phúc trí vô tỷ 25) hoá vô sở hóa 26) pháp thân phi tướng 27) vô đoạn vô diệt 28) bất thụ bất tham 29) vô nghi vô tĩnh 30) nhất hợp ly tướng 31) tri kiến bất sinh 32) vô hóa phi chân 33) phụ hội 34) động hoa vàng 35) ngă pháp mây nổi 36) hiện hóa pháp 37) thơ - nguyễn thị minh 38) thơ - tuệ mai 39) thơ - bùi giáng 40) thơ - trụ vũ 41) thơ - lê nghị 42) vào cơi không tịch 43) * 44) mục lục 45) *
Minh Quang posted July 4, 2005
|
|
|