Chùa Hải-Đức in Jacksonville

[Home] [Up] [Điểm Sách] [Sutras] [Dharma Talks] [GĐPT] [Sinh Hoạt] [Our Activities] [Kinh] [Pháp Thoại audio mp3] [Tin Tức Phật Giáo] [Thuyết Pháp] [Thơ Văn] [Ngoại Điển] [Phật Học] [Tụng Kinh] [Nghi Lễ - Rituals]

PHẬT NÓI KINH PHẠM VƠNG BỒ TÁT TÂM ĐỊA PHẨM LƯỢC SỚ

Hán dịch: Cưu Ma La Thập

Sớ giải: Hoằng Tán

Dịch giả: Tỳ Kheo Ni Thích Nữ Trí Hải

 

    MỤC LỤC

 

Lời nói đầu

Phần một: Giải Thích Đề Mục

 

A. Giải thích đề kinh

B. Giải thích tên người dịch

Phần hai: Giải thích Kinh văn

A.   Bài tựa riêng

I. Ba Phật truyền giáo

1. Phó chúc chung

2. Phó chúc riêng

3. Cúng dường Bổn Tôn

II. Hai Phật thuyết pháp

1. Phật trên ngàn hoa thuyết pháp

2. Ngàn trăm ức Thích Ca nói pháp

III. Một Phật thuyết pháp

1. Mười nơi thuyết pháp

2. Nhân duyên khởi giáo

3. Giáng sanh không phải một

4. Nói giới cho phàm phu

IV. Trùng tụng

V. Kết giới

B. Chánh tông

I. Mười giới trọng

1. Nêu chung

2. Nêu riêng

Giới thứ 1: Sát sanh

Giới thứ 2: Trộm cướp

Giới thử 3: Dâm dục

Giới thứ 4: Vọng ngữ

Giới thứ 5: Bán rượu

Giới thứ 6: Rao nói lỗi của bốn chúng

Giới thứ 7: Tự khen ḿnh chê người

Giới thứ 8: Bỏn xẻn thêm mắng đuổi

Giới thứ 9: Giận hờn không chịu sám hối

Giới thứ 10: Hủy báng Tam bảo

3.Tổng kết

II.  Bốn mươi tám giới khinh

1. Nêu chung

2. Nêu riêng

Giới thứ 1: Không kính Thầy, bạn

Giới thứ 2: Uống rượu

Giới thứ 3: Ăn thịt

Giới thứ 4: Ăn ngũ vị tân

Giới thứ 5: Không dạy người có tội sám hối

Giới thứ 6: Không cung cấp thỉnh pháp

Giới thứ 7: Giải đăi không nghe pháp

Giới thứ 8: Trái với Đại thừa, hướng về Tiểu thừa

Giới thứ 9: Không chăm sóc người bệnh

Giới thứ 10: Chứa khí cụ sát sanh

Giới thứ 11: Đi sứ

Giới thứ 12: Buôn bán phi pháp

Giới thứ 13: Hủy báng

Giới thứ 14: Phóng hỏa thiêu đốt

Giới thứ 15: Dạy giáo lư ngoài Đại thừa

Giới thứ 16: V́ lợi nói pháp lộn xộn

Giới thứ 17: Cậy thế lực khuyên góp

Giới thứ 18: Không hiểu mà làm thầy truyền giới

Giới thứ 19: Nói lưỡi hai chiều

Giới thứ 20: Không phóng sanh cứu vật

Giới thứ 21: Đem sân hận báo thù sân hận, đem đánh trả đánh

Giới thứ 22: Tâm kiêu mạn không thỉnh pháp

Giới thứ 23: Khinh ngạo không tận tâm dạy

Giới thứ 24: Không tu học Đại thừa

Giới thứ 25: Tri chúng vụng về

Giới thứ 26: Riêng thọ lợi dưỡng

Giới thứ 27: Thọ biệt thỉnh

Giới thứ 28: Biệt thỉnh Tăng

Giới thứ 29: Tà mạng nuôi sống

Giới thứ 30: Bất kính trong những ngày trai giới

Giới thứ 31: Không mua chuộc

Giới thứ 32: Tổn hại chúng sanh

Giới thứ 33: Tà mạng giác quán

Giới thứ 34: Tạm bỏ Bồ đề tâm

Giới thứ 35: Không phát nguyện

Giới thứ 36: Không phát thệ

Giới thứ 37: Không được du hành nơi mạo hiểm, có nạn

Giới thứ 38: Trái thứ lớp tôn ti

Giới thứ 39: Không tu phước huệ

Giới thứ 40: Không được lựa chọn thọ giới

Giới thứ 41: V́ lợi làm thầy

Giới thứ 42: Giảng thuyết giới cho kẻ ác

Giới thứ 43: Không tâm hổ thẹn, thọ nhận của cúng dường

Giới thứ 44: Không cúng dường kinh điển

Giới thứ 45: Không giáo hóa chúng sanh

Giới thứ 46: Thuyết pháp không đúng như pháp

Giới thứ 47: Cấm chế không đúng pháp

Giới thứ 48: Phá pháp

3. Tổng kết

C. Lưu thông

I.   Phó chúc lưu thông

II.  Kết tụng hồi hướng lưu thông

 

II. BỐN MƯƠI TÁM GIỚI KHINH


1. Nêu chung

Phật bảo các Bồ Tát: “Ta đă nói xong 10 giới trọng, nay nói đến 48 giới khinh.”

Giải thích:

Khinh cấu, nghĩa là tội này tuy nhẹ hơn mười giới trọng trước, nhưng năng lực nhiễm ô Bổn nguyên tâm địa cũng không phải nhỏ.  Nếu không gấp cầu sám hối sẽ làm chướng ngại cho tâm địa, khó thành chánh quả.  Nhưng trước khi sám hối cần phải biết tướng tội kia thuộc về căn bản, tùng sanh, hay độc đầu.

Nếu y vào mười giới trọng trước, muốn làm mà chưa thực hiện nên chưa kết tội nặng.  Nếu có tác tiền phương tiện khinh cấu, ấy gọi là tùng sanh.  Nếu lỗi đă gây không từ mười giới trọng mà sanh, tự riêng khởi, gọi đó là độc đầu khinh cấu.  Nay trong khinh cấu căn bản, lại có tùng sanh nên lầm lẫn các tội.  Nếu trong 48 giới căn bản khinh cấu cố ư sai phạm, phải sám khinh cấu tội, phải tác pháp sám tội Đột-kiết-la.  Ngoài ra, phạm lỗi tác tiền phương tiện phi oai nghi, ác tác (thân nghiệp).  Nếu vô t́nh gây tội, chỉ phạm tội Ác tác, tự trách tâm.  Nên kinh Giới Bổn chép: “Sai phạm đây do tâm nhiễm ô khởi tội, nên sám hối ác tác, nếu không sám hối th́ chướng ngại giới Bồ Tát.”  Khi sám hối cần phải biết đưa ra phương pháp sám hối th́ tội mới tiêu diệt.  Bởi vậy kinh Bồ Tát Ưu Bà Tắc Oai Nghi chép: “Nếu có sai phạm, phải hỏi người biết rơ pháp sám tội ác tác theo Tiểu thừa hay Đại thừa, để đúng như pháp sám hối.”  Như Tỳ kheo phạm tội Đột-kiết-la (Trung Hoa dịch là Ác tác), luận về cách sám tội, cần phải tự biết rơ, ở đây không nêu ra nhiều.
 


2. Nêu riêng

Giới thứ 1
KHÔNG KÍNH THẦY, BẠN

Nếu Phât tử lúc sắp lănh ngôi Quốc vương, ngôi Chuyển luân vương hay chức quan, trước nên thọ giới Bồ Tát, như thế tất cả quỷ thần cứu hộ thân vua, thân các quan, chư Phật đều hoan hỷ.  Khi đắc giới rồi, Phật tử nên có ḷng hiếu thuận và cung kính.  Nếu thấy có bậc Thượng tọa, A Xà Lê, những bậc Đại đức, đồng học, đồng hạnh, đồng kiến đến nhà, phải đứng dậy tiếp rước, lễ lạy, vấn tấn, mỗi sự đều như pháp mà cúng dường, hoặc tự bán thân cho đến quốc thành con cái, cùng bảy báu, trăm vật để cung cấp cho vị ấy.

Nếu Phật tử sanh ḷng kiêu mạn, sân hận ngu si, không chịu tiếp rước lạy chào, cho đến không chịu y theo pháp mà cúng dường, Phật tử này phạm tội khinh cấu.

Giải thích:

Sư trưởng chính là bậc mô phạm của trời người, bậc lương y mô phạm của thế gian.  Giới thân của ta được sanh ra, trí tuệ của ta được nuôi lớn đều nhờ vào đạo lực của Sư trưởng, do đó phải biết kính thuận, không trái bỏ.  Nếu ta sanh tâm ngạo mạn sẽ mắc tội lớn như biển cả.

Bạn là người có khả năng giúp cho ta vun bồi đức để tiến tu, các điều thiện do đây mà thành, muôn hạnh nhờ đây mà tiến.  Như người muốn qua biển cả phải nhờ thuyền buồm, nếu bỏ buồm th́ thuyền sẽ bị trôi hoặc ch́m.  Thế nên Như Lai dạy phải kính thầy và bạn như Phật.

Đoạn này nói các vị trước nên lănh thọ giới Bồ Tát rồi mới thọ nhận ngôi vị, mục đích để giúp cho người đó trước nên lập đức để cảm hóa trời rồng, được quỷ thần ủng hộ, sau vua tôi mới an ổn, đất nước b́nh an.  Phước của vua tôi, tức là phước của người dân một nước.

Phần khuyến thọ mười giới, trước để Quốc vương đứng đầu, sau tổng kết cũng để Quốc vương đứng đầu.

Nay phần giới khinh này cũng nói đến Quốc vương trước, bởi v́ nếu vua chánh th́ thiên hạ chánh, vua tốt thời sĩ thứ tốt, nên vua phải có sức giáo hóa, có ḷng khuyến thiện.  Nếu vua không thọ giới này th́ tự mất lợi ích cứu hộ, lại tự thị ḿnh là cao quư, có khi c̣n phá hoại Phật pháp, ngăn cấm các vị đệ tử Phật không cho xuất gia tu đạo.  Giả sử đă thọ giới này rồi, c̣n sợ rằng tâm kiêu ngạo kia chưa dứt, không kính người có đức, nên Như Lai đặc biệt khuyên thọ.  Năm chúng xuất gia đều tuân theo giới luật hành tŕ, tự ḿnh biết kính thuận, nên đây chỉ nói sơ lược.

Do vua và bề tôi quần thần sùng kính Tam bảo mà thọ giới, được quỷ thần ủng hộ, thân th́ khang kiện, cơi nước an ninh, các tai họa lần lần tiêu dứt, gió thuận mưa ḥa, nhân dân được lợi ích, nên kinh Tâm Địa Quán chép: “Nếu có bậc nhơn vương thành tựu chánh kiến, đúng như pháp trị đời, gọi là Thiên chủ, dùng thiện pháp của trời để hóa độ thế gian.  Thiện thần các trời và Tứ thiên vương thường đến gia hộ, giữ ǵn cung vua.  Tuy ở nhân gian mà tu nghiệp lành, tâm thưởng phạt công minh, bậc Thánh vương như thế gọi là Chánh Pháp vương.”

Trong kinh Đại Kim Quang Minh có bài kệ rằng:

Do chư Thiên hộ tŕ
            Cũng gọi là Thiên tử
            Chủ ba mươi ba trời
             Chia sức giúp nhơn vương
            Ngàn sao nương ngôi xoay
            Trời trăng không trái mùa
            Gió thuận đúng thời tiết
            Mưa tốt thuận thời hành
            Tất cả các thiên chúng
            Đầy khắp nơi cung vua
            Nên nhơn vương các ông
            Quên ḿnh truyền chánh pháp
            Đem pháp dạy chúng sanh
            Khiến cho họ an ổn
            Khiến tất cả thứ dân
            Tu hành mười nghiệp lành
            Cơi nước thường an lạc
            Quốc giới được an ninh.

Chư Phật hoan hỷ v́ tâm địa giới này là ngàn Phật lưu truyền, vốn trông mong Phật pháp truyền thọ không dứt, nay vua, tôi, thứ dân kính thuận phụng tŕ, mọi người làm lành, mỗi mỗi Phật tử đâu không hỷ lạc ư? 

Bậc Thượng tọa có hai:

1. Thượng tọa trong chúng Tăng, là người trên, không có ai cao hơn, nên ở vào trên ngôi vị Ḥa thượng A Xà Lê của ta. 
2. Thọ giới trước ta, cho đến trước một giờ, một khắc, một bóng nắng, ấy là Thượng tọa. Vua B́nh Sa xưng Phật tử là bậc Thượng nhơn, nghĩa là Thượng nhơn này lớn hơn vua, tôi, thứ dân.

Trong Kinh Bát Nhă, Phật nói: “Bồ Tát nhất tâm hành đạo vô thượng Bồ đề, tâm không tán loạn, ấy gọi là Thượng nhơn.”

A Xà Lê, Trung Hoa dịch là Quỹ phạm.  Quỹ phạm có nghĩa là Sư, v́ người có khả năng, có khuôn phép dạy đệ tử trong năm chúng xuất gia.

Có năm bậc A Xà Lê:

1. A Xà Lê trao mười giới
2. Yết ma A Xà Lê trao cụ túc giới
3.
Giáo thọ A Xà Lê
4. Y chỉ A Xà Lê
5. Dạy kinh giáo A Xà Lê.

Đại đức là tiếng tôn xưng cho người tu hành có đức hạnh thanh tịnh.

Đồng học là đồng do một thầy dạy pháp Đại thừa.  Đồng kiến là tâm cùng chánh giải Đại thừa giáo. Đồng hạnh là thân đồng tu hạnh Đại thừa, tất cả những vị đến phải nghinh tiếp và lễ bái, cung kính khiêm tốn, tiến thối có chừng độ.

Lễ là lạy.  Theo phép lễ thế gian có hai cách lạy: Hai lạy là tượng trưng cho Lưỡng nghi, bốn lạy là tượng trưng cho Tứ tượng. Riêng cách lạy ba lạy tiêu biểu cho chí kính Tam thừa rồi quy y Tam bảo, ĺa được Tam độc.

Vấn tấn là thưa hỏi, tŕnh bày lên.  Lễ rồi sắc diện hân hoan vui mừng, tâm chánh niệm nh́n thẳng, hỏi thăm Ngài ít bệnh, ít năo chăng?  Đi đứng an lạc không?  Như Kinh Tŕ Địa chép:  “Đi đứng thong thả, tứ đại điều nhu, thức ngủ an ổn không?”  Như thế, tùy thời thưa hỏi, việc này không nhứt định.  Đây là điều tiêu biểu tôn kính giới pháp, phụng hành đạo hiếu thuận.

Kiêu là thân tâm phóng túng.  Mạn là ỷ thị khinh người khác.  Si là không phân biệt tôn ti phải quấy.  Sân là trong bốn thứ phiền năo trên đây, nếu trong ḷng chỉ ôm một trong bốn tâm, liền đồng thời biểu hiện tướng bất kính, nên không đứng dậy nghinh tiếp, lễ bái, cúng dường.

Tấn tu hạnh nghi gọi là cúng, có tâm nhiếp tŕ giúp đỡ gọi là dường.  Lại nữa, đối với người dưới mến tặng người trên, gọi là cúng, kẻ dưới giúp đỡ bậc tôn trưởng gọi là dường.

Tự bán thân là biểu hiện tâm chí kính, tôn trọng pháp và người nói pháp, hết ḷng thành kính cúng dường.  Xưa ngài Thường Đề Bồ Tát được nghe kinh Bát Nhă, tự phát nguyện bán tim, gan, tủy, năo để cúng dường Đại sĩ Đàm Vô Kiệt.  Trong nhân địa tu hành, Thích Ca Như Lai, khi ấy là một người nghèo, được nghe kinh Đại Niết Bàn, mỗi ngày cắt thịt thân ḿnh ba lượng, bán cho một người bệnh ghẻ lác để họ trị bệnh.  Suốt một tháng như thế, Ngài lấy tiền ấy cúng Phật.  Người đời nay, tuy nghèo, nhưng lẽ đâu không có chút vật, cũng chưa ai chịu bán thân con trai, con gái.  V́ tâm coi trọng tiền tài hơn chánh pháp, nên mắc tội.

Bảy báu là vàng bạc, lưu ly, xa cừ, pha lê, mă năo, trân châu, hổ phách, v.v...  Trăm vật là số lượng lớn chỉ cho vật cúng dường.  Nếu không cung kính cúng dường như trên th́ phạm tội khinh cấu.

Kinh Bồ Tát Ưu Bà Tắc Ngũ Giới Oai Nghi chép: “Dù có nói bao nhiêu lời mà không nghe, dù có ǵ hỏi han cũng không thật đáp, th́ phạm trọng cấu tội.  Nếu người không có ư mạn, sân, nhuế, si, mà chỉ do biếng nhác không ghi nhớ, tán tâm th́ phạm tội khinh cấu.  Nếu người bệnh khi nghe pháp, thuyết pháp hoặc trước cùng người khác nói, cho đến cố ư ủng hộ nhiều người nói pháp th́ không phạm tội.”


Giới thứ 2
UỐNG RƯỢU

Là Phật tử không được cố uống rượu, v́ rượu sanh ra vô lượng tội lỗi.  Tự tay trao chén rượu cho người, bị quả báo năm trăm đời không tay, huống ǵ tự ḿnh uống ư?  Cũng không được bảo tất cả mọi người và chúng sanh uống rượu, huống ǵ tự ḿnh uống?

Tất cả các thứ rượu, Phật tử không được uống và bảo người uống, nếu uống hoặc dạy người uống,  Phật tử phạm tội khinh cấu.

Giải thích:

Rượu sanh ra các tội lỗi, chẳng những phạm 36 việc mà thôi, nên nói là vô lượng.  Nếu bưng b́nh rượu trao cho người uống, c̣n mắc quả báo năm trăm đời không tay huống ǵ tự ḿnh uống, không chịu báo nặng nề ư?

Người uống rượu si mê điên đảo, sau khi chết phải đọa vào loài súc sanh, phải làm con ruồi ngu si, đói khổ, cho đến con giun, con đỉa, cá thu, các loại không tay v.v...

Kinh Quỷ Vấn Mục Liên chép: “Có một con quỷ hỏi: Tôi một đời nay không biết đă gây tội ǵ mà phải chịu quả báo ngu si?,  Ngài Mục Liên trả lời: Khi ngươi làm người, đem rượu dâng cho người ta, lại c̣n khuyên ép họ uống, khiến cho họ điên đảo, nay phải chịu họa báo và quả báo ở địa ngục.”

Kinh Chánh Pháp Niệm chép: “Nếu đem rượu tặng Tăng chúng, người thọ giới, người tu hành tịch tĩnh, người tâm đă tịch diệt, chứng thiền định, làm tâm đă tịch diệt, chứng thiền định, làm tán loạn tâm họ, phải đọa địa ngục kêu gào.”

Hỏi: Bồ Tát khi hành Đàn Ba-la-mật, có người đến xin rượu cũng thí cho, vậy là sao?

Đáp: Bậc Đại sĩ tu Lục độ Vạn hạnh, bố thí khắp cả, hễ có người đến xin, không trái với ư họ, để họ được đầy đủ, như Đàn Ba-la-mật tối thượng mà trao.

Kinh Sở Vấn chép: “Khi Bồ Tát hành Bố thí Ba-la-mật, nếu có người đến cầu xin vật cần dùng, phải nói: Hăy làm theo ta th́ ta cấp cho.  Nếu có người ưa thích rượu, liền sanh chánh niệm mà cùng họ uống.  Sau đó phải khuyên họ bỏ hẳn.  Bồ Tát thanh tịnh như thế, phương tiện nhiếp thọ chúng sanh.  Nếu họ trong ḷng ưa thích, không muốn dứt, th́ Bồ Tát liền dùng những lời quở trách và nói những tai họa do rượu gây nên, nguy hiểm như lưỡi dao bén, quyết định phải xa ĺa, không để cho nuối tiếc tương tục.  Bố thí như thế th́ không có lỗi.  Đây là Bồ Tát quán sát căn cơ mà làm, khác hẳn hàng Thanh văn.”

Kinh Ngũ Giới Oai Nghi chép: “Bồ Tát v́ người mà làm, từ việc nhận y đến trăm ngàn thứ khác đều theo người cư sĩ không phải bà con mà xin.  Xin y thế nào th́ xin bát cũng vậy.  V́ người khác nên xin chỉ và dạy người thợ dệt dệt y, chứa y Kiêu-sa-gia, thu nhận vàng bạc, cho đến trăm ngàn việc như thế đều khác với hàng Thanh văn.”  Bởi vậy Kinh Tỳ Ni Quyết Định chép: “Tŕ giới Thanh văn là phá giới Bồ Tát, tŕ giới Bồ tát lá phá giới Thanh văn.”

Hoặc có người v́ ḷng riêng, bắt chước Bồ Tát thực hành bố thí nhưng lại tiếc của, chẳng chịu ban cho, cũng muốn học hạnh Bố thí viên măn, chẳng trái ư người xin, nhưng thực ra là làm bừa, chẳng khác nào khỉ vượn đeo chuỗi ngọc Anh lạc, rơ ràng chuốc lấy thất bại, lẽ đâu tránh khỏi được khổ báo ngu si ở địa ngục kêu gào chăng!

Tất cả mọi người là chỉ cho nam, nữ, già, trẻ, tại gia, xuất gia, người ở xứ khác, nước khác.  Chúng sanh là chỉ cho phi nhơn và dị loại như quỷ thần, súc sanh, v.v... .  Dạy người, chẳng phải người hay tự ḿnh uống, cả ba đều phạm tội khinh cấu.

Tất cả các thứ rượu: như trong giới trọng đă giải thích.  Kinh Luật ghi: “Ăn bă và hèm rượu có thể say, tùy theo mỗi miếng nuốt vào mà mắc tội, như có bệnh nặng, các thứ thuốc không thể chữa lành bệnh nên đức Như Lai v́ bệnh khai cho, như trong luật Tỳ kheo và kinh Xá Lợi Phất Vấn nói rơ.

Hỏi: Đă sanh vô lượng lỗi, tại sao Nghĩa Sớ ghi: “Không v́ họa hoạn, thảy đều hứa cho?”

Đáp: Như có thể tránh khỏi lỗi này th́ nên hứa.  Xưa phu nhơn của vua Ba Tư Nặc là bà Mạt Lợi theo Phật thọ giới, lúc vua sắp giết quan đầu bếp, bà liền dùng rượu dâng cho vua.  Vua và phu nhân cùng nhau chung vui hoan hỷ, tâm vui nên quên việc giết vị quan ấy, h́nh phạt kia coi như không có.  Sau đó Mạt Lợi phu nhơn đến chỗ Phật cầu xin sám hối, Phật dạy: “Uống rượu như thế được đại lợi ích nên không phạm giới.” Giả sử người mới được nghe lời nói này, mà không biết Mạt Lợi phu nhơn khéo dụng Quyền hạnh Bồ Tát, bắt chước học đ̣i làm, thời hậu quả khó tránh khỏi.  Lại nữa, đời nhà Tề có vị Tăng tên Đàm Hiển, trong lúc say rượu đă tranh biện Phật pháp với bọn Hoàng Quan, khiến vô lượng Đạo sĩ trở về quy y Phật, Phật pháp nhờ đây được phát triển mạnh.  Nếu không phải là Quyền hiện Bồ Tát chớ giả dạng thói ngông, chuốc họa không phải nhỏ.


Giới thứ 3

ĂN THỊT

Là Phật tử, tất cả thịt của mọi loài chúng sanh đều không được ăn.  Luận về người ăn thịt mất ḷng từ bi, dứt giống Phật tánh, tất cả chúng sanh thấy đều tránh xa, người ăn thịt mắc vô lượng tội lỗi.  V́ thế Phật tử không được ăn thịt mọi loài chúng sanh.  Nếu cố ăn, Phật tử này phạm tội khinh cấu. 

Giải thích:

Tất cả thịt đều do đoạn mạng chúng sanh mà có.  Bồ Tát dùng ḷng từ bi làm gốc, lợi ích chúng sanh làm bổn hoài, từ bi bạt khổ, ban vui, lợi ích độ sanh, hạnh lợi tha rộng lớn làm lợi ích quần sanh, nếu ăn thịt th́ hai hạnh đều trái, làm sao gọi là bậc Đại sĩ độ sanh?

Cố ăn, không phải là lầm lỡ mà ăn.  Tất cả thịt của mọi loài chúng sanh, không ngoài các loài cầm thú thủy lục, không hành, như các loài ṣ, hến, trai, ốc, thằn lằn, v.v... .  Tất cả loài có  mạng sống đều không được ăn thịt chúng.

Ḷng từ bi là tâm Vô thượng Bồ đề, nếu đoạn dứt tâm này chính là đoạn dứt hạt giống Phật tánh.  Một khi hạt giống đă dứt rồi th́ cội gốc Bồ đề sao có thể thành?  Chúng sanh thấy người ăn thịt thảy đều tránh xa v́ tập khí sát hại chưa dứt.  Như chim bồ câu lao ḿnh vào đậu vai ngài Xá Lợi Phất, nó hết sức run sợ v́ tập khí sát hại của Ngài vẫn chưa hết, huống ǵ ăn thịt chúng sanh.  Khi h́nh sắc và tập khí dứt hết th́ nó thấy, nó nghe, có thể không c̣n sợ hăi tránh xa nữa.  Bởi vậy Kinh Lăng Nghiêm chép:  “Thợ săn, đồ tể giăng lưới bắt chim cá, những người ác này, loài chó thấy cũng kinh sợ, sủa cắn, các loài thú thấy đều chạy trốn.  Người này khi dứt hơi thở cũng như quỷ La-sát, đến đây ắt sẽ giết ta.  V́ để giữ ǵn thân mạng, tất cả chúng đều chạy trốn, nên nói thấy đều tránh xa.

Tất cả Bồ Tát là chỉ cho tất cả người sơ phát tâm thọ giới, dù chưa đăng địa cũng đă đăng vị Bồ Tát địa, tự biết giữ giới, ăn thịt là vi phạm.

Kinh Lăng Nghiêm chép: “Phật bảo ngài A Nan: Người ăn thịt , giả sử được khai mở tâm, như Tam ma địa, đều là đại quỷ La-sát, rốt ráo quả báo quyết chắc phải sa vào biển khổ sanh tử, làm sao có thể ra khỏi ba cơi được?”

Kinh Lăng Già chép: “Phật bảo Ngài Đại Huệ:  Tất cả chúng sanh từ vô thủy đến nay thường là lục thân quyến thuộc với nhau, xả báo thân rồi thọ các thân cầm thú.  Bồ Tát thấy chúng sanh đều là thân thuộc, cho đến khởi từ niệm, tưởng họ như con ḿnh.  Tất cả thịt các loài chúng sanh đều là tinh huyết ô uế tạo thành, người cầu thanh tịnh làm sao nỡ ăn thịt.  Người tu hành từ bi tâm, tŕ chú thuật, cầu giải thoát, thú hướng Đại thừa, nếu ăn thịt th́ tất cả người trời cho đến các chúng sanh cũng tránh xa người ấy.”

Phật tử nếu ăn thịt, trong giấc mộng cũng không yên, bị ác quỷ, La-sát đoạt mất tinh khí, bệnh tật ngày càng tăng, sanh ra các tội lỗi, các công đức đều bại hoại tiêu tan theo ác nghiệp.

Trong Kinh có bài kệ:

 Không giải thoát sanh tử
            V́ giết hại chúng sanh
            Lấy tiền mua đủ thịt
            Cả hai là ác nghiệp
            Chết đọa ngục kêu gào
            Phải chịu vô lượng tội

Có một con quỷ hỏi Tôn giả Mục Liên: “Tôi từ khi sanh ra đến nay, có rất nhiều con, tất cả đều đoan chánh, đẹp đẽ đáng ưa, nhưng lại chết yểu.  Nghĩ đến sự chia ĺa đó, thống khổ không thể nói, xin hỏi Ngài, không biết tôi đă gây nên tội ǵ mà nay phải chịu báo khổ này?”, Ngài Mục Liên đáp:  “Khi ngươi làm người, tâm ưa ăn thịt, thấy trẻ nhỏ sát sanh th́ vui theo và c̣n giúp cho trẻ nhỏ cố đoạn mạng chúng sanh, v́ ưa sát sanh nên chịu báo đau khổ, nay thọ họa báo, c̣n quả báo phải vào địa ngục.”

Như thế đủ biết, thấy người khác sát hại sanh tâm vui theo c̣n mắc quả báo như thế, huống ǵ tự ḿnh giết hại, đâu thể tránh khỏi báo khổ.

Giới thứ 4
ĂN NGŨ VỊ TÂN

Là Phật tử, không được ăn loại ngũ tân như: hành, hẹ, tỏi, nén và hưng cừ.  Loại ngũ tân này gia vào trong tất cả các thực phẩm, đều không được ăn, nếu cố ăn, Phật tử này phạm tội khinh cấu.

Giải thích:

Ngũ vị tân, kinh và luật đều gọi là không đồng, phần nhiều gọi là hành hẹ, tỏi, nén và hưng cừ.  Nay kinh này đem hành chia thành năm thứ, cũng v́ mỗi quốc độ có tên gọi khác nhau.

Tỏi (Đại toán) c̣n có tên là Hồ hành, do Trương Khiên đi sứ ở nước Đại Uyển đem về.  Nay vật mà người ta thường ăn chính là hành của nước Hồ, được mang từ nước Hồ về.  Trong Bản Chương ghi:  “Hành nước Hồ là loại hành lá nhuyễn, đầu nhỏ như tim đèn, tợ cây tỏi lớn mà h́nh nhỏ.”  Có một loại gọi là Sơn thông, sinh nơi nước đọng trong núi, cành nhỏ lá to, cũng gọi là Lạc sơn thông.  Ở Tây Vức, tất cả các loại ngũ vị tân có nhiều thứ, nhiều h́nh loại chất vị khác nhau, đây không thể nêu ra hết, chỉ nêu ít loại mà thôi.

Tóm lại, tất cả các loại có chất vị cay nồng, đều không được ăn.  Nếu hành giả ăn những thứ kể trên, có tác động kích thích tâm lư, sẽ sanh ư niệm không lành mạnh, đó là một chướng ngại lớn cho việc tĩnh niệm và hành thiền.  Nếu tu hành tâm không chánh niệm th́ con đường giải thoát làm sao đạt được.

Như trong Tây Vức Kư chép:  “Các nhà Đạo sĩ ở Tây Vức, nếu người nào dùng ngũ vị tân phải ở riêng một chỗ.  Giả sử có bệnh nặng, theo lời của thầy thuốc th́ tạm dùng.  Luật khai cho phải ở riêng chúng, pḥng cá nhân biệt lập, sau bảy ngày xong rồi, phải tắm gội sạch sẽ, thay đổi y phục, mới cho vào chung ở với chúng Tăng.”
Kinh Lăng Nghiêm chép: “Ăn các thứ ngũ vị tân chất vị cay nồng có năm lỗi:

1. Ăn chín phát sanh tâm dâm, ăn sống phát sanh tâm sân.
2. Dù có thể nói mười hai bộ kinh nhưng các vị Trời và Tiên trong mười phương chê bai mùi xú uế kia, nên tất cả họ tránh xa.
3. Bị các ngạ quỷ liếm môi mép, thường cùng ở chung với quỷ ác.
4. Phước đức mỗi ngày mỗi tiêu dần, không lợi ích ǵ cho cưộc sống.
5. Bồ Tát và các thiện thần trong mười phương không đến ủng hộ.  Đại lực quỷ vương thừa cơ hội đó, hiện làm Phật thân, ở trước mặt nói pháp, chẳng phải nói chê người hủy cấm giới của Phật mà quỷ vương tán thán khen ngợi tam độc “tham, sân, si”.  Người ăn ngũ vị tân này sau khi mạng chung luôn luôn làm quyến thuộc của chúng, thọ báo quả kiếp ma hết rồi đọa vào Vô gián địa ngục.  Nay do tâm dâm kia làm tăng trưởng tâm sân nhiễm ô “tâm địa giới”, các bậc Thánh, Hiền thảy đều xa ĺa, nên kết tội khinh cấu.  Cuối cùng đọa Địa ngục A Tỳ.


Giới thứ 5
KHÔNG DẠY NGƯỜI CÓ TỘI SÁM HỐI

Là Phật tử khi thấy người phạm những tội như: Ngũ giới, Bát giới, Thập giới, phá giới, phạm Thất nghịch, Bát nạn, v.v...  phải khuyên bảo người ấy sám hối.  Nếu Phật tử chẳng khuyên bảo người phạm tội sám hối lại đồng ở chung đồng sống chung, đồng bố tát, đồng thuyết giới, không cử tội người ấy, không nhắc sám hối, Phật tử này phạm tội khinh cấu.

Giải thích:
Tất cả chúng sanh là trời, rồng , bát bộ, nhơn, phi nhơn, v.v..., người đă thọ giới Đại thừa, Tiểu thừa của Phật.  Giả sử người không thọ giới mà có hành vi làm ác, làm việc phi pháp hay khuyến dụ người làm ác, phải liền dùng phương tiện quở trách, can gián, khiến cho họ dứt ư niệm hành vi xấu và hối lỗi kia.

Bát giới chính là tám pháp trai giới và tám giới trọng.  Trong kinh Địa Tŕ gọi là sát, đạo, dâm, vọng, hủy, năo, sân, báng.  Ngũ giới là năm giới của cận sự nam và cận sự nữ.  Thập giới là mười thiện giới của ba nghiệp thân, khẩu, ư và mười giới của Sa-di.

Hủy cấm giới là người đó sai phạm, hủy giới cấm của Phật mà ḿnh đă lănh thọ.  Cấm là ngăn cấm.  Đức Như Lai chế giới là để ngăn cấm tâm chúng sanh phóng túng theo trần cảnh, răn nhắc câu thúc thân khẩu ư nghiệp, nên cấm tức là giới.  Giới phẩm tuy nhiều, nhưng không ngoài Đại thừa, Tiểu thừa (Thanh văn giới và Bồ Tát giới).  Đại thừa, tam tụ chánh giới.  Tiểu thừa, Bạch tứ Yết ma giới.  Thất nghịch sau sẽ nêu ra.

Bát nạn tức là tám nạn:

1. Địa ngục
2. Súc sanh
3.
Ngạ quỷ
4.
Trường thọ thiên
5.
Bắc-câu-lô-châu
6.
Mù, điếc, câm, ngọng
7.
Thế trí biện thông
8.
Sanh trước Phật, sau Phật.

Tám nạn này đều là chướng ngại đạo giải thoát.  V́ không được gặp Phật nghe pháp nên gọi là nạn.  Nhưng tám việc này đều do đời trước hành giả phạm giới mà gây ra, Phật dạy cho họ sám hối để khỏi mắc quả báo về sau.  Nếu đời này phạm giới gây tội, đời sau ắt phải chịu báo khổ.  Tám nạn này nên dạy cho họ phải sám hối.  Như tạo các nghiệp sát sanh, trộm cắp, dâm dục, v.v... tất nhiên phải chịu báo khổ ở tam đồ (địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh).  Tu theo ngoại đạo vô tưởng định, thời chịu quả báo năm trăm đời ở cơi Trường thọ thiên, không biết ǵ đến Tam bảo.  Gây phước báo ở thế gian, thời cảm nhận phước báo ở Bác-câu-lô-châu.  Tâm sanh tà kiến, không ưa nghe Phật pháp, thọ báo câm ngọng.  Không tin Tam bảo, hủy báng Pháp sư, phải chịu quả báo câm, mù, điếc.  Không tin pháp xuất thế gian, đắm trước mùi vị thế giáo, nên cảm thọ báo Thế trí biện thông (không tin chánh giáo và nhơn quả tội phước).  Nghiệp nặng phước mỏng, không gặp Phật nên sanh ra trước Phật hoặc sau Phật.

Kinh chép: “Hủy báng Tam bảo, khinh hủy Thánh đạo, luận bàn hay dở, tốt xấu của người khác, t́m kiếm những điểm kém dở của người, lấn hiếp, vu khống người lương thiện, ghét ganh người hiền lương, thọ báo câm, ngọng, đui, điếc.”

Kinh Vấn Địa Ngục chép: “Cha mẹ và Sư trưởng gọi mà không trả lời, phải đọa trong loài ngạ quỷ điếc ở địa ngục, thường bị bàn chải áp sát lưỡi tội nhơn, trải qua hai trăm năm, sau được sanh làm người câm điếc.”  Thế nên phải dạy họ ăn năn, sám hối để khỏi khổ báo về sau.  Tất cả tội đă phạm dù khinh dù trọng, dù tánh tội, giá tội, đều dạy cho họ biết hổ, biết thẹn, như pháp sám hối, để không gây tội ác một ngày một thêm, đời sau phải đọa vào tam đồ v́ phỉ báng pháp môn, trái với hoằng nguyện hộ pháp lợi sanh của Đại sĩ.

Đồng trụ nghĩa là cùng ở trong một đại giới tu hành.  Đồng lợi dưỡng là cùng một tăng đoàn, cùng thụ hưởng thí chủ lợi dưỡng, cúng dường.

Bố tát nói đủ là Bố sái đà.  Bố sái là trưởng dưỡng, Đà là tịch trừ,  nghĩa là mỗi nửa tháng nhóm chúng thuyết giới, liền có thể nuôi lớn pháp lành, tự tâm thanh tịnh, trừ các niệm bất thiện, cấu uế.

Một chúng thuyết giới nghĩa là đồng trong một giới, tất cả chúng Tăng, nửa tháng đồng bố tát thuyết giới, hoặc trong một đại giới có hai trụ xứ, đồng một thuyết giới mà riêng lợi dưỡng , v́ nay không có trường hợp trên nên nói đồng lợi dưỡng, một chúng thuyết giới.

Không nêu tội họ mà chỉ có thấy, nghe, nghi ba căn, liền phải chỉ chỗ sai phạm của họ, dạy bảo nhắc nhở, khiến cho họ sám hối.  Không cử tội, không nhắc nhở, không dạy, cùng Tăng hưởng lợi dưỡng, lạm dụng thọ của tín thí, thậm chí khiến cho họ mắc tội càng nhiều, lại trái với từ tâm, bi tâm, hộ tâm của Bồ Tát, nên tự ḿnh mắc tội.

Kinh Niết Bàn chép: “Có Tỳ kheo tŕ giới, thấy người phá hoại chánh giới liền đuổi đi, quở trách trị phạt nhẹ.  Phải biết người này được vô lượng phước, không thể tính kể.  Nếu không quở trách đuổi đi hoặc cứ tội, phải biết người này là oán cừu trong Phật pháp.  Nếu hay quở trách và đuổi đi, là đệ tử của Ta.”

Kinh Ưu Tắc Ngũ Giới Oai Nghi chép” Bồ Tát là gương mẫu cho nhiều người, thấy quyến thuộc làm điều không đúng.  Pháp sư nên quở trách và đuổi đi.  Nếu gặp người sân tâm và ác tâm, không quở trách, trị phạt th́ Bồ Tát phạm tội khinh cấu.”

Kinh Ưu Bà Tắc chép: “Thà thọ ác giới một ngày, đoạn mất vô lượng mạng căn của chúng sanh, trọn không nuôi dưỡng đệ tử ác.  Đệ tử tệ ác không thể điều phục được, v́ cớ sao?  V́ đây là ác luật nghi, tai ương tự chuốc vào thân không thể giáo hóa răn dạy đệ tử lỗi lầm, mới khiến cho vô lượng chúng sanh tạo tội lỗi, hay phỉ báng chánh pháp.”  Lại nữa, trong kinh Thiện Giới chép: “Bọn người Chiên Đà La cho đến đồ tể, tuy làm nghiệp ác mà không phá hoại chánh pháp của Như Lai, quyết không phải đọa trong ba đường ác, c̣n làm thầy mà không răn dạy đệ tử khi có lỗi sái quấy, thời phá Phật pháp, chắc chắn phải đọa địa ngục.”  Bởi vậy, khi nêu tội họ, không được gấp rút vội vàng, cần phải hướng đến các bậc hữu đức tŕ giới ở trước người đó mà cử tội.

Trong Luật Tỳ Kheo, Phật dạy: “Muốn cử tội người khác, trước hết phải theo họ cầu thỉnh.  Đại sĩ phải dùng từ tâm, nói lời nhu nhuyến, nhẹ nhàng răn dạy họ, khiến cho người phạm sanh tâm biết hổ thẹn để quy phục.  Nếu không như thế mà hướng người khác nói th́ đồng với bọn người trước.”

Luật Tăng Kỳ chép: “Khi cử tội, không được hướng người khác cử, phải hướng đến vị Thiện Tỳ kheo cử tội.  Nếu vị Tỳ kheo phạm tội, tánh hung bạo hoặc ỷ vào thế lực vua quan, thế lực hung ác của người ấy đều là nhơn duyên sanh khởi tâm đoạt mạng người khác.”  Tự thương tổn phạm hạnh nên khởi niệm này, hành nghiệp tội ắt phải tự thọ báo quả, họ tự phải biết, dụ như lửa cháy, chỉ tự cứu lấy thân, đâu biết việc khác.  Bấy giờ chỉ cần giữ ǵn căn bản tâm tướng vô tội.

Kinh Địa Tŕ chép: “Nếu Phật tử, Bồ Tát, thấy các chúng sanh đời này, đời sau tạo ác nghiệp, do tâm hiềm hận, không v́ chánh pháp nói, ấy là phạm.  Nếu người không trí hiểu biết, hoặc không có khả năng, hoặc sai người có thế lực, có khả năng nói, hoặc phương tiện khiến họ điều phục, nếu khi ta thật ḷng cử tội họ, mà họ có tâm hiềm trách ta, hận thù ta, như thốt ra lời ác bảo rằng, thọ pháp điên đảo, hoặc không tâm ái kính; nếu họ tánh hay lăng quên, bất định th́ không phạm.  Hoặc thấy người phạm lỗi đáng quở trách, đáng trị phạt nên diệt tẩn, mà không quở trách, không diệt tẩn, không trị phạt, như thế là phạm tội khinh cấu.  Nếu không trị phạt người đó, th́ không nên nói chuyện với họ, không nên răn dạy nhắc nhở hay khởi tâm hiềm trách giận hờn.  Nếu sợ khởi việc tranh căi hoặc thưa kiện nhau hoặc phá hoại tăng chúng, phải quán sát, th́ không phạm.”


Giới thứ 6
KHÔNG CUNG CẤP, THỈNH PHÁP

Là Phật tử, khi thấy Pháp sư Đại thừa hoặc những người đồng học, đồng kiến, đồng hạnh Đại thừa, từ trăm dặm, ngàn dặm đến nơi tăng phường, nhà cửa, thành ấp, phải đứng dậy rước vào, lễ bái; ngày ngày ba thời cúng dường các thứ cần dùng như đồ ăn uống, giường ghế, thuốc men, tất cả đồ cần dùng dù đáng giá ba lượng vàng đều phải cung cấp cho Pháp sư.  Mỗi ngày sáng, trưa và chiều thường thỉnh Pháp sư thuyết pháp và đảnh lễ, không hề có ḷng sân hận buồn rầu, luôn thưa thỉnh pháp không mệt mỏi, v́ Pháp quên thân.  Nếu Phật tử không như thế th́ phạm tội khinh cấu.

Giải thích:

Trước nêu Pháp sư Đại thừa, sau nêu đồng học, đồng kiến, đồng hạnh Đại thừa, ba bậc bạn hữu để làm thầy bạn Đại thừa.  Pháp sư là người thông suốt tánh tướng kinh luật Đại thừa, nhẫn đến có khả năng giáo hóa chúng sanh khiến họ vào Phật địa.

Trăm dặm, ngàn dặm là nói xa để nhiếp gần, nghĩa là xa mà c̣n cung thỉnh, huống ǵ ở gần ư?

Ba thời cúng dường nghĩa là từ lúc mặt trời mới mọc cho đến cuối giờ th́n, đầu giờ tỵ là đúng ngọ. 

Ba lượng vàng và trăm vị là nói lên sự cung kính tột bậc mà không có bỏn xẻn, biếng nhác, kiêu mạn.  Người thọ nhận của cúng dường sanh ḷng hổ thẹn, mới tiêu của tín thí.

Trong Tông Cảnh ghi: “Nếu người học Đại thừa Phật pháp, thọ nhận món ăn của thí chủ nặng như núi Tu di: thọ nhận y phục của thí chủ có thể trải khắp trái đất, nếu người không học, chưa vào hàng Tăng chúng, th́ khắp mười phương không có chỗ để nhổ nước miếng.”

Ngài Vĩnh Gia nói: “Nếu người được sức giải thoát, không thể nghĩ bàn, hằng Sa-diệu dụng, nhận tứ sự cúng dường, tiêu vạn lượng vàng ṛng, thân nát xương tan, cũng chưa đủ để đền đáp, nhưng chỉ cần thấu tỏ một câu liền vượt qua trăm ức.  Tuy là như thế, nhưng biết thọ dụng vừa đủ mới không mắc lỗi.  Bởi v́, người cung cấp trước là tự phát tâm cúng dường, c̣n sợ chưa đủ, nay theo sự cần dùng của thầy và bạn không nên trái ư niệm của họ, phải hết ḷng cung cấp, tức là nói đến việc cúng dường ân cần.

Thường thỉnh là nói rơ chẳng phải một ngày hay một thời gian mà thôi.

Ba thời là trước giờ ngọ, sau giờ ngọ và tối.  Ba thời lễ bái là nói tinh thần ưa pháp không tâm giải đăi, không nên thấy chút lỗi của Pháp sư mà sanh tâm sân, không nên hiềm chán lo lắng, phí tài sản sanh tâm buồn rầu, thân c̣n phải xả ĺa, phải hoại diệt, đâu v́ nản ḷng lao nhọc về việc cung cấp Pháp sư mà sanh tâm thối thất.

Nhơn địa tu hành của Như Lai xả thí toàn thân để cầu nửa bài kệ, khoét thân thể làm ngàn lỗ đốt đèn để thỉnh Pháp sư nói pháp, thí vợ con cho quỷ Dạ xoa ăn thịt, v́ muốn nghe pháp yếu.  Nên ngài Phổ Hiền Bồ Tát bảo Thiện Tài đồng tử rằng:” Trong pháp hội của ta, không có một câu văn, không phải xả thí ngôi vị Chuyển luân vương và tất cả vật sở hữu mà cầu được pháp này, huống ǵ vật ngoài thân ư?”  Nếu tiếc thân, tiếc của th́ không phải hạnh nguyện của bậc Đại sĩ v́ pháp quên ḿnh, lại trái với bổn tâm hiếu thuận cung kính giáo pháp nên phạm.

Kinh Viên Giác chép: “Chúng sanh ở đời mạt, muốn tu hành phải nên hết ḷng trọn đời cung kính cúng dường thiện hữu tri thức.  Phật tử muốn đến thân gần thiện hữu tri thức ấy, phải dứt tâm kiêu mạn.  Nếu thiện hữu tri thức đi phải dứt tâm sân hận, quán cảnh thuận hay nghịch cũng như hư không, rơ biết tự tâm rốt ráo b́nh đẳng, cùng với chúng sanh đồng thể không khác, tu hành như thế mới vào được cảnh giới Viên Giác.”

Sớ ghi: “Phàm thiện hữu tri thức độ người dùng các thứ phương tiện, tâm thầy tṛ khế hợp, mới truyền trao y pháp.”  Bởi vậy, ứng cơ tiếp vật, nên Đại sĩ rủ ḷng thương xót, thường gần gũi chúng sanh.  Người ngu không biết, thường sanh tâm kiêu mạn.  Kiêu mạn che tâm th́ không thể nào vào đạo, nên nói cần phải đoạn kiêu mạn. Nếu gặp duyên khác, phải xa cách nhau liền sanh tâm sân hận, mới nói thân sơ, ta người, yêu ghét, đă sanh một niệm sân th́ trăm ngàn muôn chướng đều sanh khởi, chẳng cần luận bàn lỗi của đạo cũng đọa vào tam đồ, nên nói phải dứt tâm sân hận.  Xét trong kinh Thí Dụ và các kinh khác, Tôn Giả A Nan trong thời quá khứ từng làm đứa trẻ bán hương, thấy một Sa-di đi khất thực, miệng tụng kinh kệ, nhân đó hỏi Sa-di, Sa-di đáp: “Thầy tôi ở trong núi học đạo và tu đạo, dạy tôi mỗi ngày lo kiếm một thăng gạo và tụng một bài kệ, nên tôi làm như vậy”, đứa trẻ lại hỏi: “Nếu không kiếm được gạo, mỗi ngày tụng bao nhiêu kệ?” Sa-di đáp: “Có thể tụng được mười kệ”, đứa trẻ nói:”Từ nay về sau đừng đi khất thực nữa, tôi sẽ đi xin thay cho”  Sa-di vui mừng v́ được yên tĩnh tọa thiền và học đạo. Đến khi đứa trẻ xin được chín đấu gạo, thử nghiệm kinh kệ của Sa-di, thấy Sa-di thảy đều thuộc làu.  Do phước báu này, đời sau đứa trẻ được gặp Phật, làm đệ tử đệ nhứt Đa văn, đầy đủ tam minh, lục thông, được Phật truyền tâm ấn.  Phải biết cung cấp cho Sa-di tŕ kinh, c̣n cảm được thắng báo như thế, huống ǵ cúng dường bậc Sư trưởng, thiện hữu Đại thừa, th́ phước báo thù thắng mà người hay thuyết pháp có được, ai có thể suy nghĩ luận bàn!


Giới thứ 7
GIẢI ĐĂI KHÔNG NGHE PHÁP

Là Phật tử hàng tân học Bồ Tát, phàm chỗ nào có giảng kinh, luật, phải mang kinh luật đến chỗ Pháp sư nghe giảng và thưa hỏi, hoặc trong núi rừng, vườn cây, chùa, nhà, v.v... tất cả chỗ thuyết pháp đều đến nghe giảng, học hỏi.  Nếu Phật tử không đến nơi ấy nghe pháp và thưa hỏi th́ phạm tội khinh cấu.

Giải thích:

Giới trước nói Pháp sư đến, ta thưa thỉnh được lợi ích, giới này Pháp sư ở chỗ khác, ta nên đến đó nghe giảng, học hỏi.  Giảng pháp là nói chung, thuyết pháp luận bàn nghĩa lư.  Luật, tiếng Phạn gọi là Tỳ Ni, Trung Hoa dịch là Diệt, nghĩa là diệt trừ ba ác nghiệp (thân, khẩu, ư), c̣n gọi là Thiện trị, nghĩa là khéo hay tự trị dâm, nộ, si, cũng hay trị ác nghiệp cho chúng sanh.  Đây đều từ công năng đặt tên, chẳng phải chánh dịch.  Chánh dịch là luật, luật là pháp, đây từ Giáo đặt tên, nghĩa là xử đoán, khinh, trọng, khai, giá, tŕ, phạm, phi pháp, bất định.

Tỳ, Trung Hoa dịch là Khử.  Ni, Trung Hoa dịch là Chơn, nghĩa là bỏ những ǵ phi pháp, sái quấy mà c̣n lại chơn thật.  Chơn tức là bổn nguyên tâm địa.  Kinh luật đều gọi là Tỳ Ni, v́ kinh tức là Phạm Vơng giới kinh; luật là Tâm địa pháp luật và các giới tạng của Bồ Tát.   Lại nữa, tất cả kinh điển Đại thừa, có nghĩa là diệt ác sanh thiện, nên cũng đồng gọi là Tỳ Ni.

Tân học nghĩa là hàng Đại sĩ mới thọ Tâm địa giới, việc học chưa xong, không biết quư trọng pháp, tự sanh tâm kiêu mạn, biếng nhác, đánh mất lợi ích lớn, hàng ngày không tấn tu, vùi lấp tâm địa, nên đặc biệt khuyên nhắc cố gắng, nếu không th́ mỗi ngày đều phạm tội khinh cấu.

Xét trong Kinh Tŕ Địa, không cần nói xa hay gần, c̣n trong Ưu Bà Tắc Giới Kinh nói: “Cách nhau khoảng một do tuần, th́ không phạm.”  V́ người tại gia, bao nhiêu công việc câu thúc thân, không thể đi xa nghe pháp được.  Người xuất gia không bị hệ lụy, chuyên tâm huân tập Phật pháp làm sự nghiệp, sợ xa không đến được chính là tự biếng nhác, kiêu mạn, không có tâm trọng pháp nên phạm.  Người lănh thọ giới pháp siêng năng đi nghe giảng và thưa hỏi.  Nghe là dùng nhĩ thức lắng nghe, thọ nhận.  Thọ nhận là dùng tâm lănh nạp đây chính là văn huệ và tư huệ.  Hỏi tức là thưa hỏi, nghe rồi tư duy sâu sắc, tư duy mà không thông đạt th́ hỏi lại.  Mối nghi được giải thích liền nương đó tiến tu, thể nhập pháp môn tâm địa của Đại thừa.

Trước nói, tất cả chỗ là chỉ chung chỗ Tăng và tục ở; kế nói nhà ở rộng lớn là chỉ cho vương cung, nhà quan, nhà thế tục, nhà đàn việt, nơi thỉnh Pháp sư giảng kinh.  Nay nói, tất cả chỗ thuyết pháp nghĩa  là người xuất gia ở trong núi, dưới gốc cây, chốn lan nhă yên tĩnh, Tăng già lam, v.v... các chỗ như vậy, nếu Phật tử không đến đó nghe giảng thọ học, không phải coi thường người, coi thường pháp mà chính là giải đăi nên mắc tội.

Kinh Bồ Tát Giới Bổn chép: “Hoặc bệnh, hoặc không có sức khoẻ, biết người ấy nói tráo trở lộn xộn; nếu biết những điều người ấy nói là điều ḿnh thường nghe, hoặc đă nghe nhiều rồi ghi nhớ, hoặc tu thiền định không muốn lăng phí thời gian, không đến th́ không phạm.


Giới thứ 8
TRÁI VỚI ĐẠI THỪA HƯỚNG VỀ TIỂU THỪA

Nếu Phật tử có quan niệm trái bỏ kinh luật Đại thừa thường trú, cho rằng không phải của Phật nói ra, mà đi thọ tŕ kinh điển tà kiến và tất cả cấm giới của Thanh văn Nhị thừa cùng ngoại đạo ác kiến, Phật tử này phạm tội khinh cấu.

Giải thích:

Quan niệm trái bỏ kinh luật Đại thừa thường trú, nghĩa là cho rằng Đại thừa giáo không được siêu việt, nên trái bỏ (bỏ Đại hướng Tiểu); giáo pháp của Tiểu thừa ngoại đạo thù thắng thực tế hơn, nên hướng đến (bỏ Đại hướng ngoại đạo).

Kinh luật Đại thừa, từ Xá Na tâm địa lưu xuất, tánh vốn thường trú, không sanh, không diệt, không biến đổi, đây chính là nhứt thật giáo mà Như Lai diễn nói, chứ không phải pháp phương thiện quyền xảo, tùy việc mà chế.

Hàng phàm phu sơ học Bồ Tát, không rơ được Đại thừa, Tiểu thừa, chánh tà ra sao, nên nghi kinh luật Đại thừa chẳng phải Phật nói ra.

Nói là tâm, v́ tâm muốn trái bỏ mà ư niệm chưa quyết định, miệng muốn nói mà lời chưa mở, ḷng c̣n hoài nghi, nên phạm tội khinh cấu.

Nếu tâm hướng đến sự trái bỏ đă thành tựu, th́ liền mất giới, hoặc lời hủy báng đă thốt ra, gây hại người khác th́ phạm tội khinh cấu.

Nhị thừa tức là Thanh văn và Duyên giác.  Thanh văn do nghe pháp Tứ Thánh Đế, chứng quả vô sanh, nên gọi là quả Thanh văn.  Duyên giác do quán pháp mười hai nhân duyên (quán hoa rơi lá rụng), không có thầy mà tự ngộ, gọi là Duyên giác (tiếng Phạn là Bích Chi Phật).

Hỏi: Đă từ Như Lai nghe giáo chứng đạo, tại sao gọi là Ác kiến?

Đáp: Đức Như Lai quán sát biết họ căn cơ hạ liệt, trí cạn, chưa kham lănh thọ Đại pháp, nên phương tiện tạm chỉ bày tiểu giáo.  Họ nghe tiểu giáo liền sanh tâm nhàm chán sanh tử, đoạn dứt nhân khổ, ham quả tịch diệt của Nhị thừa, tu 37 phẩm trợ đạo, để cầu thủ chứng đắc.  Như không biết pháp Đại thừa thường trú, xả bỏ tâm địa đại giới này, đi thọ tŕ đạo pháp cấm giới của Thanh văn, cũng không chứng đắc viên măn cụ túc, nên Kinh Niết Bàn chép:”Hàng A La Hán không biết Tam bảo thường trú bất biến, dù có cấm giới cũng không được cụ túc viên măn, không đắc đạo Thanh văn được, thế th́ trái với thú hướng và ư chí của hành giả, cả Tiểu thừa và Đại thừa đều mất.”

Đại Luận ghi:”Thà khởi tâm làm con giă can ghẻ lỡ, chứ không sanh tâm thú hướng Nhị thừa.”

Tâm hung dữ là xấu ác, thân bệnh hoạn ghẻ lác, cũng không sanh niệm thú hướng Nhị thừa.  Như kinh đă ghi: “Thà đọa đường ác mà được nghe tên Phật chứ không mong trường sanh bất tử ở cơi trời.”

Tất cả cấm giới, nghĩa là các giới hàng ngoại đạo thọ tŕ như: giới thờ ḅ, chó, ngựa, gà, v.v... Do kiến chấp của hàng ngoại đạo, họ cho rằng nếu tu khổ hạnh, sau khi xả báo thân sẽ được sanh vào cơi trời, hưởng phước lạc an vui, nên bắt chước thực vật (như cây cỏ) cam nhận ăn đồ phấn uế, tôn thờ thần lửa, thần gió, v.v... hoặc hớp không khí, hoặc đi một chân, hoặc chích đốt năm lỗ trên thân ḿnh, hoặc tự đốt thân, hoặc bôi tro bụi lên thân thể, nằm lơa h́nh, v.v... cho rằng định tĩnh tu hành hết khổ được vui; đến như đời mạt, uống nước lă, giữ chay tịnh, cho rằng đă tẩy trừ ngũ trược; hoặc nhịn đói 7 ngày, cho rằng không tịch, tứ đại gặp mùa đông lạnh, mùa hạ nóng, cho rằng lạnh nóng không c̣n xâm hại được đến thân.  Họ tự thọ cấm giới tà kiến như thế, nếu chẳng phải ngu si th́ cũng để mê hoặc người khác.  Lại khởi lên các thứ vọng chấp, tạo lập ra các thứ sách vở, ấy là kinh luật tà kiến.  Giới này ư Phật chế để ngăn cấm, nhắc nhở các Đại sĩ nếu trái chánh nhân tâm địa th́ sẽ mất cực quả thành Phật, nếu học giáo pháp Nhị thừa, đoạn dứt Kiến hoặc và Tư hoặc để cầu chứng đắc Niết bàn, đốt thân diệt trí th́ vĩnh viễn không thể thực hiện đại dụng lợi tha, nên Phật quở trách là ác kiến, ác nhân, chẳng phải nói giới Thanh văn không thể thọ tŕ.

Luận về tâm, th́ Đại thừa và Tiểu thừa cần phải phân minh rơ ràng, nên nói: “Nếu khởi tâm một niệm Nhị thừa giáo th́ phạm tội khinh cấu.”

Luận về giới, th́ Đại thừa và Tiểu thừa đồng hành tŕ, nên kinh Niết Bàn chép: “Nghĩa của năm thiên bảy tụ, đều là luật nghi của Bồ Tát xuất gia.”

Phụ Hành Sự Sao chép: “Hàng Bồ Tát xuất gia có 6 phép ḥa và 10 điều lợi ích giống hàng Thanh văn, c̣n sáu pháp Ba-la-mật và bốn Hoằng thệ nguyện th́ khác với hạnh của Tiểu thừa.”

Như hàng Bồ Tát tại gia th́ Tam quy, Ngũ giới đều thú hướng đến Bồ đề tâm, huống ǵ kinh Phạm Vơng nói 84000 oai nghi, bảy chúng đệ tử Phật đều nương tựa, chúng sanh trong năm đường đều lợi ích, th́ đâu thể chứa kẻ phá giới, mà xưng là Phật thừa.

Kinh Bồ Tát Giới Bổn chép: “Nếu khởi lên lời nói như thế th́ Bồ Tát không nên nghe pháp Thanh văn, cũng không nên thọ học.” Bồ Tát nếu không ứng dụng pháp Thanh văn làm phương tiện quyền xảo th́ phạm tội, v́ sao?  V́ Bồ Tát c̣n học dị luận của ngoại đạo, huống ǵ pháp Thanh văn là lời Phật dạy.  Nếu Bồ Tát có chuyên chú học Bồ Tát tạng, nhưng  chưa được hoàn măn th́ không phạm.

Kinh Địa Tạng Thập Luận chép: “Phật nói: Nên tu học tất cả Tam thừa giáo, không nên sanh tâm kiêu mạn, dối gọi là Đại thừa, hủy báng pháp của Thanh văn, Duyên giác thừa.  Ta trước v́ hàng căn cơ Đại pháp khí mà tâm kiên cố tu hành nên nói lời như thế, c̣n nếu chỉ tu pháp Đại thừa, th́ có thể được cứu cánh, bởi v́ xưa và nay không trái nhau.”

Như Khế Kinh chép: “V́ muốn sách tấn họ tu hành kiên cố, khi họ đă tập pháp Tiểu thừa rồi th́ nên khiến họ thú hướng đến Đại thừa giáo, không nên trách họ bỏ Đại hướng Tiểu, nhưng cũng không nên nói rằng pháp Thanh văn là tầm thường phải bỏ.”  Nếu người có tâm hổ thẹn, chỉ e rằng hành tŕ c̣n không kịp huống ǵ lại chê bai.  Do thế, người xuất gia trong 5 nước Thiên Trúc, trước hết đều học Tiểu thừa, sau mới học Đại thừa, để giúp họ biết nhơn quả tội phước th́ mới tránh khỏi lỗi, bỏ có chấp không, biết rơ nguồn gốc thứ lớp giáo điển mới không lầm tu và vọng chứng.  Đây sợ rằng bậc sơ cơ mới học đạo, trí hiểu biết c̣n cạn hẹp, chưa hiểu thấu mật  ư của Như Lai, mới nghe Phật nói các pháp như huyễn, không thật, liền sanh tâm nhàm chán, cầu chứng đắc Niết Bàn.  Tâm thủ xả sanh khởi, trái với phương hướng tu tập Phật đă dạy, dối vọng cho là phù hợp ư chỉ kinh điển là tự ḿnh trói buộc ḿnh trong nhiều kiếp.  Nếu người nào chê giới Thanh văn không thọ th́ đừng cạo tóc, mặc y hoại sắc, tác tướng Sa môn, mà nên để râu, để tóc dài, làm người thế tục, hành Bồ Tát đạo.  Nếu ham mộ tướng kia mà bỏ giới luật, giả mạo vào trong pháp môn, cùng với Tăng chúng đồng sự để yết ma bố tát, th́ gọi là Tặc trụ (tội này cùng với ngũ nghịch tội ngang nhau, sau không được thọ cụ túc giới, v́ tổn hại Phật pháp chẳng phải ít, nên cần phải suy nghĩ).

Ngài Ma Ha Ca Diếp, đệ tử lớn trong hàng Thanh văn của Phật, thọ tŕ 250 đại giới và hành 12 hạnh đầu đà, nguyện trọn đời không xả, v́ sao đức Như Lai khi sắp nhập Niết bàn, đem chánh pháp nhăn tạng phó chúc cho Ngài mà không phó chúc cho ngài Di Lặc và Văn Thù Bồ Tát?  V́ Bồ Tát đă có tâm tùy loại hóa sanh, hóa hiện không nhứt định, c̣n hàng Thanh văn là hàng trụ tŕ Tam bảo ở thế gian, nhờ đó mà Phật bảo và Pháp bảo hoằng dương, làm chỗ nương tựa cho trời, người.

Nên biết giới đức, trọng trách gánh vác chẳng phải thường, nếu coi thường giới Thanh văn, không hành tŕ th́ mất ngôi Tăng bảo.  Khi Tăng bảo mất th́ Phật bảo và Pháp bảo cũng mất luôn (kinh nói nhơn năng hoằng đạo là vậy), huống ǵ giới có công năng dứt ác sanh thiện.  Hành tŕ một giới ngăn dứt được một ác nghiệp, sanh vô lượng thiện pháp, thế nên, hai vạn năm ngàn sông phước thường chảy vào.  Hơn nữa, phải biết tâm rộng lớn th́ giới lớn, tâm hẹp th́ giới nhỏ, nên kinh Niết Bàn và Thập Bà Sa Luận khi nói về Thiên và Tụ chép rằng: “Hàng Bồ Tát Ma Ha Tát hành tŕ cấm giới, phải biết giới không có lớn nhỏ, tất cả đều do tâm kỳ vọng của người thọ tŕ.”  Trừ ngoại đạo tà kiến ở thế gian, không một pháp nào không phải là Phật pháp, như nói tất cả cây cối, hoa lá trong đại địa đều là vị thuốc, huống chi là kinh pháp giới luật do chính kim khẩu đức Như Lai nói ra.

Kinh Viên Giác chép: “Tất cả chúng sanh đều chứng Viên giác nếu gặp được bậc thiện hữu tri thức, nên nương vào họ mà thiết lập nhơn địa pháp hành.  Như vậy, tu tập liền có Đốn hoặc Tiệm; nếu gặp Như Lai Vô thượng Bồ đề, con đường chánh tu hành, căn cơ không có lớn nhỏ, đều sẽ thành Phật quả.”  Như kinh đă nói, mọi điều nghi hoặc liền tiêu tan, ngoài ra như giới thứ 24 nói rơ.