Phàm An
ban là Đại thừa của các Đức Phật, dùng cứu tế sự trôi dạt của chúng sinh.
Việc ấy có sáu để trị sáu t́nh. T́nh có trong và ngoài. Mắt, tai, mũi,
lưỡi, thân, ư gọi là nội t́nh. Sắc thanh, hương, vị, xúc, tà niệm gọi là
ngoại t́nh. Kinh nói rằng, các biển có mười hai việc là gọi sự thọ tà
hạnh của sáu t́nh trong và ngoài, giống như biển thọ nhận các ḍng chảy,
người đói mơ ăn cơm dường như không đầy đủ. Đồ chứa tâm tràn đầy, không
vật nhỏ nào chẳng thấm, hoảng hốt, phảng phất, ra vào không gián đoạn,
nh́n không thấy h́nh, nghe không có tiếng, ngược về trước không có, t́m
về sau cũng không, vi tế thâm diệu h́nh thể không sợi tơ, cọng tóc, Phạm
thiên, Đế Thích, Tiên thánh đă chẳng soi sáng, giống lặng yên đến đây
hóa sinh ra ư? Đó chẳng phải là cái nh́n thấy của phàm phu gọi là ấm.
Giống như người gieo giống âm thầm kín đáo mở tay đổ hạt giống, chúng
sinh sôi có đến hàng vạn ức mà người bên cạnh chẳng nh́n thấy h́nh dạng
chúng, người gieo giống chẳng biết số lượng của chúng, một cái nát rơi
xuống th́ vạn cái mọc lên. Trong khoảnh khắc gảy móng tay, tâmcó
chín trămsáu mươi là chuyển, một ngày một đêm có mười ba ức ư.
Ư có một mà thân tâmchẳng tự biết, giống như người gieo giống
kia vậy. Do đó dùng hạnh tịch tĩnh ràng buộc ư vào hơi thở đếm từ một
đến mười. Đến số mười chẳng lầm lẫn ư định tại đó. Tiểu định ba ngày,
đại định bảy ngày, tịch tĩnh không ư niệm khác ngây ra như chết gọi là
Nhất thiền. Thiền là bỏ vậy! Bỏ mười ba ức ư niệm dơ bẩn. Đă thu hoạch
số định rồi th́ chuyển niệm trước theo trừ sạch tám ư ấy mà chính có hai
ư Ià ư định ở chỗ dựa theo, do ở pháp tính vậy. Cặn đục tiêu diệt, tâm
hơi trong sạch th́ gọi đó là Nhị thiền. Lại trừ đi sự chú ư vào đầu mũi
ấy th́ gọi là Chỉ. Được hạnh Chỉ th́ ba độc chạy tứ tán, năm ấm, sáu tối,
các bẩn diệt hết. Đuốc tâm thắp sáng vượt qua ngọc Minh nguyệt, ḷng dâm
tà bẩn giống như gương soi ở dưới bùn dơ lấm bẩn vậy. Ngửa lên dùng soi
trời, úp xuống dùng thấu đất, sáng suốt thánh đạt vạn cơi soi thấu, tuy
có cái lớn của trời đất, nhưng không một người mà có thể nh́n thấy. Sở
dĩ vậy là do sự vẩn đục ấy. Mọi tâm cấu bẩn có thể vượt qua gương soi
kia nếu được thầy giỏi nạo vót, mài dũa cho bụi mỏng, tối mờ quét sạch
không c̣n. Đem tâm đó chiếu soi th́ sợi lông, cọng tóc nhỏ nhặt mà không
cái nhỏ nào chẳng rơ rệt. Bẩn lui đi, sáng c̣n lại khiến cho tâm ấy hiển
nhiên vậy. T́nh tràn đầy, ư tán loạn th́ nghĩ muôn điều chẳng biết một
vậy. Giống như ở chợ buông thả ḷng nghe ngóng, rộng tiếp nhận mọi âm
thanh, lui về ở yên, nghĩ suy chẳng nhận biết tiếng nói một người. Ḷng
buông ư thả, vẩn đục che sự thông suôt ấy. C̣n như tự ở chỗ nhàn, tâm tư
tịch mịch, chỉ không tà dục, kề tai lắng nghe th́ vạn câu chẳng mất. Nửa
lời nói ra ấy là do ḷng lắng, ư trong vậy. Hành tịch, chỉ ư treo ở đầu
mũi gọi là Tam thiền vậy. Trở lại quan sát thân ấy, từ đầu đến chân,
ngược lại xét kỹ nước bẩn của nội thể, lông dựng đứng rậm rạp, c̣n nh́n
thấy máu mủ, nước miếng, nước mũi. Đối với tâm ấy đủ chiếu soi trời, đất,
người, vật. Những thứ ấy thịnh hoặc suy, không c̣n cũng chẳng mất, tin
Phật, Tam bảo, mọi tối đều sáng… Đó gọi là Tứ thiền. Nhiếp lấy tâm trở
lại nghĩ các ấm đều diệt. Đó gọi là trở lại. Uế dục lặng hết, tâm ấy vô
tưởng. Đó gọi là tịnh. Người được hạnh An ban th́ ḷng phát lạnh liền
sáng. Dùng ánh sáng này quan sát th́ không chỗ tối nào chẳng nh́n thấy,
việc từ vô số kiếp, việc mới đến, sự đổi thay nhân vật, các cơi hiện tại.
Trong đó sẵn có pháp hóa của Thế Tôn, việc tụng tập của đệ tử, không ǵ
xa chẳng thấy, không tiếng ǵ chẳng nghe, hoảng hốt phảng phất, c̣n mất
tự do, lớn khắp tám cực, nhỏ suốt mao ly, chế trời đất trụ mạng sống,
thần đức mạnh hoại bệnh trời, khuấy động ba ngàn - di dời các cơi. Tám
bất tư nghị chẳng phải chỗ Phạm thiênḍ, thần đức vô hạn là do
sáu hạnh. Khi Đức Thế Tôn bắt đầu muốn nói kinh ấy th́ lớn đến chấn động,
người trời đổi sắc, ba ngàn An ban, người không thể tin. Đến đây, Đức
Thế Tôn hóa làmhai thân, một là Hà Đẳng, một là Tôn Chủ, diễn
cho nghĩa ấy xuất hiện vậy. Đại sĩ, Thượng nhân sáu đôi, mười hai nhóm
không ai chẳng chấp hành. Có vị Bồ-tát tên là An Thanh tự là Thế Cao,
con của chính hậu vua nước An Tức, nhường nước cho chú đi lánh vào bản
thổ, ngao du khắp nơi, sau cùng liền vào ở kinh sư. Ngài ấy là người học
rộng, hiểu nhiều, thông suốt như thần, bảy chính đầy vơi, phong khí tốt
xấu, núi lở đất động, châm cứu… các thuật, nh́n sắc diện biết bệnh, chim
thú hót kêu không âm thanh nào chẳng soi thấu, ôm sự rộng răi của hai
nghi thức. Thương xót sự ngu tối của lê dân, ngài trước móc tai họ, rồi
mở mắt họ, muốn cho họ nh́n sáng, nghe thông. Rồi từ từ mới diễn bày Lục
độ chánh chân, ngài dịch kinh An ban bí mật thâm áo này. Người học mà
bụi trần dấy lên th́ không ǵ chẳng trừ khử, gặp uế trược th́ giữ ǵn
đạo đức thanh bạch vậy. Tôi sinh ra muộn màng, bắt đầu có thể vác củi
th́ cha mẹ chết mất, ba thầy vĩnh biệt, ngước nh́n mây bay, buồn không
tín thọ, nói lời thương nhớ, nước mắt thầm rơi. Phước xưa chưa hết nên
tôi được hội kiến với ngài Hàng Lâm ở Nam Dương, ngài B́ Nghiệp ở Dĩnh
Xuyên và ngài Trần Tuệ ở Cối Kê. Ba vị Hiền giả này hết ḷng tin đạo,
chấp tŕ đức hạnh, hoằng dương chánh pháp, hăng hái tiến tới, chí đạo
chẳng mệt mỏi. Tôi theo những vị ấy thỉnh vấn th́ khuôn đồng phép
hợp, nghĩa không sai khác. Ngài Trần Tuệ chú nghĩa, tôi giúp châm chước,
chẳng phải sự truyền dạy của thầy nên chẳng dám tự do. Lời nói của kẻ
hèn nhiều vụng về, chẳng thấy ư Phật! Nguyện xin những vị Hiền minh
Thánh triết cùng chung thẩm xét. Nghĩa cú thêm sự san định của bậc Thánh
triết, chung hiển hiện thần dung.
Đức
Phật ở tại nước Việt kỳ, là nước Xá-kỳ-sấu cũng c̣n một tên là nước
Già-nặc-ca-la.
Bấy giờ,
Ngài ngồi thực hành An ban Thủ ư chín mươi ngày. Ngồi một ḿnh chín mươi
ngày là để suy nghĩ tính toán, muốn độ thoát con người và những loài
biết cử động khắp mười phương. Ngài lại nói rằng:
- Ta
hành An ban Thủ ư chín mươi ngày th́ An ban Thủ ư được ư từ niệm tự tại.
Rồi trở lại thực hành An ban Thủ ư, lạí thu ư, thực hành niệm.
An là
thân, Ban là hơi thở, Thủ ư là đạo. Thủ tức là cấm, cũng gọi là chẳng
phạm giới. Cấm cũng là giữ, giữ là giữ khắp tất cả, không phạm điều ǵ.
Ư là hơi thở, ư cũng là đạo vậy.
An là
sinh, Ban là diệt, ư là nhân duyên, Thủ tức là đạo vậy.
An là
đếm, Ban là theo dơi, Thủ ư là dừng vậy.
An là
niệm đạo, Ban là giải kết, Thủ ư là chẳng rơi vào tội lỗi.
An là
tránh tội, Ban là chẳng mắc tội, Thủ ư là đạo.
An là
định, Ban là không làm cho lay động, Thủ ư là không loạn ư.
An ban
Thủ ư gọi là chế ngự ư, đến được vô vi.
An là
có, Ban Ià không. Ư niệm có chẳng được đạo, ư niệm không th́ chẳng được
đạo, cũng chẳng nghĩ có, cũng chẳng nghĩ không, chính là ứng với định
không, ư theo đạo mà làm. Có th́ gọi là muôn vật, không th́ gọi là nghi,
cũng gọi là trống rỗng vậy.
An là
nhân duyên gốc, Ban là không xử sở. Đạo nhân biết vốn không từ đâu đến,
cũng biết diệt không đi về đâu. Đó Ià Thủ ư vậy.
An là
thanh, Ban là tịnh, Thủ là vô, Ư là vi. Đó là thanh tịnh vô vi. Vô là
sống, vi là sinh, chẳng bị khổ nữa nên gọi là sống vậy.
An là
chưa, Ban là khởi, do chưa khởi nên liền thủ ư. Nếu đă khởi ư th́ thủ ư.
Nếu ư đă khởi th́ chạy đi, v́ chẳng thủ nên phải làm cho nó trở lại. Vậy
nên Đức Phật nói An ban Thủ ư vậy.
An là
thọ năm ấm, Ban là trừ năm ấm, Thủ ư là hiểu biết nhân duyên, chẳng theo
thân, miệng, ư. Thủ ư th́ không vướng mắc vào đâu là thủ ư, có chỗ vướng
mắc là chẳng thủ ư. V́ sao? V́ ư khởi rồi lại diệt. Ư chẳng khởi lên lại
là đạo. Đó là thủ ư. Thủ ư 1à không khiến cho ư sinh. Làm phát sinh nhân
có chết là chẳng thủ ư, không khiến cho ư chết; có chết nhân có sinh, ư
cũng chẳng chết th́ đó gọi là đạo.
An ban
Thủ ư có mười thông tuệ là Sổ tức, Tương tùy, Chỉ, Quán, Hoàn, Tịnh, Tứ
đế. Đó là mười trí thành tựu; nếu hợp với kinh ba mươi bảy phẩm th́ hạnh
thành tựu.
Thủ ư
ví như lửa đèn có hai công dụng: Một là phá trừ tối, hai là chiếu sáng,
c̣n Thủ ư th́ một là phá hoại si, hai là thấy tuệ.
Thủ ư
th́ ư từ nhân duyên sinh, sẽ duyên theo nhân duyên không chấp trước. Đó
là Thủ ư.
Thủ ư
có ba nhóm:
1. Giữ
khiến cho chẳng được sinh.
2. Đă
sinh th́ phải mau chóng diệt.
3- Việc
đă làm th́ phải từ đây về sau kể hàng ức vạn kiếp, hối hận chẳng làm lại
nữa.
Thủ
cùng ư đều khác nhau, giữ cho tất cả mười phương, biết đối pháp chẳng
phạm th́ đó là Thủ; biết đó là vô vi th́ đó là ư. Đó là sự khác nhau của
Thủ và Ư. Trong Thủ ư có bốn niềm vui:
1. Biết
cái vui cần thiết.
2. Biết
cái vui pháp.
3. Biết
cái vui cao thượng.
4. Biết
có vui thích đúng.
Pháp là
hạnh, đắc là đạo. Sáu việc Thủ ư có trong, có ngoài. Sổ, Tùy, Chỉ đó là
ngoài? Quán, Hoàn, Tịnh đó là trong là tùy theo đạo vậy. V́ sao? V́ niệm
tức, tương tùy, chỉ, quán, hoàn, tịnh là muốn tu tập ư gần đạo. Ĺa khỏí
sáu việc này là theo thế gian. Sổ tức là ngăn chận ư, tương tùy là thâu
ư, chỉ là định ư, quán là ĺa ư, hoàn là nhất ư, tịnh là giữ ư. Do con
người chẳng thể chế ngự ư nên hành sáu việc này. V́ sao sổ tức? Do loạn
ư vậy. V́ sao chẳng được? Do chẳng biết. V́ sao chẳng được thiền? Do
chẳng bỏ tập để chứng diệt, thực hành đạo vậy!
Sổ tức
là đất, tương tùy là cày, chỉ là cái ách, quán là hạt giống, hoàn là mưa,
tịnh là làm việc. Sáu việc như vậy mới theo đạo được. Sổ tức cắt đứt bên
ngoài, tương tùy cắt đứt bên trong, chỉ là dừng tội, hành quán từ bỏ ư,
chẳng thọ thế gian là hoàn, niệm đứt là tịnh. Ư loạn phải sổ tức, ư định
phải tương tùy, ư dứt phải hành chỉ, muốn đắc đạo phải quán, chẳng hướng
ngũ ấm nên hoàn, không có sở hữu là tịnh. Nhiều việc phải sổ tức, ít
việc phải tương tùy, ư bên trong hết phải hành chỉ, sợ thế gian phải
quán, chẳng muốn thế gian là hoàn, niệm dứt là tịnh vậy. V́ sao sổ tức?
V́ chẳng muốn theo năm ấm. V́ sao tương tùy? V́ muốn biết năm ấm. V́ sao
Chỉ? V́ muốn quán sát năm ấm. V́ sao quán ấm? V́ muốn biết gốc của thân.
V́ sao muốn biết gốc của thân? V́ muốn bỏ khổ. V́ sao hoàn? V́ chán sinh
tử. V́ sao tịnh? V́ phân biệt năm ấm chẳng thọ nhận, rồi theo tám con
đường trí tuệ mà để được hiểu biết, mà đạt sở nguyện. Khi hành tức là
tùy theo đếm, khí tương tùy là theo niệm, khi Chỉ là theo định, khi quán
là theo tịnh, khi hoàn là theo ư, khi tịnh là theo đạo, cũng 1à theo
hành vậy.
Sổ tức
là bốn Ư chỉ, Tương tùy là bốn Ư đoạn, Chỉ là niệm bốn Thần túc, Quán là
năm căn và năm Lực, Hoàn là bảy Giác ư, Tịnh là tám Chánh đạo vậy. Được
Tức mà chẳng Tương tùy th́ chẳng phải là Thủ ư. Được Tương tùy mà chẳng
Chỉ th́ chẳng phải là Thủ ư. Được Chỉ mà chẳng quán th́ chẳng phải là
Thủ ư. Được Quán mà chẳng Hoàn th́ chẳng phải là Thủ ư. Được Hoàn mà
chẳng Tịnh th́ chẳng phải là Thủ ư. Được Tịnh mà lại Tịnh mới là Thủ ư.
Đă niệm Tức th́ ác chẳng sinh. Lại thêm sổ là cùng ngăn chận ư, chẳng
theo sáu suy. Hành Tương tùy là muốn ĺa sáu suy; hành Chỉ là muốn khước
trừ sáu suy; hành Quán là muốn đoạn trừ sáu suy; hành Hoàn là muốn chẳng
thọ sáu suy; hành Tịnh là muốn diệt sáu suy; đă diệt hết th́ theo đạo.
Sổ tức
là muốn ngăn chận ư. Hơi thở có dàí có ngắn nên phải lại ngăn chận ư dài
ư ngắn. V́ sao Thủ ư? V́ muốn dừng ác. Ác cũng có thể giữ, cũng chẳng
thể giữ. V́ sao? V́ ác đă hết th́ chẳng phải giữ vậy.
Sổ tức
có ba việc:
1. Phải
ngồi mà thực hành.
2. Thấy
sắc phải nghĩ là vô thường bất tịnh.
3. Phải
hiểu sân nhuế, ngu si, tật đố khiến cho qua đi.
Sổ tức
loạn th́ phải biết nhân duyên phát khởi, phải biết chính là nội ư.
Hơi thở
thứ nhất loạn th́ chính là lỗi của ngoại ư. V́ hơi thở từ bên ngoài vào.
Hơi thở
thứ hai loạn th́ chính là lỗi của nội ư v́ hơi thở từ trong ra.
Hơi thở
ba, năm, bảy, chín... thuộc về ngoại ư.
Hơi thở
bốn, sáu, tám, mười... thuộc về nội ư.
Tật đố,
sân nhuế, ngu si là ba ư ở bên trong. Sát, đạo, dâm, hai lưỡi ác khẩu,
nói dối, thêu dệt là bảy ư và các việc c̣n lại thuộc về bên ngoài. Được
hơi thở là ngoài, chẳng được hơi thở là trong.
Hơi thở
từ ư sinh ra, ư niệm, hơi thở hợp làm một lần đếm. Hơi thở hết th́ đếm
là một cũng chẳng phải là một v́ ư ở ngoài, hơi thở chưa hết vậy. Ví như
đếm tiền, ư ở số năm đếm là một. Sổ tức sở dĩ trước đếm hơi thở vào là
v́ bên ngoài có bảy ác, bên trong có ba ác. Do ít chẳng thể thắng nhiều
nên trước đếm hơi thở vào. Sổ tức chẳng được th́ mất ư căn bản. Ư căn
bản gọi là phi thường, khổ, không, phi thân. Mất ư này th́ rơi vào điên
đảo cũng là mất thầy. Thầy là khi bắt đầu ngồi, hơi thở hít vào thứ nhất
mà được thân an th́ liền theo thứ lớp tiến hành. V́ mất ư căn bản ấy nên
chẳng được hơi thở. Khi Sổ tức, ư thường phải nghĩ về phi thường, khổ,
không, phi thân, đếm là hơi thở ra cũng diệt, hít vào cũng diệt. Biết
được thế rồi th́ được đạo mau chóng, phải giữ ǵn ư sợ phi thường. Được
ư này tức là được hơi thở vậy.
Hơi thở
vào, hơi thở ra sở dĩ khác là v́ hơi thở ra là sinh tử ấm, hơi thở vào
là tưởng ấm. Có lúc hơi thở ra là thống dương ấm, hơi thở vào là thức ấm.
Do đó nên là khác. Đạo nhân phải phân biệt ư này.
Hơi thở
vào là chẳng thọ tội, hơi thở ra là trừ tội, thủ ư là ĺa khỏi tội.
Hơi thở
vào là thọ nhân duyên, hơi thở ra là đến với nhân duyên, thủ ư là chẳng
ĺa khỏi nhân duyên.
Sổ tức
chẳng được có ba lư do:
1. Tội
đến.
2. Hành
chẳng đắp đổi nhau.
3.
Chẳng tinh tấn.
Hơi thở
vào ngắn, hơi thở ra dài, không có cái để nghĩ đến là ư đạo. Có cái để
nghĩ là tộí. Tội cốt ở ngoài chẳng ở trong. Khi sổ tức, có ĺa khỏi ư là
hơi thở nhanh dài, đạt được thở là hơi thở nhanh ngắn. Chẳng an mà thở
là dài, an định mà thở là ngắn. Nghĩ đến muôn vật th́ thở dài, không
nghĩ ǵ là thở ngắn. Chưa đến mười hơi thở mà quên đi rồi đếm lại th́
hơi thở dài, được mười hơi thở th́ hơi thở ngắn. Đạt được hơi thở là
ngắn. V́ sao? V́ dừng chẳng đếm lại. Đạt được hơi thở cũng là dài. V́
sao? V́ hơi thở chẳng ngưng nên là dài. Thở nhanh dài tự biết, thở nhanh
ngắn tự biết th́ đó gọi là ư có mặt tự biết dài ngắn. Ư biết dài ngắn là
tự biết. Ư chẳng biết dài ngắn là chúng tự biết vậy.
Đạo
nhân hành An ban Thủ ư muốn dừng ư th́ phải có nhân duyên ǵ mới được
dừng ư? Phải nghe nóí về An ban Thủ ư!
Thế nào
là An? Thế nào là Ban? An là hơi thở vào, Ban là hơi thở ra. Niệm hơi
thở chẳng ĺa th́ gọi là An ban. Thủ ư là muốn được dừng ư. Đối với
người tu hành mới học th́ có bốn thứ hành An ban Thủ ư; diệt trừ hai ác,
mười sáu thắng, tức thời tự biết đến hạnh An ban Thủ ư, khiến cho họ
được dừng ư.
Những
ǵ là bốn thứ?
1. Đếm.
2.
Tương tùy.
3. Dừng.
4. Quán.
Những
ǵ là hai ác?
1.
Không quá mười hơi thở.
2.
Không giảm mười số.
Những
ǵ mười sáu thắng?
Tức
thời tự biết thở nhanh dài, tức tự biết thở nhanh ngắn, tức tự biết thở
nhanh động thân, tức tự biết thở nhanh yếu, tức tự biết thở nhanh an ổn,
tức tự biết thở nhanh chẳng an ổn, tức tự biết thở nhanh dừng, tức tự
biết thở nhanh chẳng dừng, tức tự biết thở nhanh ḷng hoan lạc, tức tự
biết thở nhanh ḷng chẳng hoan lạc, tức tự biết nội tâm nghĩ vạn vật đă
qua đi chẳng thể trở lại, tự biết đạt được hơi thở nhanh, tự biết bên
trong không nghĩ ǵ, tự biết nghĩ hơi thở nhanh, tự biết ném bỏ việc suy
nghĩ hơi thở nhanh, tự biết chẳng ném bỏ sự suy nghĩ hơi thở nhanh, tự
biết buông bỏ thân mạng hơi thở nhanh, tự biết chẳng buông bỏ thân mạng
hơi thở nhanh tự biết. Đó là mười sáu thứ tức thời tự biết.
Hỏi:
- Những
ǵ là Không quá mười số? Không dưới mười số?
Đáp:
- Hơi
thở đă hết mà chưa đếm th́ đó là quá. Hơi thở chưa hết mà đếm th́ đó là
dưới. Mất đếm cũng xấu, chẳng đếm kịp cũng xấu. Đó là hai thứ ác. Đến
hơi thở thứ hai mà loạn là hơi thở ngắn. Đến hơi thở thứ chín mà loạn là
hơi thở dài. Được mười hơi thở là hơi thở an ổn. Tương tùy là nhỏ. Ư tại
hơi thở dài liền chuyển ư: v́ sao ta nghĩ dài? Ư tại hơi thở ngắn th́
tức thời hiểu chẳng được khiến cho ư dừng. Dừng là chấp trước. Buông bỏ
thân mạng th́ gọi là hành tức. Được ư đạo liền buông bỏ thân mạng, chưa
được ư đạo thường yêu thích thân nên chẳng buông bỏ thân mạng.
Hơi thở
ví tế là đạo, hơi thở dài là sinh tử. Hơi thở ngắn động là sinh tử. Dài
đối với đạo là ngắn. V́ sao? V́ chẳng được ư đạo, không tri kiến nên là
ngắn vậy. Sổ tức là đơn, tương tùy là kép, chỉ là một ư, quán là biết ư,
hoàn là làm đạo, tịnh là vào đạo.
Khi đếm
là niệm đến hơi thở thứ mười là giữ lại. Đó là thiền bên ngoài.
Nghĩ
thân bất tịnh, theo sự trống rỗng th́ đó là thiền bên trong.
Khi
thiền mà ác pháp đến chẳng thọ th́ đó gọi là bỏ. Ngậm miệng đếm hơi thở,
theo luồng hơi ra vào, biết hơi phát ra ở đâu, diệt đi ở chỗ nào, Ư có
điều nghĩ nhớ th́ chẳng đếm hơi thở được. Ư có chậm nhanh, lớn nhỏ cũng
chẳng đếm hơi thở được. Tai nghe thanh âm hỗn loạn cũng chẳng đếm hơi
thở được vậy. Đếm hơi thở mà ư ở tại số hơi thở là chẳng khéo. Hành ư ở
tại ư th́ là dừng, đếm hơi thở mà ư chỉ ở tại hơi thở th́ đó là chẳng
khéo. Phải biết rằng, ư từ đâu khởi th́ hơi theo đó diệt. Đó mới ứng hợp
với nhân duyên đếm hết th́ liền được định ư.
Thủ ư
là nghĩ hơi thở ra, vào. Đă nghĩ đến hơi thở th́ chẳng sinh ra ác nên
gọi là thủ ư.
Hơi thở
thấy nhân duyên sinh, không nhân duyên diệt nhân duyên đoạn th́ hơi thở
dừng vậy.
Đếm hơi
thở là chí thành, hơi thở chẳng loạn là nhẫn nhục. Đếm hơi thở vi tế,
lại chẳng biết ra hay vào th́ như vậy phải giữ một niệm là Chỉ vậy.
Hơi thở
ở tại thân cũng ở bên ngoài. Được nhân duyên th́ hơi thở sính ra. Tội
chưa hết nên có hơi thở. Đoạn dứt nhân duyên th́ hơi thở chẳng sinh ra
nữa.
Đếm hơi
thở dùng làm thiền thứ hai. V́ sao? V́ do chẳng đợi niệm nên làm theo
thiền thứ hai. Đếm hơi thở là chẳng thủ ư, niệm hơi thở mới là thủ ư.
Hơi thở từ ngoài vào mà hơi thở chưa hết th́ hơi thở ở tại nhập, ư ở tại
tận, thức ở tại số vậy. Mười hơi thở có mười ư là mười bó buộc. Tương
tùy có hai ư là hai bó buộc. Chỉ là một ư là một bó buộc, chẳng đếm được
hơi thở là ác, v́ ư chẳng thể bó buộc. Ác ư dừng th́ mới đếm được. Đó là
điều ḥa có thể buộc ư được. Đă được hơi thở, bỏ hơi thở; đă được tương
tùy, bỏ tương tùy; đă được chỉ, bỏ chỉ; đă được quán, bỏ quán, không trở
lại. Không trở lại là không đếm hơi thở.
Hơi thở
cũng sai khiến ư, ư cũng sai khiến hơi thở. Hơi thở có sở niệm là hơi
thở sai khiến ư, không sở niệm là ư sai khiến hơi thở vậy. Hơi thở có
bốn việc:
1. Gió.
2. Hơi.
3. Tức.
4.
Suyển.
Có
tiếng là gió, không tiếng là khí, ra vào là tức, hơi ra vào bất tận là
suyển vậy. Sổ tức cắt đứt bên ngoài, tương tùy cắt đứt bên trong.
Đếm từ
ngoài vào là cắt đứt bên ngoài, cũng muốn ĺa nhân duyên bên ngoài. Đếm
từ trong ra là muốn ĺa nhân duyên bên trong. Ngoài là ly thân, trong là
ly ư. Ly thân, ly ư đó là tương tùy; hơi thở ra vào đó là hai việc vậy.
Sổ tức là muốn cắt đứt nhân duyên trong ngoài.
Những
ǵ là trong ngoài?
Đó là
nhăn, nhĩ, tỹ khẩu, thân, ư là bên trong. Sắc, thanh, hương, vị, tế hoạt
niệm là bên ngoàí. Hành hơi thở là khiến cho ư hướng về không, chỉ muốn
dừng những ư c̣n lại.
Thế nào
là hướng về không?
Trong
hơi thở không ǵ vậy!
Đếm hơi
thở ư có rong ruổi không?
Tức
thời biết là tội nặng, ư nhẹ, tội dẫn ư đi nhanh chóng nên chẳng biết
vậy. Hành đạo rồi được hơi thở, tự chán hơi thở th́ ư muốn chuyển chẳng
muốn đếm. Như vậy mà được hơi thở. Tương tùy, chỉ, quán cũng vậy. Biết
hơi thở ra vào diệt mà diệt là được tướng của hơi thở và biết sinh tử,
chẳng cho là được tướng sinh tử, rồi được Tứ Thiền mà chỉ niệm “không”
là trồng cây đạo.
Hành
hơi thở rồỉ được định, lại chẳng lạí hay biết hơi ra vào th́ liền có thể
quán.
1. Phải
quan sát năm mươi lăm việc.
2. Phải
quan sát mười hai nhân duyên trong thân.
Hỏi:
- Hơi
thở ra vào chắc có chỗ không?
Đáp:
- Khi
hơi thở vào chính là chỗ ấy, khi hơi thở ra chính là chỗ ấy! Khi sổ tức,
thân ngồi, thống dương, tư tường, sinh tử thức dừng lại chẳng hành. Đó
là ngồi. Niệm hơi thở được đạo, lại tính toán th́ hơi thở không biết ǵ.
Hỏi:
- Niệm
tức được đạo v́ sao là không biết ǵ?
Đáp:
- Ư
biết hơi thở, hơi thở không biết ư. Đó là không biết ǵ! Con người chẳng
thể tính toán được ư, liền điều khiển đếm hơi thở là muốn khiến cho ư
định. Tuy đếm hơi thở chỉ chẳng sinh ra ác nhưng không có thông tuệ.
Phải hành những ǵ th́ được thông tuệ? Phảỉ đếm hơi thở từ một đến mười,
phân biệt định loạn, hiểu biết phương cách đối trị. Đă được định ư th́
liền theo thông tuệ. Nếu được tính toán là rơi vào quán vậy.
Hỏi:
- Những
ǵ là đếm?
- Đếm
th́ gọi là sự việc. Ví như người có việc lại c̣n cầu t́m. Đó là tánh
tội, c̣n đạo nhân th́ tính phước. V́ sao chính là số mười. Một ư khởi
lên tính là một, hai ư khởi lên tính là hai... cuối cùng tính đến mười
mà đến mười là hết nên nói rằng số mười là phước. Lại người có tội th́
do chẳng thể hủy hoại hơi thở nên là tội, cũng gọi là sinh tử của ư
chẳng diệt. Rơi vào thế gian rồí chẳng cắt đứt việc thế gian là tội vậy.
Sáu t́nh là sáu việc cùng thống dương, tư tưởng, sinh tử, thức hợp làm
mười việc để ứng với mười hơi thở bên trong. Sát sinh, trộm cắp, dâm
dật, lưỡng thiệt, ác khẩu, vọng ngôn, ỷ ngữ, tật đố, sân nhuế, ngu si
ứng với mười hơi thở bên ngoài. Đó gọi là dừng chẳng hành vậy.
Hỏi:
- Những
ǵ là mười sáu việc?
Đáp:
- Mười
sáu việc là đếm đến mười sáu th́ gọi là sổ tức, tương tùy, chỉ, quán,
hoàn, tịnh. Đó là mười sáu việc, là hành động chẳng rời khỏi, là theo
đạo vậy.
Hỏi:
- Sổ
tức nghĩ đến gió là theo sắc, th́ v́ sao ứng với đạo?
Đáp:
Hành ư
tại đạo, đếm chẳng nghĩ đến sắc, hơi hết liền diệt. Rơí vào vô thường mà
biết vô thường là đạo vậy. Đạo nhân muốn đạt đạo th́ cần phải biết hai
việc ngồi, hành: một là ngồi, hai là hành.
Hỏi:
- Ngồi
cùng hành là đồng hay chẳng đồng?
Đáp:
- Có
lúc đồng có lúc chẳng đồng. Sổ tức, tương tùy, chỉ, quán, hoàn, tịnh,
sáu việc này có khi là ngồi, có khi là hành. V́ sao? V́ sổ tức định ư đó
là ngồi, ư theo pháp đó là hành. Đă khởi lên ư chẳng rời khỏi là hành,
cũng là ngồi vậy. Pháp tọa thiền th́ một chẳng tính hai, hai chẳng tính
một. Một mà tính hai là đếm một hơi thở chưa hết liền nói rằng hai th́
đó là một tính ra hai. Như vậy là vượt qua. Hai tính một là hơi thở đă
vào là hai. Mà nói Ià một. Đó là hai tính một. Như vậy là đếm chẳng kịp.
Từ ba đến bốn, năm đến sáu, bảy đến tám, chín đến mười đều tự có phân
biệt sắp xếp, phải phân biệt sự tùy thuộc, ở một tính một, ở hai tính
hai. Đó pháp thực hành theo tŕnh tự đi lên. Có ba cách ngồi tùy theo
đạo:
1. Ngồi
đếm hơi thở.
2. Ngồi
tụng kinh.
3. Ngồi
hoan hỷ nghe kinh.
Đó là
ba vậy.
Ngồi có
ba thứ:
1. Ngồi
vị hợp.
2. Ngồi
tịnh.
3. Ngồi
không có kết.
Thế nào
là ngồi vị hợp? Đó là ư đặt vào hành động chẳng rời, gọi là ngồi vị hợp.
Sao gọi
là ngồi tịnh? Gọi ngồi chẳng niệm là ngồi tịnh.
Sao gọi
là ngồi không có kết? Đó là kết sử đă hết, gọi là ngồi không có kết vậy.
Hơi thở
có ba nhóm:
1. Hơi
thở tạp.
2. Hơi
thở tịnh.
3. Hơi
thở đạo.
Chẳng
làm đạo đó là hơi thở tạp. Đếm đến mười hơi thở chẳng loạn th́ đó là hơi
thở tịnh. Đă được đạo th́ đó là hơi thở đạo vậy. Hơi thở lại có ba nhóm,
có hơi thở lớn, có hơi thở trung, có hơi thở vi tế. Miệng có nói gọi là
hơi thở lớn dừng, niệm đạo là hơi thở trung dừng, được Tứ thiền là hơi
thở vi tế dừng vậy.
Hỏi:
- V́
sao Đức Phật dạy người đếm hơi thở để Thủ ư?
Đáp:
- Có
bốn nhân duyên:
1. Do
chẳng muốn đau.
2. Do
tránh loạn ư.
3. Do
đóng lại, chẳng muốn gặp gỡ sinh tử.
4. Muốn
được đạo Nê-hoàn.
Ví như
nói mặt trời không ánh sáng th́ có bốn nhân duyên:
1. Do
có mây.
2. Do
có bụi.
3. Do
có gió lớn.
4. Do
có khóí.
Đếm hơi
thở chẳng được cũng có bốn nhân duyên:
1. Do
niệm sinh tử tính toán.
2. Do
ăn uống nhiều.
3. Do
mệt mỏi cực nhọc.
4. Do
ngồi chẳng được lại thêm gốc tội lỗi.
Bốn
việc này đến đều có tướng. Ngồi đếm hơi thở mà bỗng nhiên nghĩ đến việc
khác th́ làm mất đi ư của hơi thở, đó là tướng của niệm tính toán. Xương
cốt đau hết chẳng thể ngồi lâu. Đó là tướng của ăn nhiều. Thân nặng nề,
ư mơ màng chỉ muốn ngủ nghỉ, đó là tướng mệt mỏi. Ngồi măi mà chẳng đếm
được một hơi thở th́ đó là tướng của gốc tội lỗi. Do biết tội phải kinh
hành. Hoặc ngồi đọc kinh văn, ư chẳng tập quen tội th́ họa cũng tiêu tan
vậy. Đạo nhân hành đạo phải nghĩ đến gốc. Những ǵ là gốc? Tâm, ư, thức,
chính là gốc. Ba cái này đều chẳng thấy, sinh ra rồi liền diệt, ư gốc
chẳng sinh ra lại, được ư này là đạo. Ư gốc của ư đă diệt th́ không có
đau, lại thêm nhân duyên sinh liền cắt đứt vậy. Định ư càng ngày càng
tiến bộ hơn. V́ định ư có lúc từ đếm hơi thở được, có lúc từ tương tùy
được, có lúc từ chỉ được, có lúc từ quán được. Tùy theo nhân duyên được
định ư mà trực tiếp tu hành. Hành hơi thở cũng rơi vào tham. V́ sao? V́
ư đă định th́ liền vui mừng nên liền chấp hơi thở ra, hơi thở vào. Khi
niệm diệt, hơi thở sinh ra th́ thân sinh ra, hơi thở diệt th́ thân diệt,
c̣n chưa thoát khỏi khổ sinh tử. V́ sao? V́ vui mừng rồi th́ cho là như
vậy nên liền tham mà dừng lại vậy.
Đếm hơi
thở muốn mau, tương tùy muốn chậm, có lúc đếm hơi thở phải chậm răi, có
lúc tương tùy phải nhanh chóng. V́ sao? V́ đếm hơi thở mà ư chẳng loạn
th́ phải chậm răi, đếm hơi thở mà ư loạn th́ phải là nhanh chóng. Tương
tùy cũng đồng như vậy.
Đếm lần
thứ nhất cũng khác với sở niệm của tương tùy! Tuy đếm hơi thở phải biết
hơi ra vào, nhưng ư đặt ở tại số vậy.
Đếm hơi
thở lại đi với tương tùy. Chỉ, quán là chẳng đếm được hơi thở v́ đời
trước có tập quen tương tùy. Chỉ, quán tuy được tương tùy nhưng chỉ,
quán phải trở lại từ việc đếm hơi thở mà khởi lên vậy.
Đếm hơi
thở mà ư chẳng ĺa th́ đó là ĺa pháp, chẳng phải pháp. Đếm hơi thở th́
ư chẳng tùy theo tội. Ư ở tại thế gian th́ liền rơi vào tội lỗi vậy.
Đếm hơi
thở là chẳng muốn ư loạn. Ư do chẳng loạn lại hành tương tùy th́ chứng
tiếp ư cao hơn và biết là chỉ. Chỉ cùng quán đồng, hoàn cùng tịnh đồng
vậy. Hành đạo được ư vi tế th́ phải đảo ư là phải trở lại đếm hơi thở.
Nếu đọc
kinh rồi mới lại hành thiền mà ư vi tế th́ chẳng đếm hơi thở và hành
tương tùy vậy.
Đức
Phật có sáu ư thanh khiết là: Đếm hơi thở, tương tùy, chỉ, quán, hoàn,
tịnh. Đó là sáu việc có thể chế ngự vô h́nh vậy. Hơi thở cũng là ư, cũng
chẳng phải là ư. V́ sao? V́ khi đếm ư ở ngay tại hơi thở. Khi chẳng đếm
th́ ư và hơi thở đều tự hoạt động. Đó là chẳng phải ư từ hơi thở sinh ra.
Chỉ th́ không có ư vậy.
Có
người chẳng sai khiến ư mà ư sai khiến con người. Người sai khiến ư là
đếm hơi thở, tương tùy, chỉ, quán, hoàn, tịnh, niệm kinh ba mươi bảy
phẩm, đó là sai khiến ư. Có người chẳng hành đạo, tham cầu theo dục th́
đó là ư sai khiến con người vậy. Hơi thở có hơi thở bẩn mà bẩn chẳng khử
trừ th́ chẳng được hơi thở.
Những
ǵ là dơ bẩn của hơi thở? Đó là ba thứ tối kịch liệt trong các tối, là
cấu bẩn của hơi thở.
Những
ǵ là ba tối? Đó chính là sự tối tăm trong thân khí ba độc khởi lên nên
nói ba tối. Ba độc:
1. Tham
dâm.
2. Sân
nhuế.
3. Ngu
si.
Con
người đều v́ ba việc này mà chết nên nói là độc vậy.
Khi đếm
hơi thở, ư ở tại đếm; khi hơi thở chưa đếm th́ có ba ư: Có ư thiện, có ư
ác, có ư chẳng thiện chẳng ác. Người muốn biết đắc tướng hơi thở th́
phải quan sát muôn vật và những sắc đẹp, ư chẳng lại chấp trước th́ đó
là đắc tướng hơi thở, c̣n ư lại chấp trước th́ đó là chưa đắc, phải lại
tinh tấn.
Hành
giả muốn trừ hết ư th́ phải biết là gọi sáu t́nh là nhà của ư, tham ái
muôn vật đều là nhà của ư vậy. Tương tùy là gọi việc làm pháp thiện mà
từ đó được giải thoát. Phải cùng với tương tùy, cũng gọi là chẳng theo
năm ấm, sáu nhập. Hơi thở cùng ư theo nhau vậy.
Hỏi:
- Thứ
ba là Chỉ v́ sao dừng ở đầu mũi?
Đáp:
- Do
đếm hơi thở, tương tùy, chỉ, quán, hoàn, tịnh đều từ mũi ra vào. Ư quen
chỗ cũ, cũng là dễ nhận biết. Do đó nên đặt ở đầu mũi vậy. Ác ư đến th́
cắt đứt là Thiền. Có lúc dừng lại ở đầu mũi, có lúc dừng lại ở trong
tâm. Ở tại chỗ dừng lại là chỉ. Khi tà đến làm loạn ư người th́ Quán
thẳng vào một việc, các ác đến tâm sẽ không động, v́ tâm chẳng sợ! Chỉ
có bốn:
1. Số
đếm.
2. Chỉ
tương tùy.
2. Chỉ
đầu mũi.
4. Chỉ
dứt tâm.
Chỉ
nghĩa là phải chế ngự làm dừng lại năm lạc, sáu nhập vậy.
Hơi thở
vào đến hết, dừng ở đầu mũi, nghĩa là ác chẳng vào nữa, đến đầu mũi dừng
lại.
Hơi thở
ra đến hết th́ đặt ở đầu mũi, nghĩa là ư chẳng ĺa khỏi thân hành hướng
theo ác nên đặt ở đầu mũi. Cũng có nghĩa là hơi thở khí mới vào, liền
nhất niệm hướng về chẳng chuyển đổi, hơi thở ra vào cũng chẳng biết th́
đó là Chỉ vậy.
Chỉ là
như hơi thở ra, hơi thở vào ư biết trước khi ra, chẳng biết sau khi ra.
Hay biết trước là ư quan sát lẫn nhau, tức là xem xét hơi thở ra vào
thấy suy bại, tức là thọ tướng sợ sinh tử, tức là khước từ ư, theo tướng
đạo ư vậy.
Không
tương tùy là chỉ đặt niệm ở đầu mũi, chẳng nghĩ đến nhân duyên năm ấm.
Tội đoạn, ư diệt cũng chẳng thở mau. Đó là Chỉ vậy.
Không
tương tùy nghĩa là không có ư niệm ra vào nữa, theo nhân duyên năm ấm,
lại chẳng thở mau.
Thứ tư
là Quán, khi quán hơi thở hoại cùng quán thân thể khác với hơi thở th́
thấy nhân duyên sinh, không có nhân duyên diệt. Tâm ư thọ tướng là ư
muốn có sở đắc. Tâm cho là nhân duyên hội tụ th́ phải diệt vong, liền
cắt đứt ư muốn, chẳng hướng đến nữa. Đó gọi là tâm ư thọ tướng.
Do nhận
thức được nhân duyên mà cùng quan sát lẫn nhau, nghĩa là biết được nhân
duyên năm ấm. Hơi thở ra cũng quán, hơi thở vào cũng quán mà quán nghĩa
là quan sát năm ấm. Đó gọi là cùng quán, cũng ứng với ư và ư quan sát
lẫn nhau, là nhân duyên đôi, ở bên trong cắt đứt ác mà niệm đạo vậy.
Quán
hơi thở ra khác, hơi thở vào khác, nghĩa là hơi thở ra là sinh tử ấm,
hơi thở vào là tư tưởng ấm. Có lúc hơi thở ra là thống dương ấm, hơi thở
vào là thức ấm. Tùy theo nhân duyên khởi lên là thọ ấm. Chỗ hướng về của
ư không có thường dùng, cho nên là khác. Đạo nhân nên phân biệt để biết,
cũng gọi là hơi thở ra diệt, hơi thở vào sinh, hơi thở vào diệt, hơi thở
ra sinh vậy. Không có nghĩa là ư người và ư vạn vật khởi lên rồi diệt,
vật sống lại chết. Đó là không có vậy.
Chẳng
phải hơi thở ra là hơi thở vào, chẳng phải hơi thở vào là hơi thở ra.
Chẳng phải nghĩa là khi hơi thở ra th́ ư chẳng niệm hơi thở vào, khi hơi
thở vào ư chẳng niệm hơi thở ra. Do sở niệm khác nên nói là chẳng phải
vậy. Trung tín nghĩa là vào trong đạo thấy nhân duyên của đạo mà tin
đạo. Đó là trung tín vậy.
Thứ năm
là Hoàn bỏ kết, nghĩa là bỏ bảy ác của thân. Thứ sáu là Tịnh bỏ kết,
nghĩa là bỏ ba ác của ư. Đó gọi là hoàn. Hoàn tức là ư chẳng khởi ác
nữa. Ác là chẳng hoàn; Hoàn thân nghĩa là hoàn ác. Đạt được thứ năm là
hoàn th́ c̣n có thân mà cũng không thân. V́ sao? V́ có ư th́ có thân,
không ư th́ không thân. Ư là hạt giống của người. Đó gọi là hoàn.
Hoàn
nghĩa là ư chẳng khởi ác. Khởi ác th́ đó là chẳng hoàn, cũng gọi là
trước giúp thân, sau giúp ư. Chẳng sát, đạo, dâm, hai lưỡi, ác khẩu, nói
dối, nói thêu dệt, đó là giúp thân. Chẳng tật đố, sân nhuế, ngu si, đó
là giúp ư.
Hoàn
ngũ ấm th́ ví như mua vàng mà được đá liền ném bỏ xuống đất chẳng dùng.
Con người tham ái năm ấm bị thống khổ liền chẳng muốn. Đó là hoàn ngũ
ấm vậy.
Thế nào
là thấy chỗ diệt tận?
Đó Ià
không sở hữu. Đó là chỗ diệt.
Hỏi:
- Đă
không sở hữu th́ v́ sao gọi là chỗ?
Đáp:
- Chỗ
không sở hữu có bốn chỗ:
1. Loài
chim lấy không trung làm chỗ.
2.
La-hán lấy Nê-hoàn làm chỗ.
3. Đạo
lấy không có làm chỗ.
4. Pháp
ở tại chỗ quan sát vậy.
Hơi thở
ra, hơi thở vào thọ tướng của năm ấm nghĩa là ư tà niệm mau chóng chuyển
trở lại chánh niệm do sinh tỉnh giác mà cắt đứt thọ tướng năm ấm. Nói
rằng thọ nghĩa là thọ tướng chẳng thọ vậy. Do thọ tướng năm ấm nên biết
khởi ở đâu và diệt ở đâu.
Diệt là
thọ mười hai nhân duyên. Con người từ mười hai nhân duyên sinh ra, cũng
từ mười hai nhân duyên chết đi. Chẳng niệm là chẳng niệm năm ấm vậy.
Biết khởi ở đâu, diệt ở đâu nghĩa là nhân duyên thiện ác khởi lên liền
lại diệt đi, cũng gọi là thân, cũng gọi là hơi sinh diệt.
Niệm
th́ sinh, chẳng niệm th́ diệt, ư cùng thân đồng đẳng nhau. Đó là cắt đứt
đường sinh tử. Tại ṿng sinh tử này, tất cả việc ác đều từ ư đến vậy.
Hôm nay chẳng trước kia, trước kia chẳng là hôm nay, nghĩa là niệm trước
đă diệt th́ niệm bấy giờ chẳng phải là niệm trước đó. Cũng có nghĩa là
việc làm dời trước và việc làm đời nay đều tự được phước riêng. Cũng có
nghĩa là việc làm thiện hôm nay chẳng phải là việc làm ác trước kia.
Cũng nghĩa là hơi thở bây giờ chẳng phải là hơi thở trước đó, hơi thở
trước đó chẳng phải hơi thở bây giờ vậy. V́ sinh tử phân biệt tức là ư
niệm sinh th́ liền sinh ra, ư niệm diệt th́ liền diệt đi nên nói rằng
sinh tử. Phải phân biệt vạn vật và thân, phước quá khứ, vị lai đă hết.
V́ sao
vậy? V́ hết là do sinh ra liền diệt, mà diệt th́ liền hết. Đă biết hết
th́ phải tận lực cầu vậy. Nh́n lên đầu không sở tùng lai nghĩa là người
không từ đâu đến mà ư khởi lên là người. Cũng nghĩa là người chẳng tự
làm người đến, tức là có chỗ từ đó đến, người tự làm tự được, đó là vô
sở tùng lai vậy. Sinh tử phải phân biệt, nghĩa là biết phân biệt năm ấm.
Cũng nghĩa là biết phân biệt sinh tử của ư, ư của người là thường. Biết
không có thường cũng là phân biệt vậy.
Nh́n
sau không xứ sở là hiện tại hôm nay chẳng thấy tội v́ ở hội sinh tử sẽ
bị tội, không có ai thoát khỏi tội. Nên nói rằng, nh́n sau không có xứ
sở chưa được Đạo tích th́ không chết giữa chừng, nghĩa là phải được mười
lăm ư, th́ chẳng chết nửa chừng. Cần phải được mười lăm ư mới vào Đạo,
cũng chuyển lên đến A-la-hán vậy. Được đạo nửa chừng cũng chẳng được nửa
chừng, mạng tận là hơi thở, ư, thân gồm ba việc. Đó là, ư thiện ác cần
phải được Đạo tích (dấu đạo), nhưng cũng lại nửa chừng bị hủy
hoại. Hơi thở chết lại sinh, ư thiện khởi lại diệt. Thân cũng chẳng bị
chết nửa chừng.
Những
ǵ là tịnh? Gọi những sự tham dục là chẳng tịnh, trừ khử tham dục th́ đó
là tịnh.
Những
ǵ là tướng của năm ấm? Ví như lửa là ấm th́ củí là tướng vậy. Từ hơi
thở đến tịnh đó đều là quán, nghĩa là quán thân tương tùy, chỉ, quán,
hoàn, tịnh vốn Ià không có. Ư bên trong đếm hơi thở, ư bên ngoài cắt đứt
nhân duyên ác. Đó là hai ư vậy.
Hỏi:
- V́
sao chẳng quan sát thân thể trong ngoài trước mà ngược lại quán sổ tức,
tương tùy, chỉ, quán, hoàn, tịnh trước?
Đáp:
- Do ư
bất tịnh nên chẳng thấy thân, ư tịnh rồi liền thấy hết trong ngoài thân.
Đạo có mười chín hạnh; do người có mười chín bệnh nên cũng có muời chín
thứ thuốc: Quán thân nghĩ chất dơ, đó là thu