Chùa Hải-Đức in Jacksonville
|
|
Diệu
Pháp Liên Hoa Kinh
QUYỂN III
Phẩm
'Hóa Thành Dụ' Thứ
1. Đức Phật bảo các thầy Tỳ-kheo: “Thuở quá khứ vô lượng vô biên bất khả tư ngh́ a-tăng-kỳ kiếp đă qua, lúc bấy giờ có Đức Phật hiệu Đại-Thông Trí-Thắng Như -Lai, Ứng-cúng, Chánh-biến-tri, Minh-hạnh-túc, Thiện-thệ, Thế-gian-giải, Vô-thượng-sĩ, Điều-ngự -phu, Thiên-nhân-sư, Phật Thế-Tôn. Nước đó tên là Hảo-Thành, kiếp tên Đại-Tướng. Các Tỳ-kheo! Từ khi Đức Phật đó diệt độ nhẫn đến nay rất là lâu xa, thí như địa chủng trong cơi tam-thiên đại-thiên, giả sử có người đem mài làm mực rồi đi khỏi một ngh́n cơi nước ở phương đông bèn chấm một điểm chừng bằng bụi nhỏ, lại qua một ngh́n cơi nước nữa cũng chấm một điểm, cứ như thế lần lượt chấm hết mực mài bằng địa chủng ở trên. Ư các ông nghĩ sao? Các cơi nước đó hoặc thầy toán có thể biết được ngằn mé số đó chăng?” - Thưa Thế-Tôn! Không thể biết! - Các Tỳ-kheo! Những cơi nước của người đó đi qua hoặc có chấm mực hoặc không chấm mực đều nghiền nát cả ra làm bụi, một hột bụi là một kiếp, từ Đức Phật đó diệt độ đến nay lại lâu hơn số đó vô lượng vô biên trăm ngh́n muôn ức a-tăng-kỳ kiếp. Ta dùng sức tri kiến của Như- Lai xem thuở lâu xa đó dường như hiện ngày nay. Bấy giờ, Đức Thế-Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:
2.
Ta nhớ đời quá khứ 3. Đức Phật bảo các Tỳ-kheo : “Đức Đại-Thông Trí-Thắng Phật thọ năm trăm bốn mươi vạn ức na-do-tha kiếp, đức Phật đó khi trước lúc ngồi đạo tràng phá ma rồi, sắp được đạo vô-thượng chánh-đẳng, chánh-giác mà Phật pháp chẳng hiện ra trước, như thế một tiểu kiếp cho đến mười tiểu kiếp, ngồi xếp bằng thân và tâm đều không động mà các Phật pháp c̣n chẳng hiện ra trước. Thuở đó, các vị trời Đao-Lợi ở dưới cội cây Bồ-đề đă trước v́ Đức Phật đó mà trải toà sư-tử cao một do tuần (7), Phật ngồi nơi ṭa nầy sẽ được đạo vô-thượng, chánh-đẳng, chánh-giác. Khi Phật vừa ngồi trên ṭa đó các trời Phạm-Thiên-Vương rưới những hoa trời khắp bốn mươi do tuần, gió thơm lâu lâu thổi đến, thổi dẹp hoa héo rồi rưới hoa mới măi như thế không ngớt măn mười tiểu kiếp để cúng dường Đức Phật, nhẫn đến khi Phật diệt độ thường rưới hoa nầy. Các trời Tứ-thiên-vương v́ cúng dường Phật nên thường đánh trống trời. Ngoài ra các vị trời khác trỗi kỹ nhạc trời, măn mười tiểu kiếp đến khi Phật diệt độ cũng lại như thế. Các Tỳ-kheo! Đức Đại-Thông Trí-Thắng Phật quá mười tiểu kiếp các Phật pháp hiện ra trước thành đạo vô-thượng chánh-đẳng chánh-giác. Lúc Phật chưa xuất gia có mười sáu người con trai, người con cả tên Trí-Tích. Các người con đó đều có các món đồ chơi tốt đẹp báu lạ, nghe cha chứng đặng quả vô-thượng chánh-đẳng chánh-giác đều bỏ đồ báu của ḿnh đi đến chỗ Phật. Các người mẹ khóc lóc theo đưa”. Ông nội là vua Chuyển-luân-thánh-vương, cùng một trăm vị đại thần và trăm ngh́n muôn ức nhân dân khác đều vây quanh nhau đi theo đến đạo tràng, mọi người đều đến gần gũi Đức Đại-Thông Trí-Thắng Như-Lai để cúng dường cung kính tôn trọng ngợi khen. Khi đă đến nơi tất cả đem đầu mặt ḿnh lạy chân Phật, đi ṿng quanh Đức Phật xong, đều chắp tay một ḷng chiêm ngưỡng dung nhan của Phật, rồi nói kệ khen Phật:
4.
Thế-Tôn oai đức lớn 5. Bấy giờ mười sáu vị vương tử nói kệ khen đức Phật rồi liền khuyến thỉnh Đức Thế-Tôn chuyển pháp luân, đều thưa rằng : “Đức Thế-Tôn nói pháp được an ổn, thương xót làm lợi ích cho các trời và nhân dân”. Lại nói kệ rằng:
6. Phật bảo các Tỳ-kheo: “Lúc Đức Đại-Thông Trí-Thắng Phật được quả vô-thượng chánh-đẳng chánh-giác, trong mười phương, mỗi phương đều năm trăm muôn ức các cơi nước Phật sáu điệu vang động. Trong các cơi nước đó chỗ tối tăm ánh sáng của nhật nguyệt không soi tới được mà đều sáng rỡ, trong đó chúng sanh đều được thấy nhau, đồng nói rằng: “Trong đây tại sao bỗng sanh ra chúng sanh?” Lại trong các cơi đó cung điện của chư Thiên cho đến Phạm-Cung sáu điệu vang động, hào quang lớn soi cùng khắp đầy cơi nước, sáng hơn ánh sáng của trời”. 7. Bấy giờ, phương Đông, năm trăm muôn ức các cơi nước, cung điện của trời Phạm-Thiên (9) ánh sáng soi chói gấp bội hơn ánh sáng thường ngày, các Phạm-Thiên-Vương đều tự nghĩ rằng: “Hôm nay cung điện sáng suốt từ xưa chưa từng có, v́ nhân duyên ǵ mà hiện điềm tốt này?” Lúc đó các vị Phạm-Thiên-Vương liền đi đến nhau để chung bàn việc đó. Trong chúng có một vị Phạm-Thiên-Vương lớn tên Cứu-Nhứt-Thiết v́ các Phạm-chúng mà nói kệ rằng: Các
cung điện chúng ta Bấy giờ, năm trăm muôn ức cơi nước, các vị Phạm-Thiên-Vương cùng chung với cung điện (10) mỗi vị đều lấy đăy đựng các thứ hoa trời, đồng đi đến phương Tây suy t́m tướng sáng đó. Thấy Đức Đại-Thông Trí-Thắng Như-Lai ngồi ṭa sư-tử ở nơi đạo tràng dưới cội Bồ-đề, hàng chư Thiên, Long-vương, Càn-thát-bà, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-dà, nhơn và phi nhơn v.v... cung kính vây quanh Đức Phật chuyển pháp luân; tức thời các vị Phạm-Thiên-Vương đầu mặt lạy chân Phật đi quanh trăm ngh́n ṿng, liền lấy hoa trời mà rải trên Đức Phật. Hoa của mấy ông rải nhóm như núi Diệu-Cao, cùng để cúng-dường cây Bồ-đề của Phật, cây Bồ-đề đó cao mười do-tuần. Cúng dường hoa xong, mỗi vị đem cung điện dưng lên Đức Phật mà thưa rằng: “Xin Đức Phật đoái thương lợi ích cho chúng con, cung điện dâng cúng đây xin nhận ở.” Lúc đó, các vị Phạm-Thiên-Vương liền ở trước Phật một ḷng đồng tiếng dùng kệ khen rằng:
Bấy giờ, các vị Phạm-Thiên-Vương nói kệ khen Đức Phật rồi thưa rằng: “Cúi xin Đức Thế-Tôn chuyển-pháp-luân, độ thoát chúng sanh mở đường Niết-bàn." Khi ấy, các vị Phạm-Thiên-Vương một ḷng đồng tiếng mà nói kệ rằng:
Lúc đó Đức Đại-Thông Trí-Thắng Như-Lai lắng yên nhận lời đó (11) 8. Lại nữa các Tỳ-kheo! Phương đông nam năm trăm muôn ức cơi nước các vị Phạm-Thiên-Vương đều tự thấy cung điện ḿnh ánh sáng chói ḷa từ xưa chưa từng có, vui mừng hớn hở sanh ḷng hy hữu, liền cùng đến nhau chung bàn việc đó. Lúc ấy trong chúng đó có một vị Phạm-Thiên-Vương tên là Đại-Bi, v́ các Phạm-chúng mà nói kệ rằng:
Việc đó nhân duyên ǵ
Bấy giờ, năm trăm muôn ức các vị Phạm-Thiên-Vương cùng chung với cung điện, lấy đăy đựng các thứ hoa trời, đồng đến phương Tây-Bắc suy t́m tướng đó. Thấy Đức Đại-ThôngTrí-Thắng Như-Lai ngồi ṭa sư-tử nơi đạo tràng dưới cội Bồ-đề, các hàng chư Thiên, Long- vương, Càn-thát-bà, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-dà, nhơn cùng phi-nhơn v.v... cung kính vây quanh, và thấy mười sáu vị vương tử thỉnh Phật chuyển-pháp-luân. Khi ấy các vị Phạm-Thiên-Vương đầu mặt lạy chân Phật, đi quanh trăm ngh́n ṿng, liền lấy hoa trời mà rải trên Phật. Hoa rải đó nhóm như núi Diệu-Cao, cùng để cúng dường cây Bồ-đề của Phật. Cúng dường hoa xong, đều đem cung điện dâng lên Đức Phật mà thưa rằng: “Xin Phật thương xót lợi ích cho chúng con, những cung điện dâng đây cúi xin nhận ở”. Lúc đó, các vị Phạm-Thiên-Vương liền ở trước Phật một ḷng đồng tiếng nói kệ khen rằng:
Khi đó, các vị Phạm-Thiên-Vương nói kệ khen Phật xong đều thưa rằng: “Cúi xin Đức Thế-Tôn thương xót tất cả chuyển-pháp-luân cho, để độ thoát chúng sanh”. Lúc ấy, các vị Phạm-Thiên-Vương một ḷng đồng tiếng mà nói kệ khen rằng:
Khi đó, Đức Đại-Thông Trí-Thắng Phật lặng yên nhận lời. 9. Lại nữa các Tỳ-kheo! Năm trăm muôn ức cơi nước ở phương Nam các vị đại Phạm-vương đều tự thấy cung điện ḿnh ánh sáng chói ḷa từ xưa chưa từng có, vui mừng hớn hở sanh ḷng hy hữu liền đến cùng nhau chung bàn việc đó. V́ nhân duyên ǵ cung điện của chúng ta có ánh sáng chói này? Trong chúng đó có một vị Phạm-Thiên-Vương lớn tên là Diệu-Pháp, v́ hàng Phạm-chúng mà nói kệ rằng:
Bấy giờ, năm trăm muôn ức Phạm-Thiên-Vương cùng cung điện chung, mỗi vị dùng đăy đựng các thứ hoa trời đồng đến phương Bắc suy t́m tướng đó. Thấy Đức Đại-Thông Trí-Thắng Như-Lai ngồi ṭa sư-tử nơi đạo tràng dưới cội cây Bồ-đề, hàng chư Thiên, Long-vương, Càn-thát-bà, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-già, nhơn và phi-nhơn v.v..., cung kính vây quanh, cùng thấy mười sáu vị vương tử thỉnh Phật chuyển-pháp-luân. Khi đó, các vị Phạm-Thiên-Vương đầu mặt lễ Phật đi quanh trăm ngh́n ṿng, liền lấy hoa trời mà rải trên Đức Phật. Hoa rải đó nhóm như núi Diệu-Cao và để cúng dường cây Bồ-đề của Phật. Cúng dường hoa xong, mỗi vị đều đem cung điện dâng lên Đức Phật mà thưa rằng: “Xin Đức Phật đoái thương lợi ích chúng con, cung điện của chúng con dâng đây cúi xin nạp xử”. Bấy giờ, các vị đại Phạm-Thiên-Vương liền ở trước Phật một ḷng đồng tiếng nói kệ khen rằng:
Khi đó, các vị Phạm-Thiên-Vương nói kệ khen Đức Phật rồi đều bạch rằng: “Cúi mong Đức Thế-Tôn chuyển-pháp-luân làm cho tất cả thế gian các hàng Trời, Ma, Phạm, Sa-môn, Ba-la-môn đều được an ổn mà được độ thoát”. Lúc ấy các vị Phạm-Thiên-Vương một ḷng đồng tiếng nói kệ rằng:
Khi đó, Đức Đại-Thông Trí-Thắng lặng yên nhận lời đó. 10. Phương Tây-Nam nhẫn đến phương dưới cũng lại như thế. Bấy giờ, năm trăm muôn ức cỏi nước ở thượng phương, các vị đại Phạm-Thiên-Vương thảy đều tự thấy cung điện của ḿnh ở ánh sáng chói rực từ xưa chưa từng có, vui mừng hớn hở sanh ḷng hy hữu, liền đi đến nhau để chung bàn việc đó. V́ nhân duyên ǵ cung điện của chúng ta có ánh sáng nầy? Lúc đó trong chúng có một vị đại Phạm-Thiên-Vương tên là Thi-Khí v́ hàng Phạm-chúng mà nói kệ rằng:
Bấy giờ, năm trăm muôn ức các vị Phạm-Thiên-Vương cùng cung điện chung, mỗi vị đều dùng đăy đựng các thứ hoa trời đồng đến phương dưới suy t́m tướng sáng đó. Thấy Đức Đại-Thông-Trí Như- Lai ngồi ṭa sư-tử nơi đạo tràng dưới gốc Bồ-đề, hàng chư Thiên, Long-vương, Càn-thát-bà, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-già, nhơn và phi-nhơn v.v... cung kính vây quanh và thấy mười sáu vị vương tử thỉnh Đức Phật chuyển-pháp-luân. Lúc đó, các vị Phạm-Thiên-Vương đầu mặt lạy Phật đi quanh trăm ngh́n ṿng, liền lấy hoa trời rải trên Đức Phật. Hoa rải nhóm như núi Diệu-Cao và để cúng dường cây Bồ-đề của Phật. Cúng dường hoa xong, đều đem cung điện dâng lên Đức Phật mà bạch rằng: “Xin đoái thương lợi ích chúng con. Cung điện dâng đây cúi mong Phật nạp ở”. Lúc đó, các vị Phạm-Thiên-Vương liền ở trước Phật một ḷng đồng tiếng dùng kệ khen rằng:
Khi đó, năm trăm muôn ức các vị Phạm-Thiên-Vương nói kệ khen Đức Phật rồi, đều bạch Phật rằng: “Cúi mong Đức Thế-Tôn chuyển-pháp-luân, nhiều chỗ an ổn, nhiều chỗ độ thoát”. Lúc ấy các vị Phạm-thiên-vương đồng nói kệ rằng:
11. Lúc bấy giờ, Đại-Thông Trí-Thắng Như-Lai nhận lời thỉnh của các Phạm-thiên-vương và mười sáu vị vương-tử tức thời ba phen chuyển-pháp-luân mười hai hành (12) hoặc là Sa-môn, Bà-la-môn, hoặc là Trời, Ma, Phạm và các thế gian khác đều không thể chuyển được, nói: Đây là khổ,đây là khổ tập, đây là khổ diệt, đây là đạo diệt khổ. Và rộng nói pháp mười hai nhân duyên: Vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên lục nhập, lục nhập duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu, hữu duyên sanh, sanh duyên lăo, tử, ưu bi, khổ năo. Vô minh diệt th́ hành diệt, hành diệt th́ thức diệt, thức diệt th́ danh sắc diệt, danh sắc diệt th́ lục nhập diệt, lục nhập diệt th́ xúc diệt, xúc diệt th́ thọ diệt, thọ diệt th́ ái diệt, ái diệt th́ thủ diệt, thủ diệt th́ hữu diệt, hữu diệt th́ sanh diệt, sanh diệt th́ lăo, tử, ưu bi, khổ năo diệt. Đức Phật ở trong đại chúng trời, người khi nói pháp đó có sáu trăm muôn ức na-do-tha người do v́ không thọ tất cả pháp mà ở các lậu tâm được giải thoát, đều được thiền định sâu mầu, ba món minh, sáu món thông, đủ tám giải thoát. Lúc nói pháp lần thứ hai, lần thứ ba, lần thứ tư, có ngh́n muôn ức hằng-hà-sa na-do-tha chúng sanh cũng bởi không thọ tất cả pháp mà nơi các lậu tâm được giải thoát. Từ đây nhẫn sau các chúng Thanh-văn nhiều vô lượng vô biên, không thể tính kể được. 12. Bấy giờ mười sáu vị vương-tử đều là đồng tử mà xuất gia làm Sa-di, các căn thông lanh, trí huệ sáng láng, đă từng cúng dường trăm ngh́n muôn ức các Đức Phật, tịnh tu hạnh thanh tịnh, cầu đạo vô-thượng chánh-đẳng chánh-giác, đều bạch cùng Phật rằng: “Thưa Thế-Tôn! Các vị Đại-đức Thanh-văn vô lượng ngh́n muôn ức đây đă thành tựu xong, Đức Thế-Tôn cũng nên v́ chúng con nói pháp vô-thượng chánh-đẳng chánh-giác, chúng con nghe xong đều đồng tu học Thế-Tôn! Chúng con có chí mong được tri kiến của Như Lai chỗ nghĩ tưởng trong thâm tâm, Đức Phật tự chứng biết cho. Lúc đó, tám muôn ức người trong chúng của Chuyển-luân-thánh-vương dắt đến thấy mười sáu vị vương-tử xuất gia, cũng tự cầu xuất gia, vua liền thuận cho. Bấy giờ, Đức Phật nhận lời thỉnh của Sa-di, qua hai muôn kiếp sau mới ở trong hàng bốn chúng nói kinh Đại-thừa tên là: “Diệu-Pháp Liên Hoa"là pháp giáo hoá Bồ-Tát được chư Phật hộ niệm. Đức Phật nói kinh đó xong, mười sáu vị Sa-di v́ đạo vô-thượng chánh-đẳng chánh-giác, đều đồng thọ th́ đọc tụng thông thuộc. Lúc nói kinh đó, mười sáu vị Sa-di Bồ-Tát thảy đều tin thọ trong chúng Thanh-văn cũng có người tin hiểu. Ngoài ra ngh́n muôn ức loại chúng sanh đều sanh ḷng nghi lầm. Phật nói kinh đó suốt tám ngh́n kiếp chưa từng thôi bỏ. Phật nói kinh đó xong liền vào tịnh thất trụ trong thiền định tám muôn bốn ngh́n kiếp. 13. Bấy giờ, mười sáu vị Bồ-Tát Sa-di biết Phật nhập thất trụ trong thiền định vắng bặt, mỗi vị đều lên pháp ṭa cũng trong tám muôn bốn ngh́n kiếp v́ bốn bộ chúng rộng nói phân biệt kinh Diệu-Pháp Liên Hoa. Mỗi vị đều độ sáu trăm muôn ức na-do-tha hằng hà-sa chúng sanh, chỉ dạy cho được lợi mừng, khiến phát tâm vô-thượng chánh-đẳng chánh-giác. 14. Đức Đại-Thông Trí-Thắng Phật qua tám muôn bốn ngh́n kiếp sau từ tam-muội dậy, qua đến pháp ṭa mà ngồi an lành, khắp bảo trong hàng đại chúng: “Mười sáu vị Bồ-Tát Sa-di này rất là ít có, các căn thông lẹ, trí huệ sáng láng, đă từng cúng dường vô lượng ngh́n muôn ức số Đức Phật, ở chỗ các Đức Phật thường tu hạnh thanh tịnh, thọ tŕ trí của Phật để chỉ dạy chúng sanh làm cho vào trong đó. Các ông phải luôn luôn gần gũi mà cúng dường các vị ấy. V́ sao? Nếu hàng Thanh-văn, Duyên-giác cùng các Bồ-Tát có thể tin kinh pháp của mười sáu vị Bồ-Tát Sa-di đó nói mà thọ tŕ không mất, th́ người đó sẽ được đạo vô-thượng chánh-đẳng chánh-giác trí huệ của Như-Lai”. 15. Phật bảo các Tỳ-kheo: “Mười sáu vị Bồ-Tát đó thường ưa nói kinh Diệu-Pháp Liên-Hoa nầy. Sáu trăm muôn ức na-do-tha hằng-hà-sa chúng sanh của mỗi vị Bồ-Tát hóa độ đó đời đời sanh ra đều cùng Bồ-Tát ở chung, theo nghe pháp với Bồ-Tát thảy đều tin hiểu. Nhờ nhân duyên đó mà được gặp bốn muôn ức các Đức Phật Thế-Tôn đến nay vẫn chẳng ngớt. Các Tỳ-kheo! Ta nói với các ông mười sáu vị Sa-di đệ tử của Đức Phật kia nay đều chứng được đạo vô-thượng chánh-đẳng chánh-giác, hiện đang nói pháp trong cơi nước ở mười phương có vô lượng trăm ngh́n muôn ức Bồ-Tát Thanh-văn để làm quyến thuộc. Hai vị Sa-di làm Phật ở phương Đông: Vị thứ nhất tên là A-Súc ở nước Hoa-Hỷ, vị thứ hai tên là Tu-Di-Đỉnh. Hai vị làm Phật ở phương Đông-Nam: Vị thứ nhứt tên là Sư-Tử-Âm, vị thứ hai tên là Sư-Tử-Tướng. Hai vị làm Phật ở phương Nam: Vị thứ nhứt tên là Hư-Không-Trụ, vị thứ hai tên làThường-Diệt. Hai vị làm Phật ở phương Tây-Nam: Vị thứ nhứt tên là Đế-Tướng, vị thứ hai tên là Phạm-Tướng. Hai vị làm Phật ở phương Tây: Vị thứ nhứt tên là A-Di-Đà, vị thứ hai tên là Độ-Nhứt-Thiết Thế-Gian Khổ-Năo. Hai vị làm Phật ở phương Tây-Bắc: Vị thứ nhứt tên là Đa-Ma-La-Bạt Chiên-Đàn-Hương Thần Thông, vị thứ hai tên là Tu-Di-Tướng. Hai vị làm Phật ở phương Bắc: Vị thứ nhứt tên là Vân-Tự-Tại, vị thứ hai tên là Vân-Tự-Tại-Vương. Một vị làm Phật ở phương Đông-Bắc hiệu Hoại-Nhứt-Thiết Thế-Gian Bố-Úy. Vị thứ mười sáu, chính ta là Thích-Ca Mâu-Ni Phật ở cơi nước Ta-bà thành vô-thượng chánh-đẳng chánh-giác. Các Tỳ-kheo! Lúc chúng ta làm Sa-di mỗi người giáo hóa vô lượng trăm ngh́n muôn ức hằng-hà-sa chúng sanh v́ đạo vô-thượng chánh-đẳng, chánh-giác theo ta nghe pháp. Những chúng sanh đó đến nay có người trụ bậc Thanh-văn, ta thường giáo hóa pháp vô-thượng chánh-đẳng chánh-giác. Những bọn người này đáng dùng pháp đó mà lần vào Phật đạo. V́ sao? V́ trí huệ của Như-Lai khó tin khó hiểu, vô lượng hằng-ha- sa chúng sanh bị hóa độ trong thuở đó chính là bọn ông, các Tỳ-kheo, và sau khi ta diệt độ các đệ tử Thanh-văn trong đời vị lai. Sau khi ta diệt độ, lại có đệ tử không nghe kinh này, không biết không hay hạnh của Bồ-Tát, tự ở nơi công đức của ḿnh được tưởng cho là diệt độ sẽ nhập Niết-bàn. Ta ở nơi nước khác làm Phật lại có tên khác. Người đó dầu sanh ḷng tưởng là diệt độ nhập Niết-bàn, nhưng ở nơi cơi kia cầu trí huệ của Phật, được nghe kinh này, chỉ do Phật thừa mà được diệt độ lại không có thừa nào khác, trừ các Đức Như-Lai phương tiện nói pháp. Các Tỳ-kheo! Nếu Đức Như-Lai tự biết giờ Niết-bàn sắp đến, chúng lại thanh tịnh ḷng tin hiểu bền chắc, rơ thấu pháp không, sâu vào thiền định, bèn nhóm các Bồ-Tát và chúng Thanh-văn mà v́ nói kinh nầy. Trong đời không có hai thừa mà được diệt độ, chỉ có một Phật thừa được diệt độ thôi. Các Tỳ-kheo nên rơ! Đức Như-Lai phương tiện sâu vào tánh chúng sanh, biết chí nó ưa pháp nhỏ, rất ham nơi năm món dục v́ hạng người này mà nói Niết-bàn, người đó nếu nghe thời liền tin nhận. 16. Thí dụ đường hiểm nhiều nạn dữ, dài năm trăm do tuần. Chốn ghê sợ hoang vắng không người. Nếu chúng đông muốn đi qua con đường nầy đến chỗ trân bửu, có một vị Đạo-Sư thông minh sáng suốt khéo biết rơ tướng thông bít của con đường hiểm, dắt chúng nhân muốn vượt qua nạn đó. Chúng nhân được dắt đi giữa đường lười mỏi bạch đạo sư rằng: “Chúng con mệt nhọc lại thêm sợ sệt chẳng có thể đi nữa, đường trước c̣n xa nay muốn lui về”. Vị Đạo-Sư nhiều sức phương tiện mà tự nghĩ rằng: Bọn này đáng thương, làm sao cam bỏ trân bảo lớn mà muốn lui về. Nghĩ thế rồi dùng sức phương tiện ở giữa đường hiểm quá ba trăm do tuần, hóa làm một cái thành mà bảo chúng nhân rằng: “Các người chớ sợ, đừng lui về, nay thành lớn nầy có thể dừng ở trong đó tùy ư muốn làm ǵ th́ làm, nếu vào thành nầy sẽ rất được an ổn, nếu có thể lại thẳng đến chỗ châu báu đi cũng được”. Bấy giờ, chúng mỏi mệt rất vui mừng khen chưa từng có, chúng ta hôm nay khỏi được đường dữ rất được an ổn. Đó rồi chúng nhân thẳng vào hóa thành sanh ḷng tưởng cho rằng đă được độ rất an ổn. Lúc ấy Đạo-Sư biết chúng nhơn đó đă được nghỉ ngơi không c̣n mỏi mệt, liền diệt hóa thành bảo chúng nhơn rằng: “Các người nên đi tới, chỗ châu báu ở gần đây, thành lớn trước đó là của ta biến hóa ra để nghỉ ngơi thôi”. Các Tỳ-kheo! Đức Như-Lai cũng lại như thế, nay v́ các ông mà làm vị đại Đạo-Sư, biết các đường dữ sanh tử phiền năo hiểm nạn dài xa nên vượt qua. Nếu như chúng sanh chỉ nghe một Phật thừa thời chẳng muốn thấy Phật, chẳng muốn gần gũi, mà nghĩ thế nầy: “Đạo Phật dài xa lâu ngày chịu cần khổ mới có thể được thành”. Phật biết tâm chúng đó khiếp nhược hạ liệt, dùng sức phương tiện mà ở giữa đường v́ để ngơi nghỉ nên nói hai món Niết-bàn. (13) Nếu chúng sanh trụ nơi hai bực, Đức Như-Lai bấy giờ liền bèn v́ nói: "Chỗ tu của các ông chưa xong, bậc của các ông ở gần với huệ của Phật. Phải quan sát suy lường Niết-bàn đă được đó chẳng phải chân thật vậy. Chỉ là sức phương tiện của Như-Lai, ở nơi một Phật thừa phân biệt nói thành ba. Như vị Đạo-Sư kia v́ cho mọi người ngơi nghỉ mà hóa thành lớn, đă biết nghĩ xong mà bảo đó rằng: “ Chỗ châu báu ở gần, thành nầy không phải thật, của ta biến hóa làm ra đó thôi”. Lúc đó Đức Thế-Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:
17.
Đại-Thông Trí-Thắng Phật Phạm-vương thấy tướng này
Liền đến chỗ Phật ở
Thỉnh Phật
chuyển-pháp-luân
Phật biết chưa đến giờ
Rộng mở cửa cam-lộ
18.
Thế-Tôn huệ vô thượng
Sáu trăm muôn ức cai
(14)
Đều thành A-la-hán.
19.
Bấy giờ mười sáu vị
Nói kinh Đại-thừa này
Có sáu trăm muôn ức
Sau khi Phật diệt độ
Thường cùng thầy sanh
chung.
Có người trụ Thanh-văn
Dẫn dắt đến huệ Phật
20.
Thí như đường hiểm dữ
KINH
DIỆU-PHÁP LIÊN-HOA Một tiếng kín bày, thần thông giáo hóa thầm gia hộ, khắp rưới mưa pháp nhuần các mầm, quả báo nhà rộng lớn, chốn châu báu không xa, quyền biến hóa đồng hoa đốm hư không. Nam-Mô Pháp-Hoa Hội-Thượng-Phật Bồ-Tát (3 lần) Ba căn khắp nhuần, đệ tử nhờ ơn, thành biến hóa dối bàychớ cho là chân, lại xem nhân duyên Đức Trí-Thắng, mười sáu vị Vương-Tôn tám phương chứng thân vàng. Nam-Mô Đại-Thông Trí-Thắng Phật (3 lần) THÍCH NGHĨA: 6. Thành tŕ do thần thông biến hóa ra, để dụ huyền giáo hóa của Phật. 7. Có 3 hạng do tuần: 1) 40 dậm Tàu, 2) 60 dậm, 3) 80 dậm. 8. Đem thân mạng về nương, nghĩa là chữ “Nam-mô" tiếng Phạm.
9. Cơi dục trên người có 6
cơi trời:
10. Có phước lành lớn nên cảm báo có cung điện tuỳ thân nhỏ lớn như ư. 11. Theo nghi biểu của Phật, ai thưa thỉnh việc chi nếu nín thinh là chịu.
12. Ba lần TỨ-ĐẾ thành 12:
13.
1.- Thanh-văn
Niết-bàn.
14. Một trăm triệu (1000.000.000) gọi là “cai”. 15. Thanh-văn-thừa, Duyên-giác-thừa. Các danh từ: Vô-lượng, vô-biên, a-tăng-kỳ, vô-số, na-do-tha, hằng-hà-sa, bất-khả tư-ngh́, bất-khả-xưng, bất-khả-thuyết, v.v... đều là những số lớn trên số muôn ức.
Sự tích ĐỌC KINH
THOÁT KHỒ Đời Đường, ở Ung-Châu, huyện Trường-An có ông Cao-Pháp-Nhăn là cháu huyền tôn của ông Cao-Tần, quan bộc xạ đời Tuỳ. Đến niên hiệu Long-Sóc năm thứ ba, ngày 25 tháng giêng đến Trung-Đài dự thí, trưa cỡi ngựa về nhà. Nhà ông ở góc phía Nam phường Nghĩa-Ninh, phía Đông chùa Hóa-Độ. Giữa đường gặp bọn người cỡi ngựa rượt bắt, chạy về gần đến nhà té ngựa mê ngất rồi chết, mọi người tri hô, người nhà vội đến khiêng về đến sáng ngày mai mới sống lại. Ông Nhăn bảo người nhà rằng: “Ta bị quỷ bắt đến địa-ngục thấy vua Diêm-La ngồi trên toà cao, giận mắng ta rằng: Ngươi tại sao lại đến chùa Hóa-Độ trong pḥng thầy Minh-Tạng ăn trái của thường-trụ Tăng? - Nói xong bắt ta nuốt 400 ḥn sắt nóng, đương lúc nuốt thời cổ họng nghẹn rút thân thể đỏ khô co lại biến làm màu đỏ, nuốt hết mới sống lại”. Ngày 26 là ngày ông mới sống lại, lại có bọn quỷ hiện đến bắt dẫn về cho vua Diêm-Vương. Vua quở: “Tại sao ngươi không kính tin Tam-Bảo dám nói chuyện lỗi xấu của Tăng? Ngươi nuốt sắt xong sẽ bị cày lưỡi”. Đến ngày 29 tháng đó sau khi nuốt sắt xong sống lại cho đến ngày 30 sáng sớm lại chết đến địa ngục chịu cày sắt cày lưỡi tự thấy lưỡi ḿnh dài đến vài dậm, người ở bên xem thấy ông Nhăn le lưỡi ra hơn thước ( thước Tàu). Vua lại bảo ngục tốt: “Người này nói chuyện hay dở của Tam-Bảo đem búa lớn ra chặt bỏ lưỡi đó”. Ngục tốt chặt măi không đứt. Vua bảo lấy búa thẻo nhỏ bỏ vào vạc nước sôi nấu, nấu măi không ră. Vua lấy làm lạ hỏi, ông Nhăn thưa: “Tôi từng đọc kinh Pháp-Hoa một lượt”. Vua không tin tra sổ công đức, thấy trong án có ghi. “Đọc một bộ kinh Pháp-Hoa”. Vua liền truyền thả cho về. Ông Nhăn hiện c̣n, người đến thăm xem như đi chợ, người nghe thấy phát tâm tu hành rất đông. Cả nhà ông Nhăn từ đó rất mực kính tin Tam-Bảo, gắng chí tin tấn tu hành, hằng răn nhắc nhau không hề nhàm mỏi. Tam-Bảo là con thuyền từ báu đưa chúng sanh ra khỏi biển sanh tử khổ. Kính th́ phước vô lượng. Khinh... họa không nhỏ. Phật là đấng Chí-Tôn, Pháp làThánh dược, Tăng là biểu hiệu của Phật và Pháp. Oâng Nhăn khinh Tăng mà phải tội, lại nhờ đọc kinh Pháp-Hoa mà khỏi tai ương. Chỉ đọc có một bộ kinh Pháp-Hoa mà lưỡi không chặt đứt, nấu không ră, làm đến nỗi vua Diêm-Vương phải kinh sợ mà mau đưa về. Huống là người đọc tụng 2 bộ, 3 bộ đến trăm ngh́n bộ ư. Nếu có người nào chí thành tụng niệm kinh Pháp-Hoa thời công đức vô lượng vô biên - Tội nghiệp đều tiêu - Phước lành đầy đủ. Sau khi xả báo thân hiện tại, quyết chắc sẽ cảm thành thân vàng Kim-cang ở vị lai vậy.
Minh Quang posted December 18, 2001
|
|
|