Chùa Hải-Đức in Jacksonville
|
|
KINH NHẬP LĂNG GIÀ
Hán dịch: Thiên Trúc Tam
Tạng Pháp Sư Bồ Đề Lưu Chi ---o0o---
Quyển thứ mười PHẨM THỨ MƯỜI TÁM: TỔNG
II- Nương chư Phật trụ giữ Các nguyện lực sạch trong Thọ chức và Tam muội Công đức và Thập địa Sừng thỏ và hư không Và cùng con Thạch nữ. Phân biệt pháp như trên Th́ không mà nói tên (tự danh) Nhân thế gian huân tập Chẳng phải chỗ có, không. “Năng kiến” được giải thoát Giải được “pháp vô ngă” Thật thể phân biệt tên Tha thể từ nhân sinh. Ta nói là thành tựu Các kinh thường nói thế Tự cú và danh thân... Với thắng pháp danh thân Người ngu si phân biệt Như voi sa vào bùn Thiên thừa và Phạm thừa Và với Thanh Văn thừa Như Lai và Duyên Giác Ta nói như vậy thừa. Các thừa chẳng thể hết Có tâm như vậy sinh Tâm chuyển diệt cũng không Không thừa, không kẻ thừa. Tâm phân biệt và thức Ư và với ư thức Tam hữu A lê gia Tâm tư duy danh khác. Mạng và với Noăn thức (noăn :ấm) Mạng căn A lê gia. Ư và với ư thức Là tên khác phân biệt. Tâm trụ giữ ở thân Ư thường hiểu các pháp Biết cảnh giới tự tâm Chung với thức phân biệt. Ta nói, ái là mẹ Vô minh lấy làm cha Nhận thức biết cảnh giới Vậy nên gọi là Phật. Các sử là oán gia Mọi ḥa hợp là ấm Không ở thể nối nhau Đoạn đó gọi vô gián. Hai vô ngă năo phiền Và hai thứ vô ngă Biến hóa chẳng nghĩ bàn Không sinh tử là Phật. Ư tương ứng pháp thể Pháp ta là nội thân Nếu hay thấy như vậy Đó chẳng theo vọng giác (hiểu biết hư vọng). Thật không ở các pháp Như ngu si biệt phân Nương hư vọng không pháp Làm sao được giải thoát? Sinh diệt ḥa hợp buộc Thấy ở pháp hữu vi Tăng trưởng ở hai kiến Chẳng mất pháp nhân duyên. Cây chuối, mộng và huyễn... Như vậy là thế gian Chỉ một pháp là thật Niết Bàn ĺa ư thức. Có tham và cùng sân Và có si vô nhân (không người (?)) Từ ái sinh các ấm Ấm có cũng như mơ. Những đêm nào chứng pháp? Những đêm nào Niết Bàn? (Nhập diệt) Khoảng giữa hai việc ấy Ta chẳng nói một chữ. Chứng đến pháp Nội thân Ta y như vậy nói. Phật kia và thân ta Không có nói thắng pháp, Vật thần ngă thật có Năm ấm ĺa tướng đó. Ấm thể là thật có Trong ấm đó vô ngă Mỗi mỗi thấy phân biệt Tùy phiền năo và sử. Được thế gian tự tâm Ĺa khổ được giải thoát Các nhân và nhân duyên Thế gian sinh như vậy Là bốn pháp tương ưng Đó chẳng theo ta dạy Pháp phi hữu vô sinh Ĺa hữu vô chẳng sinh Kẻ ngu sao phân biệt Từ nhân và các duyên? Ĺa bốn câu có không (?) Nếu hay thấy thế gian Bấy giờ chuyển tâm thức Được pháp vô ngă liền. Các pháp vốn chẳng sinh Vậy nên nhân duyên sinh. Các duyên tức là quả Trong quả sinh ra có. Trong quả sinh hai thứ Trong quả ứng có hai Mà trong hai không quả Trong quả chẳng thấy vật. Ĺa khỏi quán, khả quán Nếu thấy pháp hữu vi Ĺa tâm chỉ là tâm Nên ta nói duy tâm. Lượng, thật thể, h́nh tướng Ĺa khỏi thật thể duyên Cứu cánh Đệ nhất tịnh Ta nói lượng như vậy. Như giả danh là ta Không pháp thật được thấy Như vậy ấm, ấm thể Là phi thật, giả danh. B́nh đẳng có bốn thứ Tướng, nhân và cả sinh Vô ngă cũng b́nh đẳng Bốn pháp người tu hành. Chuyển tất cả các kiến Phân biệt, khả phân biệt Bất kiến và bất sinh Nên ta nói duy tâm. Không pháp cũng chẳng (phải) không (pháp) Ĺa khỏi thể có không. Chân như ĺa khỏi tâm Nên ta nói duy tâm Chân như, Không, thật tế Pháp giới và Niết Bàn Ư sinh thân và tâm Nên ta nói duy tâm. Phân biệt nương huân tập Đủ thứ sinh đủ thú Tâm chúng sinh thấy ngoài Nên ta nói duy tâm. Khả kiến không vật ngoài Thấy tâm thấy đủ thứ Của nuôi thân trụ giữ Nên ta nói duy tâm. Tất cả Bích Chi Phật Không ḥa hợp mà sinh Không các sắc tướng ngoại Tự tâm thấy ngoại pháp. Giác biết ở tự tâm Ngu phân biệt hữu vi Người ngu chẳng biết ngoài Tự tâm thấy đủ thứ. Ví như ngăn người ngu Bốn thứ pháp chấp trước Không nhân, không phân biệt Ví dụ năm thứ luận. Tự tâm thể h́nh tướng Giỏi biết là tuệ thông Nương phân biệt, khả biệt Phân biệt đến hiện sinh. Mỗi một riêng ḥa hợp Là một chủng tử nhân Mượn hai pháp là hai Nên tâm người chẳng sinh. Phân biệt tâm, tâm pháp Hai (ba?) cơi trụ ở trong Hiện sinh ở các pháp Thể kia là hư vọng. Nhân nương hiện hợp ḥa Nên có mười hai nhập Nương nhân quán hợp ḥa Ta chẳng nói là pháp. Như thấy tượng trong gương Mắt mờ thấy vừng lông Ḷng người ngu thấy vậy Là nương huân tập tâm. Chung phân biệt khả biệt Mà sinh ra phân biệt Như ngoại đạo biệt phân Không ngoại tướng như vậy. Người chẳng nhận ra dây Mà cho là con rắn Chẳng biết nghĩa tự tâm Phân biệt ở ngoại pháp. Mà Thừa với thừa thể Ĺa khỏi một trong hai Mà phân biệt ở thừa Là tội lỗi tự tâm Nương pháp nào? Thế nào? Phân biệt chẳng thể thấy Chẳng được nói, đó không Các pháp thể như vậy. Y có nên nói không Y không nên nói có Nên chẳng được nói không Cũng chẳng được nói có, Tức phân biệt biệt phân Đây chẳng phải pháp thể Làm sao thấy vô thể Mà phân biết sinh ra? Sắc thể không sắc thân Như b́nh và vải trắng... Khả kiến là pháp không Làm sao có phân biệt? Nếu phân biệt là mê Pháp hữu vi vô thỉ (th́) Pháp nào mê chúng sinh Mâu Ni (tịch mặc) là ta nói. Các pháp, pháp thể không Mà nói chỉ là tâm Ở tự tâm chẳng thấy Mà phân biệt khởi lên. Nếu phân biệt là không Như ngu si phân biệt Pháp đó, thể khác không Mà trí chẳng thể giác. Nếu Thánh có pháp kia Chẳng phải phàm (phu) phân biệt Nếu Thánh vọng có kia (pháp kia) Thánh, ngu si không biệt (không phân biệt) . Thánh nhân không mê hoặc Do được ḷng sạch trong Người ngu không tín tâm Nên phân biệt phân biệt. Như mẹ v́ các con Hư không đem quả đến “Con lấy quả chớ khóc!” (Đứa) Trẻ lấy đủ thứ quả (trái cây). Ta đối với chúng sinh Phân biệt đủ thứ quả (quả chứng) V́ họ nói đủ thứ Khiến ĺa nhóm có, không. Nếu vốn không pháp thể Phi nhân, phi tùng nhân Vốn chẳng sinh, thỉ sinh (bắt đầu cuộc sống) Cũng không thân thể ấy. Không thân cũng phi sinh Ĺa nhân duyên không chỗ Sinh diệt các pháp thể Ĺa nhân duyên chỗ không. Lược quan sát như vậy Phi xứ khác có không Từ nhân duyên sinh pháp Người trí chớ biệt phân. Thấy một thể, hai thể Ngoại đạo ngu si nói Thế gian như huyễn, mộng Chẳng từ nhân duyên sinh. Nương cảnh giới ngôn ngữ Pháp Vô Thượng Đại Thừa, Ta y Liễu nghĩa nói Mà ngu si chẳng hiểu. Ngoại đạo và Thanh Văn Nương tật đố nói pháp Với nghĩa chẳng tương ưng Do nương vọng giác (hiểu biết hư vọng) nói. Thể tướng và tướng h́nh Gọi là bốn thứ pháp Quán pháp như vậy nên Sinh ra sự phân biệt. Phân biệt một, hai... nhiều Kia tùy phạm thiên buộc Nhật, nguyệt và chư thiên Là thấy phi ngă tử (chẳng phải con của ta). Thánh nhân thấy pháp chân (chánh) Do tu hành như thật Hay chuyển tướng hư vọng Cũng ĺa khỏi khứ lai (đi, lại). Đây là ấn giải thoát Ta dạy các con Phật Ĺa khỏi pháp có không Cũng ĺa tướng đi, lại. Chuyển đủ thứ sắc thức Tất cả nghiệp nếu diệt Chẳng nên thường, vô thường Không pháp sinh thế gian. Vào lúc chuyển nên diệt Sắc ĺa khỏi chỗ kia Ĺa khỏi không lầm lỗi Nghiệp trụ A lê gia. Sắc là diệt thể tướng Hữu trong thức cũng vậy Sắc thức ḥa hợp chung Mà chẳng mất các nghiệp. Nếu đó chung ḥa hợp Mất các nghiệp chúng sinh Nếu diệt nghiệp ḥa hợp Không buộc, không Niết Bàn. Nếu chúng với đó diệt Sinh ra trong thế gian. Sắc cũng chung ḥa hợp Không sai biệt nên có Có riêng cũng không riêng Chỉ là tâm phân biệt. Các pháp thể không diệt Ĺa bè đảng có, không Pháp giả danh nhân duyên Đắp đổi không sai biệt. Như trong sắc vô thường Đắp đổi sinh các pháp Ĺa khỏi tướng đây, đó Phân biệt biết chẳng thể. Không có, có sao thành? Như trong sắc vô thường Nếu giỏi thấy phân biệt Tha lực chẳng khởi lên. Là ở pháp tha lực Cũng chẳng khởi phân biệt Phân biệt nếu diệt th́ Tức là diệt ngă pháp. Tạo tác trong pháp ta Cũng bài báng hữu, vô (có không) Là những người báng pháp Có ở trong lúc nào? Là diệt pháp luân ta Chẳng được chung lời đó Kẻ trí chẳng chung lời Chẳng chung Tỳ kheo pháp. Đă diệt phân biệt rồi Ĺa có, không vọng kiến Thấy như huyễn, mao luân Như mộng, Càn thát bà Cũng thấy như ngọn lửa... Th́ thấy với có, không. Người đó chẳng hiểu Phật Nếu người nhiếp điều đó Người đó rơi nhị biên Cũng hoại đến người khác. Nếu biết tịch tịnh pháp Là người thật tu hành. Ĺa khỏi pháp có, không Nên nhiếp lấy người đó Như có chỗ cho ra Vàng bạc các trân bảo Không nghiệp làm đủ thứ Mà chúng sinh thọ dùng. Tính chân như chúng sinh Chẳng do ở nghiệp có Chẳng thấy nên nghiệp không (có). Cũng phi tác nghiệp sinh. Các pháp không pháp thể Như Thánh nhân biệt phân Mà có ở các pháp Như ngu si phân biệt. Nếu pháp không như vậy Như ngu si phân biệt Th́ không có mọi háp Chúng sinh cũng không nhiễm. Các pháp nương tâm có Phiền năo cũng như thế Sinh tử các thế gian Tùy theo các căn chuyển. Ḥa hợp ái, vô minh Mà sinh ra các thân Người khác hằng không pháp Như ngu si phân biệt Nếu người, pháp chẳng sinh Hành giả chẳng thấy căn Nếu các pháp là không Hay tác nhân thế gian Người ngu ĺa khỏi tác Tự nhiên nên giải thoát Ngu, Thánh không sai biệt Có, không làm sao thành? Thánh nhân không pháp thể Do tu ba giải thoát Năm ấm và pháp nhân (pháp người). Có đồng, có dị tướng. Các nhân duyên và căn Ta v́ Thanh Văn nói Không nhân chỉ ở tâm Diệu sự và các địa, Chân như tịnh nội thân V́ các Phật tử nói. Đời vị lai có người Bài báng pháp luân ta Thân mặc áo cà sa Nói có, không các pháp. Không pháp nhân duyên có Là cảnh giới Thánh nhân, Phân biệt không pháp thể (Là) Kẻ vọng giác biệt phân. Đời vị lai có kẻ Ăn trấu, loại ngu si Không nhân mà tà kiến Phá hoại người thế gian. Ra đời từ vi trần Mà vi trần không nhân Chín thứ vật là thường Tà kiến nói như vậy. Từ vật sinh ra vật Công đức sinh công đức Pháp này khác với pháp Phân biệt là thể đó. Nếu vốn vô thỉ sinh Thế gian nên có gốc Ta nói, ở thế gian Không có được bản tế. Ba cơi, các chúng sinh Là vốn vô thỉ sinh Chó, (lạc) đà, lừa không sừng Ắt nên sinh không nghi. Mắt vốn vô thỉ có Sắc và thức cũng thế Chiếu, mũ, vải vân... vân... Trong bùn nên sinh ra. Ở trong vải không b́nh (cái b́nh) Trong cỏ bồ không vải Một ở trong một thật V́ sao nhân chẳng sinh? Là mạng tức là thân Là vốn vô thỉ sinh Pháp này người khác nói Ta nói các pháp khác. Ta thấu (hiểu) pháp nhân duyên Nhiên hậu ngăn tha pháp (pháp người khác) Ngăn người tà kiến kia Sau nói đến tự pháp. Lĩnh hội, ngoại đạo pháp Nhiên hậu nói chánh pháp Sợ đệ tử mê lầm Lập ra pháp có, không. Từ Thắng nhân xuất thế Ca - Tỳ - La ác ư (?) V́ đệ tử nói lên Những công đức chuyển biến. Phi thật, phi bất thật Phi tùng duyên tức duyên Do không các nhân duyên Chẳng sinh pháp không thật. Ĺa khỏi pháp có không Ĺa nhân cũng ĺa duyên Ĺa khỏi pháp sinh diệt Tự pháp ĺa khả kiến. Thế gian như huyễn, mộng Ĺa các pháp nhân duyên Lập nhân duyên th́ thấy Vậy nên phân biệt sinh. Như cầm thú thích nước Càn thát bà, mao luân Ĺa khỏi hữu vô pháp Ĺa nhân và ĺa duyên. Thấy ba Hữu không nhân Như vậy tâm tịnh thấy Những ai vô sự ấy Chỉ có ở nội tâm. Xa ĺa khỏi tâm sự Chẳng được nói duy tâm. Nếu quan sát ngoại sự Chúng sinh khởi ở tâm Làm sao tâm không nhàn? Chẳng được nói duy tâm! Chân như chỉ tâm có Người nào pháp thánh không Có và chẳng phải có Đó chẳng giải pháp ta. Pháp năng thủ, khả thủ Nếu tâm sinh như vậy thế Đây là tâm thế gian Chẳng nên nói duy tâm. Của nuôi thân trụ giữ Nếu như trong mộng sinh Nên có hai thứ tâm Mà tâm không hai tướng! Như dao chẳng tự cắt Ngón tay chẳng tự chỉ Như tâm chẳng tự thấy Việc ấy cũng như vậy. Phi tha, phi nhân duyên (chẳng phải người khác...) Phân biệt việc phân biệt Năm pháp và nhị tâm Tịch tịnh không như vậy Năng sinh và với sinh Và hai thứ pháp tướng Ư ta không năng sinh Nói pháp không tự tướng. Đủ thứ thể tướng h́nh Nếu sinh ra phân biệt Sừng thỏ và hư không... Thể đó không nên sinh. Nếu có các pháp tướng Nên có việc bên ngoài Do không phân biệt ngoài Ĺa tâm lại không pháp. Ở vô thỉ thế gian Các pháp ngoài không có Do tâm không sinh nhân Mà thấy ở ngoại nghĩa. Nếu sinh trưởng không nhân (Th́) Sừng thỏ cũng nên sinh Do không nhân tăng trưởng Làm sao phân biệt sinh? Như hiện tại không pháp Như vậy trước cũng không Không thể thể ḥa hợp (thể :h́nh thể) Sao tâm có thể sinh? Chân như, Không, Thật tế Pháp giới và Niết Bàn Tất cả các pháp sinh Là pháp Đệ Nhất Nghĩa. Phàm phu rơi có, không Nhân và duyên phân biệt Không nhân vốn chẳng sinh Chẳng biết ở ba Hữu. Ḷng thấy ở khả kiến Nhân vô thỉ dị kiến (thấy khác) Vô thỉ pháp cũng không Làm sao thấy sinh khác? Nếu không vật năng sinh Người nghèo nên nhiều của Làm sao sinh vật không? (Xin đấng) Mâu Ni v́ con nói! Đây, tất cả không tâm Mà chẳng không các pháp Mộng, huyễn, Càn thát bà Các pháp không nhân (mà) có. Không thể tướng, không sinh Không pháp (xin) v́ con nói! Pháp ḥa hợp ĺa khỏi Là chẳng thấy các pháp. Bấy giờ không vô sinh Ta nói, không pháp tướng Mộng, huyễn và mao luân Càn thát bà, thích nước... Không nhân mà thấy có Cũng vậy pháp thế gian. Như vậy ḥa hợp một Ĺa khỏi khả kiến không Chẳng phải ngoại đạo thấy Ḥa hợp không như vậy. Hàng phục nương không nhân Thành tựu với vô sinh Nếu hay thành vô sinh (Th́) Pháp luân ta chẳng diệt. Nói đến tướng vô nhân Ngoại đạo sinh kinh sợ Làm sao? V́ người nào? Các pháp đến từ đâu? Chỗ nào sinh ra pháp? Không nhân mà sinh pháp. Sinh ở trong vô nhân Mà không ở hai nhân Nếu kẻ năng trí thấy Bấy giờ, chuyển tà kiến. Nói sinh tất cả pháp Không sinh là không vật V́ quán các nhân duyên Bấy giờ chuyển tà kiến. V́ có pháp có tên V́ không pháp không tên Mà không pháp chẳng sinh Cũng chẳng (phải) đợi nhân duyên. Gọi phi y ở pháp Mà gọi phi vô thể Phi cảnh giới Thanh Văn Bích Chi Phật, ngoại đạo. Bồ tát trụ Thất địa Đó là tướng vô sinh Chuyển ở nhân duyên pháp Nên năng nghĩa của nhân. Chỉ nói y ở tâm Nên ta nói vô sinh Không nhân sinh các pháp Ĺa phân biệt phân biệt Ĺa lập ở có, không Nên ta nói vô sinh. Tâm ĺa khỏi khả kiến Cũng ĺa khỏi nhị thể Chuyển ở pháp y chỉ Nên ta nói vô sinh. Chẳng mất ngoại pháp thể Cũng chẳng thủ nội tâm Ĺa tất cả tà kiến Đây là tướng vô sinh. Như vậy không, vô tướng Tất cả nên xét xem Phi sinh không, không pháp Vốn chẳng sinh là không. Các nhân duyên ḥa hợp Diệt và cùng với sinh Ĺa khỏi pháp ḥa hợp Chẳng diệt cũng chẳng sinh. Nếu ĺa pháp ḥa hợp Lại pháp thể thật không Nhất thể và dị thể Như ngoại đạo biệt phân Có, không chẳng sinh pháp Phi thật sinh chẳng sinh. Các nhân duyên ĺa khỏi Sinh và cùng chẳng sinh Chỉ là ở danh tự Đó đây chung xích xiềng. Thể khả sinh rốt không Khóa nhân duyên sai biệt Ĺa khả sinh, vô sinh Là ĺa các ngoại đạo. Ta nói, chỉ là khóa Mà phàm phu chẳng thông Mà pháp thể khả sinh Ĺa khóa lại không biệt. Người đó nói không nhân Phá diệt hoại các khóa Rơ các vật như đèn Khóa cũng nên tỏ rơ. Biệt pháp nếu lại có Ĺa khỏi thể xích xiềng (câu móc) Cũng chẳng sinh vô thể Tự tính như hư không. Ĺa khỏi pháp câu móc Ngu si phân biệt khác Đây là dị bất sinh Pháp sở đắc Thánh nhân. Pháp đó sinh chẳng sinh Chẳng sinh là vô sinh Nếu thấy các thế gian Tức là nhờ câu móc Ai câu móc thế gian? Bấy giờ tâm được định. Ái nghiệp và vô minh... Là nội pháp câu móc Tràng, viên bùn và luân... Bốn đại là ngoại pháp. Nương vào pháp thể khác Là từ nhân duyên sinh Chẳng chỉ thể câu móc Chẳng trụ lượng A hàm. Nếu pháp khả sinh không Pháp trí nào là nhân Pháp đó chung nhau sinh Chẳng phải là nhân duyên. Nóng, ẩm, động và cứng Ngu si phân biệt pháp Câu móc này không pháp Vậy nên thể tướng không Như thầy thuốc nương bệnh Nói phép trị sai biệt Mà luận không sai biệt Nương bệnh nên sai biệt. Ta nương thân chúng sinh Mà nói bẩn phiền năo Biết các lực và căn Ta v́ người ngu nói. Sai biệt phiền năo, căn Ta dạy không sai biệt Ta có thừa duy nhất Tám Thánh đạo thanh lương. B́nh, vải, mũ và sừng... Sừng thỏ không là nhân Không nhân nương đó sinh Mà không nhân pháp đó Mà pháp đó là không Ông chẳng được thủ không! Nương có nhân nên không Nương không chẳng tương ứng Pháp có đối với không Là pháp chung đối đăi. Ít pháp có nếu nương Th́ thấy ít có pháp Không nhân thấy ít pháp Ít pháp là không nhân. Nếu đi nương pháp khác Th́ đó, đây thấy chung Như vậy lỗi vô cùng Ít cũng không ít thể. Nương sắc, cây vân... vân... Như huyễn, pháp khả kiến Như vậy việc nương dừng (y chỉ) Người thấy có đủ thứ. Huyễn sư chẳng phải sắc... Cũng chẳng phải đá, cây Ngu si thấy như huyễn Y chỉ vào huyễn thân. Y chỉ vào sự thật Nếu thấy ở việc ít Khi thấy pháp không hai Th́ sao thấy việc ít? Phân biệt, không phân biệt Mà chẳng (phải) không phân biệt Nếu phân biệt không pháp Không buộc, không giải thoát Do phân biệt không pháp Nên phân biết chẳng sinh Nếu chẳng sinh phân biệt Chẳng được nói duy tâm! Đủ thứ tâm sai biệt Trong pháp, pháp không thật Do pháp không thật nên Không giải thoát thế gian Không vật ngoài khả kiến Vọng phân biệt ngu đần Như bóng gương ḷng hiện Huân tập nhân mê ḷng. Chẳng sinh tất cả pháp Phi hữu tợ hữu sinh Tất cả đây chỉ ḷng Ĺa khỏi các phân biệt. Nói các pháp từ nhân Là người ngu, phi trí Thật thể ĺa khỏi tâm Tâm Thánh nhân th́ tịnh. Tăng Khư tỳ thế sư Lơa h́nh Bà la môn Và cả trời Tự Tại Theo tà kiến, không chân (thật). Không sinh cũng không thể Không bẩn như huyễn không Chư Phật v́ đâu nói? Đức Phật nói v́ ai? (V́) Người tu hành thanh tịnh Ĺa giác quán tà kiến. Chư Phật nói pháp chân Ta nói cũng như vậy. Nếu tất cả duy tâm Chỗ nào thế gian trụ? Pháp nào khứ, lai nương? Làm sao thấy trong địa? Như chim trong hư không Bay đi nương theo gió Chẳng trụ, chẳng xét xem Mà đi ở trên đất. Như vậy các chúng sinh Nương phân biệt gió động Đi, lại trong ḷng ḿnh Như chim bay trong không Thấy của cải nuôi thân Phật nói tâm như vậy Làm sao thấy hiện nhân? Duy tâm v́ con nói! Trụ giữ thân tư sinh (của cải nuôi thân) Hiện thấy nương huân (tập) sinh Không tu hành là sinh Hiện thấy sinh phân biệt. Phân biệt thể cảnh giới Ḷng nương cảnh giới sinh Biết đến tâm khả kiến Phân biệt chẳng lại sinh. Nếu hay thấy phân biệt Th́ ĺa giác, sở giác Danh chẳng tương hợp danh Là nói hữu vi pháp. Đây chỉ là Khả giác Danh chẳng tướng ly danh Trụ, khả tri ĺa khỏi Là nói pháp hữu vi. Đây chỉ là khả giác Danh trong danh chẳng ĺa Nếu người giác tri khác Chẳng tự giác, tha giác. Pháp bản thật năm pháp Và với tám thứ thức Hai thứ pháp vô ngă Nhiếp lấy đến Đại thừa. Nếu thấy tri, khả tri Tịch tịnh thấy thế gian Danh trong danh phân biệt Bấy giờ chẳng lại sinh. Tạo danh tự phân biệt Thấy đó chẳng lại sinh Chẳng thấy ở tâm ḿnh Vậy nên sinh phân biệt. Các tướng bốn ấm không Đó th́ không tính pháp Làm sao sắc nhiều thứ? Bốn đại khác tướng khác Xả bỏ các tướng pháp Không các đại và đại. Nếu có sắc tướng khác Làm sao ấm chẳng sinh? Nếu thấy tướng như vậy Chẳng thấy các ấm, nhập Nương cảnh, căn và thức Nên sinh tám thứ thức. Nương tướng có ba thứ Tịch tịnh không như vậy A lê gia, ư, ngă Ngă sở và cả trí. Nhân thủ lấy hai pháp Biết pháp đó tức diệt Ĺa khỏi pháp đó, đây |