Đại Phương Quảng Phật
Hoa Nghiêm Kinh
Hán Dịch: Đại-Sư Thật-Xoa-Nan-Đà
Việt Dịch: HT Thích Trí Tịnh
—————————————-
Mục Lục:
Thay lời tựa
(Thích Đức Niệm)
Lời nói đầu (Thích Trí Tịnh)
Nghi thức sám hối trước khi tụng kinh.
Nghi thức tŕ tụng.
**********
Thay Lời
Tựa
Kinh Hoa Nghiêm là bộ kinh đại thừa, là vua trong các kinh,
với nội dung siêu việt tuyệt luân hùng vĩ, tráng lệ nguy nga, thể hiện
pháp thân, tư tưởng và tâm nguyện của Phật.
Hoa Nghiêm tiếng Phạn là Avatamsaka, có nghĩa là đóa hoa
thanh khiết tuyệt đẹp nhất trần gian, ngát hương khắp mười phương các
cơi pháp giới.
Tư tưởng Hoa Nghiêm tŕnh bày vạn pháp do tâm sanh. Tâm là
thực thể của vạn pháp. Tâm vọng th́ vạn pháp hoạt hiện sai biệt h́nh
h́nh sắc sắc, trùng trùng duyên khởi, cái này có cái kia có và ngược lại,
như lưới đế châu. Tâm chơn th́ pháp giới tánh với Tâm là một, vạn pháp
đồng nhất thể. Tâm thanh tịnh th́ thấu đạt chơn lư Phật tánh, suốt thông
pháp giới vô ngại, thể nhập bất tư ngh́ giải thoát hạnh môn. Kinh Hoa
Nghiêm, Đức Phật chỉ cho chúng-sanh thấu rơ cội nguồn của xum la vạn
tượng do mê thức vọng tưởng nghiệp duyên h́nh thành, các pháp hiện hành
trong vũ trụ là huyễn hóa, như hoa trong gương, như trăng trong nước.
Tất cả vạn pháp trong pháp giới đều từ tâm sanh. Tâm trùm khắp cả pháp
giới. Tất cả vạn hữu vũ trụ có thể nằm gọn trong hạt cải. Hạt cải có thể
thâu nhiếp tất cả vũ trụ vạn pháp. Thể tánh của Tâm nhiếp thâu tất cả.
Tất cả là một, một là tất cả. Đó là bản tánh vô ngại của Tâm. Bản tánh
chơn tâm suốt thâu vạn pháp hữu t́nh và vô t́nh; lấy toàn thể pháp giới
tánh làm lượng; lấy xứng tánh bất tư ngh́ vô ngại giải thoát làm thể. Đó
là ư nghĩa căn cốt của Kinh Hoa Nghiêm.
Bởi thế, nếu Kinh Đại Bát Nhă tiêu biểu cho tư tưởng Phật
Pháp đại thừa về lư chơn không vô ngại, th́ Kinh Hoa Nghiêm đại biểu cho
tư tưởng Phật Pháp đại-thừa về lư hữu hóa duyên sanh của vạn pháp.
Ngoài ra Kinh Hoa Nghiêm c̣n là một thông điệp, một bài học
phong phú sinh động muôn đời, trao gởi cho hành giả có tâm hướng thượng
đại-thừa, tu là cần phải học phải hành qua h́nh ảnh Thiện Tài đồng tử
tham bái cầu học đạo với năm mươi ba vị thiện tri thức, là bằng chứng
cho ta thấy rằng tu học đạo bồ-đề điều tiên quyết cần phải khắc phục nội
tâm cống cao ngă mạn, dục vọng loạn tưởng; ngoài thân khiêm cung cầu
tiến hành tŕ phương pháp Hoa Nghiêm tuyệt đỉnh, t́m chân sư liễu ngộ
mới mong hiển lộ được Phật tánh chơn tâm của ḿnh.
Nên nghiên tầm ư nghĩa của Kinh Hoa Nghiêm là khai mở quang
lộ trở về bản tánh chơn tâm thanh tịnh sáng suốt thường nhiên; là biết
được tự thể của các pháp hiện hành trong thế giới vũ trụ; là thấu suốt
cội nguồn sanh sanh hóa hóa của hữu t́nh và vô t́nh chúng-sanh; là quán
chiếu bí yếu mật nghĩa viên dung tương quan của tâm và cảnh, để rồi từ
đó có thể thống triệt lư viên dung vô ngại chủ và khách của vạn pháp,
hiện hành sanh hóa, tương duyên tương nhơn quả, tương sanh tương diệt.
Tất cả vạn pháp toàn triệt ảnh hiện trên đài gương chơn như thể tánh.
Thế nên, thọ tŕ Kinh Hoa Nghiêm là bước vào cửa phương tiện cầu tu học
đạo, là nhân tố đặc thù hy hữu ly vọng hoàn chơn.
Bởi công đức đặc thù nhiệm mầu vi diệu của Kinh Hoa Nghiêm như thê, nên
người có thiện duyên thấy Kinh Hoa Nghiêm mà biết phát tâm thành kính
tin sâu, th́ như chính ḿnh được thấy Phật. Người thành tâm đọc Kinh Hoa
Nghiêm như trực tiếp nghe Phật khai thị. Người chí thành phụng thờ Kinh
Hoa Nghiêm như chính ḿnh trực tiếp phụng thờ Phật. Người phát tâm bồ-đề
ấn tống Kinh Hoa Nghiêm có công-đức như được cúng dường Phật, như được
thỉnh Phật trụ thế chuyển pháp luân, như được dự vào sự nghiệp hoằng
pháp lợi sanh của chư Phật. Kinh Hoa Nghiêm cao sâu, nhiệm mầu vi diệu
như thế, nên những ai thành kính phát tâm ấn tống thọ tŕ kinh này, th́
phải biết rằng người đó nhiều đời gieo thiện duyên bồ-đề, đă từng làm sứ
giả của Phật và đă từng ở trong ngôi nhà chánh pháp.
Phật-Học-Viện Quốc-Tế nhận thấy thời mạt pháp này, pháp nhược
ma cường, để cho chánh pháp đại thừa được trường tồn phổ cập nhân gian,
làm rường cột cho niềm tin chánh đạo, ngơ hầu thức tỉnh quần mê sớm hồi
đầu về bến giác. Nên nguyện cùng chư Phật tử bốn phương, đồng chí hướng
đại thừa vô lượng đạo, đồng tâm thành kính in lại bộ kinh đại thừa quư
giá này, để kết thiện duyên vô thượng bồ-đề, cùng các bạn hiền đang
hướng nguyện tiến bước theo gót chân Phật trở về giác tánh chân như.
Ngưỡng nguyện chư tôn thiền đức và các bậc thiện hữu tri thức
Phật tử gần xa phát tâm hoan hỷ hộ tŕ.
Thành tâm kính lậy Thập Phương Thường Trụ Tam Bảo tác đại
chứng minh.
Phật Đản 2532 -
Mậu Th́n 1988
THÍCH ĐỨC NIỆM
[Về Đầu Trang]
*******
Lời Nói Đầu Của
Dịch Giả
Khảo cứu
theo truyền sử trong đại-tạng, khi thành đạo Vô-thượng Chánh-giác, chưa
vội rời đạo-tràng Bồ-Đề, Đức Thích-Ca Mâu-Ni Phật với pháp-thân
Tỳ-Lô-Giá-Na, cùng chư đại Bồ-Tát chứng giải-thoát-môn, tuyên thuyết
Kinh Hoa-Nghiêm.
Sau khi Đức Phật nhập diệt lối sáu trăm năm, do Long-Thọ
Bồ-Tát, Kinh Hoa-Nghiêm này mới được lưu truyền bằng Phạn-văn. Toàn bộ
Kinh chữ Phạn có một trăm ngàn bài kệ, chia làm bốn mươi tám phẩm.
Đến nhà Đường, Đại-Sư Thật-Xoa-Nan-Đà từ nước Vu-Điền mang
bổn Kinh chữ Phạn này sang Trung-Quốc dịch ra Hán văn. Nhưng Đại-Sư chỉ
dịch ra được ba mươi chín phẩm, từ phẩm 'Thế-Chủ Diệu-Nghiêm' đến phẩm 'Nhập-Pháp-Giới',
cộng có ba mươi sáu ngàn bài kệ theo Phạn-văn, c̣n lại chín phẩm sáu
mươi bốn ngàn bài kệ Phạn-văn chưa được dịch ra Hán-văn.
Kế đó, Pháp-Sư Bát-Nhă, người Kế-Tân dịch thêm phẩm
Phổ-Hiền-Hạnh-Nguyện ra Hán-văn, thành phẩm thứ bốn mươi của bộ Kinh
Hoa-Nghiêm này.
Nguyên bổn chữ Hán chia ra làm tám mươi mốt quyển. V́ xét thấy chia
quyển ra như thế, có nhiều phẩm bị cắt ra làm hai ba quyển hoặc nhiều
hơn, thành thử mạch văn bị gián đoạn, nên khi phiên dịch ra Việt-văn,
tôi chỉ lấy phẩm mà không theo quyển của bổn chữ Hán. Tuy nhiên, tôi vẫn
chia số quyển của bổn chữ Hán trong bổn Việt-văn này, để tiện sự so cứu
cho người đọc.
Kinh này gọi đủ là 'Đại-Phương-Quảng Phật Hoa-Nghiêm', ta
quen gọi là Kinh Hoa-Nghiêm.
Nội dung của Kinh này đứng trên cảnh-giới bất-tư-ngh́
giải-thoát, chư pháp-thân Đại-Sĩ thừa oai thần của Đức Phật tuyên dương
công-đức cùng cảnh-giới của chư Phật và xương minh nhơn hạnh xứng tánh
bất-tư-ngh́ của chư đại Bồ-Tát.
Kinh Hoa-Nghiêm này đă hoàn toàn ở trong lănh vực xứng tánh
bất-tư-ngh́ giải-thoát mà xương minh, nên mỗi lời mỗi câu trong Kinh này
đều lấy toàn thể pháp-giới tánh làm lượng. Đă là toàn thể pháp-giới tánh
nên tất cả Giáo, Lư, Hạnh, Quả nơi đây đều dung thông vô-ngại, nên cũng
gọi là vô-ngại pháp-giới.
Từng bực cứu cánh của vô-ngại pháp-giới là Sự-sự vô-ngại
pháp-giới, chỗ chứng nhập hoàn toàn của chư Phật mà chư pháp-thân Bồ-Tát
thời được từng phần.
Muốn hiểu thấu phần nào cảnh-giới trên đây, người học đạo cần
phải biết rơ bốn pháp-giới, bốn cấp bực mà chư đại-thừa Bồ-Tát tuần tự
tu chứng:
1. Lư vô-ngại pháp-giới
2. Sự vô-ngại pháp-giới
3. Lư sự vô-ngại pháp-giới
4. Sự-sự vô-ngại pháp-giới
'Lư' tức là chơn-lư thật-tánh, là thể tánh chơn thật của tất
cả pháp, nên cũng gọi là pháp-tánh hay pháp-giới-tánh, chơn-như-tánh.
Tất cả pháp trong vũ trụ đều đồng một thể tánh chơn thật ấy. Thể-tánh ấy
dung thông vô-ngại, nên gọi là 'Lư vô-ngại pháp-giới'. Người chứng được
lư vô-ngại này chính là bực thành-tựu căn-bổn-trí, mà bắt đầu dự vào
hàng pháp-thân Bồ-Tát.
Tất cả pháp 'Sự' đều đồng một thể-tánh chơn-thật, tức là đồng
lấy pháp-tánh làm tự thể. Toàn-thể 'Sự' là pháp-tánh, mà pháp-tánh đă
viên-dung vô-ngại, thời toàn sự cũng vô-ngại, nên gọi là 'Sự vô-ngại
pháp-giới'. Người chứng được pháp-giới này chính là bực pháp-thân Bồ-Tát
thành-tựu sai-biệt-trí (cũng gọi là quyền-trí, tục-trí, hậu-đắc-trí).
Lư là thể-tánh của 'Sự' (tất cả pháp), 'Sự' là hiện-tượng của
'Lư-tánh'. Vậy thời lư-tánh tức là lư-tánh của sự, c̣n sự lại là
sự-tướng của lư-tánh. Chính Lư-tánh là toàn-sự, mà tất cả sự là toàn
Lư-tánh, nên gọi là 'Lư-sự vô-ngại pháp-giới'. Người chứng được lư-sự
pháp-giới này thời là bậc pháp-thân Bồ-Tát đồng thời hiển phát cả hai
trí (căn-bổn-trí và sai-biệt-trí).
Tất cả sự đă toàn đồng một thể-tánh mà thể-tánh thời dung
thông không phân chia riêng khác, nên bất luận là một sự nào cũng đều
dung nhiếp tất cả sự, và cũng đều tức là tất cả sự, một sự nhiếp và tức
tất cả sự, tất cả sự nhiếp và tức một sự. Thế là sự-sự vô-ngại tự-tại,
nên gọi là 'Sự-sự vô-ngại pháp-giới'. Người chứng được Sự-sự pháp-giới
này là bực pháp-thân Bồ-Tát thành-tựu nhứt-thiết chủng-trí. Viên-măn trí
này chính là Đấng Vô-Thượng-Giác (Phật Thế-Tôn ).
Sự-sự vô-ngại pháp-giới dung thông tự-tại, nội dung của toàn
bộ Kinh Hoa-Nghiêm, được chứng minh trên toàn thể văn Kinh này. Nay xin
lược dẫn một vài đoạn văn rơ nhứt để chư học-giả tiện tham cứu:
Sự-sự là tất cả sự hoặc là tất cả pháp, tức là toàn thể
không-gian và thời-gian.
Về không-gian dung thông vô-ngại văn Kinh nói :
Bao nhiêu vi-trần trong thế-giới
Trong mỗi vi-trần thấy các cơi
Bửu quang hiện Phật vô lượng số
Cảnh-giới tự-tại của Như-Lai
..............................
Vô-lượng vô-số núi Tu-Di
Đều đem để vào một sợi lông,
Một thế-giới để vào tất cả
Tất cả thế-giới để vào một,
Thể tướng thế-giới vẫn như cũ
Vô-đẳng vô-lượng đều cùng khắp.
...............................
Trong một chân lông đều thấy rơ
Vô-số vô-lượng chư Như-Lai
Tất cả chân lông đều thế cả
Tôi nay kính lạy tất cả Phật
........................................
Về thời-gian dung-thông vô-ngại văn Kinh nói :
Kiếp quá-khứ để hiện, vị-lai,
Kiếp vị-lai để quá, hiện-tại,
Ba đời nhiều kiếp là một niệm
Chẳng phải dài vắn: hạnh giải-thoát.
...................................
Tôi hay thâm nhập đời vị-lai
Tất cả kiếp thâu làm một niệm,
Hết thảy những kiếp trong ba đời
Làm khoảng một niệm tôi đều nhập.
.....................................
Về không-gian và thời-gian dung thông vô-ngại nhau, văn Kinh nói :
Khắp hết mười phương các cơi nước
Mỗi đầu lông đủ có ba đời
Phật cùng quốc-độ số vô-lượng
Tôi khắp tu hành trải trần kiếp.
Trong một niệm tôi thấy ba đời
Tất cả các đấng Nhơn-Sư-Tử
Cũng thường vào trong cảnh-giới Phật
Như-huyễn, giải-thoát và oai-lực.
......................................
Tất cả sự không
ngoài thời-gian và không-gian. Thời-gian dung thông thời-gian,
không-gian dung thông không-gian, thời-gian dung thông không-gian,
không-gian dung thông thời-gian. Một không-gian dung thông tất cả
không-gian, một thời-gian dung thông tất cả thời-gian, tất cả dung thông
với một, thời-gian với không-gian, một cùng tất cả cũng đều dung thông
như vậy. Đây chính là Sự-sự vô-ngại pháp-giới, mà cũng chính là
cảnh-giới giải-thoát bất-tư-ngh́ mà Kinh Hoa-Nghiêm này lấy đó làm nội-dung
như đă nói ở trên.
....................................
Lược giải một vài điều, để giúp phần nào cho học-giả khi cần
thấy phải thấu triệt nội-dung của Kinh này. Vị nào muốn nghiên cứu đầy
đủ xin xem bộ Hoa-Nghiêm đại-sớ của Tổ Thanh-Lương và Thập-huyền-môn của
Tổ Hiền Thủ.
Tôi thành kính đem công-đức phiên dịch Việt-văn này hồi hướng
cho tất cả chúng-sanh đồng về Tịnh-Độ, đồng sớm thành Phật.
Viết tại chùa
Vạn Đức
Thủ Đức ngày Phật nhập Niết-Bàn
Rằm tháng Hai 2508
Dịch-Giả
Hân-Tịnh Tỳ-Kheo
Thích Trí Tịnh
[Về Đầu Trang]
************
Nghi Thức
Sám Hối Trước Khi Tụng Kinh
(Dùng ba nghiệp thân,
khẩu, ư thanh tịnh mà tụng kinh, thời phước đức vô-lượng, nên trước khi
tụng kinh cần phải sám hối, sám hối tức là làm cho ba nghiệp thanh tịnh)
Nam-mô thập phương tận hư không giới nhứt thiết Chư Phật (1 lạy)
Nam-mô thập phương tận hư không giới nhứt thiết Tôn Pháp (1 lạy)
Nam-mô thập phương tận hư không giới nhứt thiết Hiền Thánh Tăng (1
lạy)
(Quỳ tay cầm hương cúng-dường
phát nguyện)
Nguyện mây hương mầu này
Khắp cùng mười phương cơi
Cúng-dường tất cả Phật
Tôn Pháp, các Bồ-Tát,
Vô-biên chúng Thanh-văn
Và cả thảy Thánh-hiền
Duyên khởi đài sáng chói
Trùm đến vô-biên cơi,
Khắp xông các chúng-sanh
Đều phát ḷng bồ-đề,
Xa ĺa những nghiệp vọng
Trọn nên đạo vô-thượng.
(Cầm hương lạy 1 lạy)
(Đứng chắp tay xướng):
Sắc thân Như-Lai đẹp
Trong đời không ai bằng
Không sánh, chẳng nghĩ bàn
Nên nay con đảnh lễ.
Sắc thân Phật vô-tận
Trí huệ Phật cũng thế,
Tất cả pháp thường-trú
Cho nên con về nương.
Sức trí lớn nguyện lớn
Khắp độ chúng quần-sanh,
Khiến bỏ thân nóng khổ
Sanh kia nước mát vui.
Con nay sạch ba nghiệp
Quy-y và lễ tán
Nguyện cùng các chúng-sanh
Đồng sanh nước An-Lạc.
Án phạ nhựt ra vật (7 lần)
Chí Tâm Đảnh Lễ:
Thường-tịch quang tịnh-độ
A-Di-Đà Như-Lai
Pháp-thân mầu thanh-tịnh
Khắp pháp-giới chư Phật (1 lạy)
Chí Tâm Đảnh Lễ:
Thật báo trang-nghiêm độ
A-Di-Đà Như-Lai
Thân tướng hải vi-trần
Khắp pháp-giới chư Phật (1 lạy)
Chí Tâm Đảnh Lễ:
Phương-tiện thánh cư độ
A-Di-Đà Như-Lai
Thân trang-nghiêm giải-thoát
Khắp pháp-giới chư Phật (1 lạy)
Chí Tâm Đảnh Lễ:
Cơi An-Lạc phương tây
A-Di-Đà Như-Lai
Thân căn giới đại-thừa
Khắp pháp-giới chư Phật (1 lạy)
Chí Tâm Đảnh Lễ:
Cơi An-Lạc phương tây
A-Di-Đà Như-Lai
Thân hóa đến mười phương
Khắp pháp-giới chư Phật (1 lạy)
Chí Tâm Đảnh Lễ:
Cơi An-Lạc phương tây
Giáo hạnh lư ba kinh
Tột nói bày y-chánh
Khắp pháp-giới Tôn-Pháp (1 lạy)
Chí Tâm Đảnh Lễ:
Cơi An-Lạc phương tây
Quan-Thế-Âm Bồ-Tát
Thân tử-kim muôn ức
Khắp pháp-giới Bồ-Tát (1 lạy)
Chí Tâm Đảnh Lễ:
Cơi An-Lạc phương tây
Đại-Thế-Chí Bồ-Tát
Thân trí sáng vô-biên
Khắp pháp-giới Bồ-Tát (1 lạy)
Chí Tâm Đảnh Lễ:
Cơi An-Lạc phương tây
Thanh-tịnh đại-hải-chúng
Thân hai nghiêm: Phước, trí
Khắp pháp-giới Thánh-chúng (1 lạy)
(Đứng chắp tay nguyện):
Con nay khắp v́ bốn ơn ba cơi cùng chúng-sanh 'trong pháp-giới, đều
nguyện dứt trừ ba chướng (1) nên qui mạng (2) sám-hối (3).
(1 lạy, quỳ chắp tay sám hối):
Chí tâm sám-hối:
Đệ tử _____ và chúng-sanh trong pháp-giới, từ đời vô-thỉ nhẫn đến ngày
nay, bị vô-minh che đậy nên điên đảo mê-lầm, lại do sáu căn ba nghiệp
(4) quen theo pháp chẳng lành, rộng phạm mười điều dữ cùng năm tội
vô-gián (5) và tất cả các tội khác, nhiều vô-lượng vô-biên nói không thể
hết. Mười phương các Đức Phật thường ở trong đời, tiếng pháp không dứt,
hương mầu đầy lấp, pháp vị ngập tràn, phóng ánh sáng sạch trong chiếu
soi tất cả. Lư mầu thường trụ đầy dẫy hư-không.
Con từ vô-thỉ đến nay, sáu căn che mù, ba nghiệp tối-tăm, chẳng thấy
chẳng nghe chẳng hay chẳng biết, v́ nhơn duyên đó trôi măi trong ṿng
sanh tử, trải qua các đường dữ (6), trăm ngh́n muôn kiếp trọn không lúc
nào ra khỏi. — Kinh rằng : 'Đức Tỳ-Lô-Giá-Na thân khắp cả chỗ, chỗ của
Phật ở gọi là Thường-tịch-quang, cho nên phải biết cả thảy các pháp đều
là Phật-Pháp, mà con không rơ lại theo gịng vô-minh v́ thế trong trí
bồ-đề mà thấy không thanh-tịnh, trong cảnh giải-thoát mà sanh ràng buộc.
Nay mới tỏ ngộ nay mới chừa bỏ ăn-năn, phụng đối trước các Đức Phật và
A-Di-Đà Thế-Tôn mà phát lồ (7) sám-hối, làm cho đệ-tử cùng pháp-giới
chúng-sanh, tất cả tội nặng do ba nghiệp sáu căn, gây tạo từ vô-thỉ,
hoặc hiện-tại cùng vị-lai, chính ḿnh tự gây tạo hoặc biểu người, hay là
thấy nghe người gây tạo mà mà vui theo, hoặc nhớ hoặc chẳng nhớ, hoặc
biết hoặc chẳng biết, hoặc nghi hoặc chẳng nghi, hoặc che giấu hoặc
chẳng che giấu, thảy đều được rốt-ráo thanh-tịnh.
Đệ-tử sám-hối rồi, sáu căn cùng ba nghiệp trong sạch, không lỗi lầm, căn
lành tu-tập cũng trọn thanh-tịnh, thảy đều hồi-hướng dùng trang-nghiêm
Tịnh-độ, khắp với chúng-sanh, đồng sanh về nước An-Dưỡng.
Nguyện Đức A-Di-Đà Phật thường đến hộ-tŕ, làm cho căn lành của đệ-tử
hiện-tiền tăng-tấn, chẳng mất nhơn-duyên Tịnh-độ, đến giờ lâm-chung,
thân an-lành niệm chánh vững-vàng, xem nghe đều rơ-ràng, tận mặt thấy
Đức A-Di-Đà cùng các Thánh-chúng, tay cầm đài hoa tiếp-dẫn đệ-tử, trong
khoảng sát-na sanh ra trước Phật, đủ đạo-hạnh Bồ-Tát, rộng độ khắp
chúng-sanh đồng thành Phật đạo.
Đệ-tử sám-hối phát-nguyện rồi quy-mạng đảnh-lễ : Nam-mô Tây-phương
Cực-lạc thế-giới, đại-từ đại-bi, A-Di-Đà Như-Lai, biến pháp-giới Tam-bảo.
(1 lạy)
(lạy xong tiếp Nghi-thức tụng kinh...)
Thích Nghĩa Sám Pháp:
(1): Phiền-năo, nghiệp nhơn, quả-báo, ba món đều hay làm chướng ngại
đường giải thoát nên gọi : 'ba món chướng'.
(2): Đem thân mạng về nương, giao phó cho Phật, Pháp, Tăng, chính là
nghĩa của hai chữ 'Nam-mô'.
(3): Nói đủ là Sám-ma hối-quá, 'Sám-ma' là tiếng Phạm, nghĩa là 'hối quá'
tức là ăn-năn tội trước, ngừa giữ lỗi sau.
(4): Nhăn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ư sáu căn và ba nghiệp thân - khẩu - ư.
(5): Giết cha, giết mẹ, giết thánh-nhơn, ác tâm làm thân Phật ra máu,
phá ḥa-hiệp Tăng, gọi là năm tội nghịch, nếu phạm sẽ bị đọa vào ngục
Vô-gián nên gọi là tội Vô-gián - Ngục Vô-gián là chỗ thọ khổ không có
lúc nào ngừng ngớt.
(6): A-tu-la, Súc-sanh, Ngạ-quỉ, Địa-ngục, các đường đó vui ít khổ nhiều,
do nghiệp dữ cảm ra.
(7): Bày tỏ tội-lỗi ra trước Chúng Nhơn không chút giấu che thời gọi là
phát lồ, trái với phú-tàng (che-giấu), Có phát-lồ thời tội mới tiêu, như
bịnh cảm mà đặng phát hạn (ra mồ hôi).
[Về Đầu Trang]
********
Nghi Thức Tŕ Tụng
Bài Tán Lư Hương
Lư hương vừa
ngún chiên-đàn
Khói thơm ngào ngạt muôn ngàn cơi xa
Ḷng con kính ngưỡng thiết tha
Ngửa mong chư Phật thương mà chứng minh.
Nam-mô Hương-Vân-Cái Bồ-Tát Ma-Ha-Tát (3 lần)
CHƠN
NGÔN TỊNH PHÁP GIỚI
Án Lam Xóa Ha (7 lần)
CHƠN
NGÔN TỊNH KHẨU NGHIỆP
Tu rị Tu rị ma ha tu rị tu tu rị ta-bà-ha (3 lần)
CHƠN
NGÔN TỊNH BA NGHIỆP
Án ta phạ bà phạ thuật đà ta phạ, đạt mạ ta phạ bà phạ thuật độ hám (3
lần)
CHƠN,
NGÔN PHỔ CÚNG DƯỜNG
Án nga nga nẳng tam bà phạ phiệt nhựt ra hồng (3 lần)
BÀI
VĂN PHÁT NGUYỆN
Nam-mô thập phương thường trụ Tam-Bảo (3 lần)
Lậy đấng tam giới Tôn
Quy mạng mười phương Phật
Nay con phát nguyện lớn
Tŕ tụng Kinh Hoa-Nghiêm
Trên đền bốn ơn nặng
Dưới cứu khổ tam đồ
Nếu có ai thấy nghe
Đều phát bồ-đề tâm
Khi măn báo-thân này
Sanh qua cơi Cực-Lạc.
Nam-mô Bản-Sư Thích-Ca Mâu-Ni Phật (3 lần)
BÀI KỆ
KHAI KINH
Phật-pháp rộng sâu rất nhiệm mầu
Trăm ngh́n muôn kiếp khó t́m cầu
Nay con nghe thấy chuyên tŕ tụng
Nguyện tỏ Như-Lai nghĩa nhiệm mầu
Nam-mô Hoa-Nghiêm Hội Thượng Phật Bồ-Tát Ma-Ha-Tát (3 lần)
*****