Chùa Hải-Đức in Jacksonville
|
Kinh
Giải Thâm Mật
Phẩm sáu: Du Dà (82)
Vào lúc bấy giờ đại bồ tát Từ thị thưa Phật: bạch đức Thế tôn, trong Đại thừa, các vị Bồ tát y cứ vào chỗ nào và trú ở vào chỗ nào mà tu tập chỉ quán? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Từ thị: Thiện nam tử, hăy nhận thức rằng, trong Đại thừa, các vị Bồ tát tu tập chỉ quán th́ lấy giáo pháp của Như lai thiết lập mà làm chỗ y cứ, lấy sự không bỏ mất tâm nguyện vô thượng bồ đề mà làm chỗ trú ở. Đại bồ tát Từ thị thưa Phật: bạch đức Thế tôn, như đức Thế tôn nói có bốn đối cảnh sở duyên, một là có phân biệt, hai là không phân biệt, ba là biên tế các pháp, bốn là sở tác thành tựu (83) ; bốn đối cảnh này mấy là sở duyên của chỉ, mấy là sở duyên của quán, mấy là sở duyên của cả chỉ quán? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Từ thị: Thiện nam tử, một là sở duyên của chỉ, đó là đối cảnh không phân biệt; một là sở duyên của quán, đó là đối cảnh có phân biệt; hai là sở duyên của cả chỉ quán, đó là đối cảnh biên tế các pháp và đối cảnh sở tác thành tựu. Đại bồ tát Từ thị thưa Phật: bạch đức Thế tôn, Bồ tát do bốn đối cảnh sở duyên như trên mà cầu về chỉ và khéo về quán là như thế nào? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Từ thị: Thiện nam tử, giáo pháp của Như lai thiết lập cho Bồ tát là khế kinh, ứng tụng, kư biệt, phúng tụng, tự thuyết, nhân duyên, thí dụ, bản sự, bản sinh, phương quảng, hy pháp, luận nghị; đối với giáo pháp ấy (84) , Bồ tát khéo lắng nghe, khéo tiếp nhận, văn khéo rành rẻ, ư khéo t́m ṭi, thấy khéo thông suốt; rồi chính nơi giáo pháp phải khéo tư duy (85) như vậy, Bồ tát một ḿnh ở chỗ không phiền không ồn mà tác ư tư duy; sự tư duy này phải được nội tâm liên tục tác ư tư duy: hễ đứng vững rất nhiều trong cái chánh hạnh ấy, sinh ra sự khinh an (86) nơi thân và sự khinh an nơi tâm, th́ đó là chỉ, và Bồ tát như vậy là cầu về chỉ. Bồ tát này do cái thân tâm khinh an trên đây làm nền tảng, đối với ấn tượng chánh định theo giáo pháp phải khéo tư duy (87) nói trên, hăy quan sát, thắng giải (88) , bỏ cái tâm tướng về chỉ: hễ đối với ấn tượng chánh định cần phải chứng biết ấy mà chính xác quyết trạch, cùng cực quyết trạch, tầm tư toàn bộ, tứ sát toàn bộ, rồi xác nhận, ưa thích, hiểu biết, nh́n thấy, xét thấy, th́ đó là quán, và Bồ tát như vậy là khéo về quán. Đại bồ tát Từ thị thưa Phật: bạch đức Thế tôn, Bồ tát từ khi lấy (ấn tượng của) tâm mà làm đối tượng, nội tâm tư duy tâm, cho đến lúc chưa được thân tâm khinh an, th́ sự tác ư trong th́ gian đó nên gọi là ǵ? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Từ thị: Thiện nam tử, đó chưa phải là tác ư về chỉ, mà là tác ư thích ứng sự thắng giải tùy thuận với chỉ. Bạch đức Thế tôn, cho đến lúc chưa được thân tâm khinh an, Bồ tát có sự tác ư tư duy đối với ấn tượng chánh định theo giáo pháp phải tư duy, sự tác ư đó nên gọi là ǵ? Thiện nam tử, đó chưa phải là tác ư về quán, mà là tác ư thích ứng sự thắng giải tùy thuận với quán. Đại bồ tát Từ thị thưa Phật: bạch đức Thế tôn, chỉ với quán nên nói có khác nhau hay nên nói không khác nhau? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Từ thị: Thiện nam tử, nên nói không phải có khác nhau, cũng không phải không khác nhau. Tại sao không phải có khác nhau, v́ (chỉ) lấy cái tâm đối tượng của quán mà làm đối tượng của nó; tại sao không phải không khác nhau, v́ ấn tượng có phân biệt (của quán) không phải là ấn tượng của nó. Đại bồ tát Từ thị thưa Phật: bạch đức Thế tôn, ấn tượng chánh định của quán cùng với tâm thức chánh định ấy nên nói có khác hay nên nói không khác? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Từ thị: Thiện nam tử, nên nói không khác. Bạch đức Thế tôn, v́ sao không khác? Thiện nam tử, v́ ấn tượng ấy chỉ là tâm thức. Thiện nam tử, Như lai nói cái ǵ thức biết th́ cái ấy chỉ do thức hiện. Bạch đức Thế tôn, nếu ấn tượng tâm thức không khác tâm thức th́ làm sao tâm thức trở lại nhận thấy tâm thức? Thiện nam tử, ở đây không có chút pháp nào nhận thấy chút pháp nào, nhưng chính tâm thức khi sinh ra thế nào th́ h́nh thành đối tượng thế ấy. Như có kẻ nhờ mặt gương trong sáng rồi chính thân ḿnh làm duyên tố mà thấy thân ḿnh, nhưng bảo ḿnh thấy h́nh ảnh, lại bảo h́nh ảnh đó biệt lập với thân ḿnh; tương tự như vậy, khi tâm thức sinh ra th́ thấy như có ấn tượng chánh định biệt lập h́nh thành. Bạch đức Thế tôn, như vậy th́ chúng sinh ở trong đặc chất của ḿnh (chứ không phải ở trong chánh định) mà nhận thức sắc thanh hương vị xúc pháp, ấn tượng ấy với nhận thức ấy cũng không khác nhau chăng? Thiện nam tử, cũng không khác nhau; nhưng kẻ ngu ngơ th́ v́ ảo giác thác loạn, không nhận thức ấn tượng một cách đúng như sự thật của chúng chỉ là tâm thức, nên sinh ra ngộ nhận. Đại bồ tát Từ thị thưa Phật: bạch đức Thế tôn, ngang đâu th́ nên nói là Bồ tát một chiều tu quán? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Từ thị: Thiện nam tử, ngang nơi sự liên tục tác ư chỉ tư duy ấn tượng của tâm. Bạch đức Thế tôn, ngang đâu th́ nên nói là Bồ tát một chiều tu chỉ? Thiện nam tử, ngang nơi sự liên tục tác ư chỉ tư duy tâm ấy liên tục. Bạch đức Thế tôn, ngang đâu th́ nên nói là Bồ tát chỉ quán hóa hợp cùng có? Thiện nam tử, ngang nơi sự chính xác tư duy về tâm đồng nhất cảnh. Bạch đức Thế tôn, ấn tượng của tâm là ǵ? Thiện nam tử, là ấn tượng có phân biệt của chánh định mà quán chuyên chú vào. Bạch đức Thế tôn, tâm ấy liên tục là ǵ? Thiện nam tử, là cái tâm chuyên chú ấn tượng nói trên mà chỉ chuyên chú vào. Bạch đức Thế tôn, tâm đồng nhất cảnh là ǵ? Thiện nam tử, là thấu triệt rằng ấn tượng chánh định là duy thức, hoặc thấu triệt như vậy rồi lại tư duy về chân như. Đại bồ tát Từ thị thưa Phật: bạch đức Thế tôn, quán có mấy thứ? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Từ thị: Thiện nam tử, đại khái quán có ba thứ, một là có tướng, hai là tầm cầu, ba là tứ sát. Quán có tướng là ǵ, là sự quán thuần tư duy ấn tượng có phân biệt của chánh định; quán tầm cầu là ǵ, là sự quán nhờ tuệ nên tác ư tư duy để khéo thấu hiểu đối với toàn bộ các pháp chưa khéo thấu hiểu; quán tứ sát là ǵ, là sự quán nhờ tuệ nên tác ư tư duy để khéo chứng ngộ và cực giải thoát đối với các pháp đă khéo thấu hiểu. Bạch đức Thế tôn, chỉ có mấy thứ? Thiện nam tử, do chính cái tâm liên tục theo quán nên chỉ cũng có ba thứ; lại có tám thứ, đó là bốn tịnh lự và bốn không định, mỗi thứ là một chỉ; lại có bốn thứ, đó là bốn vô lượng từ bi hỷ xả, mỗi thứ là một chỉ. Đại bồ tát Từ thị thưa Phật: bạch đức Thế tôn, như đức Thế tôn nói chỉ quán dựa vào pháp, lại nói chỉ quán không dựa vào pháp, vậy thế nào là chỉ quán dựa vào pháp, thế nào là chỉ quán không dựa vào pháp? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Từ thị: Thiện nam tử, nếu Bồ tát tùy thuận cái pháp đă tiếp nhận và tư duy, và chỉ quán đạt được bởi nghĩa lư của pháp ấy th́ gọi là chỉ quán dựa vào pháp; nếu Bồ tát chưa có cái pháp đă tiếp nhận và tư duy, chỉ dựa vào sự chỉ dạy của người khác, và chỉ quán đạt được bởi nghĩa lư của sự chỉ dạy ấy, như quán thân thể bất tịnh, các hành vô thường, các hành khổ năo, các pháp vô ngă, niết bàn vắng lặng, những loại chỉ quán như vậy gọi là chỉ quán không dựa vào pháp. Dựa vào pháp mà được chỉ quán th́ Như lai qui định đó là Bồ tát tùy pháp hành, là Bồ tát lợi căn; không dựa vào pháp mà được chỉ quán th́ Như lai qui định đó là Bồ tát tùy tín hành, là Bồ tát độn căn. Đại bồ tát Từ thị lại thưa Phật: bạch đức Thế tôn, như đức Thế tôn nói chỉ quán vin vào pháp riêng biệt, lại nói chỉ quán vin vào pháp tổng quát, vậy chỉ quán vin pháp riêng biệt là thế nào, chỉ quán vin pháp tổng quát là thế nào? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Từ thị: Thiện nam tử, nếu Bồ tát vin vào mỗi pháp khế kinh cho đến luận nghị, đúng như pháp đă tiếp nhận và tư duy mà tu chỉ quán, th́ gọi là chỉ quán vin pháp riêng biệt; nếu Bồ tát vin vào các pháp khế kinh cho đến luận nghị, tập hợp lại làm một viên một cục một phần một khối, tác ư tư duy các pháp ấy (bằng cách) tùy thuận chân như, xu hướng chân như, đi vào chân như, tùy thuận bồ đề, tùy thuận niết bàn, tùy thuận chuyển y, xu hướng các pháp này, đi vào các pháp này, từ các pháp này thuyết ra vô lượng vô số thiện pháp, tư duy như vậy mà tu chỉ quán th́ gọi là chỉ quán vin pháp tổng quát. Đại bồ tát Từ thị lại thưa Phật: bạch đức Thế tôn, như đức Thế tôn nói chỉ quán vin pháp tổng quát nhỏ, chỉ quán vin pháp tổng quát lớn, chỉ quán vin pháp tổng quát vô lượng, vậy thế nào là chỉ quán vin pháp tổng quát nhỏ, thế nào là chỉ quán vin pháp tổng quát lớn, thế nào là chỉ quán vin pháp tổng quát vô lượng? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Từ thị: Thiện nam tử, nếu vin vào mỗi khế kinh riêng biệt cho đến mỗi luận nghị riêng biệt mà làm một viên một khối để tác ư tư duy, th́ nên biết như thế đó gọi là chỉ quán vin pháp tổng quát nhỏ; nếu vin vào các khế kinh cho đến các luận nghị đă tiếp nhận và tư duy mà làm một viên một khối để tác ư tư duy, chứ không phải chỉ vin vào mỗi giáo pháp riêng biệt, th́ nên biết như thế đó gọi là chỉ quán vin pháp tổng quát lớn; nếu vin vào vô lượng giáo pháp của Như lai, (bằng cách) vin vào vô lượng văn từ pháp nghĩa của giáo pháp ấy, vào vô lượng pháp được soi tỏ bởi vô lượng tuệ của các giai đoạn liên tiếp sau đó, mà làm một viên một khối để tác ư tư duy, chứ không phải chỉ vin vào các pháp đă tiếp nhận và tư duy, th́ nên biết như thế đó gọi là chỉ quán vin pháp tổng quát vô lượng. Đại bồ tát Từ thị lại thưa Phật: bạch đức Thế tôn, Bồ tát ngang đâu th́ gọi là đạt được chỉ quán vin pháp tổng quát? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Từ thị: Thiện nam tử, ngang lúc có năm hiệu quả sau đây th́ gọi là đạt được: một là khi tư duy th́ trong từng sát na đă tiêu dung chỗ dựa của mọi thứ thô trọng, hai là bỏ phân biệt mà được pháp lạc, ba là mở tỏ vô số ánh sáng của cái pháp không phân biệt khắp trong mười phương quốc độ, bốn là đă thường xuyên hiện ra cái trí không phân biệt do việc làm đă thành măn và đă thích ứng với phần thanh tịnh, năm là những giai đoạn sau đó vẫn thể hiện những nhân tố tinh tế hơn lên để làm cho pháp thân thành măn. Đại bồ tát Từ thị lại thưa Phật: bạch đức Thế tôn, chỉ quán vin pháp tổng quát như trên th́ từ đâu gọi là thông đạt và từ đâu gọi là chứng đắc? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Từ thị: Thiện nam tử, từ địa thứ nhất là Cực hỷ th́ gọi là thông đạt, từ địa thứ ba là Phát quang mới gọi là chứng đắc. Thiện nam tử, các vị Bồ tát mới tu học cũng tác ư học theo chỉ quán này, tuy chưa đáng tán dương nhưng đừng nên nhác bỏ. Đại bồ tát Từ thị thưa Phật: bạch đức Thế tôn, chỉ quán như vậy tại sao gọi là chánh định có tầm có tứ, chánh định không tầm chỉ tứ, chánh định không tầm không tứ? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Từ thị: Thiện nam tử, đối với ấn tượng đă thủ đắc từ giáo pháp đă tầm tứ, những chỉ quán có sự tiếp nhận quán sát rất thô th́ gọi là chánh định có tầm có tứ; đối với ấn tượng ấy, những chỉ quán tuy không có sự tiếp nhận quán sát rất thô nhưng có sự tiếp nhận quán sát của kư ức sáng tỏ rất nhỏ, th́ gọi là chánh định không tầm chỉ tứ; đối với ấn tượng của tất cả giáo pháp, những chỉ quán mà sự tiếp nhận quán sát không có mọi sự tác ư (89) , th́ gọi là chánh định không tầm không tứ. Lại nữa, Thiện nam tử, chỉ quán có tầm cầu th́ gọi là chánh định có tầm có tứ, chỉ quán có tứ sát th́ gọi là chánh định không tầm chỉ tứ, chỉ quán chỉ vin pháp tổng quát th́ gọi là chánh định không tầm không tứ. Đại bồ tát Từ thị thưa Phật: bạch đức Thế tôn, đ́nh chỉ là thế nào? phấn chấn là thế nào? xả bỏ là thế nào? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Từ thị: Thiện nam tử, khi tâm quấy động, hay khi pḥng tâm quấy động, th́ sự tác ư về cái đáng chán, và sự tác ư về cái tâm ấy liên tục, gọi là đ́nh chỉ; khi tâm ch́m đắm, hay khi pḥng tâm ch́m đắm, th́ sự tác ư về cái đáng vui, và sự tác ư về cái tâm ấy, gọi là phấn chấn; hoặc chỉ có chỉ, hoặc chỉ có quán, hoặc cả chỉ quán song hành, mà khi bị nhuốm bẩn v́ hai thứ tùy phiền năo (là quấy động và ch́m đắm như trên) th́ sự tác ư trong vô công dụng mà nhiệm vận chuyển, gọi là xả bỏ. Đại bồ tát Từ thị thưa Phật: bạch đức Thế tôn, các vị Bồ tát tu tập chỉ quán th́ phải biết pháp và biết nghĩa, vậy biết pháp là thế nào? biết nghĩa là thế nào? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Từ thị: Thiện nam tử, các vị Bồ tát ấy do năm sự sau đây mà biết về pháp: một là biết tên, hai là biết câu, ba là biết văn (90) , bốn là biết riêng, năm là biết chung. Tên là thế nào, là sự giả thiết về tự tánh của tất cả các pháp nhiễm tịnh. Câu là thế nào, là sự qui tụ của tên, thành cấu trúc diễn tả về nghĩa nhiễm hay tịnh của các pháp. Văn là thế nào, là chữ mà tên và câu dựa vào. Biết riêng những thứ trên là thế nào, là tác ư nhận thức mỗi thứ riêng ra. Biết chung những thứ trên là thế nào, là tác ư nhận thức các thứ trên chung lại. Tất cả những sự trên đây tổng lược nhất trí th́ gọi là biết về pháp, và biết về pháp như vậy th́ gọi là Bồ tát biết pháp. Thiện nam tử, các vị Bồ tát ấy do mười sự sau đây mà biết về nghĩa: một là biết tánh tận hữu, hai là biết tánh như hữu (91) , ba là biết nghĩa năng thủ, bốn là biết nghĩa sở thủ, năm là biết nghĩa dựng nên, sáu là biết nghĩa hưởng dụng, bảy là biết nghĩa đảo ngược, tám là biết nghĩa không ngược, chín là biết nghĩa tạp nhiễm, mười là biết nghĩa thanh tịnh. (Một), tánh tận hữu là biên cương tất cả chủng loại của các pháp nhiễm tịnh, biên cương ấy gọi là tánh tận hữu, tức năm số về uẩn, sáu số về nội xứ, sáu số về ngoại xứ, những pháp số đại loại như vậy. (Hai), tánh như hữu là chân như nơi các pháp nhiễm tịnh, chân như ấy gọi là tánh như hữu. Chân như ấy có bảy: một là chân như nơi sự lưu chuyển, tức cái tánh không mở đầu không chấm hết của các hành; hai là chân như nơi các tướng, tức cái tánh nhân vô ngă và pháp vô ngă của các pháp; ba là chân như nơi sự liễu biệt, tức cái tánh duy thức của các hành; bốn là chân như nơi sự an lập, tức thánh đế về khổ mà Như lai nói; năm là chân như nơi sự tà hành, tức thánh đế về tập mà Như lai nói; sáu là chân như nơi sự thanh tịnh, tức thánh đế về diệt mà Như lai nói; bảy là chân như nơi sự chánh hành, tức thánh đế về đạo mà Như lai nói. Nên biết trong đây do chân như nơi sự lưu chuyển, nơi sự an lập và nơi sự tà hành nên tất cả chúng sinh rất là b́nh đẳng; do chân như nơi các tướng và nơi sự liễu biệt nên tất cả các pháp rất là b́nh đẳng; do chân như nơi sự thanh tịnh nên Thanh văn bồ đề, Độc giác bồ đề và Vô thượng bồ đề rất là b́nh đẳng; do chân như nơi sự chánh hành nên cái tuệ của chỉ quán siêu việt vin vào pháp tổng quát, sau khi nghe giáo pháp, rất là b́nh đẳng. (Ba), nghĩa năng thủ là năm sắc xứ ở trong (92) , là tâm ư thức và các tâm sở. (Bốn), nghĩa sở thủ là sáu xứ ở ngoài, và những nghĩa năng thủ cũng là nghĩa sở thủ. (Năm), nghĩa dựng nên là giới thế giới (93) , trong giới thế giới này có thể dựng nên giới chúng sinh, tức ruộng đất một thôn, trăm, ngàn hay trăm ngàn ruộng đất thôn ấy; hoặc một lục địa giới hạn bởi đại dương, trăm, ngàn hay trăm ngàn lục địa ấy; hoặc một đại lục Thiệm bộ, trăm, ngàn hay trăm ngàn đại lục ấy; hoặc một bốn đại lục, trăm, ngàn hay trăm ngàn bốn đại lục ấy; hoặc một thế giới ngàn nhỏ, trăm, ngàn hay trăm ngàn thế giới ngàn nhỏ ấy; hoặc một thế giới ngàn vừa, trăm, ngàn hay trăm ngàn thế giới ngàn vừa ấy; hoặc một thế giới ngàn lớn (94) , trăm, ngàn hay trăm ngàn thế giới ngàn lớn ấy; hoặc một ức, trăm, ngàn hay trăm ngàn ức thế giới ngàn lớn ấy; hoặc một vô số, trăm, ngàn hay trăm ngàn vô số thế giới ngàn lớn ấy; hoặc (tại một phương hướng), thế giới ngàn lớn ấy nhiều đến vô số mà có cả trăm ngàn lần, hay nhiều như số lượng vi trần; và ở khắp mười phương hướng có vô lượng vô số những giới thế giới như vậy. (Sáu), nghĩa hưởng dụng là đồ dùng của chúng sinh thu thập (95) mà Như lai đă nói. (Bảy), nghĩa đảo ngược là đối với những sự từ nghĩa năng thủ sắp đi trên đây mà tưởng thác loạn tâm thác loạn và thấy thác loạn cho vô thường là thường, tưởng thác loạn tâm thác loạn và thấy thác loạn cho khổ là vui, cho bất tịnh là tịnh, cho vô ngă là ngă. (Tám), nghĩa không ngược th́ nên biết là mâu thuẫn với những sự đảo ngược ở trên, có sức đối trị những sự đảo ngược ấy. (Chín), nghĩa tạp nhiễm là ba sự tạp nhiễm khắp cả ba cơi: một là hoặc tạp nhiễm, hai là nghiệp tạp nhiễm, ba là sinh tạp nhiễm. (Mười) nghĩa thanh tịnh là những pháp bồ đề phần có sức cởi mở sự thắt buộc của ba sự tạp nhiễm nói trên. Mười sự như trên đây, nên biết đă bao quát tất cả các nghĩa. Thiện nam tử, các vị Bồ tát ấy lại c̣n do biết năm sự sau đây nên gọi là biết về nghĩa. Năm sự ấy là những ǵ, một là sự biến tri, hai là nghĩa biến tri, ba là nhân biến tri, bốn là quả biến tri, năm là biết sự ấy. (Một), sự biến tri th́ nên hiểu là tất cả pháp sở tri, tức các uẩn, các nội xứ, các ngoại xứ, những sự như vậy. (Hai), nghĩa biến tri là bao nhiêu phẩm loại khác nhau mà cần biết về sự ở trên, tức hoặc thế tục đế với thắng nghĩa đế; hoặc công đức với lầm lỗi; hoặc duyên tố với th́ gian (96) ; hoặc sinh, trú và diệt; hoặc như bịnh tật, (như ung thối, như trúng tên, như đau đớn); hoặc khổ, tập, diệt, đạo; hoặc chân như, thật tế, pháp giới, và những danh hiệu cùng loại (97) ; hoặc phong phú với khái quát (98) ; hoặc bốn cách phán quyết là quyết định, phân tách, hỏi lại và lặng bỏ (99) ; hoặc ẩn mật với minh bạch; những pháp như vậy nên biết là nghĩa biến tri. (Ba), nhân biến tri là những pháp bồ đề phần có sức thủ đắc hai loại biến tri ở trên, tức bốn niệm trú, bốn chánh đoạn, và những pháp số cùng loại. (Bốn), quả biến tri là các sa môn quả đă tạm diệt tham sân si (99B) và vĩnh diệt tham sân si, cùng với những công đức chứng sa môn quả mà Như lai đă nói, tức những công đức cọng hữu hay đặc hữu mà bao gồm cả thế gian và xuất thế của Thanh văn và của Như lai. (Năm), biết sự ấy là chính những công đức chứng sa môn quả nói trên, các trí giải thoát khai thị và tuyên dương phong phú cho người. Năm sự như trên nên biết cũng bao quát tất cả các nghĩa. Thiện nam tử, các vị Bồ tát ấy lại do biết bốn sự sau đây nên gọi là biết về nghĩa. Bốn sự ấy là những ǵ, một là chấp thọ, hai là lănh nạp, ba là liễu biệt, bốn là nhiễm tịnh (100) . Bốn sự như trên nên biết cũng bao quát tất cả các nghĩa. Thiện nam tử, các vị Bồ tát ấy lại c̣n do biết ba sự sau đây nên gọi là biết về nghĩa. Ba sự ấy là những ǵ, một là văn, hai là nghĩa, ba là giới. Văn là danh thân cú thân và văn thân. Nghĩa th́ có mười: một là sự chân thật (101) , hai là sự biến tri, ba là sự vĩnh đoạn, bốn là sự tác chứng, năm là sự tu tập (102) , sáu là sự chi tiết của các sự nói trên, bảy là sự tương thuộc của sở y và năng y, tám là sự chướng ngại của sự biến tri cho đến sự tu tập, chín là sự tùy thuận của sự biến tri cho đến sự tu tập, mười là nhược điểm với ưu điểm của sự bất tri với sự biến tri, cho đến sự bất tu với sự tu tập (103) . Giới là năm giới: một là giới thế giới (104) , hai là giới chúng sinh, ba là giới các pháp, bốn là giới người được thuần hóa, năm là giới phương pháp thuần hóa. Năm sự như trên nên biết cũng bao quát tất cả các nghĩa. Đại bồ tát Từ thị lại thưa Phật: bạch đức Thế tôn, cái tuệ do nghe mà có và biết nghĩa của cái nó nghe, cái tuệ do nghĩ mà có và biết nghĩa của cái nó nghĩ, cái tuệ do tu chỉ quán mà có và biết nghĩa của cái nó tu, ba cái tuệ như vậy khác nhau thế nào? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Từ thị: Thiện nam tử, cái tuệ do nghe mà có th́ dựa vào văn từ, chỉ như lời nói, chưa khéo biết ư nghĩa, (đồng loại với cái nghĩa đă biết là ấn tượng chánh định) chưa hiện trước mắt, tùy thuận với giải thoát, nhưng chưa lănh nhận được sự giải thoát thành đạt. Cái tuệ do nghĩ mà có th́ cũng dựa vào văn từ, nhưng không phải chỉ như lời nói, lại khéo biết ư nghĩa, (đồng loại với cái nghĩa đă biết là ấn tượng chánh định) chưa hiện trước mắt, nhưng càng thuận với giải thoát, dầu cũng chưa lănh nhận được sự giải thoát thành đạt. C̣n cái tuệ do tu mà có của Bồ tát th́ cũng dựa vào văn từ mà cũng không dựa vào văn từ, cũng như lời nói mà cũng không như lời nói, khéo biết ư nghĩa, đồng loại với cái nghĩa đă biết là ấn tướng chánh định đă hiện trước mắt, cực thuận với giải thoát, đă lănh nhận được sự giải thoát thành đạt. Đó là sự biết nghĩa mà khác nhau của ba tuệ. Đại bồ tát Từ thị lại thưa Phật: bạch đức Thế tôn, các vị Bồ tát tu chỉ quán th́ phải biết pháp biết nghĩa, vậy biết là thế nào? thấy là thế nào? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Từ thị: Thiện nam tử, bằng nhiều mặt, Như lai đă nói sự khác biệt của biết và thấy. Như lai nay nói khái lược cho ông về sự ấy: cái tuệ tinh tế vin vào pháp tổng quát mà tu chỉ quán th́ gọi là biết, cái tuệ tinh tế vin vào pháp riêng biệt mà tu chỉ quán th́ gọi là thấy. Đại bồ tát Từ thị lại thưa Phật: bạch đức Thế tôn, các vị Bồ tát tu chỉ quán là do tác ư nào? trừ khử tướng ǵ? và làm sao trừ khử? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Từ thị: Thiện nam tự, do tác ư chân như, và trừ khử pháp tướng nghĩa tướng. ẫ Đối với cái danh của pháp nghĩa, và tự tánh của cái danh ấy, khi vô đắc (105) th́ cũng không thấy cái tướng của cái danh ấy dựa vào: trừ khử như vậy đó; như đối với danh th́ đối với câu, đối với văn và đối với nghĩa nên biết cũng cũng vậy; sau hết đối với cái giới của pháp nghĩa, và tự tánh của cái giới ấy, khi vô đắc th́ cũng không thấy cái tướng của cái giới ấy dựa vào: trừ khử như vậy đó. Bạch đức Thế tôn, thấu triệt chân như th́ tướng chân như ấy cũng bị trừ khử chăng? Thiện nam tử, thấu triệt chân như hoàn toàn vô tướng và vô đắc, vậy trừ khử cái ǵ. Như lai nói rằng khi thấu triệt chân như th́ trừ khử được pháp tướng và nghĩa tướng, chứ không phải chân như được thấu triệt đó cái khác có thể trừ khử. Bạch đức Thế tôn, như đức Thế tôn nói đồ chứa nước dơ bẩn, bức gương không sáng sạch, suối hồ nước xao động, th́ không thể nh́n thấy h́nh ảnh mặt ḿnh, nh́n thấy th́ không phải những thứ trên đây; tương tự như vậy, cái tâm mà không tu th́ không thể chính xác nh́n thấy chân như, khéo tu cái tâm th́ có thể nh́n thấy. Lời này nói về quán trí nào và nói về chân như nào? Thiện nam tử, lời này nói về ba quán trí là quán trí do nghe mà có, quán trí do nghĩ mà có và quán trí do tu mà có, và căn cứ chân như nơi sự liễu biệt (106) mà nói. Bạch đức Thế tôn, để trừ khử các tướng nên các vị Bồ tát biết pháp tướng nghĩa tướng phải nỗ lực tu tập phương cách trừ khử, vậy có bao nhiêu cái tướng khó trừ khử? và cái ǵ trừ khử được? Thiện nam tử, cái tướng có mười thứ, và cái Không có thể trừ khử. Mười thứ ấy là những ǵ ? Một là biết pháp biết nghĩa th́ có cái tướng văn từ, cái tướng ấy được chính yếu trừ khử bởi các pháp không. Hai là biết chân như nơi sự an lập th́ có cái tướng sinh trụ diệt và cái tướng liên tục chuyển biến, hai cái tướng ấy được chính yếu trừ khử bởi tướng không (107) và vô tiền hậu không (108) . Ba là biết nghĩa năng thủ th́ có cái tướng luyến tiếc thân thể và cái tướng ngă mạn, hai cái tướng ấy được chính yếu trừ khử bởi nội không và vô sở đắc không. Bốn là biết nghĩa sở thủ th́ có cái tướng luyến tiếc tài sản, cái tướng ấy được chính yếu trừ khử bởi ngoại không. Năm là biết nghĩa hưởng dụng, trong đó có trai gái phục dịch và đồ dùng thích hợp, th́ có cái tướng trong thấy thích thú và cái tướng ngoài thấy tốt đẹp, hai cái tướng ấy được chính yếu trừ khử bởi nội ngoại không và bản tánh không. Sáu là biết nghĩa dựng nên th́ có cái tướng thế giới bao la, cái tướng ấy được chính yếu trừ khử bởi đại không. Bảy là biết không h́nh sắc th́ có cái tướng bên trong vắng lặng giải thoát, cái tướng ấy được chính yếu trừ khử bởi hữu vi không. Tám là biết chân như nơi các tướng th́ có các tướng nhân vô ngă, tướng pháp vô ngă, tướng duy thức và tướng thắng nghĩa, bốn cái tướng ấy được chính yếu trừ khử bởi cứu cánh không, vô tánh không, vô tánh tánh không và thắng nghĩa không. Chín là biết chân như nơi sự thanh tịnh th́ có cái tướng vô vi và cái tướng không biến dịch, hai cái tướng ấy được chính yếu trừ khử bởi vô vi không và vô biến dị không. Mười là chính sự tác ư tư duy về cái không để đối trị các cái tướng nói trên th́ có cái tướng không, cái tướng ấy được chính yếu trừ khử bởi không không. Bạch đức Thế tôn, như vậy khi trừ khử mười cái tướng là trừ khử cái ǵ? và giải thoát cái ǵ? Thiện nam tử, trừ khử cái tướng của ấn tượng chánh định, và giải thoát sự tạp nhiễm thắt buộc (109) , rồi sự trừ khử ấy cũng không c̣n. Nhưng ông nên biết Như lai căn cứ phần đặc thù mà nói cái không này trừ khử cái tướng kia, chứ không phải mỗi cái không không trừ khử được mọi cái tướng. Thí dụ vô minh không phải không sinh ra mọi thứ tạp nhiễm từ hành cho đến lăo tử, nhưng căn cứ phần đặc thù nên nói vô minh sinh ra hành, v́ nó là duyên tố gần nhất của hành. Đạo lư ở đây ông nên biết cũng là như vậy. Bạch đức Thế tôn, ở đây cái không nào là cái không tổng quát? Bồ tát hiểu được cái không ấy th́ không có những sự mất mát hư hỏng, bỏ được sự tăng thượng mạn đối với cái không. Đức Thế tôn, vào lúc ấy, ca tụng đại bồ tát Từ thị, rằng tốt lắm, Thiện nam tử, tốt lắm; ông có thể hỏi Như lai cái nghĩa sâu như vậy để làm cho các vị Bồ tát không bị mất bị hỏng về cái không. Các vị Bồ tát mất hỏng về cái không th́ mất hỏng toàn thể Đại thừa. Do vậy, ông hăy nghe cho thật kyլ Như lai nói cho ông về cái không tổng quát. Ấy là, nơi y tha khởi tánh và viên thành thật tánh, mọi biến kế chấp tánh dầu thuộc loại tạp nhiễm hay thuộc loại thanh tịnh đều rốt ráo rời bỏ, hoàn toàn vô đắc, như vậy gọi là cái không tổng quát của Đại thừa. Đại bồ tát Từ thị thưa Phật: bạch đức Thế tôn, chỉ quán như thế này bao gồm được mấy thứ chánh định siêu việt? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Từ thị: Thiện nam tử, vô lượng chánh định siêu việt của Thanh văn của Bồ tát và của Như lai mà Như lai đă nói, th́ ông nên biết tất cả đều bao gồm trong chỉ quán ở đây. Bạch đức Thế tôn, chỉ quán như thế này lấy ǵ làm nhân tố? Thiện nam tử, nhân tố của chỉ quán như thế này là giới thanh tịnh, là chánh kiến được có bởi nghe thanh tịnh và nghĩ thanh tịnh. Bạch đức Thế tôn, chỉ quán như thế này lấy ǵ làm thành quả? Thiện nam tử, thành quả của chỉ quán như thế này là tâm thanh tịnh và tuệ thanh tịnh, c̣n nữa, hết thảy thiện pháp thuộc loại thế gian và thuộc loại xuất thế của Thanh văn và của Như lai, nên biết toàn là thành quả của chỉ quán như thế này tạo ra. Bạch đức Thế tôn, chỉ quán như thế này làm được công việc ǵ? Thiện nam tử, làm được công việc giải thoát tướng phược và giải thoát trọng phược. Bạch đức Thế tôn, trong năm thứ ràng buộc mà đức Thế tôn nói, mấy thứ là sự cản trở của chỉ? mấy thứ là sự cản trở của quán? mấy thứ là sự cản trở của cả hai? Thiện nam tử, luyến tiếc thân thể và luyến tiếc tài sản là những sự cản trở của chỉ, không thích thánh giáo là sự cản trở của quán, thích ở xen lẫn và được ít đă đủ (110) là những sự cản trở của cả hai: v́ sự thứ nhất mà việc tu không làm được, v́ sự thứ hai mà việc tu không trọn được. Bạch đức Thế tôn, trong năm thứ ngăn che (111) , mấy thứ là sự cản trở của chỉ? mấy thứ là sự cản trở của quán? mấy thứ là sự cản trở của cả hai? Thiện nam tử, trạo cử ố tác là sự cản trở của chỉ, hôn trầm thụy miên và nghi pháp là những sự cản trở của quán, tham dục và sân nhuế là những sự cản trở của cả hai. Bạch đức Thế tôn, ngang đâu th́ gọi là được trong sáng đầy đủ về chỉ? Thiện nam tử, cho đến lúc bao nhiêu hôn trầm thụy miên được chính xác và khéo léo loại trừ th́ ngang đó gọi là được trong sáng đầy đủ về chỉ. Bạch đức Thế tôn, ngang đâu th́ gọi là được trong sáng đầy đủ về quán? Thiện nam tử, cho đến lúc bao nhiêu trạo cử ố tác được chính xác và khéo léo loại trừ th́ ngang đó gọi là được trong sáng đầy đủ về quán. Bạch đức Thế tôn, Bồ tát khi chỉ quán đă hiện ra th́ phải biết có mấy thứ làm cho tâm xao động? Thiện nam tử, phải biết có năm thứ: tác ư, ngoại tâm, nội tâm, cảnh tướng, thô trọng. Một, nếu Bồ tát rời tác ư hợp với Đại thừa mà rơi vào những tác ư hợp với Thanh văn Độc giác th́ gọi là tác ư xao động. Hai, nếu bao nhiêu tầm tư đều xuôi theo phiền năo khi đối trước đa dạng của năm thứ dục lạc tuyệt hảo, nếu buông thả tâm trí ra chảy tràn vào ngoại cảnh, th́ gọi là ngoại tâm rối loạn. Ba, nếu v́ hôn trầm và thụy miên, v́ trầm một (112) , v́ đam mê về định (113) , v́ sự nhuốm bẩn của một tùy phiền năo nào đó chướng ngại cho định (114) , th́ gọi là nội tâm xao động. Bốn, nếu đối với cảnh tướng ngoài định mà nghĩ là cảnh tướng của định (115) bên trong th́ gọi là cảnh tướng xao động. Năm, nếu những cảm giác do tác ư sinh ra mà cho là do cái thân thô trọng nên chấp tự ngă, nổi kiêu mạn, th́ gọi là thô trọng xao động. Bạch đức Thế tôn, từ Bồ tát địa đầu tiên cho đến Như lai địa, chỉ quán như thế này đối trị được những sự chướng ngại nào? Thiện nam tử, chỉ quán như thế này trong Bồ tát địa đầu tiên th́ đối trị được sự chướng ngại v́ hoặc nghiệp sinh tạp nhiễm của ác đạo, trong Bồ tát địa thứ hai th́ đối trị được sự chướng ngại v́ hiện hành của sự lầm lỡ vị phạm rất nhỏ, trong Bồ tát địa thứ ba th́ đối trị được sự chướng ngại v́ tham lam của dục, trong Bồ tát địa thứ tư th́ đối trị được sự chướng ngại v́ định ái và pháp ái, trong Bồ tát địa thứ năm th́ đối trị được sự chướng ngại v́ một chiều chống sinh tử hướng niết bàn, trong Bồ tát địa thứ sáu th́ đối trị được sự chướng ngại v́ hiện hành nhiều của thô tướng, trong Bồ tát địa thứ bảy th́ đối trị được sự chướng ngại v́ hiện hành của tế tướng, trong Bồ tát địa thứ tám th́ đối trị được sự chướng ngại v́ phải da công dụng đối với vô tướng và không tự tại đối với hữu tướng, trong Bồ tát địa thứ chín th́ đối trị được sự chướng ngại v́ không tự tại đối với ngôn từ khéo léo về mọi chủng loại, trong Bồ tát địa thứ mười th́ đối trị được sự chướng ngại v́ không chứng đắc pháp thân viên măn. Và chỉ quán như thế này, trong Như lai địa th́ đối trị được phiền năo chướng và sở tri chướng cực vi tế; và tối cực vi tế, v́ vĩnh viễn hại được hai chướng như vậy nên chứng được một cách cứu cánh cái trí thấy biết hoàn toàn, không c̣n vướng mắc không c̣n chướng ngại, lại do đối tượng sở tác thành tựu (116) (của cái trí nói trên) nên lập ra pháp thân tối cực thanh tịnh. Đại bồ tát Từ thị thưa Phật: bạch đức Thế Tôn, Bồ tát do nỗ lực tu hành chỉ quán mà chứng đắc vô thượng bồ đề là thế nào? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Từ thị: Thiện nam tử, nếu Bồ tát đă được chỉ quán bằng cách căn cứ bảy chân như, đúng như cái pháp đă nghe và đă nghĩ, do tâm trí của chánh định siêu việt mà bên trong tự chánh tư duy về tánh chân như đă khéo thẩm định khéo tư lượng và khéo thiết lập, th́ v́ chánh tư duy chân như nên đối với sự hiện hành của tế tướng tâm trí c̣n bỏ được, huống chi đối với sự hiện hành của thô tướng. Tế tướng là ấn tượng chấp thọ, lănh nạp, liễu biệt và nhiễm tịnh (117) , là ấn tượng pháp trong, pháp ngoài và trong ngoài (118) , là ấn tượng cho rằng ḿnh làm mọi sự lợi ích chúng sinh, là ấn tượng chánh trí, chân như, là ấn tượng khổ tập diệt đạo, là ấn tượng hữu vi, vô vi, là ấn tượng hữu thường, vô thường, là ấn tượng khổ có biến dị, khổ không biến dị, là ấn tượng hữu vi đa dạng, hữu vi đồng nhất, là ấn tượng tất cả được có bởi biết tất cả là tất cả (119) , là ấn tượng nhân vô ngă, pháp vô ngă, mọi ấn tượng như vậy tâm trí Bồ tát loại bỏ được cả. Bồ tát ở nhiều trong sự tu hành như thế này nên lúc nào cũng khéo sửa trị tâm trí của ḿnh trong mọi sự ràng buộc, ngăn che và xao động. Từ đó về sau, đối với bảy chân như có bảy cái trí thông suốt, tự chứng bên trong, được riêng biệt sinh ra (120) , và gọi là Kiến đạo vị. Do được như vậy nên gọi là vị nhập vào chánh tánh ly sanh (121) của Bồ tát, vị sinh vào nhà Như lai, vị chứng đắc Bồ tát địa đầu tiên, vị hưởng dụng mọi thành quả siêu việt của Bồ tát địa này. Bồ tát như vậy, trước đây được chỉ quán bằng cách được đối tượng có phân biệt và đối tượng không phân biệt, nay được Kiến đạo vị là được thêm đối tượng biên tế các pháp (121B). Rồi các giai đoạn liên tiếp về sau, trong tất cả Bồ tát địa c̣n lại, th́ tiến tu Tu đạo vị, bằng cách tác ư tư duy cả ba đối tượng nói trên. Tựa như có kẻ lấy chốt nhỏ đẩy chốt to ra, vị Bồ tát này, với cách lấy chốt tháo chốt mà trừ khử mọi ấn tượng có từ bên trong, nên bao nhiêu cái tướng thuộc loại tạp nhiễm đều trừ khử cả, và tướng phược được trừ khử nên trọng phược cũng trừ khử. V́ vĩnh viễn hại được tướng phược và trọng phược nên tuần tự trong các Bồ tát địa về sau, vị Bồ tát này y như cách luyện vàng mà luyện tâm ḿnh, cho đến chứng được vô thượng bồ đề, nghĩa là chứng được đối tượng sở tác thành tựu (122) . Thiện nam tử, như thế đó gọi là Bồ tát từ bên trong tu hành chính xác về chỉ quán nên chứng được vô thượng bồ đề. Đại bồ tát Từ thị thưa Phật: bạch đức Thế tôn, như thế nào là Bồ tát tu hành (chỉ quán) dẫn ra uy đức cao rộng của Bồ tát? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Từ thị: Thiện nam tử, Bồ tát khéo biết sáu sự sau đây th́ có thể dẫn ra uy đức cao rộng của Bồ tát: khéo biết tâm phát sinh, khéo biết tâm trú ở, khéo biết tâm thoát ra, khéo biết tâm thêm lên, khéo biết tâm bớt đi, khéo biết các phương tiện. Một, khéo biết tâm phát sinh là chính xác biết mười sáu tâm phát sinh khác nhau, đó là thứ nhất, sự phát sinh của cái thức mà hành tướng năng duyên khó biết, liên tục chấp thọ sắc căn và liên tục chấp tŕ thế giới, đó là a đà na thức; thứ hai, sự phát sinh của cái thức mà hành tướng đa dạng vin theo đối cảnh đa dạng, đó là phân biệt ư thức nhận thức một lúc tất cả đối cảnh sắc thanh hương vị xúc và cảm nhận một lúc tất cả ấn tượng của giác quan ở trong và đối cảnh ở ngoài, đó là phân biệt ư thức trong một thoáng mà nhập nhiều chánh định, thấy nhiều cơi Phật, thấy nhiều đức Phật; thứ ba, sự phát sinh của cái thức mà đối cảnh nhỏ hẹp, đó là thức hệ thuộc Dục giới; thứ tư, sự phát sinh của cái thức mà đối cảnh rộng lớn, đó thức hệ thuộc Sắc giới; thứ năm, sự phát sinh của cái thức mà đối cảnh vô lượng, đó là thức hệ thuộc Không vô biên xứ và Thức vô biên xứ; thứ sáu, sự phát sinh của cái thức mà đối cảnh vi tế, đó là thức hệ thuộc Vô sở hữu xứ; thứ bảy, sự phát sinh của cái thức mà đối cảnh tận biên, đó là thức hệ thuộc Phi phi tưởng xứ; thứ tám, sự phát sinh của cái thức mà đối cảnh vô tướng, đó là thức siêu thoát thế gian và thức vin theo niết bàn; thứ chín, sự phát sinh của cái thức đi đôi với khổ thọ, đó là thức địa ngục; thứ mười, sự phát sinh của cái thức đi đôi với tạp thọ, đó là thức Dục giới; mười một, sự phát sinh của cái thức đi đôi với hỷ thọ, đó là thức Sơ thiền và Nhị thiền; mười hai, sự phát sinh của cái thức đi đôi với lạc thọ, đó là thức Tam thiền; mười ba, sự phát sinh của cái thức đi đôi với xả thọ, đó là thức Tứ thiền cho đến Phi phi tưởng xứ; mười bốn, sự phát sinh của cái thức đi đôi với các pháp nhiễm, đó là thức thích ứng với mọi phiền năo và tùy phiền năo; mười lăm, sự phát sinh của cái thức đi đôi với các pháp lành, đó là thức thích ứng với tâm sở thiện; mười sáu, sự phát sinh của cái thức đi đôi với pháp vô kư, đó là thức không thích ứng cả hai loại tâm sở nói trên. Hai, khéo biết tâm trú ở là biết chính xác chân như nơi sự liễu biệt (123) . Ba, khéo biết tâm thoát ra là biết chính xác rằng phải thoát khỏi hai thứ tướng phược và trọng phược, và đó là khéo biết rằng phải làm cho tâm ḿnh thoát ra hai thứ như vậy (124) . Bốn, khéo biết tâm thêm lên là biết chính xác về cái tâm trí đối trị được tướng phược và trọng phược khi nó lớn thêm khi nó dồn lại, (những ǵ tùy thuộc nó) cũng được lớn thêm cũng được dồn lại. Năm, khéo biết tâm bớt đi là biết chính xác về cái bị đối trị, tức cái tâm trí bị bẩn v́ tướng phược và trọng phược khi nó lui lại khi nó bớt đi, (những ǵ tùy thuộc nó) cũng bị lui lại cũng bị bớt đi. Sáu, khéo biết các phương tiện là biết chính xác về tám giải thoát tám thắng xứ và mười biến xứ, về cách tu tập và về sự trừ khử (của các pháp này). Thiện nam tử, Bồ tát nào khéo biết như vậy th́ uy đức cao rộng của Bồ tát hoặc đă được dẫn ra, hoặc sẽ được dẫn ra, hoặc đang được dẫn ra. Đại bồ tát Từ thị thưa Phật: bạch đức Thế tôn, như đức Thế tôn nói trong niết bàn hoàn toàn (125) th́ hết thảy cảm giác (126) vĩnh viễn diệt hết, không c̣n thừa sót, vậy những cảm giác nào bị vĩnh viễn diệt hết ở đây? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Từ thị: Thiện nam tử, lấy cốt yếu mà nói th́ ở đây có hai loại cảm giác vĩnh viễn diệt hết, không c̣n thừa sót, đó là một, cảm giác xuất từ giác quan, và hai, cảm giác xuất từ đối cảnh (127) . Cảm giác xuất từ giác quan lại có bốn loại: thứ nhất là cảm giác dựa vào giác quan có sắc chất, thứ hai là cảm giác dựa vào giác quan không sắc chất, thứ ba là cảm giác của kết quả đă hoàn thành, thứ tư là cảm giác của kết quả chưa hoàn thành ẫ kết quả đă hoàn thành là cảm giác hưởng chịu trong hiện tại, kết quả chưa hoàn thành là cảm giác làm nhân cho vị lai (128) . Cảm giác xuất từ đối cảnh cũng có bốn loại: thứ nhất là cảm giác do thế giới đang sống (129) , thứ hai là cảm giác do đồ dùng để sống, thứ ba là cảm giác do hưởng dụng hai loại trên, thứ tư là các giác do luyến tiếc hai loại trên. Trong niết bàn chưa toàn th́ đă diệt hết tất cả cảm giác của kết quả chưa hoàn thành, c̣n lại là cảm giác phát sinh từ tuệ giác đối trị, là cảm giác mà thánh giả và phàm phu đều có, là cảm giác của kết quả đă hoàn thành; lại nữa, (trong niết bàn chưa toàn) cũng diệt hết cả hai loại cảm giác (của kết quả là đă hoàn thành và chưa hoàn thành), c̣n lại chỉ có cảm giác phát sinh từ tuệ giác đối trị. C̣n niết bàn hoàn toàn mà nhập vào th́ lúc đó cái cảm giác phát sinh từ tuệ giác đối trị cũng không c̣n. Do vậy nên Như lai nói rằng trong niết bàn hoàn toàn, hết thảy cảm giác đều vĩnh viễn diệt cả, không c̣n thừa sót. Lúc ấy đức Thế tôn dạy như vậy rồi lại nói với đại bồ tát Từ thị: Tốt lắm, Thiện nam tử, hôm nay ông khéo căn cứ pháp du dà tinh tế, cùng cực trong sáng và hoàn toàn đầy đủ mà xin hỏi Như lai. Đối với pháp du dà, vốn ông đă được sự khéo léo hiểu biết một cách quyết định và tột bậc. Như lai cũng đă nói cho ông về pháp du dà tinh tế, cùng cực trong sáng và hoàn toàn đầy đủ. Trong quá khứ và trong vị lai, bao nhiêu bậc Chánh biến giác đă nói và sẽ nói th́ cũng toàn là nói như vậy. Các thiện nam và thiện nữ nên dựa vào pháp thoại này, dũng mănh tinh tiến mà chính xác tu học. Đức Thế tôn muốn lặp lại ư nghĩa đă nói nên nói những lời chỉnh cú sau đây. Đối với du dà giáo pháp lập ra (130) , ai sống buông thả mất đại niết bàn; dựa vào du dà giáo pháp lập ra, chính xác tu tập được đại bồ đề. Thấy mà thủ đắc, khó mong giải thoát! cho cái thấy ấy là đă được Pháp, kẻ ấy rời xa khỏi pháp du dà như là mặt đất cách xa không gian. Lợi ích chúng sinh một cách bền bỉ mà không nghĩ rằng ḿnh làm như vậy: lĩnh hội như vậy càng làm lợi người. Ai người có trí làm hết kiếp lượng (131) th́ được cái mừng cao cả trong sáng. Ai v́ dục vọng mà thuyết chánh pháp, th́ người như vậy phải được gọi là đă bỏ dục vọng lại theo dục vọng! Ngu si như vậy mà được Pháp này th́ như một kẻ được ngọc vô giá mà đi lang thang làm kẻ ăn mày! Cái lối luận bàn vô ích ồn náo th́ phải bỏ đi để mà nổi dậy hạnh nguyện tinh tiến vào bậc thượng thừa: v́ để hóa độ cả trời và người, hăy siêng tu học pháp du dà này! Bấy giờ đại bồ tát Từ thị lại thưa Phật: bạch đức Thế tôn, trong toàn bộ pháp thoại Giải thâm mật, pháp thoại này nên mệnh danh là ǵ? chúng con phải kính cẩn ghi nhớ như thế nào? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Từ thị: Thiện nam tử, pháp thoại này tên là Nghĩa lư hoàn hảo về du dà. Ông hăy kính cẩn ghi nhớ theo cái tên như vậy. Khi đức Thế tôn nói pháp thoại Nghĩa lư hoàn hảo về du dà th́ trong đại hội có sáu trăm ngàn chúng sinh phát tâm vô thượng bồ đề; ba trăm ngàn Thanh văn lánh xa bụi bặm, tách rời dơ bẩn, đối với các pháp th́ được mắt pháp trong sáng; một trăm năm mươi ngàn Thanh văn hết hẳn mọi sự sơ hở, tâm được giải thoát; bảy mươi lăm ngàn Bồ tát được tác ư về du dà rộng lớn.
Phần ghi chú
Ghi Chú (82) Du dà: chính văn là phân biệt du dà (phân tích về du dà). Du dà (yoga) dịch nghĩa là tương ưng (thích ứng với nhau), chính yếu là chỉ và quán. Ghi Chú (83) Một là ... thành tựu: đối cảnh có phân biệt là đối cảnh do tác ư thắng giải, đối cảnh không phân biệt là đối cảnh do tác ư chân thật, đối cảnh biên tế các pháp là tánh tận sở hữu và tánh như sở hữu, đối cảnh sở tác thành tựu là sở duyên của chuyển y (Vạn 34/420 dẫn Tập luận 6). Ghi Chú (84) Giáo pháp của ... giáo pháp ấy: không phải lấy toàn bộ giáo pháp làm đề tài mà khởi sự tu tập chỉ quán, mà, trong một thứ tự hay một sự lựa chọn thích hợp, khởi sự tu tập chỉ quán bằng một đề tài theo giáo pháp. Ghi Chú (85) Tư duy: ở đây là nguyên chữ của chính văn. Nhưng ngay cái nguyên chữ này cũng phải hiểu là tư duy tu (chuyên chú, chánh định). Ghi Chú (86) Khinh an: nghĩa đen là nhẹ nhàng ổn định, mô tả trạng thái quân b́nh của cơ thể và tâm trí, không những không c̣n bất ổn trong 2 trạng thái phi loạn động th́ hôn trầm, mà c̣n nói đến trạng thái giác quan, nhất là cảm giác, được chế ngự, thuần hóa, cho đến siêu thoát. Ghi Chú (87) Ấn tượng ... tư duy: thí dụ giáo pháp vô thường đă thành ấn tượng mà tâm trí chuyên chú vào đó. Ghi Chú (88) Thắng giải: nghĩa đen là cái biết chắc hơn, tức là sự xác quyết, sự khẳng định. Ghi Chú (89) Những chỉ quán mà sự tiếp nhận quán sát không có mọi sự tác ư: chỉ quán đă nhiệm vận thuần thục, không cần tác ư nữa (Vạn 34/438A). Ghi Chú (90) Văn: ở đây là chữ, là tự mẫu (hay điểm hoạch) chứ không phải là văn bài (văn bài là cú thân). Ghi Chú (91) Tánh tận hữu, tánh như hữu: tận sở hữu tánh (cái tánh cùng tận cái lượng của sự hiện hữu) và như sở hữu tánh (cái tánh đúng như cái thực của sự hiện hữu). Ghi Chú (92) Năm sắc xứ ở trong: 5 sắc căn. Ghi Chú (93) Giới thế giới: coi ghi chú 104 . Ghi Chú (94) Thế giới ngàn lớn: đại thiên thế giới hay tam thiên đại thiên thế giới. Ghi Chú (95) Đồ dùng của chúng sinh thu thập: cũng có thể dịch là những sự hỗ trợ và đồ dùng; hỗ trợ (nhiếp thọ) có 7, đồ dùng (tư cụ) có 10, coi Vạn 34/444A. Ghi Chú (96) Duyên tố với th́ gian: 4 duyên với 3 đời (không gian tính với th́ gian tính). Ghi Chú (97) Biện trung biên nói có 6 tên: không, chân như, thật tế, vô tướng, thắng nghĩa tánh, pháp giới. Tập luận nói 7 tên, thêm vô ngă tánh. Đại niết bàn nói 12 tên: chân như, pháp giới, pháp tánh, bất hư vọng tánh, bất biến dị tánh, b́nh đẳng tánh, ly sinh tánh, pháp định (pháp vị), pháp trú, thật tế, hư không giới, bất tự nghị giới. Đại bát nhă nói 11 tên, thiếu ly sinh tánh. Ghi Chú (98) Phong phú với khái quát: chính văn là quảng lược, là như Trí độ luận 46 nói, cách nói của Phật có 2: trước khái quát sau phong phú (để giải thích) và trước phong phú sau khái quát (để dễ nhớ). Ghi Chú (99) Là 4 kư hay 4 đáp. Ghi Chú (99B) Tạm diệt tham sân si: Tạm diệt, chính văn là đoạn t́ nại da. T́ nại da là khuất phục, đoạn t́ nai da dịch đủ là sự diệt trừ (đoạn) chỉ mới làm cho khuất phục (t́ nai da). Ghi Chú (100) Có 2 giải thích. Một, đây là chấp thọ, 3 thọ, các thức và nhiễm tịnh. Hai, đây là đối tượng của 4 niệm trú: thân thọ tâm pháp. Ghi Chú (101) Sự chân thật: chân như. Ghi Chú (102) Hai đến năm là 4 đế. Ghi Chú (103) Mười sự này cũng có nghĩa nói về 4 đế: 1, là nói tổng quát, 2-5, là nói đặc tính, 6-10, là nói chi tiết (coi Vạn 34/448B). Ghi Chú (104) Giới thế giới: là khí giới; chữ khí được dịch là thế giới (mà dịch sát là đồ dùng). Ghi Chú (105) Vô đắc: vô sở đắc (không t́m thấy được thực có). Ghi Chú (106) Chân như nơi sự liễu biệt: coi lại 7 chân như trong đoạn biết nghĩa. Nói chung, muốn hiểu các đoạn này th́ phải đối chiếu với đoạn nói về biết nghĩa (phần đầu, nói về 10 sự). Ghi Chú (107) Tướng không: gồm cả tự tướng không và cọng tướng không. Ghi Chú (108) Vô tiền hậu không: Đại bát nhă nói là vô tế không, Đại trí độ nói là vô thỉ không. Vô tiền hậu: trong đoạn nói về biết nghĩa đă dịch không mở đầu không chấm hết. Ghi Chú (109) Tạp nhiễm thắt buộc: tức là tướng phược và trọng phược (coi lại ghi chú 39 và 40). Ghi Chú (110) Được ít đă đủ: nói rơ là đối với thiện pháp mà mới được chút ít đă mừng và cho là đủ rồi. Ghi Chú (111) Năm thứ ngăn che: là ngũ cái, được kể như sau: tham dục, sân nhuế, thụy miên (hôn trầm, thụy miên), trạo hối (trạo cử, ố tác) và nghi pháp (hay nghi: hoài nghi chánh pháp). Ghi Chú (112) Trầm một: ch́m mất, nói sự thiếu tự tín, ngại tu chỉ quán, khác với hôn trầm là thân tâm nặng nề. Ghi Chú (113) Định: Ở đây chính văn là tam ma bát để dịch ư là đẳng chí, một dị danh của định chứ không khắc hoạch ǵ. Ghi Chú (114) Định: Ở đây chính văn là tam ma bát để dịch ư là đẳng chí, một dị danh của định chứ không khắc hoạch ǵ. Ghi Chú (115) Định: Ở đây chính văn là đẳng tŕ, cũng như ghi chú trên. Ghi Chú (116) Đối tượng sở tác thành tựu: chính văn là sở tác thành măn sở duyên (có chỗ chép thành biện), dịch như không dịch là đối tượng sở tác thành tựu, nếu dịch rơ hơn một chút là đối tượng mà việc làm đă hoàn thành. Đối tượng sở tác thành tựu là cuối cùng trong 4 đối tượng của chỉ quán (coi lại Đ2 và ghi chú 83 ). Sở tác thành tựu là chuyển y. Chuyển y là chuyển căn bản y (do đệ bát thức): chuyển bỏ phiền năo chướng và sở tri chướng mà chuyển được đại bồ đề và đại niết bàn, nên chuyển y gọi là sở tác thành tựu. Được chuyển y rồi th́ đối tượng không c̣n điên đảo (Vạn 34/420B dẫn sự giải thích của Tạp tập luận). Đối tượng ấy chính là đệ bát thức đă vô lậu (chân như xuất triền). Ghi Chú (117) Là ấn tượng... nhiễm tịnh: đây là thân, thọ, tâm, pháp (của 4 niệm trú). Ấn tượng là ấn tượng chánh định, dựa vào các pháp ấy mà có (Vạn 34/468A). Những chữ ấn tượng ở dưới cũng vậy. Ghi Chú (118) Là ấn tượng... trong ngoài: là tự thân, tha thân, và cả hai; là căn, cảnh, và cả hai; là hữu t́nh, phi t́nh, và cả hai. Ghi Chú (119) Là ấn tượng... tất cả: ấn tượng tất cả là cái ấn tượng được có do biết tất cả pháp có tất cả tướng (có tất cả ấn tượng nói trên). Ghi Chú (120) Đối với bảy... sinh ra: nói như vậy với cái nghĩa như vầy: đối với cái chân như đồng nhất nơi 7 pháp (nên gọi là 7 chân như) có cái trí thông đạt cái chân như ấy (nên gọi là 7 cái trí). Ghi Chú (121) Chánh tánh ly sanh: Chánh tánh ly sanh là Kiến đạo vị, và đây là Kiến đạo vị của Bồ tát. Chánh tánh, chánh cũng gọi là thánh; chánh tánh là vô lậu tuệ. Ly sanh, sanh là phiền năo (loại phân biệt) mà Kiến đạo vị đoạn trừ ẫ Phiền năo này gọi là sanh là v́ như đồ ăn sống ăn vào sanh bịnh, phiền năo này sanh ra chúng sanh nên gọi là sanh; vô lậu tuệ đoạn trừ cái sanh ấy nên gọi là chánh tánh ly sanh. Từ và nghĩa này cũng tùy chỗ mà có những định nghĩa diễn biến, như Đại bát nhă cuốn 468 nói hữu sở đắc là sanh, trí vô sở đắc là ly sanh; cuốn 484 nói pháp ái là sanh, trí pháp không là ly sanh... Ghi Chú (121B) Được đối tượng... các pháp: coi lại Đ2 và ghi chú 83 . Ghi Chú (122) Nghĩa là... thành tựu: coi lại ghi chú 116 . Ghi Chú (123) Biết chính xác chân như nơi sự liễu biệt: với sự giải thích cách khác th́ câu này cũng có thể dịch: biết chính xác cái tâm trí thấu triệt chân như. Ghi Chú (124) Và đó là khéo biết rằng phải làm cho tâm ḿnh thoát ra hai thứ như vậy: với cách giải thích khác, câu này cũng có thể dịch: sự khéo biết chính xác ấy phải làm cho tâm trí ḿnh thoát ra 2 thứ như vậy. Ghi Chú (125) Niết bàn hoàn toàn: niết bàn có 2: niết bàn hoàn toàn (vô dư y niết bàn) và niết bàn chưa toàn (hữu dư y niết bàn). Ghi Chú (126) Cảm giác: thọ. Ghi Chú (127) Đó là một... đối cảnh: dịch sát: một là cái thọ của chỗ dựa thô nặng, hai là cái thọ của cảnh giới, cái quả của chỗ dựa nói trên. Ghi Chú (128) Thứ nhất là... vị lai: 1, là cái thọ tương ứng với 5 thức trước, 2, là cái thọ tương ứng với ư thức, 3, là cái thọ do vô minh và hành quá khứ sinh ra, 4, cái thọ do hoặc và nghiệp cảm ra quả vị lai. Ghi Chú (129) Thế giới đang sống: chính văn là y tŕ, là cái chỗ mà cái thân dựa vào và cái thức a lại da chấp tŕ ẫ tức là khí thế giới. Ghi Chú (130) Du dà giáo pháp lập ra: Du dà th́ ngoại đạo cũng có. Có hẳn 1 giáo phái tên Du dà. Đặc biệt gần như không thấy Phật công kích ǵ cả về giáo phái này. C̣n du dà ở đây là của Phật pháp, do giáo pháp lập ra, và nói như vậy để thấy du dà ấy không phải là du dà ở ngoài. Ghi Chú (131) Làm hết kiếp lượng: kiếp là thời kỳ lâu dài. Kiếp lượng là cái lượng của thời kỳ lâu dài. Nói làm hết kiếp lượng th́ có 2 cách hiểu: hiểu theo sự giả định th́ câu ấy có nghĩa làm đến hết giới hạn vô hạn của th́ gian, hiểu theo sự đích xác th́ câu ấy có nghĩa làm hết 3 vô số kiếp.
Minh Quang posted December 6, 2005
|
|
|