Chùa Hải-Đức in Jacksonville
|
|
KINH A-DI-ĐÀ Yếu Giải
Hán dịch: Cưu Ma La Thập. Yếu giải: Trí Húc. Việt dịch: Thích Tuệ Nhuận.
--- o0o ---
Tiểu Sử Sư cụ Tuệ Nhuận thế danh Văn Quang Thùy, sanh năm 1887 (17-3-Đinh Hợi) tại tỉnh Hải Dương. Chuyên Nho học suốt thời niên thiếu. Ngài chăm học đến nỗi nhà cháy, ai nấy lo cứu hỏa, riêng ngài vẫn ngồi yên chuyên chú học. Măi sau lớn mới chuyển qua học chữ Pháp, thi đỗ làm Thông phán tại nha quan thuế Hà Nội. Năm 1928, cụ thân sinh Văn Đức Khiêm thất lộc, ngài suy tư về kiếp sống vô thường, bắt đầu tụng kinh, nghiên cứu đạo Phật. Bẩm tánh thông minh lại sẵn Hán học, ngài vào giáo lư thâm sâu rất dễ dàng. Thời ấy người đời xô nhau theo nếp sống mới, quên lăng đạo Phật. Nhưng ở các chùa th́ Bồ-đề vẫn rộ nở hoa. Tổ Vĩnh Nghiêm, Tổ Bằng, Tổ Sở, Tổ Cồn v.v... pháp tràng phất phới khắp nơi. Nhưng giáo pháp vô thượng thậm thâm hoàn toàn được tuyên dương bằng chữ Hán ở các chùa trên các đồi quê, gần như không quan hệ ǵ đến xă hội quần chúng. Các quan chức như Tổng đốc Nguyễn Năng Quốc, Bùi Thiện Căn v.v... ư thức được sự lợi ích của Phật giáo đối với nền văn hóa Việt Nam, hô hào thành lập hội Phật giáo. Ngài nhiệt liệt tham gia. Từ đó một mặt giúp các Sư học đạo, một mặt giảng kinh ở các chùa Quán Sứ, Ḥe Nhai và các chùa nhỏ ở quanh vùng Hà Nội. Mở các lớp học Phật Pháp cho các cư sĩ tinh tấn. Các tỉnh Nam Định, Thái B́nh, Hải Pḥng, thường thỉnh ngài giảng pháp, ngài đều vui vẻ đáp ứng. Mùa xuân Canh Th́n, một phái đoàn Tăng sĩ Trung Hoa sang thăm Việt Nam, trong đó có 2 ngài Đế Nhàn và Thái Hư. Chùa Quán Sứ hồi ấy chưa đủ pḥng xá tiếp đón khách Tăng, các ngài phải nghỉ ở khách sạn của người Hoa. Cụ Văn Quang Thùy mon men đến xin học thiền. Ngài Thái Hư đáp: “Tôi thấy Việt Nam toàn tu Tịnh-độ, cư sĩ nên vâng theo”. Rồi ngay tại khách sạn, ngài Thái Hư ngồi trên bàn, cụ quỳ dưới đất. Ngài trao Bồ-tát Giới và cho một mảnh thiếp để kỷ niệm:
“Nhập Như Lai Tạng. Năm 1935 cụ xin nghỉ việc, dành trọn thời giờ để phục vụ Tam-bảo. Cụ đă dịch rất nhiều kinh tiếng Việt. Kinh Di Đà, Dược Sư, Hoa Nghiêm phẩm Phổ Hiền v.v... cho tới nay vẫn đang lưu hành trong toàn quốc. Giảng kinh Lăng Nghiêm ở Quán Sứ năm 1945, được học chúng nhiệt liệt hoan nghênh. Chùa Ḥe Nhai thành lập hội Phật tử, mở lớp học Lăng Nghiêm. Cụ vừa dạy vừa phiên âm sang tiếng Việt Nam. Năm 1949, lần đầu tiên Việt Nam in chữ quốc ngữ bộ kinh Lăng Nghiêm và Từ Bi Đạo Tràng Sám Pháp (Lương Hoàng). Thấy t́nh h́nh quần chúng các thành phố toàn quốc đă rạng tỏ, cụ xuất bản tờ Bồ Đề Nguyệt San, thân làm giám đốc. Những bài của cụ đăng trong báo được coi như những hạt châu ngọc để lại cho hậu lai. Trên tờ báo này, những ngọn bút danh tiếng khắp Bắc, Trung, Nam đă cùng nhau thi đua tŕnh bày tư tưởng cao thâm. Năm 1954 cụ xuất gia theo Ḥa-thượng Thích Thiện Ḥa và từ đó lấy việc chuyên tu làm chính vụ. Cụ thị tịch năm 1964 trong tiếng niệm Phật và chí nguyện văng sanh. Pháp tử Cát Tường Lan Dâng phiến tâm hương đền ơn pháp nhũ
Lời người dịch Tu Thiền chắc chắn thành Phật. Tu Tịnh mau chóng thành Phật. Tu môn nào cũng phải thấy rơ Phật tánh rồi mới thành Phật. Mỗi niệm Phật danh là một nhớ đến Phật tánh. Thấy rơ Phật tánh là thành Phật quả. Thành Phật là khôi phục lại tự do hạnh phúc. T́m hiểu tánh Phật của ḿnh của người là sự nghiệp Tịnh-độ hóa thế gian năm ấm ngũ trược của bảy thú. Sự nghiệp này Phật tử phải làm ngay. Phật dạy: Tất cả chúng sanh ai cũng có tánh Phật. Bồ Tát Giới nói: Ngươi là Phật sẽ thành, ta là Phật đă thành, thường khởi tin như vậy, giới phẩm đă đầy đủ. Áp dụng lời dạy trên vào đời sống, ta có 2 thực hiện: 1) Vâng giới luật, không dám áp bức một loài nào dù là con sâu cái kiến. 2) Khai trí tuệ b́nh đẳng, tôn trọng muôn loài hàm thức, tận t́nh cứu giúp lẫn nhau. Có tâm Phật, mắt Phật như vậy là siêu phàm thoát tục. Kinh Niết Bàn, Sư Tử Hống Bồ-tát hỏi: Tất cả chúng sanh cùng có chung một Phật tánh hay mỗi người riêng biệt một Phật tánh? Phật đáp: Phật tánh chẳng phải một, chẳng phải hai, b́nh đẳng như hư không. Nói b́nh đẳng tất nhiên phải có nhiều cái so sánh với nhau, thấy đều như hư không. Nghĩa là không h́nh không tướng nhưng bát ngát mông mênh không bờ bến. Hôm nay ta mới đến phương Đông nhưng Phật tánh của ta đă ở đấy từ vô thủy rồi. Mai ta rời Đông đi Tây, Phật tánh của ta như hư không vẫn măi ở Đông mà cũng đă ở Tây từ vô thủy rồi. Thân nghiệp báo theo duyên đổi dời ṿng quanh luân chuyển khắp bảy thú. Phật tánh như hư không vẫn thường trụ ở khắp mười phương. Vậy đương khi ta ngồi ở Việt Nam, niệm Phật cầu sanh Tây phương, th́ Phật tánh của ta như hư không vẫn ở Việt Nam và cũng đang ở An Lạc thế giới cách đây mười vạn cơi Phật. Mỗi tiếng niệm Phật là Phật tánh của ta ở khắp mười phương đều rung cảm. Duyên Sa Bà hết, duyên Tịnh-độ thành, nghiệp trần lụy hết, nghiệp Tịnh-độ thành, th́ thân đất nước gió lửa ở Sa Bà tan ră mà thân hào quang rực rỡ sẽ hóa sanh. Tùy ư ta muốn hiện sanh phương nào, Phật tánh của ta sẽ hiện thân ở phương ấy một khi nhân duyên đầy đủ. Bản Như Lai Tạng diệu chân như tánh của người, của ta, của chúng sanh, của Phật, bao giờ cũng thường hằng linh thông cảm ứng với nhau vô lượng, vô biên, vô cùng, vô tận. Nam mô Pháp Giới Tạng Thân A Di Đà Phật. Nam mô Vô Biên Thân Bồ-tát ma-ha-tát. Nam mô Hư Không Tạng Bồ-tát ma-ha-tát.
Không Thiền tông, không Tịnh-độ Địa ngục đêm ngày đau khổ Muôn đời ngàn kiếp c̣n lâu Nhờ cậy ai, ai tế độ?
Có Thiền tông, có Tịnh-độ Như thêm sừng cho mănh hổ Hiện tại làm thầy trời người Đời vị lai làm Phật Tổ.
Hà Nội, ngày 7-10-Tân Măo (5-11-1951) Tuệ Nhuận cẩn tự
KHÓA LỄ TỊNH-ĐỘ TÁN PHẬT Đấng pháp vương Vô-thượng, Ba cơi chẳng ai bằng. Đạo sư khắp trời người, Cha lành chung bốn loài. Quy y tṛn một niệm, Dứt sạch nghiệp tăng kỳ. Xưng dương cùng tán thán, Ức kiếp không cùng tận. Phật, chúng sanh tánh thường không tịch. Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn, Lưới đế châu ví đạo tràng, Mười phương Phật bảo hào quang sáng ngời. Trước Phật đài thân con ảnh hiện, Cúi đầu xin đảnh lễ quy y. CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ: — Nam mô tận hư không biến pháp giới, quá hiện vị lai. Mười phương chư Phật, Tôn Pháp, Hiền Thánh Tăng, thường trụ Tam-bảo. (1 lễ) — Nam mô Sa Bà giáo chủ Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Long Hoa giáo chủ Di Lặc tôn Phật, đại trí Văn Thù Sư Lợi Bồ-tát, đại hạnh Phổ Hiền Bồ-tát, Hộ Pháp chư tôn Bồ-tát, Đạo tràng hội thượng Phật Bồ-tát, nhất thiết chư Hiền Thánh Tăng. (1 lễ) — Nam mô Tây phương An Lạc thế giới đại từ đại bi tiếp dẫn đạo sư A Di Đà Phật, đại bi Quán Thế Âm Bồ-tát, Đại Thế Chí Bồ-tát, đại nguyện Địa Tạng Vương Bồ-tát, Thanh Tịnh đại hải chúng Bồ-tát. (1 lễ) SÁM HỐI Con nay khắp v́ bốn ân ba cơi pháp giới chúng sanh tất nguyện đoạn trừ ba chướng quy mạng sám hối (1 lễ). Chí tâm sám hối Con xưa đă tạo bao nghiệp ác Đều v́ ba độc tham, sân, si Từ thân miệng ư phát sanh ra Hết thảy con nay cầu sám hối. Bao nhiêu nghiệp chướng sâu nhường ấy Nguyện đều tiêu diệt không c̣n dư. Niệm niệm trí soi khắp pháp giới, Rộng độ chúng sanh thề không thoái. Sám hối phát nguyện rồi, chí tâm đảnh lễ A Di Đà Phật biến pháp giới thường trụ Tam-bảo (1 lễ).
TÁN HƯƠNG Lư trầm vừa đốt, pháp giới thơm lừng. Xa đưa hải hội Phật đều mừng. Đâu đâu cũng thấy cát tường vân. Thành ư ân cần, chư Phật hiện toàn thân. Nam mô Hương Vân Cái Bồ-tát ma-ha-tát (3 lần). CHÚ SẠCH KHẨU NGHIỆP Tu lị, tu lị, ma ha tu lị, tu tu lị, sa bà ha (3 lần). CHÚ SẠCH THÂN NGHIỆP Tu đa lị, tu đa lị, tu ma lị, sa bà ha (3 lần). CHÚ SẠCH BA NGHIỆP Ám sa phạ bà phạ, truật đà sa phạ, đạt ma sa phạ, bà phạ truật độ hám (3 lần). CHÚ AN THỔ ĐỊA Nam mô tam măn đá một đà nẫm, ám độ rô độ rô địa vĩ sa bà ha (3 lần). CHÚ PHỔ CÚNG DƯỜNG Ám nga nga nẵng tam bà phạ phạt nhật la hộc (3 lần). KỆ KHAI KINH Pháp Phật cao sâu rất nhiệm mầu, Ngàn muôn ức kiếp dễ hay đâu. Con nay nghe thấy xin vâng giữ, Chân nghĩa Như Lai hiểu thật sâu. Nam mô Liên Tŕ hải hội Phật Bồ-tát ma-ha-tát (3 lần).
PHẬT NÓI KINH A DI ĐÀ A/- TỰA I. Thông tựa Đúng thật như thế, chính tôi được nghe: Một thời bấy giờ, tại nước Xá Vệ, Phật ngự ở tinh xá Cấp Cô Độc, trong vườn Kỳ Đà, cùng Tỳ-kheo Tăng 1250 đại A-la-hán chúng đều quen biết: trưởng lăo Xá Lợi Phất, Ma-ha Mục Kiền Liên, Ma-ha Ca Diếp, Ma-ha Ca Chiên Diên, Ma-ha Câu Hy La, Ly Bà Đa, Châu Lợi Bàn Đà Già, Nan Đà, A Nan Đà, La Hầu La, Kiều Phạm Ba Đề, Tân Đầu Lư Phả La Đọa, Ca Lưu Đà Di, Ma-ha Kiếp Tân Na, Bạc Câu La, A Nâu Lâu Đà… Văn Thù Sư Lợi pháp vương tử, A Dật Đa Bồ-tát, Càn Đà Ha Đề Bồ-tát, Thường Tinh Tấn Bồ-tát, cùng với vô lượng đại chúng Bồ-tát. Cả vua Đế Thích và các vua khác cùng với quyến thuộc đông không xiết kể, cùng đến dự hội. II. Biệt tựa Bấy giờ Đức Phật bảo ngài trưởng lăo Xá Lợi Phất rằng: Cách đây hơn 10 vạn ức cơi Phật, về phương Tây có thế giới An Lạc, Phật A Di Đà hiện đang thuyết pháp.
B/- CHÁNH TÔNG I. Khải tín 1- Y báo Này Xá Lợi Phất! Cơi ấy v́ sao gọi là An Lạc? Chúng sanh cơi ấy không có những khổ, chỉ hưởng toàn vui, bởi thế cho nên gọi là An Lạc. Cơi nước An Lạc bảy lớp lan can, bảy lớp lưới giăng, bảy lớp hàng cây, đều là bốn báu, bao vây giáp ṿng (nơi nào cũng có). Cơi nước An Lạc, có ao thất bảo, trong ao thường đầy nước tám công đức, đáy ao rải thuần thứ cát vàng cốm. Bốn bên bờ ao, bực lên lối đi, làm bằng vàng bạc, lưu ly, pha lê. Trên ao, lầu gác cũng toàn bằng vàng bạc, lưu ly, pha lê, xà cừ, xích châu, mă năo. Hoa sen trong ao to bằng bánh xe, màu xanh sáng xanh, màu vàng sáng vàng, màu đỏ sáng đỏ, màu trắng sáng trắng, nhiệm mầu thơm sạch. Xá Lợi Phất này! Cơi nước An Lạc thành tựu như vậy công đức trang nghiêm. Cơi nước An Lạc lưng trời ḥa nhạc, mặt đất thuần vàng. Ngày đêm sáu buổi, hoa mạn đà la rắc xuống như mưa. Chúng sanh sáng sớm lấy giỏ đựng hoa thơm đẹp kỳ diệu, đi cúng phương xa, mười vạn ức Phật. Thoáng tới giờ ăn đă về cơi ḿnh, ăn rồi kinh hành. Xá Lợi Phất này, cơi nước An Lạc thành tựu như vậy công đức trang nghiêm. Cơi nước An Lạc, nhiều các loài chim, màu đẹp quư hiếm, bạch hạc, khổng tước, xá lợi, cộng mệnh, ca lăng tần già, ngày đêm sáu buổi, tiếng hót ḥa nhă, diễn ra các pháp: ngũ căn, ngũ lực, thất Bồ-đề phần, bát chánh đạo phần và nhiều pháp khác. Chúng sanh nghe rồi đều vui niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng. Xá Lợi Phất này, ông chớ bảo rằng những loài chim ấy thật v́ tội báo phải làm kiếp chim. Là v́ lẽ sao? Đă là cơi Phật, cái tên ác đạo c̣n không hề có, huống chi lại có ác đạo thật ư? Những chim ấy là Phật A Di Đà muốn cho tiếng pháp chan ḥa khắp nơi mà biến hóa ra. Cơi nước An Lạc, gió hiu hiu thổi, những hàng cây báu, những lưới ngọc giăng rung động phát ra vi diệu âm thanh, như là trăm ngàn nhạc khí ḥa điệu, ai nghe tự nhiên nức ḷng niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng. Xá Lợi Phất này! Cơi nước An Lạc thành tựu như vậy công đức trang nghiêm. 2- Chánh báo Ư ông thế nào, v́ sao Phật hiệu là A Di Đà? Xá Lợi Phất này, đức Phật quang minh, soi khắp mười phương, không đâu chướng ngại, v́ thế nên hiệu là A Di Đà. Ngài cùng nhân dân, sống lâu vô cùng, đến bao nhiêu kiếp không thể kể xiết, v́ thế nên hiệu là A Di Đà. Phật A Di Đà thành Phật đến nay mới có 10 kiếp. Đệ tử Thanh-văn toàn A-la-hán, nhiều lắm không thể đếm mà biết được, các vị Bồ-tát cũng đông như thế. Xá Lợi Phất này, cơi nước An Lạc thành tựu như vậy công đức trang nghiêm. II. Khuyên phát nguyện Cơi nước An Lạc, chúng sanh sang đấy, không c̣n thoái chuyển, trong đó có nhiều nhất sanh bổ xứ. Số sanh sang đấy đông lắm không thể đếm mà biết được, chỉ đành nói là rất nhiều vô số vô lượng vô biên. Chúng sanh nghe rồi th́ nên phát nguyện, nguyện sanh sang đấy. Là v́ làm sao? V́ đồng các bậc thượng thiện như thế cùng họp một nơi. III. Lập hạnh Này Xá Lợi Phất! Không ít thiện căn, phước đức nhân duyên, mà được sanh sang bên nước kia đâu. Chỉ có những người một ḷng chuyên niệm Phật A Di Đà, 1 ngày, 2 ngày, 3 ngày, 4 ngày, 5 ngày, 6 ngày, 7 ngày. Niệm kỳ cho được nhất tâm không loạn. Người này lâm chung, Phật A Di Đà cùng với thánh chúng hiện ra trước mặt. Tâm không điên đảo, người ấy liền sanh sang cơi An Lạc Phật A Di Đà. Kết khuyến Này Xá Lợi Phất! Ta thấy lợi thế cho nên nói thế. Ai được nghe rồi th́ nên phát nguyện sanh sang nước kia. C/- LƯU THÔNG I. Phổ khuyến 1- Khuyến tín Này Xá Lợi Phất! Ta nay khen ngợi Phật A Di Đà công đức lợi ích chẳng xiết nghĩ bàn th́ phương Đông có Phật A Súc Bệ, Phật Tu Di Tướng, Phật Đại Tu Di, Phật Tu Di Quang và Phật Diệu Âm, hằng hà sa số Phật ở cơi ḿnh, tướng lưỡi rộng dài, che khắp ba ngàn đại thiên thế giới, nói lời thành thật rằng: chúng sanh ngươi, nên tin kinh này là một bản kinh tán thán công đức chẳng xiết nghĩ bàn và được hết thảy chư Phật hộ niệm. Này Xá Lợi Phất! Phương Nam: Phật Nhật Nguyệt Đăng, Phật Danh Văn Quang, Phật Đại Diệm Kiên, Phật Tu Di Đăng, Phật Vô Lượng Tinh Tấn, hằng hà sa số Phật ở cơi ḿnh, tướng lưỡi rộng dài, che khắp ba ngàn đại thiên thế giới, nói lời thành thật rằng: chúng sanh ngươi, nên tin kinh này là một bản kinh tán thán công đức chẳng xiết nghĩ bàn và được hết thảy chư Phật hộ niệm. Này Xá Lợi Phất! Phương Tây: Phật Vô Lượng Thọ, Phật Vô Lượng Tướng, Phật Vô Lượng Tràng, Phật Đại Quang, Phật Đại Minh, Phật Bảo Tướng, Phật Tịnh Quang, hằng hà sa số Phật ở cơi ḿnh, tướng lưỡi rộng dài, che khắp ba ngàn đại thiên thế giới, nói lời thành thật rằng: chúng sanh ngươi, nên tin kinh này là một bản kinh tán thán công đức chẳng xiết nghĩ bàn và được hết thảy chư Phật hộ niệm. Này Xá Lợi Phất! Phương Bắc: Phật Diễm Kiên, Phật Tối Thắng Âm, Phật Nan Trở, Phật Nhật Sanh, Phật Vơng Minh, hằng hà sa số Phật ở cơi ḿnh, tướng lưỡi rộng dài, che khắp ba ngàn đại thiên thế giới, nói lời thành thật rằng: chúng sanh ngươi, nên tin kinh này là một bản kinh tán thán công đức chẳng xiết nghĩ bàn và được hết thảy chư Phật hộ niệm. Này Xá Lợi Phất! Phương Hạ: Phật Sư Tử, Phật Danh Văn, Phật Danh Quang, Phật Đạt Ma, Phật Pháp Tràng, Phật Tŕ Pháp, hằng hà sa số Phật ở cơi ḿnh, tướng lưỡi rộng dài, che khắp ba ngàn đại thiên thế giới, nói lời thành thật rằng: chúng sanh ngươi, nên tin kinh này là một bản kinh tán thán công đức chẳng xiết nghĩ bàn và được hết thảy chư Phật hộ niệm. Này Xá Lợi Phất! Phương Thượng: Phật Phạm Âm, Phật Tú Vương, Phật Hương Thượng, Phật Hương Quang, Phật Đại Diệm Kiên, Phật Tạp Sắc Bảo Hoa Nghiêm Thân, Phật Ta La Thọ Vương, Phật Bảo Hoa Đức, Phật Kiến Nhất Thiết Nghĩa, Phật Như Tu Di Sơn, hằng hà sa số Phật ở cơi ḿnh, tướng lưỡi rộng dài, che khắp ba ngàn đại thiên thế giới, nói lời thành thật rằng: chúng sanh ngươi, nên tin kinh này là một bản kinh tán thán công đức chẳng xiết nghĩ bàn và được hết thảy chư Phật hộ niệm. Này Xá Lợi Phất! Ư ông thế nào? Sao gọi kinh này là kinh “Nhất thiết chư Phật hộ niệm”? Xá Lợi Phất này! Thiện nam, thiện nữ nghe kinh thọ tŕ và nghe danh hiệu chư Phật sáu phương, sẽ được chư Phật hộ niệm, bất thoái Vô-thượng Bồ-đề. V́ thế Xá Lợi Phất các ông đều nên tin chịu lời ta và lời chư Phật đă nói. 2- Khuyến nguyện Này Xá Lợi Phất, những ai phát nguyện văng sanh về cơi Phật A Di Đà, th́ đều bất thoái Vô-thượng Bồ-đề. Nơi Phật Tịnh-độ ai đă phát nguyện th́ đă sanh rồi, ai nay phát nguyện th́ nay đang sanh, c̣n mai mới nguyện th́ mai sẽ sanh. Bởi thế cho nên, này Xá Lợi Phất! Thiện nam, thiện nữ! Hễ có ai tin nên mau phát nguyện sanh về An Lạc. 3- Khuyến hạnh Này Xá Lợi Phất! Ta nay ngợi khen chư Phật công đức chẳng xiết nghĩ bàn, th́ chư Phật cũng khen ta công đức chẳng xiết nghĩ bàn. Các ngài nói rằng: “Phật Thích Ca Mâu Ni đă làm việc rất khó hiếm có, ở ngay giữa cơi Sa Bà kham khổ có năm ác trược: kiếp trược, kiến trược, phiền năo trược, chúng sanh trược, mệnh trược, thế mà chứng được Vô-thượng Bồ-đề. Lại v́ chúng sanh chỉ bày pháp ấy là pháp thế gian khó tin”. Này Xá Lợi Phất, nên biết ở trong ngũ trược ác thế ta đă chứng được Vô-thượng Bồ-đề, việc này rất khó. V́ thế gian nói pháp khó tin ấy, lại càng khó hơn. Kết khuyến Phật nói kinh rồi, ngài Xá Lợi Phất và các Tỳ-kheo, hết thảy thế gian, cơi trời, cơi người, cơi A tu la và các cơi khác, nghe lời Phật nói vui mừng, tin chịu, làm lễ rồi lui. * BẠT NHẤT THIẾT NGHIỆP CHƯỚNG CĂN BẢN ĐẮC SANH TỊNH-ĐỘ ĐÀ LA NI: Nam mô a di đa bà dạ, đa tha dà đa giạ, đá địa giạ tha, a di rị đô bà tỳ, a di rị đa, tất đam bà tỳ, a di rị đa tỳ ca lan đế, a di rị đa tỳ ca lan đa, già di nị, già già na, chỉ đa ca lệ, sa bà ha.
Hội Liên Tŕ trong sáng, Đức A Di Đà Như Lai, Cùng Quán Âm, Thế Chí hai ngài. Tiếp dẫn lên hoa đài Thề độ hết muôn loài Rũ sạch kiếp trần ai. Nam mô Liên Tŕ hội thượng Phật Bồ-tát ma-ha-tát (3 lần).
KINH TÂM YẾU BÁT NHĂ BA LA MẬT ĐA Bồ-tát Quán Tự Tại thực hành sâu xa pháp Bát Nhă ba la mật đa. Ngài soi thấy 5 uẩn đều không, độ thoát hết thảy khổ ách. Này Xá Lợi Tử! Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc. Sắc tức là không, không tức là sắc. Thọ, Tưởng, Hành, Thức cũng đều như thế. Này Xá Lợi Tử! Tướng Không của mọi pháp không sanh không diệt, không nhơ không sạch, không thêm không bớt. Cho nên trong Chân Không không có sắc, không có thọ tưởng hành thức. Không có mắt tai mũi lưỡi thân ư, không có sắc thanh hương vị xúc pháp, không có nhăn thức giới... cho đến không có ư thức giới. Không có vô minh cũng không có hết vô minh... cho đến không có già chết cũng không có hết già chết. Không có Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Không có trí tuệ cũng không chứng đắc. Bởi v́ vô sở đắc. Bồ-tát y Bát Nhă ba la mật đa nên tâm không quản ngại. V́ không quản ngại nên không sợ hăi, xa hẳn mộng tưởng điên đảo, đạt tới cứu cánh Niết-bàn. Ba đời chư Phật y Bát Nhă ba la mật đa, nên được đạo quả vô thượng chánh đẳng chánh giác. Cho nên biết Bát Nhă ba la mật đa là đại thần chú, là đại minh chú, là vô thượng chú, vô đẳng đẳng chú, trừ được hết thảy khổ, chân thật không hư. V́ vậy nói chú Bát Nhă ba la mật đa: “Yết đế, yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề sa bà ha” (3 lần). KINH LĂNG NGHIÊM Chương Đại Thế Chí niệm Phật Ngài Đại Thế Chí, con đấng pháp vương, cùng 52 vị đại Bồ-tát đồng hạnh với ngài, đứng dậy dập đầu lễ dưới chân Phật, mà bạch Phật rằng: “Con nhớ đời xưa, cách đây nhiều kiếp, có Phật ra đời, hiệu ngài gọi là Phật Vô Lượng Quang. Mười hai Như Lai cùng nối ngôi nhau ra trong một kiếp, Như Lai cuối cùng hiệu ngài gọi là Siêu Nhật Nguyệt Quang. Ngài dạy con pháp “Niệm Phật Tam Muội”. Ví như 2 người: một người chuyên nhớ, một người chuyên quên. Hai người như thế, dù có gặp nhau cũng như chẳng gặp ; dù có thấy nhau cũng như chẳng thấy. Vậy hai người phải cùng nhớ tới nhau rất là thâm thiết, cứ như thế măi, cho hết kiếp này, lại sang kiếp khác, như bóng với h́nh chẳng hề rời nhau. “Mười phương Như Lai thương nhớ chúng sanh như mẹ nhớ con, nếu con trốn chạy, th́ mẹ dẫu nhớ có làm ǵ được. Nếu con nhớ mẹ, như mẹ nhớ con, mẹ con đời đời chẳng rời xa nhau”. Nếu tâm chúng sanh nhớ Phật niệm Phật, đời này đời sau quyết định thấy Phật, cách Phật chẳng xa. Chẳng nhờ đến pháp phương tiện nào khác, mà cũng khai ngộ được tâm của ḿnh. Như người ướp hương, thân có mùi hương. Pháp này gọi là “Hương Quang Trang Nghiêm”. Chỗ bản nhân con dùng tâm niệm Phật vào vô sanh nhẫn. Nay ở cơi này, tiếp người niệm Phật về nơi Tịnh-độ. Phật hỏi viên thông, con không chọn lựa, con chỉ thu nhiếp tất cả sáu căn, chuyên một tịnh niệm, nối nhau liền liền, được vào chánh định, ấy là đệ nhất”.
NIỆM PHẬT Phật A Di Đà thân kim sắc, Tướng tốt quang minh tự trang nghiêm, Năm Tu-di uyển chuyển bạch hào, Bốn biển lớn trong ngần mắt biếc. Trong hào quang hóa vô số Phật, Vô số Bồ-tát cùng Thánh chúng. Bốn mươi tám nguyện độ chúng sanh, Chín phẩm sen vàng lên giải thoát. Quy mạng lễ A Di Đà Phật Ở phương Tây thế giới an lành, Con nay xin phát nguyện văng sanh, Cúi xin đức Từ Bi tiếp độ. — Nam mô Tây phương An Lạc thế giới đại từ đại bi, tiếp dẫn đạo sư A Di Đà Phật. — Nam mô A Di Đà Phật (108 biến). — Nam mô Quán Thế Âm Bồ-tát. (3 lần) — Nam mô Đại Thế Chí Bồ-tát. (3 lần) — Nam mô Địa Tạng Vương Bồ-tát. (3 lần) — Nam mô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ-tát (3 lần). PHÁT NGUYỆN Con nay khắp v́ bốn ân ba cơi pháp giới chúng sanh, tất nguyện đoạn trừ ba chướng quy mạng phát nguyện (1 lễ). Nguyện cùng người tu tịnh hạnh, thiện nghiệp trang nghiêm, phước trí hiện tiền. Nguyện A Di Đà Thế Tôn, Quán Âm, Thế Chí, từ bi tiếp thọ, v́ con hiện thân, phóng tịnh quang minh, khiến cho chúng con, sáu căn tịch tĩnh, ba chướng tiêu trừ, vui tu tịnh hạnh, thân tâm nhuần thấm, niệm niệm không mất Tịnh-độ thiện căn. Thường được thấy cơi Phật A Di Đà vi diệu trang nghiêm, vui vẻ ḷng con, khiến con tinh tấn. Nguyện ngày mệnh chung dự biết thời khắc, tận trừ chướng ngại, tuệ niệm tăng minh, thân không bệnh khổ, tâm không điên đảo. Hiện diện đối Phật A Di Đà cùng các Bồ-tát, hoan hỷ khoái lạc. Trong một sát na liền được văng sanh An Lạc thế giới, hoa sen tươi nở, được Phật thọ kư. Từ đây tự tại hóa thân vi trần Phật sát, tùy thuận chúng sanh. Khiến cho Phật sát trần số chúng sanh phát tâm Bồ-đề, đều cùng thoát khổ, đồng sanh Tịnh-độ. Hạnh nguyện như thế, niệm niệm hiện tiền, suốt đời vị lai nối tiếp không dứt, thân miệng ư nghiệp thường làm Phật sự. Phát nguyện rồi, chí tâm quy mạng đảnh lễ A Di Đà Phật biến pháp giới Tam-bảo (1 lạy). PHỤC NGUYỆN Nguyện đem công đức tŕ chú, sám hối tụng kinh, hồi hướng văng sanh. Nguyện cho chúng con.... Nhất tâm hằng tỏ ngộ, Lục dục sớm tan không, Cơi nhân gian, sanh tử xa ĺa, Nơi An Lạc hóa sanh tự tại. Ao thất bảo thảnh thơi tắm mát, Đài cửu liên nhẹ gót tiêu dao, Quán Âm, Thế Chí kết đồng hàng, Bồ-tát Thánh Tăng là bạn lữ. Thần thức hằng vui nơi cơi tịnh, Nghiệp duyên trần không vướng mảy may, Trên đài sen chín phẩm nở hoa, Chư Phật phóng hào quang thọ kư. Nam mô A Di Đà Phật TAM QUY — Tự quy y Phật, xin nguyện chúng sanh hiểu rơ đạo lớn, phát tâm Bồ-đề (1 lễ). — Tự quy y Pháp, xin nguyện chúng sanh vào sâu kinh tạng, trí tuệ như biển (1 lễ). — Tự quy y Tăng, xin nguyện chúng sanh thống lư đại chúng, hết thảy không ngại (1 lễ).
Yếu giải
I. Tên kinh Phật nói Kinh A Di Đà Phật: Đức Thích Ca Mâu Ni, đă giác ngộ, không một pháp nào ngài không biết rơ thật tướng. V́ bi nguyện giáng sanh cơi Sa Bà làm giáo chủ. A Di Đà: Vô Lượng Quang, Vô Lượng Thọ, Vô Lượng Công Đức. Đây là danh hiệu đức giáo chủ cơi An Lạc ở phương Tây. II. Thể chất của kinh Kinh đại thừa nào cũng lấy thật tướng làm cốt tủy. Thật tướng là cái tướng chân thật của vạn pháp. Chúng ta đă biết thân người, thân vật, cây cối núi sông đều do bảy đại hợp thành. Theo kinh Lăng Nghiêm cả 7 đại đều là Như Lai Tạng diệu chân như tánh, chân tâm bản tánh của chúng ta. Hoa Nghiêm cũng tuyên bố: Nhất thiết duy tâm tạo. Vậy tất cả những ǵ nói ở trong kinh A Di Đà, đều là tâm tánh Bồ-đề của Phật, Bồ-tát và chúng sanh tạo ra. Tâm tánh này thường trụ ở khắp mười phương. Thánh phàm ai ai cũng sẵn đủ. Tâm tánh này là thể chất của đời sống nhưng chúng ta quên hẳn v́ mải mê với vọng tưởng lăng xăng. Hễ trở về sống với bản tánh tức là thành Phật, là người giác tỉnh. Then chốt tu hành là nhận rơ được tâm tánh chân thật của ḿnh. III. Tôn chỉ của kinh Tôn chỉ là đường lối thiết yếu. Đây là cương lĩnh của tất cả công hạnh tu tŕ kinh A Di Đà. A/. Tin: l) Tin ḿnh: Thế giới An Lạc vốn sẵn đang ở ngay trong tâm tánh ḿnh. Chỉ cần tận lực tỉnh ra, đừng để kiến-hoặc tư-hoặc rối loạn bưng bít, không thể trở về với tâm chân thật của ḿnh. 2) Tin người: Tin Phật Thích Ca không nói dối, tin Phật A Di Đà không nguyện suông, tin sáu phương Phật tướng lưỡi rộng dài quyết không hai lời. 3) Tin nhân: Tin mỗi tiếng niệm Phật chính là cái nhân để văng sanh cơi Phật. 4) Tin quả: Các thượng thiện nhân đang tụ hội ở cơi An Lạc đều do niệm Phật mà đă kết quả. 5) Tin sự: Cơi An Lạc là một cảnh giới có thật ở phương Tây. Phật A Di Đà đang phóng hào quang thật sự đi khắp mười phương để tiếp dẫn chúng sanh niệm Phật. 6) Tin lư: Bao nhiêu hoa đốm xanh đỏ quay cuồng đều do thần kinh mỏi nhọc mà tự thấy ra. Cảnh giới Sa Bà đă do sáu căn tuần nghiệp xấu ác mà phát hiện th́ nay sáu căn thanh tịnh làm nhân, theo duyên thanh tịnh tiếp dẫn là đức Phật, hẳn về Tịnh-độ trang nghiêm c̣n nghi ngờ ǵ nữa. B/. Nguyện: Đă tin chắc cơi Sa Bà nhơ uế là do cộng nghiệp những tâm tánh nhơ uế hiện ra, đúng lư ta nên chán bỏ. Cơi An Lạc thanh tịnh là do cộng nghiệp những người thanh tịnh tạo ra, đúng lư ḿnh nên vui cầu. Do trạch pháp đă thấy đáng bỏ th́ quyết định chán bỏ. Đă thấy nên cầu th́ nhất định vui cầu. Sách Diệu Tông nói: Bỏ hết rồi th́ không c̣n ǵ phải bỏ nữa. Lấy hết rồi th́ không c̣n ǵ phải lấy nữa. Ai chưa trọn vẹn thủ xả, đă tuyên bố tôi không thủ xả, là người chấp lư bỏ sự. Ngược lại, sự đă bỏ chẳng xong th́ lư hẳn chưa thấu triệt. Ở đây chỉ là chuyển phiền năo thành Bồ-đề, chuyển pháp giới phàm mê thành pháp giới thanh lương. Chí nguyện này phải minh bạch rơ ràng. C/. Hạnh: Chấp tŕ danh hiệu Phật A Di Đà, lấy nhất tâm bất loạn làm hẹn kỳ, lấy văng sanh làm mục đích. Tu Tịnh-độ có nhiều phương pháp, đức Phổ Hiền nói 10 nguyện vương, kinh Vô Lượng Thọ nói trăm ngàn công hạnh, Quán Vô Lượng Thọ dạy nhiếp niệm quán tưởng. Kinh này chỉ duy một pháp tŕ danh. Đây là pháp môn liễu nghĩa vô thượng, tối cực viên đốn. * Khác với các pháp tu nhị thừa, tam thừa, tiểu thừa, đại thừa, tôn chỉ Tín Nguyện Hạnh của kinh này là cái mầm nhân chân thật của đạo nhất thừa, chỉ có duy nhất một hướng phương là quả Vô-thượng Bồ-đề. Đây chính là tông chỉ của kinh Pháp Hoa. IV. Lực dụng của kinh Sanh sang Tịnh-độ, lên ngôi bất thoái là lực dụng của kinh. Tịnh-độ có 4 cơi, mỗi cơi đều có 9 phẩm. 1) Niệm Phật chưa đoạn trừ được kiến-hoặc tư-hoặc, tùy theo tâm tán loạn hay yên định, sẽ sang 9 phẩm ở Đồng Cư (phàm thánh ở chung). 2) Niệm Phật đến sự nhất tâm bất loạn, kiến-hoặc tư-hoặc tiêu hết, sẽ được sanh sang cơi Phương Tiện Hữu Dư (riêng cho các vị Thanh-văn, Duyên-giác). 3) Niệm Phật đến lư nhất tâm bất loạn, phá được từ 1 đến 41 phẩm vô minh, sẽ được sanh sang cơi Thật Báo Trang Nghiêm (cơi này riêng cho Báo-thân Phật và các đại Bồ-tát), có khi chứng được một phần ở cơi Thường Tịch Quang. 4) Niệm Phật phá hết 42 phẩm vô minh, thời được sanh lên thượng thượng phẩm ở cơi Thật Báo Trang Nghiêm, hay là ở cơi rốt ráo Thường Tịch Quang (cơi này riêng của Báo-thân Phật và Pháp-thân Phật). Cơi An Lạc nói trong kinh là Đồng Cư Tịnh-độ mà 3 Tịnh-độ trên cũng có đủ cả ở ngang ngay đấy. Bất thoái có 4 nghĩa: 1- Niệm bất thoái. 2- Hạnh bất thoái. 3- Vị bất thoái. 4- Tất cánh bất thoái. 1) Niệm bất thoái: Phá hết vô minh, hiểu rơ Phật tánh, sanh cơi Thật Báo, hay cơi phần chứng Thường Tịch Quang. 2) Hạnh bất thoái: Đoạn hết kiến-hoặc, tư-hoặc, trần sa hoặc, sanh cơi Phương Tiện. 3) Vị bất thoái: Mang cả ác nghiệp sanh cơi Đồng Cư, gửi thể chất vào hoa sen, vĩnh viễn dứt hết mọi ác duyên thoái chuyển. 4) Tất cánh bất thoái: Niệm Phật bất luận nhất tâm hay tán loạn, hiểu hay chẳng hiểu, đều là nhân duyên giải thoát một ngày mai. Danh hiệu Phật A Di Đà, danh hiệu kinh này, danh hiệu chư Phật sáu phương, 3 thứ này khi đă lọt vào tai rồi không bao giờ luống uổng. Đặc biệt kinh có lực dụng lạ lùng là có thể khiến người tu đới nghiệp văng sanh về cơi Đồng Cư chứng Vị bất thoái cùng Bồ-tát bổ xứ ở chung. V. Giáo tướng Kinh A Di Đà thuộc về Đại thừa Bồ-tát tạng, loại “không ai hỏi mà Phật tự nói”. Bí áo của Hoa Nghiêm(1), cốt tủy của Pháp Hoa(2), tâm yếu của chư Phật(3), chỉ nam của Bồ-tát hạnh([1]), đều có ở bộ kinh này. Tán thán bao nhiêu cũng chưa đủ, thỉnh các bậc trí tuệ để ư. A/ I. Thông tựa Trong Tịnh-độ hội đại chúng gồm 3: 1/. Thanh-văn chúng đứng đầu v́: a) H́nh tướng xuất thế gian. b) Thường theo Phật. c) Phật và Pháp nhờ Tăng được lưu truyền. 2/. Bồ-tát h́nh tướng bất định (có vị xuất gia, có vị tại tục) tiêu biểu nghĩa trung đạo. 3/. Trời, người, tám bộ h́nh tướng thế gian, có cả phàm thánh, đứng địa vị ngoại hộ. 1- Thanh-văn chúng. Tỳ-kheo: Hàm 3 nghĩa: a) Khất sĩ (bậc sĩ xin ăn và xin đạo). b) Phá ác (dùng trí tuệ đoạn phiền năo vô minh). c) Phố ma (đă thọ đại giới nên ma sợ hăi). A-la-hán: Hàm 3 nghĩa: a) Ứng cúng (hưởng cúng dường — quả khất sĩ). b) Sát tặc (giết hết giặc phiền năo — quả phá ác). c) Vô sanh (không sanh tử — quả phố ma). Xá Lợi Phất trí tuệ đệ nhất. Mục Kiền Liên thần thông đệ nhất. Ma-ha Ca Diếp đầu đà đệ nhất. Ma-ha Ca Chiên Diên nghị luận đệ nhất. Ma-ha Câu Si La khéo đáp đệ nhất. Ly Bà Đa thiền định đệ nhất. Châu Lợi Bàn Đà Già nhớ nghĩa đệ nhất. Nan Đà nghiêm hộ sáu căn đệ nhất. A Nan Đà học giỏi đệ nhất. La Hầu La mật hạnh đệ nhất. Kiều Phạm Ba Đề phước điền cơi trời đệ nhất. Tân Đầu Lư Phả La Đọa phước điền cơi người đệ nhất. Ca Lưu Đà Di giáo hóa đệ nhất. Ma-ha Kiếp Tân Na thiên văn đệ nhất. Bạc Câu La thọ mạng đệ nhất. A Nâu Lâu Đà thiên nhăn đệ nhất. Các ngài là chúng đương cơ, kham thọ Phật giáo, kham làm Phật sự. 2- Bồ-tát chúng. Văn Thù Sư Lợi: Diệu Cát Tường, trí tuệ đệ nhất. A Dật Đa: Vô Năng Thắng, tên riêng của đức Di Lặc. Càn Đà Ha Đề: Tu hành không ngừng nghỉ. Thường Tinh Tấn: Lợi ḿnh lợi người không mỏi mệt. 3- Thiên nhân chúng. Thích Đề Hoàn Nhơn, ta gọi là Ngọc hoàng Thượng đế hay Đế Thích là vua cơi trời Đao Lợi. II. Biệt tựa Nguyên âm Ấn Độ là Sumati, Hán dịch là An Lạc, Cực Lạc, Diệu Ư, An Dưỡng, Thanh Thái v.v... nghĩa là an ổn vui vẻ. Kinh nhấn mạnh có thế giới gọi là An Lạc, có Phật hiệu A Di Đà hiện đang thuyết pháp, khiến chúng ta chuyên chú nhất tâm hướng về cảnh giới hiện đang có thật. Cơi Sa Bà, đức Phật Thích Ca đă nhập Niết-bàn, đức Di Lặc chưa giáng sanh, chúng sanh không nơi nương tựa nên phát nguyện cầu văng sanh để được gần Phật, nghe pháp. B/ CHÁNH TÔNG I. Khải tín 1- Y báo Chúng sanh: Từ Đẳng-giác Bồ-tát đến nhân dân, những ai đang ở cơi An Lạc. Kinh nói về cảnh giới của hạng kém nhất khiến ta tự hiểu ở phẩm thượng thượng sự sung sướng đến thế nào. Cũng để so sánh với cơi Sa Bà sanh già bệnh chết, ân ái biệt ly, oán thù gặp gỡ, năm ấm lẫy lừng, bao nhiêu thống khổ. Những cái mà cơi Sa Bà gọi là vui, Phật gọi là hoại khổ v́ từng sát na vô thường, vui ǵ cũng thành không, chỉ để lại nuối tiếc đau nhớ. Nước tám công đức: 1) Trong trẻo. 2) Mát mẻ. 3) Ngon ngọt. 4) Mềm nhẹ (có thể chảy ngược đi lên). 5) Nhuận trạch (khác với nước cơi Sa Bà làm thối nát tan rữa). 6) An ḥa (không có sóng dữ). 7) Trừ đói khát. 8) Nuôi lớn thiện căn. Hoa sen bào thai một khi x̣e nở, người văng sanh lên ngay bờ ao, vào pháp hội thấy Phật nghe pháp. Hoa sen. Vi: hoa có h́nh mà không chất, toàn là ánh sáng. Diệu: các hoa đi qua lẫn nhau không chướng ngại. Hương: thơm. Khiết: v́ không chất nên bụi bám vào đâu. Thai sen có 4 đức th́ thân sanh ra cũng thế. Cảnh giới trang nghiêm đều do chí và hạnh hùng vĩ của Phật A Di Đà cảm thành. Chúng sanh cũng do nhân thiện căn, duyên phước đức mà được hưởng. Người tín nguyện cứ một niệm Phật là một thành công trang nghiêm Tịnh-độ. Phật và nhân dân, y báo chánh báo, toàn là ánh sáng th́ đâu có ngày đêm. Dân Sa Bà cuộc đời là một đêm dài vô hạn. Ánh sáng đều nhờ mặt trời mặt trăng nên mới có ngày đêm, thành có thời gian hôm qua hôm nay và ngày mai. Chim hót ngày đêm sáu buổi th́ đủ biết cơi An Lạc, chim cũng như người không có si nghiệp, không có tánh ngủ. Trước đem năm căn năm trần, sau riêng đem nhĩ căn và thanh trần để thích nghĩa thọ dụng. Bởi v́ cơi An Lạc thu hút tất cả căn cơ trong pháp giới, cả năm trần đều là động cơ tu tập viên thông. Phật nay đang nói kinh ở cơi Sa Bà, cơi này nhĩ căn riêng thông lợi nên Phật đặc biệt đem tiếng nói pháp của cả hai loài hữu t́nh và vô t́nh để miêu tả cái vui giải thoát hiện tại và ngộ đạo ngày mai. Thính chúng cơi Sa Bà có thể tin ḿnh có khả năng giác tỉnh nếu được ở cảnh ngộ này, do đây sẵn sàng phát nguyện văng sanh. Ngũ căn: 5 gốc rễ: tín, tiến, niệm, định, tuệ. Phàm phu phát tâm Bồ-đề thường hời hợt nên dễ mất. Nay cần gần thiện tri thức nghe pháp học kinh để tâm Bồ-đề kiên cố. Như cái cây có gốc rễ mới có thể vững vàng dưới gió băo nắng sương. Ngũ lực: 5 gốc rễ đă có năng lực phát ra cành lá hoa trái. Tâm Bồ-đề chẳng những không bị các chướng ngại làm cho lui sụt mà c̣n có năng lực dũng mănh trên cầu Phật Pháp dưới độ chúng sanh, cùng nhau phá ác tu thiện v.v... Thất Bồ-đề phần: 7 tâm trợ duyên giác ngộ. 1) Trạch pháp: trí tuệ khéo phân biệt chân ngụy. 2) Tinh tấn. 3) Hỷ. 4) Trừ: đoạn ác. 5) Xả. 6) Định. 7) Niệm. Tu hành cần định tuệ cân phân. Nếu tự thấy hôn trầm th́ dùng 3 giác phần là trạch pháp, hỷ, tinh tấn để tự phấn chấn. Nếu tự thấy bồng bột xáo động th́ dùng 3 giác phần trừ, xả và định để tự điều ḥa. Tâm nhớ các pháp phải thời phải chỗ như vậy gọi là niệm. Bát chánh đạo: 1) Chánh kiến: Thấy theo Tứ Diệu Đế. 2) Chánh tư duy: Hằng quán sát: thân bất tịnh, thọ thị khổ, tâm vô thường, pháp vô ngă v.v... 3) Chánh ngữ: Lời nói từ tâm trí tuệ và từ bi. 4) Chánh nghiệp: Không sát sanh mà hộ sanh, không trộm cắp mà bố thí v.v... 5) Chánh mạng: 1. Không nuôi thân mạng bằng nghề ruộng vườn. 2. Không nuôi thân mạng bằng nghề thiên văn địa lư bói toán. 3. Không nuôi thân mạng bằng nghề xoay sở kinh doanh buôn bán. 4. Không nuôi thân mạng bằng nghề bùa chú tà thuật. Lại có 5 loại tà mạng: 1/- Giả hiện tướng tu hành cầu người cúng dường. 2/- Tự khoe công đức. 3/- Xem tướng xem bói. 4/- Giọng nói hống hách ra oai. 5 Nói khích khiến người bỏ của ra cúng. 6) Chánh tinh tấn: Tu đạo Niết-bàn. 7) Chánh niệm: Nhớ niệm các pháp chánh đạo và trợ đạo. 8) Chánh định: Dùng trí tuệ vô lậu ứng hợp vào thiền định. C̣n nhiều pháp khác: Tứ niệm xứ, tứ chánh cần, tứ nhiếp, lục độ v.v... * Trong kinh mỗi đoạn nói xong Phật lại kết rằng: “Chỉ lấy công đức mà tạo thành được trang nghiêm thế đấy”. Đây là cố ư nói đi nói lại cho người tin sâu rằng: Tất cả đều do chí nguyện và hành vi của đức A Di Đà đă tạo thành, do chủng trí của ngài đă thực hiện. Và cũng do ba nghiệp thân miệng ư rất thanh tịnh của mỗi người tu đă cảm ứng mà biến hiện ra ở trong tâm thức của ḿnh. Tâm Phật tâm chúng sanh cùng làm ảnh và chất cho nhau. Thí dụ như các ánh sáng của nhiều ngọn đèn cùng sáng khắp cả với nhau th́ coi tựa như một ánh sáng. Hoàn toàn lư ấy đă thành ra sự, hoàn toàn sự vật ấy tức là lư thật. Hoàn toàn tánh ấy đă khởi ra hạnh tu. Hoàn toàn hạnh tu ấy đều ở trong tánh. Mong người học suy nghĩ sâu xa cho tỏ ngộ. Đừng bỏ cơi Tịnh-độ của Phật thật có mà chỉ bàn suông đến cái Tịnh-độ bóng ma, cái bóng duyên vọng tưởng ở trong tâm ḿnh, đến nỗi cam chịu tiếng chê là thử tức, điểu không. Sư cụ Tuệ Nhuận giảng thêm: Chữ ảnh và chữ chất, Ngẫu Ích đại sư rút ở kinh Lăng Già quyển I. Phật thí dụ thức A-lại-da như cái gương rất lớn không bến bờ giới hạn. Vạn vật như bóng hiện trong gương. Chỗ có bóng ảnh chính là chất gương. Thân và Độ của Phật là ảnh th́ tâm chúng sanh là chất gương. Thân và Độ của chúng sanh là ảnh th́ tâm Phật là chất gương. Ư nói Phật ở trong tâm thức chúng sanh, chúng sanh ở trong tâm thức Phật. Tuy ở trong nhau mà không dính chặt lấy nhau chỉ như ảnh trong gương. Thử tức và điểu không là lời chế giễu những người nông nổi, ai nói sao bào hao làm vậy, không t́m hiểu sự thật. Nghe nói “Phật tức tâm” th́ cứ lập đi lập lại Phật tức tâm, chớ không hiểu ǵ cả, khác nào con chuột kêu “tức, tức”. Lại nghe “vạn pháp đều không” th́ cũng nói không mà chẳng hiểu ǵ, chỉ như chim vẹt kêu không, không. 2- Chánh báo MO |