Chùa Hải-Đức in Jacksonville
|
|
KINH ĐẠI THỪA NHẬP LĂNG GIÀ THÍCH NỮ TRÍ HẢI phụng dịch theo bản đời Đường của Ngài Thiệt Xoa Nan Đà.
QUYỂN MỘT
CHƯƠNG I -- VUA LĂNG GIÀ THƯA HỎI CHƯƠNG II -- THỰC HÀNH TẤT CẢ PHÁP
CHƯƠNG I: VUA LĂNG GIÀ THƯA HỎI
Như vậy tôi nghe, vào thời gian Phật cùng chúng đại tỳ kheo và đại Bồ tát ở trong thành Lăng già trên đỉnh núi Ma la dà bên biển lớn. Các vị này đều đă thông đạt năm pháp, ba tự tính, tám thức, hai vô ngă, hiểu rơ nghĩa cảnh giới do tự tâm hiện, dạo chơi trong vô số tam muội, tự tại, mười lực và sáu thần thông. Tuy hiện đủ loại h́nh và phương tiện để điều phục chúng sinh, kỳ thực các Ngài xuất thân từ các cơi Phật, được chư Phật lấy nước cam lộ rưới đầu. Bồ tát Đại Huệ là bậc thượng thủ. Bấy giờ đức Thế Tôn thuyết pháp trong cung vua Rồng biển đă quá bảy ngày. Ngài từ trong biển lớn đi ra, có vô lượng trời rồng, Phạm vương, Đế thích - những vị hộ tŕ thế gian- cung đón. Đức Như lai đưa mắt nh́n thành Lăng già trên đỉnh Ma la dà sơn, mỉm cười nói: "Các bậc Ứng chính đẳng giác ngày xưa cũng đều ở trong thành này diễn nói Pháp mà thánh trí đă chứng. Đó không phải cảnh giới ngoại đạo có thể suy lường, không phải cảnh giới của thanh văn duyên giác. Nay Như lai cũng khai thị pháp này cho La bà vương (Ràvana)." Khi ấy La bà na, vua loài Dạ xoa, nhờ thần lực Phật, nghe được âm thanh lời ngài, từ xa biết Như lai đă ra khỏi cung vua Rồng biển, có các vị hộ thế trời, rồng, Phạm vương, Đế thích vây quanh. Nh́n sóng biển, Như lai quán sát A lại gia thức của chúng sinh không khác ǵ biển lớn bị gió hoàn cảnh thổi động, làm cho sóng thức nổi dậy. La bà na ḷng vui mừng nói: "Ta hăy đến thỉnh đức Như lai vào thành Lăng già, để ta cùng các loài trời, người trong đêm tối dài được lợi ích lớn." Nói xong cùng quyến thuộc đi xe hoa đến chỗ Phật, đến nơi xuống xe nhiễu quanh Phật ba ṿng, trỗi các thứ âm nhạc để cúng dường Như lai. Các nhạc khí đều nạm ngọc nhân đà la màu xanh, ngọc lưu ly..., được bọc trong các thượng y vô giá. Âm thanh vi diệu mỹ lệ, tiết điệu ḥa nhịp theo lời kệ ca ngợi Phật: Tâm Phật là kho tàng chân lư Vô ngă, ĺa kiến chấp nhiễm ô Nguyện Phật v́ chúng con diễn nói Chỗ sở tri thánh trí đă tường Báo thân do thiện pháp tích thành Trí giác ngộ nên thường an lạc Ngưỡng mong đấng Biến hóa tự tại Vào thành Lăng già diễn pháp sâu Chư Phật cùng Bồ tát xưa lâu Cũng từng ở thành này nói pháp Chúng con loài dạ xoa hết thảy Nguyện một ḷng nghe Pháp cao sâu. La bà na, chúa tể thành Lăng già, sau khi đă ca bài tán Phật theo âm điệu Đô ta ka (Totaka), c̣n hát bài tụng như sau: Thế Tôn trong bảy ngày Ở trong biển Ma kiệt Sau ra khỏi Long cung Ung dung lên bờ này Con và các thể nữ Cùng quyến thuộc dạ xoa Thân dà, Xa Thích na Cùng các vị thông tuệ Đều sẽ dùng thần lực Mà đến chỗ Như lai Lần lượt xuống xe báu Lễ kính đức Thế tôn Lại nhờ uy thần Phật Trước Phật xưng tên ḿnh: Con là vua La sát La bà na mười đầu Nay đi đến chỗ Phật Xin Phật thâu nhận con Và tất cả chúng sinh Ở trong thành Lăng già Vô lượng Phật quá khứ Đều lên đỉnh núi báu Trong thành Lăng già này Mà nói pháp sở chứng Thế tôn cũng nên vậy Ở núi báu trang nghiêm Chúng bồ tát vây quanh Xin nói pháp thanh tịnh Chúng con nhân ngày nay Cùng chúng ở Lăng già Một ḷng cung kính nghe Pháp tự chứng ly ngôn Con nhớ đời quá khứ Vô lượng các đức Phật Có Bồ tát nhiễu quanh Cũng nói kinh Lăng già Kinh nhập Lăng già này Phật xưa đều khen ngợi Nguyện Phật nay cũng thế V́ chúng sinh khai diễn Xin Phật v́ xót thương Vô lượng chúng Dạ xoa Hăy vào thành nghiêm báu Nói pháp môn vi diệu Thành Lăng già đẹp này Trang hoàng bằng châu báu Vách không bằng đất, đá Lưới giăng bằng trân bảo Các chúng Dạ xoa đây Xưa từng cúng dường Phật Tu hành ĺa các lỗi Thường rơ chỗ chứng tri Các dạ xoa nam nữ Khao khát pháp đại thừa Tự tin theo Pháp ấy Và thích khiến người tin Nguyện xin đấng vô thượng V́ các chúng La sát Và quyến thuộc Lung nhĩ Mà đến nơi thành này Con từ xưa đến nay Siêng cúng dường chư Phật Nguyện nghe pháp tự chứng Đạo đại thừa cứu cánh Xin Phật thương xót con Và các chúng Dạ xoa Cùng các hàng con Phật Mà vào trong thành này Đây cung điện thể nữ Và các chuỗi anh lạc. Vườn vô ưu khả ái Xin Phật thương nạp thọ Để phụng Phật, Bồ tát Không ǵ con không xả Ngay cả đến thân này Xin Phật thương nạp thọ. Đức Thế Tôn nghe lời trên, liền dạy: "Này Dạ xoa vương, các đấng đại đạo sư đời quá khứ đều thương xót ngươi, nhận lời thỉnh cầu của ngươi mà đến núi báu này, nói pháp tự chứng. Chư Phật đời vị lai cũng thế. Đây là chỗ ở của những bậc tu thiền quán sâu xa đă biến hiện ra pháp lạc. Ta và các bồ tát v́ thương xót sẽ nhận lời cầu thỉnh của ngươi." Nói xong, Phật ngồi im lặng. Vua La bà na liền đem xe kết hoa đẹp của ḿnh để cúng Phật. Phật ngồi lên xe, vua và các bồ tát tuần tự theo sau. Có vô lượng thể nữ ca hát tán thán để đón mừng Phật vào thành. Sau khi vào thành, vua La bà na cùng quyến thuộc lại dùng các thứ vi diệu để cúng dường. Đồng nam đồng nữ trong chúng Dạ xoa lấy lưới báu cúng dường Phật, vua La bà na cúng Phật và Bồ tát các chuỗi anh lạc đeo cổ. Sau khi nhận các phẩm vật cúng dường, chư vị Bồ tát lần lượt nói cảnh giới cao thâm mà các ngài đă thân chứng. La bà na vương và quyến thuộc lại cúng dường bồ tát Đại huệ và khuyến thỉnh như sau: Tôi và các đại sĩ Muốn hỏi đức Thế Tôn Các cảnh giới tự chứng Của tất cả Như lai Tôi cùng chúng dạ xoa Và các bồ tát này Một ḷng nguyện xin nghe Nên đồng thanh khuyến thỉnh Ngài là bậc tối thắng Trong các bậc tu hành Và thuyết pháp lợi sinh Tôi một ḷng cung kỉnh Xin ngài v́ chúng tôi Mà thỉnh vấn như lai Pháp tự chứng thanh tịnh Cứu cánh vào Phật địa Ĺa tất cả lầm lỗi Của ngoại đạo, nhị thừa. Bấy giờ trong núi ấy, đức Thế Tôn dùng thần lực hóa ra muôn ngàn núi báu, lại dùng trăm ngàn vạn ức báu vật của chư thiên mà trang hoàng. Trên đỉnh mỗi ngọn núi đều có thân Phật hiện, trước mỗi thân Phật đều có vua La bà na và hội chúng. Tất cả cơi nước trong mười phương đều xuất hiện, trong mỗi cơi nước đều có đức Như lai, trước mỗi đức Phật đều có vua La bà na cùng quyến thuộc, vườn A du già, thành Lăng già trang nghiêm... Mỗi nơi đều có bồ tát Đại huệ thưa hỏi Phật. Phật khai thị cảnh giới tự chứng cho chúng hội. Sau khi dùng muôn ngàn âm thanh vi diệu để diễn nói kinh này, Phật cùng chúng Bồ tát tan biến vào hư không. Khi chỉ thấy c̣n lại một ḿnh ḿnh trong cung điện, vua La bà na nghĩ: "Vậy, người đang nh́n mọi sự đây là ai? Ai đă nghe thuyết pháp? Ai thấy? Thấy ǵ? Phật và rừng núi báu trong thành biến đi đâu? Đấy là mộng chăng? Hay là ảo giác? Hay cảnh biến hóa của loài càn thát bà? Hay v́ ta nhặm mắt? Hay là nắng quán đèn ḷa? Đây là ảo mộng, như con của thạch nữ? Như ảo giác ṿng lửa quay?" Lại nghĩ: "Bản tính của vạn pháp đều như vậy, chỉ là cảnh giới do tự tâm phân biệt. Kẻ phàm phu mê hoặc không thể hiểu thấu. Kỳ thực, không có thấy và bị thấy, không người năng thuyết cũng không pháp sở thuyết. Thấy Phật nghe Pháp đều là phân biệt. Những người thấy các pháp như trên không thể thấy được Phật, không sinh phân biệt mới gọi là thấy Phật." Khi ấy chúa tể thành Lăng già bỗng nhiên khai ngộ, ĺa ô nhiễm của tự tâm, chứng được vạn pháp chỉ do tâm biến hiện; an trú cảnh giới vô phân biệt. Nhờ những thiện căn đă trồng lâu xa về trước, ông được cái thấy "như thật" đối với hết thảy pháp. Ông không c̣n lệ thuộc người khác để giác ngộ, có thể dùng trí quán sát các pháp một cách sáng suốt, xa ĺa hết thảy ức đoán, tà giải, trở thành một bậc thầy trong các bậc đại tu hành. Có năng lực một thân hiện ra nhiều thân, thấy suốt các phương tiện, biết rơ đặc điểm từng giai đoạn tu hành (địa), thường ưa xa ĺa tâm, ư, ư thức, cắt đứt ba kiến "tương tục", ĺa chấp trước của ngoại đạo. Tự tâm ông biết ḿnh đă vào kho tàng Như lai, hướng đến Phật địa. La bà na bỗng nghe giữa hư không trong cung điện có tiếng nói: "Hay thay, đại vương ! Như chỗ ông đă học, các bậc tu hành cũng học như thế, thấy như thế. Tất cả các đức Như lai cũng thấy như thế. Nếu thấy (các pháp) khác thế, là đoạn kiến. Ông phải xa ĺa tâm, ư, ư thức, nên siêng quán sát hết thảy các pháp, nên tu nội hạnh, chớ đắm trước ngoại cảnh, chớ sa vào những pháp tu, những lối giải thích, những cảnh giới, những phép định của nhị thừa ngoại đạo. Chớ ham thích bàn chơi, đàm tiếu, chớ khởi các kiến chấp của phái Vi đà (chấp tự ngă), chớ say đắm an nhàn của vương vị, chớ ở trong những định thuộc về lục định v.v.. Làm như thế là thực hành hạnh của bậc chân tu, có thể phá biện luận của người khác, có thể diệt trừ ác kiến, có thể xả bỏ hết thảy ngă kiến chấp trước, có thể dùng diệu tuệ để chuyển thức sở y, có thể tu đạo đại thừa của Bồ tát, có thể thâm nhập cảnh giới tự chứng của Như lai. Ông nên siêng tu học thêm như vậy, để các pháp sở đắc càng thêm thanh tịnh. Hăy khéo tu Tam muội và Tam ma bát để (samàpatti), chớ tham đắm cảnh giới mà nhị thừa, ngoại đạo cho là vui thù thắng, v́ phân biệt theo phàm phu. Ngoại đạo chấp ngă kiến, có ngă tướng, vướng mắc Thật (dravya), Đức, (Cầu na, guna). Nhị thừa thấy thật có "vô minh duyên hành" nên từ "Tính không" sinh loạn tưởng phân biệt. Lăng già vương, Pháp này là đạo đại thừa rất thù thắng, có thể khiến ông thành tựu "Thánh trí tự chứng", được thọ đời tốt đẹp trong ba cơi. Lăng già vương, các ngoại đạo chấp trước ngă, lập các dị luận, không thể diễn nói xa ĺa chấp trước, chỉ thấy nghĩa "hai" của thức tính. Hay thay, Lăng già vương, hăy tư duy nghĩa này như ông tư duy, tư duy như thế chính là thấy Phật." Bấy giờ Lăng già vương lại nghĩ: "Xin cho con lại được chiêm ngưỡng Như lai. Như lai Thế tôn vốn tự tại trong các phép quán, ĺa pháp ngoại đạo, có thể diễn nói cảnh giới của Thánh trí tự chứng, vượt ngoài ứng thân hóa thân, an trú trong chính định của Như lai, chứng nhập được pháp lạc tam muội. Ngài là đấng "Đại quán hạnh sư", là đấng Đại ai mẫn, đă đốt hết lửa phiền năo và phân biệt, được các chúng Phật tử vây quanh, đấng hiểu thấu tâm chúng sinh, đấng Biến khắp các cơi, đấng Nhất thiết trí, xa ĺa hết thảy sự tướng phân biệt. Con nay xin được thấy lại năng lực đại thần thông của Như lai. Khi được thấy Như lai, nguyện cho con đạt được pháp chưa đạt, không thối chuyển pháp đă đạt, ĺa các phân biệt, an trú trong pháp lạc tam muội, tăng trưởng đầy đủ Như lai trí." Đức Phật biết Lăng già vương sẽ chứng Vô sinh pháp nhẫn, v́ thương xót nên lại thị hiện sắc thân, biến mọi vật trở lại như trước. Vua mười đầu thấy lại những ǵ đă từng thấy: rất nhiều sơn thành trang hoàng bằng đủ thứ châu báu, trong mỗi thành đều có đức Phật 32 tướng nghiêm thân, lại tự thấy thân ḿnh và Đại huệ ở trước mỗi đức Phật, có chúng Dạ xoa vây quanh, đang nói các pháp sở hành của bậc Tự chứng trí, lại thấy cơi nước của mười phương Phật. Tất cả các sự vật đều hiện như trước không sai khác. Bấy giờ đức Thế tôn từ xa dùng tuệ nhăn quan sát khắp hội chúng rồi bỗng vui mừng cười lớn như sư tử vương. Từ giữa đôi lông mày, đùi vế, hông, lưng, cổ cho đến từ vai, cánh tay, dấu chữ vạn, từ mỗi lỗ chân lông trên thân ngài, đều phóng muôn vàn hào quang đẹp, như ráng cầu vồng, như tia mặt trời, lại như ngọn lửa mạnh nổi lên vào thời kiếp tận. Lúc ấy trong hư không, Phạm vương, Đế thích, Tứ thiên vương từ xa cũng thấy Như lai ngồi như núi Tu di trên đỉnh Lăng già sơn vui mừng cười lớn. Chư Bồ tát và các chúng loài trời đều nghĩ: "Như lai Thế Tôn vốn tự tại trước mọi pháp, nay bởi nhân duyên ǵ bỗng lại vui mừng cười lớn, thân tỏa hào quang, lặng im không động, an trú trong cảnh tự chứng, nhập pháp lạc tam muội, như sư tử vương nh́n quanh bốn hướng, nh́n La bà na, nghĩ đến các pháp như thật?" Khi ấy Bồ tát Đại huệ trước v́ lời thỉnh của La bà na, sau v́ biết rơ tâm các Bồ tát trong hội chúng, lại biết chúng sinh đời sau những kẻ bám vào ngữ ngôn văn tự, ôm giữ hạnh nhị thừa ngoại đạo sẽ mê lầm nghĩ: "Thế Tôn đă xa ĺa cảnh giới của thức phân biệt, thế th́ v́ cớ ǵ mà vui mừng cười lớn?" Chính v́ muốn trừ nghi hoặc cho hạng này, nên Bồ tát hỏi Phật. Phật đáp: " Hay thay, Đại huệ! Hay thay, Đại huệ ! Ông quán sát thế gian, v́ thương xót chúng sinh bị trói buộc trong các quan niệm sai lầm về ba đời quá khứ, hiện tại, vị lai, muốn cho chúng sinh được khai ngộ mà hỏi ta. Những người trí thường đặt câu hỏi v́ lợi ḿnh lợi người như vậy. Này Đại huệ, Lăng già vương đây đă từng hỏi tất cả các đức Như lai trong quá khứ hai nghĩa Ứng cúng và Chính đẳng giác (A la hán và Phật), nay cũng muốn hỏi, và trong đời vị lai cũng thế. Các chỗ khác nhau giữa hai nghĩa ấy, hết thảy nhị thừa, ngoại đạo đều không thể suy lường." Đức Như lai biết Lăng già vương muốn hỏi nghĩa này nên dạy: Này Lăng già vương, ông muốn hỏi ǵ cứ hỏi. Ta sẽ phân biệt giải thích cho ông, thỏa măn mong cầu của ông, khiến ông hoan hỷ, có thể dùng trí tuệ tư duy quán sát để ĺa phân biệt, biết rơ các giai đoạn tu hành. Ông sẽ tu tập đối trị các pháp, chứng nghĩa chân thật, nhập pháp lạc tam muội, được chư Phật nhiếp thọ, an trú trong pháp lạc xa ma địa (samapatthi), xa ĺa lỗi lầm của định nhị thừa, an trú các cấp bực Bồ tát: Bất động, Thiện huệ, Pháp vân. Ông sẽ như thật rơ biết các pháp vô ngă, sẽ được ngồi trong hoa sen báu, được chư Phật lấy nước tam muội rưới đầu, được vô số Bồ tát ở trong sen báu vây quanh, cùng chúng hội đều hướng nh́n ông. Các cảnh giới như thế không thể nghĩ bàn. Ông sẽ sinh khởi các hạnh Nhất hạnh và Nhất phương tiện. Ông quyết định sẽ đạt những điều bất tư ngh́ như thế trong quả vị Như lai, sẽ tùy cơ cảm chúng sinh mà ứng hiện thân tướng. Những ǵ ông sẽ đạt, hàng nhị thừa, ngoại đạo, Phạm vương, Đế thích, Tứ thiên vương đều chưa từng thấy. Được Phật cho phép, Lăng già vương rời chỗ ngồi trên đỉnh núi báu thanh tịnh trang nghiêm như hoa sen lớn đứng dậy, với chúng thể nữ vây quanh, hóa ra vô lượng hoa đủ màu, các loại hương như hương bột, hương thoa, tràng phan, dù lọng, quang bôi (?), anh lạc cùng các đồ trang sức thắng diệu khác thế gian chưa từng nghe. Lại biến hóa ra rất nhiều nhạc khí mà dục giới có, các nhạc khí vượt hơn nhạc khí cơi trời, rồng, nhạc thần, cùng hết thảy thế gian, các nhạc khí mà chư Phật mười phương đều thấy. Lại hóa các lưới báu che khắp chư Phật, Bồ tát. Lại hiện các thứ y phục mỹ lệ, dựng tràng phan để cúng dường Như lai. Xong La bà na liền bay lên hư không cách bảy cây đa la, rưới xuống các lễ vật cúng dường, trỗi nhạc, rồi từ trên không xuống, ngồi ở đỉnh núi sen báu tỏa ánh sáng như mặt trời, vui mừng cung kính bạch: "Con nay muốn hỏi Như lai hai nghĩa. Hai nghĩa này con đă từng hỏi các đức Như lai Ứng chính đẳng giác trong quá khứ. Chư Phật xưa cũng đă nhân lời cầu thỉnh của con mà tŕnh bày. Nay con muốn hỏi lại nghĩa ấy, xin đức Như lai nói rơ cho con. Bạch Thế tôn, hai nghĩa ấy được các đức Như lai biến hóa chứ không phải Phật căn bản (Phật Pháp thân) tuyên thuyết. Phật căn bản th́ chỉ nói cảnh giới của pháp lạc tam muội chứ không nói những cảnh giới do hư vọng phân biệt. Hay thay đức Thế Tôn tự tại đối với các pháp, xin ngài rũ ḷng thương xót nói hai nghĩa này, hết thảy hàng con Phật đều có ḷng muốn nghe." Khi ấy đức Thế Tôn bảo vua: Ông cứ hỏi, ta sẽ nói cho. Vua Dạ xoa liền mang thêm các thứ mũ báu và anh lạc, các đồ trang sức để trang nghiêm thân rồi nói: Như lai thường dạy: "Pháp c̣n phải xả, huống hồ phi pháp." Bạch Thế Tôn, làm sao xả hai thứ pháp ấy? Pháp là ǵ, phi pháp là ǵ? Làm sao có hai pháp để xả? Có hai pháp tức đă sa vào tướng phân biệt giữa hữu thể và vô thể (svabhàvàbhàva) giữa thị và phi (abhautibhautika). Tất cả đấy đều là phân biệt, không thể biết được tướng vô sai biệt của A lại da thức. Như khi thấy ṿng lông (mao luân) trong hư không mà cho có thật, (sự phân biệt) đó không phải là cảnh giới của tịnh trí. Pháp tính vốn như vậy, làm sao có thể xả (pháp hay phi pháp)? Phật dạy: Lăng già vương, ông không thấy sự tán hoại vô thường của các vật như b́nh, v.v..hay sao ? Phàm phu thấy những pháp ấy liền sinh phân biệt. Ông không biết sự khác nhau giữa pháp và phi pháp sao ? Đấy là do phàm phu phân biệt, không phải là cái thấy của bậc chứng trí. Phàm phu sa vào sự phân biệt tướng, các bậc đă chứng th́ không thế. Này Lăng già vương, như khi thiêu đốt cung điện, vườn rừng, thấy các ngọn lửa, tính lửa vẫn là một, nhưng do sức cháy của các nơi phát ra ngọn lửa mà lửa có dài ngắn to nhỏ khác nhau. Sao ông không biết tướng sai biệt giữa pháp và phi pháp? Này Lăng già vương, như một hạt giống sinh mộng, thân nhỏ, cành, lá cho đến hoa quả, sai biệt vô cùng; ngoại pháp như thế, nội pháp cũng vậy. Do vô minh làm duyên sinh uẩn, giới, xứ cùng hết thảy pháp trong ba cơi, thọ sinh vào các đường, có khổ lạc, tốt, xấu, nói, im, đi, nghỉ đều khác nhau. Lại như tướng của các thứ chỉ là một, song theo cảnh giới mà có trên, giữa, dưới, uế, sạch, thiện, ác v.v.. không đồng. Này Lăng già vương, không những các pháp như trên có sai biệt, mà các bậc tu hành khi tu quán hạnh cũng thấy trong các hạnh nội chứng của ḿnh có các tướng sai biệt, huống chi pháp với phi pháp mà không phân biệt hay sao? Này Lăng già vương, pháp cùng phi pháp khác nhau, nên biết đấy là do phân biệt các tướng mà ra. Lăng già vương ! Pháp là ǵ? Ấy là những pháp mà nhị thừa ngoại đạo do hư vọng phân biệt cho là có, thật, làm nhân cho các pháp. Những pháp như vậy cần phải xa ĺa, chớ nắm giữ tướng để sinh phân biệt, thấy các pháp do tự tâm biến mà cho là thật. Thấy được pháp tính của tự tâm, ấy gọi là không chấp trước. Các vật như cái b́nh v.v.. mà phàm phu chấp vốn không tự tính, những người tu quán hạnh lấy tỳ bát xá na (vipassana-quán) như thật quán sát, gọi là xả các pháp. Này Lăng già vương, phi pháp là sao? Ấy là các pháp không có tự tính, không tướng, ĺa phân biệt; người thấy như thật th́ cảnh giới dù có dù không đều không khởi quan niệm, ấy gọi là xả phi pháp. Lại nữa, phi pháp ấy là như sừng thỏ, con của thạch nữ v.v.. đều không tính không tướng, không thể phân biệt, cần phải xa ĺa. Phi pháp này tuy không tính không tướng, mà thế gian vẫn có danh từ, không phải như cái b́nh v.v.. có thể cầm nắm. Các pháp có tướng phân biệt như b́nh, và không tướng như lông rùa, đều phải xả bỏ, ấy gọi là xả pháp cùng xả phi pháp. Lăng già vương, những chỗ ông hỏi trước ta đă nói xong. Này Lăng già vương, cái quá khứ ông nói đó chỉ là phân biệt, vị lai cũng là phân biệt, v́ ta (hiện tại) cũng như các đức Như lai kia. Lăng già vương, pháp của chư Phật nói đều xa ĺa phân biệt, đă ra khỏi hết thảy hí luận, không như sắc tướng có thể phân biệt, chỉ có trí mới chứng nhập được mà thôi. Chính v́ muốn cho chúng sinh an vui mà chư Như lai mới diễn nói pháp, dùng trí vô tướng mà nói, gọi là Như lai. Bởi đức Như lai lấy trí làm thể, lấy trí làm thân, nên Như lai không phân biệt cũng không thể bị phân biệt. Không thể lấy tướng ngă, nhân, chúng sinh... mà phân biệt Như lai . V́ sao? Bởi v́ ư thức do cảnh mà khởi rồi bám lấy sắc, h́nh, tướng. Cho nên (Như lai ) xa ĺa năng phân biệt cũng như sở phân biệt. Này Lăng già vương, thí như chúng sinh trong bức tranh màu trên vách không có giác tri, chúng sinh ở thế gian cũng vậy, không có nghiệp, báo. Pháp Phật cũng thế, không có nghe, không có nói. Này Lăng già vương, chúng sinh ở thế gian cũng như cảnh biến hóa, phàm phu ngoại đạo không thấu đạt nghĩa này. Lăng già vương, thấy được như thế gọi là chính kiến, thấy khác gọi là phân biệt kiến, v́ phân biệt nên bám giữ nhị nghĩa. Lăng già vương này, ví như có người tự thấy bóng ḿnh trong gương nước, dưới ánh trăng, nghe tiếng ḿnh âm hưởng trong hang núi, bèn sinh phân biệt mà khởi sự bám víu. Đây cũng vậy, pháp, phi pháp chỉ là phân biệt, v́ phân biệt nên không thể xa ĺa; chỉ tăng trưởng hư vọng, không được an tĩnh. An tĩnh ấy nghĩa là nhất duyên (ekàgra), nhất duyên ấy là tam muội tối thắng, từ đó có thể phát sinh Thánh trí tự chứng, lấy Như lai tạng làm cảnh giới.
CHƯƠNG II: THỰC HÀNH TẤT CẢ PHÁP Tiết I
Đại Huệ Bồ tát cùng Ma đế Bồ tát những vị đă viếng các cơi Phật, bấy giờ nương uy thần Phật, từ chỗ ngồi đứng dậy, trật vai áo bên phải, gối phải quỳ xuống đất, chắp tay hướng Phật cung kính nói bài tụng: Thế gian ĺa sinh diệt Như hoa đốm hư không Trí không chấp có, không Hưng khởi tâm đại bi Vạn pháp đều như huyễn Xa ĺa tâm và thức Trí không chấp có không Hưng khởi tâm đại bi Thế gian thường như mộng Xa ĺa cả đoạn, thường Trí không chấp hữu, vô Hưng khởi tâm đại bi Không có Phật niết bàn Không Niết bàn cho Phật Ĺa biết và bị biết Ĺa hữu cùng phi hữu Pháp thân như huyễn mộng Có ǵ để ngợi khen Biết vô tính vô sinh Ấy mới là khen Phật Phật không căn, cảnh, tướng Không thấy là thấy Phật Làm sao trước Mâu ni Mà khởi sự khen chê Ai ở trước Mâu ni Sinh thanh tịnh, xa ĺa Kẻ ấy đời này, sau Ĺa chấp, không chỗ thấy. Nói kệ tán Phật xong, Đại Huệ Bồ tát tự xưng tên: Con tên là Đại huệ Thông đạt pháp đại thừa Xin đem trăm tám nghĩa Kính hỏi đấng Vô thượng. Nghe lời ấy, đấng Thế gian giải nh́n khắp hội chúng rồi dạy rằng: Các ngươi hàng con Phật Nay cứ tự do hỏi Ta sẽ nói cho ngươi Cảnh giới đă tự chứng. Được Phật chấp thuận, Đại huệ Bồ tát đảnh lễ dưới chân ngài xong, thưa hỏi bằng kệ tụng như sau: Do đâu suy lường sinh? Làm sao sạch suy lường? Do đâu mê hoặc sinh? Làm sao hết mê hoặc? Sao gọi là Phật tử Cùng thứ lớp vô ảnh (niràbhàsa)? Do đâu hóa cơi nước Các tướng và ngoại đạo? Giải thoát đến nơi nào? Ai bị trói, ai mở? Cảnh giới thiền ra sao? Tại sao có ba thừa? Nhân duyên ǵ sinh pháp? Cái ǵ nhân ǵ quả? Ai nói ĺa bốn nghĩa? Do đâu các cơi sinh? Sao gọi định vô sắc? Sao gọi Diệt tận định? Thế nào là tưởng diệt? Làm sao từ định giác? V́ sao sinh hoạt động? Thân đi, đứng nắm giữ? Làm sao thấy sự vật? Làm sao vào các "địa"? Làm sao có Phật tử? Ai phá được ba cơi? Ở đâu, thân ra sao? Sinh và trú nơi nào? Làm sao đặng thần thông Tự tại và chính định? Tâm tam muội ra sao? Nguyện Phật v́ con nói Sao gọi là tàng thức? Sao gọi là ư thức? Làm sao các kiến khởi? Làm sao các kiến diệt? Tính, phi tính là ǵ? V́ sao nói duy tâm? V́ sao kiến lập tướng? Sao gọi là Vô ngă? Sao là không chúng sinh? Sao là tùy tục nói? Làm sao để khỏi khởi Thường kiến và đoạn kiến? Sao Phật cùng ngoại đạo Tướng vốn không khác nhau? Làm sao đời vị lai Có các bộ phái sinh? Sao gọi là Tính không? Sao gọi sát na diệt? Thai tạng từ đâu sinh? Sao thế gian bất động? V́ sao bảo cuộc đời Như huyễn, lại như mộng Như thành Càn thát bà Như ánh nước sa mạc Như vừng trăng đáy nước? "Bồ đề phần" là sao? "Giác phần" từ đâu khởi? V́ sao cơi nước loạn? V́ sao hữu kiến sinh? Làm sao biết thế pháp? Làm sao ĺa văn tự? Sao là "như không hoa"? Không sinh cũng không diệt? Chân như có mấy loại? "Độ tâm" có mấy loại? Sao là như hư không? Sao là ĺa phân biệt? Và thứ tự các "địa"? Sao là được vô ảnh? Sao là hai vô ngă? Sao là hết sở tri? Thánh trí có mấy loại? Có mấy loại giới pháp Phật chế cho chúng sinh? Ngọc báu ḍng tôn quư Từ đâu mà xuất hiện? Ai sinh ra ngôn ngữ Chúng sinh và các vật? Năm minh và kỹ thuật Ai làm cho sáng tỏ? Kệ tụng (gàthà) có mấy loại? Trường hàng có mấy thứ? Đạo lư mấy bất đồng? Giải thích bao sai biệt? Ăn uống ấy ai làm? Ái dục v́ sao khởi? Sao gọi Chuyển luân vương Cho đến các tiểu vương? Làm sao vua giữ nước? Chúng trời có mấy loại? Đất, mặt trời, trăng, sao Các thứ ấy thế nào? Giải thoát có mấy loại? Mấy loại thầy tu hành? Sao gọi A xà lê? Đệ tử bao nhiêu hạng? Như lai có mấy loại? Chuyện tiền thân ra sao? Chúng ma và dị giáo? Mỗi thứ có bao nhiêu? Tự tính bao sai biệt? Tâm có bao nhiêu loại? Giả lập nghĩa là ǵ? Xin Phật giải thích cho Từ đâu sinh mây gió? Niệm, trí v́ sao có? Bụi, bờ, cây hàng lớp Các thứ ấy ai làm? Những thú vật voi ngựa Nhân ǵ bị bắt giữ? Sao có người hèn xấu? Xin Phật giải cho con Sao gọi là sáu thời? Nhất xiển đề do đâu? Gái, trai và bất nam? Do đâu mà sinh khởi? Sao là tu tiến bộ? Sao là tu thụt lùi? Thầy du già mấy hạng Dạy người tu pháp ấy? Chúng sinh sinh các đường H́nh sắc, tướng ra sao? Giàu có, rất an ổn Ấy là do nhân ǵ? Sao có ḍng Thích ca? Sao có ḍng Cam giá? Tiên nhân khổ hạnh lâu Ấy do ai chỉ giáo? Làm sao Phật Thế Tôn Hiện thân khắp các cơi Chúng Phật tử vây quanh Đủ các loài sai biệt? V́ sao không ăn thịt? Nhân ǵ dạy bỏ thịt? Các chúng sinh ăn thịt Do nhân ǵ mà ăn? Sao có các cơi nước Trông như h́nh trời trăng Tu di và hoa sen Chữ vạn, tượng sư tử? Sao có các cơi nước Như lưới trời Đế thích Lật úp hoặc nằm nghiêng Mà thành các món báu? Sao có các cơi nước Như nhật nguyệt không dơ Hoặc như h́nh hoa quả, Ống sáo, trống eo nhỏ? Phật Biến hóa là ǵ (Nirmànikabuddha)? Và phật Dị thục sinh? (Vipàkajabuddha) Cùng phật Chân như trí (Tathàtàjnànabuddha)? Xin giải thích cho con. V́ sao ở Dục giới Không thành Đẳng chính giác? Sao ở Sắc cứu cánh (Akanistha)? Ĺa nhiễm được trí tuệ? Ai sẽ giữ chính pháp? Phật trụ thế bao lâu? Chính pháp trụ dài, ngắn? Tất đàn có mấy loại? Kiến chấp có bao nhiêu? V́ sao lập luận tạng? Cho đến các Tỳ kheo Hết thảy các Phật tử Độc giác và Thanh văn Làm sao chuyển các thức? Làm sao được vô tướng? Làm sao được Thế thông? Làm sao được xuất thế? Lại v́ nhân duyên ǵ Tâm ở trong bảy địa? Tăng già có mấy loại? Sao gọi là phá tăng? Làm sao v́ chúng sinh Rộng nói phương cứu liệu? Cớ ǵ Đại mâu ni Nói lên lời như vầy: "Ca diếp, Câu lưu tôn Câu na hàm là ta?" Cớ ǵ nói đoạn thường? Và nói ngă, vô ngă? Sao không thường nói thật: "Hết thảy do tâm tạo"? Sao có rừng nam nữ Ha lê (Haŕtaki), am ma la (àmaĺvana)? Kê la bà (Kailàsa), Luân viên (Cakravàda)? Cho đến núi kim cương (vajrà) Trong các chỗ ấy có Vô lượng báu trang nghiêm Tiên nhân, càn thát bà Tất cả đều sung măn Đấy do nhân duyên ǵ? Xin Phật v́ con nói. Nghe những lời hỏi về pháp môn tối thượng, pháp môn đại thừa "tâm Phật" vi diệu ấy, đức Thế Tôn liền bảo: "Hay thay, Đại huệ! Hăy lắng nghe, lắng nghe. Như chỗ ông hỏi, ta sẽ lần lượt nói." Và ngài nói kệ tụng: Sinh cùng với không sinh Niết bàn và vô tướng Lưu chuyển, vô tự tính Ba la mật, phật tử Thanh văn, Bích chi Phật Ngoại đạo, hạnh vô sắc Tu di cùng biển núi Cù lao, các cơi đất Tinh tú và nhật nguyệt Chúng trời, a tu la Giải thoát và thần thông Thiền định và tam muội Diệt và các thần túc Bồ đề phần, Bát chính Thiền cùng vô lượng tâm Các uẩn cùng đến, đi Cho đến diệt tận định Tâm sinh khởi nói năng Tâm, ư, thức, vô ngă Năm pháp, ba tự tính Phân biệt, bị phân biệt Hai loại kiến năng sở Cội nguồn của các thừa Vàng, ma ni, trân châu Ḍng họ lớn, xiển đề Nước hỗn loạn, một Phật Trí, trí chướng, đắc hướng Chúng sinh, có cùng không Voi, ngựa, thú, nhân ǵ V́ sao bị bắt giữ V́ sao nhân, thí dụ Tương ưng thành tất đàn? Sở tác và năng tác Núi rừng và mê hoặc? Lư chân thật "như thị" Duy tâm, không cảnh giới? Các địa không thứ lớp Không tướng, chuyển sở y? Y phương, các nghệ thuật Kỹ thuật, cùng năm minh? Tu di và núi, đất Biển, trời trăng bao lớn? Chúng sinh thượng, trung, hạ Mỗi thân bao vi trần? Mỗi cung có mấy trữu? Câu lô xá mấy cung? Nửa do tuần? Do tuần? Lông, thỏ và bụi cửa? Mỗi thân bao vi trần? Rận, lông dê, bột mạch? Nửa đấu và một đấu Gồm bao nhiêu hạt lúa? Một hộc và mười hộc Mười vạn và thiên ức Cho đến tầm bà la (Vimvara: 10 triệu) Mỗi món số bao nhiêu? Mấy trần (anu) thành giới tử (sarsapa)? Mấy giới tử thành thảo tử? Lại có mấy thảo tử Mới thành một hạt đậu (màsa)? Mấy hạt đậu thành thù (Dharana)? Mấy thù là một lượng (Karsa)? Mấy lượng thành một cân (pala)? Mấy cân thành tu di (meru)? Đấy những điều nên hỏi V́ sao hỏi chuyện khác? Thanh văn, Bích chi Phật Các Phật và Bồ tát Số lượng thân bao nhiêu? Mỗi thân mấy vi trần? Lửa, gió có mấy trần? Mỗi căn có mấy trần? Lông mày, lỗ chân lông Mấy trần thành mỗi thứ? Các sự việc như thế Sao không đem hỏi ta. V́ sao được giàu có? Sao là chuyển luân vương? Làm sao vua giữ nước? Làm sao được giải thoát? Thế nào là Trường hàng? Dâm dục và ăn uống? Thế nào rừng nam nữ? Các núi, kim cương sơn? Như huyễn, mộng, ảo ảnh? Mây do từ đâu sinh? Thời tiết làm sao có? Nhân ǵ có mùi vị? Nam, nữ và bất nam Phật, bồ tát trang nghiêm? Sao có các núi đẹp Tiên càn thát trang hoàng? Giải thoát đến chỗ nào? Ai bị trói? Ai mở? Sao là cảnh giới thiền? Biến hóa và ngoại đạo? Sao là vô nhân tác? Sao là hữu nhân tác? Sao là chuyển các kiến? Sao là khởi suy lường? Làm sao sạch suy lường? Hoạt động từ đâu sinh? Sao gọi là chuyển khứ? Sao là dứt các tưởng? Sao là sinh tam muội? Phá ba cơi là ai? Chỗ nào, thân ra sao? Sao gọi là không ngă? Sao là theo tục nói? Ông hỏi tướng ra sao? Sao g |