Chùa Hải-Đức in Jacksonville
|
KINH ĐẠI THỪA NHẬP LĂNG GIÀ THÍCH NỮ TRÍ HẢI phụng dịch theo bản đời Đường của Ngài Thiệt Xoa Nan Đà.
QUYỂN BẢY CHƯƠNG X KỆ TỤNG - PHẦN THỨ NH̀
Nếu những bậc tu hành Không khởi các phân biệt Không lâu được tam muội Lực, thông, và tự tại Kẻ tu hành không nên Vọng chấp nhân, vi trần Thời, thắng tính, tác giả Duyên sinh ra thế gian Thế gian do phân biệt Các thứ tập khí sinh Kẻ tu hành hăy quán Các hữu như mộng huyễn Xa ĺa kiến chấp thường Phủ định và xác định Thân, tài sản, chỗ ở Không phân biệt ba cơi Không nghĩ việc ăn uống Chính niệm đoan thân trú Luôn luôn cung kính lễ Chư Phật và Bồ tát Khéo giải nghĩa kinh luật Pháp lư thú chân thật Năm pháp, hai vô ngă Lại tư duy tự tâm Pháp nội chứng thanh tịnh Các địa cùng Phật địa Hành giả tu như thế Ngồi đài sen, (được) quán đảnh Du hành khắp các nẻo Chán ghét tất cả hữu Đến g̣ mả, chỗ tịnh Tu tập các quán hạnh Có vật không nhân sinh Vọng nói ĺa đoạn, thường Lại nói ĺa hữu, vô Vọng chấp là trung đạo Vọng chấp vô nhân luận Vô nhân là đoạn kiến V́ không rơ ngoại vật Phá hoại lư trung đạo Sợ sa vào đoạn kiến Không xả pháp sở chấp Vừa xác định phủ định Vọng nói là trung đạo Khi đă rơ duy tâm Xả ĺa hết ngoại pháp Lại ĺa vọng phân biệt Như thế hợp trung đạo Duy tâm, không có cảnh Không cảnh, tâm không sinh Ta và chư Như lai Nói đó là trung đạo Dù sinh hay không sinh Tự tính, không tự tính Hữu và vô đều không Không nên phân biệt hai Không thể khởi phân biệt Kẻ ngu nói giải thoát Tâm không biết trí sinh Sao đoạn được nhị chấp V́ hiểu rơ tự tâm Đoạn được hai sở chấp Hiểu rơ nên đoạn được Không phải không phân biệt Biết rơ do tâm hiện Phân biệt sẽ không khởi V́ phân biệt không khởi Tâm chân như chuyển y Nếu thấy pháp khởi ra Ĺa các lỗi ngoại đạo Niết bàn của bậc trí Không phải là diệt hoại Ta và chư Phật nói Biết vậy sẽ thành Phật Nếu lại thêm phân biệt Tức là luận ngoại đạo Không sinh mà hiện sinh Không diệt mà hiện diệt Biến khắp muôn ức chỗ Liền hiện như trăng nước Một thân làm nhiều thân Đốt lửa cùng rưới mưa Tùy cơ hiện trong tâm Cho nên nói duy tâm Tâm cũng là duy tâm Phi tâm cũng tâm khởi Thông đạt các sắc tướng Tất cả đều duy tâm H́nh tướng Phật, thanh văn Cùng hiện tướng Duyên giác Và các h́nh sắc khác Đều nói là duy tâm Từ nơi vô sắc giới Cho đến trong địa ngục V́ chúng sinh hiện khắp Đều do tâm làm nên Các tam muội như huyễn Cùng với thân ư sinh Mười địa và tự tại Đều do chuyển y thành Kẻ ngu bị tưởng chuyển Theo thấy nghe hay biết Tự phân biệt điên đảo Bị hư luận làm động Hết thảy không, vô sinh Ta thật không Niết bàn Hóa Phật ở các cơi Nói tam thừa, nhất thừa Phật có ba mươi sáu Mỗi loại có mười hạng Tùy tâm khí chúng sinh Mà hiện ở các cơi Pháp Phật ở thế gian Cũng như tính vọng kế Tuy thấy có đủ thứ Kỳ thực không có ǵ Pháp Phật là chân Phật Ngoài ra đều (là) Hóa Phật Tùy chủng tử chúng sinh Thấy hiện thân của Phật V́ mê hoặc các tướng Nên khởi ra phân biệt Phân biệt không khác chân Tướng bất (?) nơi phân biệt Tự tính cùng thọ dụng Hóa thân cùng Hiện hóa Ba mươi sáu vị Phật Đều do tự tính thành Do giống tập huân ngoài Mà sinh ra phân biệt Không giữ cái chân thật Mà giữ cái vọng chấp Mê hoặc do nội tâm Cùng duyên ở ngoại cảnh Chỉ hai thứ ấy khởi Không có duyên thứ ba Mê hoặc nương trong ngoài Mà có ra sinh khởi Sáu mươi hai, mười tám Nên ta nói là tâm Biết chỉ có căn, cảnh Tất ĺa nơi ngă chấp (àtmagràha) Rơ tâm không cảnh giới Liền ĺa được pháp chấp Do nương nơi bản thức (àlaya) Mà có các thức sinh Do nương vào nội xứ Mà tợ h́nh hiện ngoài Kẻ ngu thường phân biệt Hữu vi cùng vô vi Đều là bất khả đắc Như hoa đốm, mao luân Như thành Càn thát bà Như huyễn như ảo tượng Không có mà thấy có Duyên khởi pháp cũng thế Ta do ba thứ tâm Giả lập căn, cảnh, ngă Mà tâm, ư, thức kia Tự tính thật không có Tâm ư cùng với thức Vô ngă có hai thứ Năm pháp và tự tính Ấy là cảnh giới Phật Nhân tập khí là một Mà thành ra ba tướng Như lấy một màu ḥa Tường vẽ thấy các h́nh Năm pháp hai vô ngă Tự tính, tâm, ư thức Ở trong chủng tính Phật Đều là bất khả đắc Xa ĺa tâm, ư, thức Lại ĺa nơi năm pháp Và ĺa nơi tự tính Đấy là chủng tính Phật Nếu nghiệp thân ngữ ư Không tu pháp bạch tịnh Chủng tính tịnh của Phật Tất ĺa nơi hiện hạnh Thần thông lực tự tại Tam muội, tịnh trang nghiêm Các thứ ư sinh thân Ấy chủng tính Phật tịnh Chỗ nội chứng vô cấu Xa ĺa các tướng nhân Bát địa và Phật địa do Như lai tính thành Viễn hành cùng Thiện thệ (Dùramgamà, Sàdhumat́) Pháp vân và Phật địa Đều là chủng tính Phật Ngoài ra đều nhị thừa Tâm Như lai tự tại Nhưng v́ hàng ngu phu Tướng tâm có sai biệt Mà nói bảy thứ địa Địa thứ bảy không khởi Lỗi lầm thân ngữ ư Sở y địa thứ tám Như mộng thấy qua sông Địa thứ tám thứ năm Hiểu rơ công xảo minh Các Bồ tát hay làm Vua trong các cơi hữu Kẻ trí không phân biệt Sinh hay là không sinh Không cùng với bất không Tự tính, vô tự tính Thảy chỉ là tâm lượng Mà thật bất khả đắc V́ hàng nhị thừa nói Đây thật, đây hư vọng Không phải v́ Bồ tát Không nên nói phân biệt Hữu phi hữu đều không Cũng không tướng sát na Pháp giả, thật cũng không Ngoài tâm không có được Hữu pháp là tục đế Vô tính đệ nhất nghĩa Mê hoặc chỗ vô tính Ấy tức là thế tục Hết thảy pháp đều không Ta v́ hàng phàm ngu Theo tục giả bày nói Nhưng đấy không chân thật Các pháp do ngôn khởi Tất có nghĩa sở hành Khi thấy do ngôn sinh Th́ các pháp không có Như ĺa tưởng không hoa Ĺa h́nh cùng không bóng Nếu tạng thức thanh tịnh Th́ sóng thức không sinh Nương pháp thân có báo Từ Báo khởi Hóa thân Đấy là Căn bản Phật Ngoài ra Hóa Phật hiện Không nên vọng phân biệt Không cùng với bất không Vọng chấp hữu và vô Lời nghĩa đều không có Kẻ phàm vọng phân biệt Đức, thật, trần làm sắc Một mảy trần không có Cho nên không cảnh giới Chúng sinh thấy tướng ngoài Đều do tự tâm hiện Cái bị thấy đă không Nên không có ngoại cảnh Như voi bị sa lầy Không thể nào di động Thanh văn trú trong định Ch́m đắm cũng như thế Nếu thấy các thế gian Do tập khí làm nhân Hữu vô đều không thấy Pháp vô ngă, giải thoát Tự tính là vọng kế (parikalpita) Duyên khởi tức y tha (paritantra) Chân như là viên thành Trong kinh ta thường nói Tâm, ư cùng với thức Phân biệt cùng biểu thị Tạng thức làm ba cơi Đều đồng nghĩa với tâm Thọ mạng, hơi ấm, thức A lại gia, mạng căn (j́vitendriyà) Ư cùng với ư thức Đều đồng nghĩa "phân biệt" Tâm hay giữ được thân Ư (manas) xét đoán suy lường Ư thức cùng năm thức Rơ cảnh giới tự tâm Hoặc thật có ngă thể Khác uẩn cùng trong uẩn Nơi đó t́m ngă thể Rốt ráo không thể được Quán thế gian mỗi mỗi Các phiền năo chính, phụ Đều do tự tâm hiện Ĺa khổ được giải thoát Tâm trí thanh văn đạt Tịch tịnh trí duyên giác Trí tuệ của Như lai Sinh khởi vô cùng tận Thật không có sắc ngoài Chỉ do tự tâm hiện Phàm phu không hay biết Vọng phân biệt hữu vi Không biết cảnh giới ngoài Các thứ đều do tâm Kẻ ngu dùng nhân, dụ Lập thành bốn cú nghĩa Bậc trí tất hiểu rơ Cảnh giới tự tâm hiện Không dùng tôn nhân dụ Lập ra các cú nghĩa Phân biệt, bị phân biệt Đều là tướng vọng kế Y chỉ nơi vọng kế Mà khởi thêm phân biệt Xoay chuyển nương lẫn nhau Đều do một tập khí Cả hai đều là khách Không (phải) tâm chúng sinh khởi Ở yên trong ba cơi Phân biệt tâm, tâm sở Tợ cảnh giới hiện ra Là tự tính vọng kế H́nh bóng cùng chủng tử Hợp thành mười hai xứ Sở y, sở duyên hợp Nói có vật được sinh Cũng như bóng trong gương Mắt ḷa thấy mao luân Tập khí che cũng thế Kẻ ngu khởi vọng kiến Nơi cảnh tự phân biệt Mà khởi thêm phân biệt Ngoại cảnh không thể có Như ngu không biết dây Lầm cho dây là rắn Không hiểu tự tâm hiện Vọng phân biệt cảnh ngoài Như thế tự thể dây Tính nhất dị đều ĺa Chỉ v́ tâm mê lầm Vọng khởi phân biệt dây Khi vọng kế phân biệt Tính vọng kế không c̣n Như các vật cũng vậy Chỉ do phân biệt sinh Sở kiến tuyệt phi hữu Từ vô thỉ mê hoặc Khởi phân biệt hữu vi Pháp nào khiến mê hoặc Nguyện Phật v́ con nói Các pháp không tự tính Chỉ do tự tâm hiện Không hiểu rơ tự tâm Cho nên phân biệt sinh. Như kẻ ngu phân biệt Vọng kế thật không có Có những cái khác thế Mà kẻ ngu không biết Những cái bậc thánh có Kẻ ngu không biết đến Nếu thánh cũng như phàm Th́ thánh có hư vọng V́ tâm thánh vốn tịnh Nên không có mê hoặc Tâm phàm ngu không tịnh Nên có vọng phân biệt Như mẹ bảo con thơ: "Thôi con đừng khóc nữa Trên trời có quả rơi Xuống nhiều cho con bắt" Ta v́ chúng sinh nói Các thứ quả tưởng tượng Khiến chúng vui ham theo Pháp thật ĺa hữu vô Các pháp trước không có Các duyên không ḥa hợp Vốn không sinh mà sinh Tự tính vốn không có Pháp chưa sinh không sinh Ĺa duyên, không chỗ sinh Pháp hiện sinh cũng thế Ĺa duyên không thể có Quán thật chỉ duyên khởi Không hữu cũng không vô Không hữu vô cùng sinh Kẻ trí không phân biệt Kẻ ngu phu ngoại đạo Vọng nói tính nhất, dị Không hiểu lư duyên khởi Thế gian như huyễn mộng Đại thừa ta vô thượng Siêu việt nơi danh ngôn Nghĩa ấy rất rơ ràng Mà kẻ ngu không biết Thanh văn cùng ngoại đạo Thuyết họ đầy xan lẫn Khiến nghĩa đều biến đổi Tất cả do vọng kế Các tướng cùng tự thể H́nh trạng cùng với tên Bốn thứ ấy duyên nhau Mà khởi các phân biệt Chấp do Phạm, Tự tại Một thân (Suz. nhân) cùng nhiều thân Cùng nhật nguyệt vận hành Kẻ ấy không (phải) con ta Đầy đủ các Thánh kiến Thông đạt pháp như thật Khéo léo chuyển các tưởng Đến bên kia bờ thức Dùng pháp giải thoát này Ĺa hẳn nơi hữu vô Cùng ĺa chỗ khứ, lai Đấy (là) con trong pháp ta Nếu sắc, thức chuyển diệt Các nghiệp bị hư hoại Tức là không sinh tử Cũng không thường, vô thường Nhưng khi chúng chuyển diệt Tuy xả ly sắc xứ Nghiệp vẫn ở tạng thức Ĺa lỗi lầm hữu vô Sắc thức tuy chuyển diệt Mà nghiệp không hoại mất Khiến ở trong các cơi Sắc thức lại tương tục Nếu các chúng sinh kia Nghiệp đă khởi bị hoại Ấy là không sinh tử Lại không có Niết bàn Nếu nghiệp cùng sắc thức Đồng thời mà diệt hoại (Nếu) trong sinh tử có sinh Sắc, nghiệp sẽ không khác Sắc, tâm và phân biệt Không khác, không không khác Kẻ ngu nói diệt hoại Mà thật ĺa hữu, vô Duyên khởi cùng vọng kế Xoay vần không tướng riêng Như sắc với vô thường Xoay chuyển sinh cũng thế Đă ĺa khác, không khác Vọng kế không thể biết Như sắc tính vô thường V́ sao nói có không Khéo đạt chỗ vọng kế Duyên khởi tất không sinh Do thấy chỗ duyên khởi Vọng kế tức chân như Nếu diệt tính vọng kế Tức là hoại pháp nhăn Bèn ở trong pháp ta Xác định cùng phủ định Các hạng người như thế Thường hủy báng chính pháp Kẻ kia cùng phi pháp Diệt hoại pháp nhăn ta Bậc trí không giao thiệp Lại bỏ việc tỳ kheo V́ phá hoại vọng kế Nên xác định, phủ định Nếu theo sự phân biệt Khởi các kiến hữu, vô Họ như huyễn, mao luân Mộng, nắng cùng Càn thành Họ không học Phật pháp Không nên cùng ở chung Đă tự do hai biên (?) Lại c̣n phá người khác Nếu có bậc tu hành Quán nơi tính vọng kế Vắng lặng ĺa hữu vô Phật tử nên cùng ở Như thế gian có chỗ Sinh vàng, ngọc ma ni Chỗ kia không tạo tác Mà chúng sinh thọ dùng Nghiệp tính cũng như vậy Xa ĺa các thứ tính Nghiệp được thấy vốn không Mà vẫn sinh các nẻo Như chỗ thánh biết rơ Pháp đều không có ǵ Do kẻ ngu phân biệt Pháp vọng kế phi không V́ kẻ ngu phân biệt Pháp ấy không có vậy Đă không hết thảy pháp Chúng sinh không tạp nhiễm V́ có pháp tạp nhiễm Bị vô minh, ái buộc Hay khởi thân sinh tử Các căn tất đầy đủ Nếu nói ngu phân biệt Pháp này đều là không Th́ không các căn sinh Kẻ tu hành không chơn Nếu không có pháp này Vẫn làm nhân sinh tử Kẻ ngu không đợi tu Tự nhiên mà giải thoát Nếu không có pháp kia Phàm Thánh làm sao phân Lại tất không Thánh nhân Tu hành ba giải thoát Các uẩn cùng nhân, pháp Tự, cọng tướng sáu tướng Các duyên và các căn Ta v́ Thanh văn nói Duy tâm và không nhân Các địa và tự tại Chân như tịnh nội chứng Ta v́ Bồ tát nói Đời vị lai sẽ có Kẻ mặc áo ca sa Vọng nói chỗ hữu, vô Hủy hoại chính pháp ta Pháp duyên khởi vô tính Là lănh vực chư Thánh Tính vọng kế không vật (Bhàva) Kẻ suy tính phân biệt Vị lai có kẻ ngu Các ngoại đạo Kiệt ma (Kanabhuj) Nói ra luận vô nhân (Asatkàryavàda) Ác kiến hoại thế gian Vọng nói các thế gian Đều do vi trần sinh Mà trần kia không nhân Chín món thật vật thường Do thật mà sinh thật Do đức mà sinh đức Pháp tính khác với đây Hủy báng nói không có Nếu vốn không mà sinh Thế gian có nhân đầu Sinh tử không nhân đầu Ấy là pháp của ta Hết thảy vật ba cơi Vốn không mà sinh ra Th́ lừa, chó sinh sừng Đáng lẽ không nghi ngại Noăn sắc thức vốn không Mà nay mới có sinh Áo, mũ, đệm các thứ Lẽ ra do bùn sinh Trong vải không có đệm Trong cây bồ cũng không Trong mỗi duyên sao không Đều sinh ra cái đệm Nếu mạng và thân kia Vốn không mà nay sinh Như ta đă nói trước Đấy là luận ngoại đạo Tôn ta nói trước kia V́ để ngăn ư ấy Khi ngăn ư ấy rồi Sau mới nói tên ḿnh Sợ rằng chúng đệ tử Mê chấp tôn hữu vô Nếu ta v́ kẻ ấy Trước nói luận ngoại đạo (t́thavàda) Ác tuệ Ca tỳ la V́ các đệ tử nói Thắng tính sinh thế gian (Bị cầu na) chuyển biến V́ các duyên không có Không đă sinh, hiện sinh Các duyên đă là không Không sinh không bất sinh Tôn ta ĺa hữu vô Lại ĺa các nhân duyên Sinh diệt và sở tướng Hết thảy đều xa ĺa Thế gian như huyễn mộng Nhân duyên đều vô tính Thường quán sát như vậy Phân biệt tuyệt không khởi Nếu quán được các hữu Như ảo tượng, mao luân Lại như Tầm hương thành Thường ĺa hữu ĺa vô Nhân duyên đều xả ly Khiến tâm được thanh tịnh Nếu nói không ngoại cảnh Mà chỉ có tâm thôi Không cảnh tức không tâm Làm sao thành duy thức (cittamàtra) Nếu có cảnh sở duyên Tâm chúng sinh khởi lên Không nhân tâm không sinh Làm sao thành duy thức Chân như cùng duy thức Là lănh vực chúng Thánh Có danh ngôn không thật Không giải được pháp ta Do năng thủ sở thủ Mà tâm có sinh khởi Tâm thế gian như vậy Nên không là duy tâm H́nh bóng, thân, tài, đất Như huyễn, do tâm sinh Tâm tuy phân làm hai Mà tâm không hai tướng Như dao không tự cắt Như ngón không tự sờ Tâm không tự thấy ḿnh Việc ấy cũng như vậy Không có h́nh tượng xứ Tất không y tha khởi Tính vọng kế cũng không Năm pháp hai tâm diệt Năng sinh và sở sinh Đều là tướng tự tâm Mật ư nói năng sinh Mà thật không tự sinh Các thứ cảnh h́nh trạng Nếu do tưởng tượng sinh Hư không cùng sừng thỏ Đáng cũng thành cảnh tướng Tợ cảnh do tâm khởi Cảnh ấy không phải vọng Nhưng cảnh vọng kế kia Ĺa tâm không thể có Trong vô thỉ sinh tử Cảnh giới đều không có Tâm không có chỗ khởi Làm sao thành h́nh tượng Nếu vật không có (mà) sinh Sừng thỏ đáng cũng sinh Không thể vô vật sinh Mà khởi ra phân biệt Như bóng gương không có Th́ trước kia cũng không |